1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các tội cản trở an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố hải phòng)

77 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những quy định về các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không trong Luật hình sự Việt Nam từ Cách mạng Tháng tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

Lấ ANH SƠN

Các tội cản trở an toàn giao thông

đ-ờng bộ, đ-ờng sắt, đ-ờng thủy, đ-ờng không

theo Luật hình sự Việt Nam

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

Lấ ANH SƠN

Các tội cản trở an toàn giao thông

đ-ờng bộ, đ-ờng sắt, đ-ờng thủy, đ-ờng không

theo Luật hình sự Việt Nam

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 8380101.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRỊNH QUỐC TOẢN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Anh Sơn

Trang 4

GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ, ĐƯỜNG SẮT, ĐƯỜNG THỦY, ĐƯỜNG KHÔNG THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 9 1.1 Khái niệm và đặc điểm của các tội cản trở giao thông trong

Luật hình sự Việt Nam 9 1.2 Những quy định về các tội cản trở giao thông đường bộ,

đường sắt, đường thủy, đường không trong Luật hình sự Việt Nam từ Cách mạng Tháng tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi năm 2009) 14

1.2.1 Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban

hành Bộ luật hình sự năm 1985 14 1.2.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước

khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) 16

1.3 Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) về

các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không 22

1.3.1 Tội cản trở giao thông đường bộ (Điều 261 BLHS) 22 1.3.2 Tội cản trở giao thông đường sắt (Điều 268 BLHS) 27 1.3.3 Tội cản trở giao thông đường thủy (Điều 273 BLHS năm 2015,

sửa đổi năm 2017) 30

Trang 5

1.3.4 Tội cản trở giao thông đường không (Điều 278 BLHS) 35

Chương 2: THỰC TIỄN XÉT XỬ CÁC TỘI CẢN TRỞ GIAO THÔNG

ĐƯỜNG BỘ, ĐƯỜNG SẮT, ĐƯỜNG THỦY, ĐƯỜNG KHÔNG

Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ CÁC TỘI PHẠM NÀY 40 2.1 Khái quát chung về đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế -

xã hội thành phố Hải Phòng 40 2.2 Thực trạng vi phạm cản trở giao thông đường bộ, đường sắt,

đường thủy, đường không và thực tiễn xét xử các tội phạm này những năm gần đây trên địa bàn thành phố Hải Phòng 44

2.2.1 Thực trạng vi phạm hành chính cản trở giao thông đường bộ,

đường sắt, đường thủy, đường không và thực tiễn xét xử các tội phạm này những năm gần đây trên địa bàn thành phố Hải Phòng 44 2.2.2 Thực tiễn xét xử các xâm phạm an toàn giao thông, trong đó có

các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không những năm gần đây trên địa bàn thành phố Hải Phòng 50 2.2.3 Một số tồn tại, thiếu sót, vướng mắc trong thực tiễn xét xử các

tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không và nguyên nhân của nó 53

2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng những

quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không 55

2.3.1 Tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015

về các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không 55 2.3.2 Tăng cường hướng dẫn thi hành các quy định của BLHS năm

2015 về các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không 57

Trang 6

2.3.3 Tăng cường công tác giáo dục pháp luật cho các cán bộ làm

công tác trong các cơ quan bảo vệ pháp luật liên quan đến xử lý các vụ xâm phạm trật tự an toàn giao thông 58 2.3.4 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật,

nâng cao ý thức pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không 59 2.3.5 Tăng cường công tác tuần tra, giám sát và xử lý kịp thời mọi vi

phạm an toàn giao thông, xét xử nghiêm minh và kịp thời các vụ

án trong lĩnh vực này 60

KẾT LUẬN 63 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 8

Bảng 2.2 Tổng hợp số liệu về số vụ tai nạn giao thông đường bộ

do vi phạm hành chính gây nên ở thành phố Hải Phòng 46

Bảng 2.3

Số liệu thống kê các vụ án Tòa án hai cấp thành phố Hải Phòng giải quyết trong đó có các vụ án xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ từ năm 2013-2018 51

Bảng 2.4

Số liệu thống kê các vụ án Tòa án hai cấp thành phố Hải Phòng giải quyết trong đó có các vụ án xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường sắt từ năm 2013-2018 51

Bảng 2.5

Số liệu thống kê về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo phạm các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giao thông đường bộ luôn giữ một vị trí và vai trò vô cùng quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của bất kỳ một quốc gia nào Trong những năm qua, mặc dù Đảng, Nhà nước cũng như chính quyền các cấp đã nỗ lực cố gắng và đề ra nhiều giải pháp để kiềm chế gia tăng, tiến tới giảm dần tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, nhưng tai nạn giao thông vẫn xảy ra nghiêm trọng ở mức cao, gây thiệt hại không nhỏ về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác, trong đó đứng đầu là tai nạn giao thông đường bộ Thực trạng tai nạn giao thông đường bộ đã trở thành vấn đề xã hội hết sức bức xúc và làm đau đầu các cơ quan chức năng, các nhà quản lý ở nước ta

Trước tình hình đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chính phủ đã ban

hành Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 22 tháng 4 năm 2003 "Về tăng cường sự

lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông" và

Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29 tháng 6 năm 2007 "Về một số giải

pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thụng" Nội

dung các văn bản trên đã xác định rõ các chủ trương, giải pháp cơ bản, lâu dài

và các biện pháp cấp bách nhằm kiềm chế việc gia tăng và từng bước đẩy lùi tai nạn giao thông, đồng thời yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận

Tổ quốc và các đoàn thể các cấp, các ngành phải đặt nhiệm vụ bảo đảm trật tự

an toàn giao thông là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của mình; phải tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, triệt để chỉ thị và nghị quyết này [2, tr.23]

Hải Phòng từ lâu đó nổi tiếng là một cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, một đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông thuỷ, bộ, đường

Trang 10

sắt, hàng không trong nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội

và các tỉnh phía Bắc; là đầu mối giao thông quan trọng của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc Bên cạnh các lợi thế về kinh tế, Hải Phòng cũng là địa phương có lưu lượng phương tiện tham gia giao thông lớn và tình trạng các tội phạm an toàn giao thông ngày càng nhiều và mức độ nguy hiểm tăng Việc

xử lý nghiêm minh các hành vi xâm phạm trật tự an toàn giao thông nói chung và xâm phạm trật tự an toàn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng nói riêng theo quy định của BLHS là một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra đối với các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm góp phần ngăn chặn và kiềm chế tai nạn giao thông Thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS về các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông trong những năm qua cho thấy mặc dù đã được sửa đổi bổ sung và có văn bản hướng dẫn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các vụ án này, các Cơ quan tiến hành tố tụng vẫn thường gặp những vướng mắc, lúng túng trong việc xác định tội danh; áp dụng các tình tiết định khung tăng nặng hình phạt; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đường lối xử lý cụ thể ; đối với các hành vi xâm phạm trật tự an toàn giao thông Nguyên nhân của tình trạng này một phần do các quy định của pháp luật hiện hành về các tội phạm này còn bộc lộ nhiều điểm không còn phù hợp với thực tiễn Mặt khác, các văn bản hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền về áp dụng các quy định của BLHS cũng chưa đầy đủ, cụ thể và rõ ràng dẫn đến sự nhận thức

và áp dụng không thống nhất trong thực tiễn giữa các cơ quan tiến hành tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án

Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ về mặt lý luận các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông, đồng thời tìm ra những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về các tội xâm

Trang 11

phạm trật tự an toàn giao thông và nguyên nhân, trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành có ý nghĩa rất quan trọng cả về lý luận cũng như thực tiễn Đây chính là lý do mà

tôi lựa chọn "Các tội cản trở an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không theo Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)" làm đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài dưới góc độ khoa học pháp

lý, trong thời gian qua việc nghiên cứu về các tội cản trở giao thông đường

bộ, đường sắt ở các mức độ khác nhau, trực tiếp và gián tiếp đã có một số công trình nghiên cứu được công bố dưới các góc độ tài liệu là sách giáo trình; sách chuyên khảo, tham khảo; đề tài nghiên cứu, bài viết đăng trên tạp chí khoa học; luận văn, luận án…

* Tài liệu nghiên cứu là giáo trình, bao gồm:

1) GS.TS Đỗ Ngọc Quang, Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn

công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam

(Phần các tội phạm), GS TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001 (tái bản năm 2007)

2) GS TS Võ Khánh Vinh, Chương X - Các tội xâm phạm an toàn

công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam

(Phần các tội phạm), GS TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001

3) GS TS Nguyễn Ngọc Hòa, Chương XXV - Các tội xâm phạm an

toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt

Nam (Tập II) do GS TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010

Trang 12

4) TS Phạm Văn Beo, Bài 10 - Các tội xâm phạm an toàn công cộng,

trật tự công cộng, Trong sách: Luật hình sự Việt Nam (Quyển 2 - Phần các tội

phạm), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010

5) TS Cao Thị Oanh (chủ biên), Chương X - Các tội xâm phạm an

toàn công cộng, trật tự công cộng, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2010

6) Chính phủ - Quy định về đảm bảo trật tự an toàn giao thông - đô

thị, đường sắt, đường thủy và xử lý hành chính, Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội, 1998

7) Lê Cảm - Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung),

sách chuyên khoa sau đại học, tr 190, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005

8) Lê Cảm (Chủ biên) - Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (phần các

tội phạm), tr 497, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007

9) Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội - Giáo trình Luật hình sự Việt

Nam (phần chung), Nxb Quốc gia, Hà Nội, 2001

10) Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội - Giáo trình Luật hình sự

Việt Nam (phần riêng), Nxb Quốc gia, Hà Nội, 2003

11) Quốc hội - Bộ Luật Hình sự 2015, ban hành ngày 27/11/2015, có hiệu lực ngày 01/7/2016

12) Nghị định 46/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, ngày 01/8/2016

13) Chỉ thị 18-CT/TW ngày 04/9/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự,

an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông, Hà Nội

14) Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005

Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm

2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội

Trang 13

* Tài liệu nghiên cứu là sách chuyên khảo, tham khảo bao gồm:

1) ThS Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học chuyên sâu BLHS - Phần

các tội phạm, Tập VI - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công

cộng, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2005

2) ThS Hoàng Đình 6 Ban, Hoạt động phòng ngừa tai nạn giao thông

đường bộ ở Việt Nam hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2008

3) TS Trần Minh Hưởng, Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự

công cộng, trật tự quản lý hành chính, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2002

4) TS Nguyễn Đức Mai, Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn

công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Bình luận khoa học BLHS Việt

Nam năm 1999, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001

5) Trịnh Tiến Việt - Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, 2013

6) Công an thành phố Hải Phòng - Báo cáo tổng kết công tác năm 2013

- 2018, PC08 Hải Phòng, 2013 - 2018

7) Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng - Báo cáo tổng kết vụ án, tổng

số bị cáo đưa ra xét xử và hình phạt, nhân thân người phạm tội về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông, 2013 - 2017

8) Lê Cảm - Trịnh Quốc Toản (2011), Định tội danh (Lý luận, lời giải

mẫu và 500 bài tập), tr.35, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

9) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2000), Nghị quyết số

01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999, Hà Nội

10) Trịnh Quốc Toản (2015), Nghiên cứu hình phạt trong luật hình sự

Việt Nam dưới góc độ bảo vệ quyền con người, Hà Nội

11) Trường đại học Kiểm sát, Giáo trình luật hình sự phần các tội phạm,

TS Nguyễn Mạnh Hùng chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016

Trang 14

* Tài liệu nghiên cứu là đề tài nghiên cứu, các bài viết đăng trên tạp chí

khoa học như đề tài của TS Trương Quang Vinh (chủ trì): Tội tổ chức đua xe

trái phép, tội đua xe trái phép và đấu tranh phòng, chống các tội này trên địa bàn thành phố Hà Nội Tiếp đến là một số bài viết đi sâu vào tranh luận tội

danh cụ thể, xác định lỗi của tội phạm này như:

1) ThS Lê Văn Luật, Xác định lỗi trong các vụ án tai nạn giao thông,

Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/2005

2) ThS Huỳnh Quốc Hùng, Một số vấn đề về định tội và định khung

tăng nặng trong các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/2007; v.v

* Tài liệu tham khảo là các luận văn, luận án tiến sĩ, bao gồm:

1) Bùi Kiến Quốc - Các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội vi phạm

quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Thủ đô Hà Nội,

Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2001

2) Ngô Huy Ngọc - Những biện pháp phòng ngừa tội phạm xâm phạm

trật tự an toàn giao thông tại thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học,

Trường Đại học Luật Hà Nội, 1996

3) Nguyễn Đắc Dũng - Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện

giao thông đường bộ trong Luật Hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn xét xử tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh), Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học

Quốc gia Hà Nội, 2011

4) Trần Văn Thảo - Các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt theo

Luật Hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Bình Phước), Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013

Tuy nhiên, qua nghiên cứu các công trình trên cho thấy một số công trình có phạm vi nghiên cứu rộng, các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không chỉ được đề cập riêng rẽ từng tội bằng bình

Trang 15

luận những dấu hiệu pháp lý hình sự và hình phạt hoặc chỉ xem xét dưới góc

độ tội phạm học - phòng ngừa cả nhóm tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng trong BLHS Việt Nam năm 1999, trong khi đó, chưa

có công trình khoa học nào ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học đề cập đến

cả nhóm các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không trên một địa bàn cụ thể thành phố Hải Phòng Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện các quy định của BLHS Việt Nam về các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không, cũng như đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng luôn có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn, đặc biệt phục vụ trực tiếp yêu cầu chính trị - xã hội và đấu tranh phòng, chống các tội phạm đã nêu trên địa bàn thành phố Hải Phòng

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn là nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không trong luật hình sự Việt Nam, thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm này và những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định của BLHS hiện hành trong quá trình xử lý các hành vi cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về các tội phạm này

Với mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Làm sáng tỏ khái niệm và dấu hiệu pháp lý của các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không, trách nhiệm hình sự của người phạm tội, quá trình phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay quy định về các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không;

- Phân tích các quy định của BLHS và các văn bản hướng dẫn của cơ

Trang 16

quan nhà nước có thẩm quyền nhằm làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý của các tội cụ thể các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không;

- Khái quát về tình hình vi phạm cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không, tình hình tội phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ những năm gần đây và nguyên nhân của thực trạng đó

- Đánh giá về thực tiễn xét xử, những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định của BLHS hiện hành về các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không và nguyên nhân của chúng Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành về các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta

về Nhà nước và pháp luật, về đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp hệ thống, so sánh, phân tích, tổng hợp, khảo sát thực tiễn,

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Khái quát chung về các tội cản trở giao thông đường bộ,

đường sắt, đường thủy, đường không

Chương 2 Quy định của pháp luật hiện hành, thực tiễn xét xử các tội

cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không trên địa bàn thành phố Hải Phòng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định

về các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không

Trang 17

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI CẢN TRỞ GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ, ĐƯỜNG SẮT, ĐƯỜNG THỦY, ĐƯỜNG KHÔNG

THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm và đặc điểm của các tội cản trở giao thông trong Luật hình sự Việt Nam

Trật tự an toàn giao thông là trạng thái trật tự, an toàn, thông suốt, thuận lợi trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không theo quy định của pháp luật được mọi người thực hiện nghiêm chỉnh nhằm hạn chế thấp nhất tai nạn giao thông, gây thiệt hại về người và tài sản

Về mặt bản chất, thì vi phạm trật tự an toàn giao thông chính là những hành

vi làm cho trật tự giao thông bị biến dạng, bị phá vỡ, đặt tính mạng, sức khỏe và tài sản của cá nhân, tổ chức, xã hội vào tình trạng bị thiệt hại hoặc trực tiếp đe dọa gây thiệt hại Về hình thức, vi phạm trật tự an toàn giao thông là trái với qui định trong Luật giao thông đường bộ năm 2008, Luật giao thông đường sắt năm 2009, Luật giao thông đường thủy nội địa năm

2004, Luật hàng không dân dụng năm 2006 (sửa đổi năm 2014) và các văn bản pháp luật khác về giao thông

Vi phạm trật tự an toàn giao thông là những hành vi vi phạm pháp luật, những hành vi vi phạm đó có nhiều loại khác nhau, gây ra thiệt hại ở những mức độ khác nhau Theo Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ và BLHS năm 1999, 2015 thì các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự Những hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội đến mức "đáng kể" thì người thực hiện hành vi đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một trong các tội xâm

Trang 18

phạm trật tự an toàn giao thông được quy định tại các điều 261, 268, 273, 278 trong BLHS 2015

Tuy nhiên, không phải mọi hành vi xâm phạm an toàn công cộng, trật

tự công cộng đều bị xử lý hình sự, việc xử lý phải trên cơ sở giáo dục, thuyết phục mọi công dân có ý thức chấp hành, nhắc nhở, cảnh cáo, xử lý hành chính, chúng ta chỉ xử lý hình sự đối với những trường hợp hành vi nguy hiểm cho xã hội ở mức độ đáng kể hay gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội Vì vậy, ranh giới xác định vấn đề trách nhiệm hình sự với các trách nhiệm pháp lý khác (dân sự, hành chính ) được phân định rõ ràng trên cơ

sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả tác hại mối quan hệ xã hội bị xâm hại, cũng như thái độ của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Thực tế cho thấy các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng nói chung và các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đã gây ra những thiệt hại không nhỏ về tài sản và tính mạng, sức khỏe của công dân, ảnh hưởng đến trật tự ở những nơi công cộng, đến hoạt động chung của xã hội

Xuất phát từ tầm quan trọng của việc giữ gìn an toàn, trật tự công cộng trong đời sống xã hội, trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, hệ thống văn

bản pháp luật, BLHS đã quy định Chương "Các tội xâm phạm an toàn công

cộng, trật tự công cộng" để bảo vệ các lợi ích trên, xử lý các hành vi nguy

hiểm cho xã hội ở mức độ cao, qua đó bảo đảm mọi sinh hoạt, vui chơi, giải trí, hoạt động công cộng được an toàn, ổn định và tuân thủ các quy tắc xã hội

và quy tắc của pháp luật Vì vậy, tôn trọng và bảo vệ "an toàn công cộng, trật

tự công cộng" là “một trong những thước đo, tiêu chí để đánh giá sự ổn định

của xã hội, đánh giá sức mạnh của các cơ quan bảo vệ pháp luật, khả năng quản lý của các cơ quan, tổ chức, đồng thời nó cũng đánh giá được ý thức pháp luật, văn minh pháp lý của công dân” [10, tr.8]

Trang 19

Những quan hệ xã hội luật hình sự bảo vệ mà các tội xâm phạm trật tự

an toàn giao thông xâm phạm đến, cùng với các khách thể khác, là một trong những khách thể quan trọng được BLHS Việt Nam bảo vệ, tôn trọng và bất kỳ hành vi nào xâm phạm đến nhóm khách thể này đều bị xử lý theo các quy định về những tội phạm tương ứng của BLHS

Do vậy, dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo chúng tôi khái niệm các tội phạm đang đề cập có thể định nghĩa như sau:

Các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình

sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện bằng lỗi vô ý, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không gây ra những thiệt hại đáng kể cho tính mạng, sức khỏe của con người, thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của tổ chức và công dân, qua đó xâm phạm đến sự ổn định nơi công cộng và xã hội

Định nghĩa về các tội phạm cản trở giao thông nêu trên đã thể hiện được các đặc điểm đặc trưng thuộc về bản chất của các tội phạm này, đó là những hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội, có lỗi, được quy định trong luật hình sự, do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện

* Các tội phạm cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy,

đường không là những hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội

Các tội phạm này là những hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội Các hành vi vi phạm này được thể hiện cả dưới dạng hành động phạm tội và không hành động phạm tội nhưng chủ yếu là hành động phạm tội Tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội của các tội phạm này trước hết thể hiện ở chỗ nó xâm hại trực tiếp đến các quan hệ xã hội phát sinh trên lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông Tuy nhiên, bên cạnh việc trực tiếp xâm hại đến các quy định về

Trang 20

đảm bảo trật tự an toàn giao thông, tội phạm xâm phạm trật tự an toàn giao thông trong nhiều trường hợp còn trực tiếp xâm hại và gây ra những hậu quả

về tính mạng, sức khỏe con người; tài sản của nhà nước, của tổ chức và công dân Vì vậy, việc quy định các tội xâm phạm quy định về trật tự an toàn giao thông trong BLHS không chỉ nhằm bảo đảm trật tự an toàn giao thông nói riêng, an toàn giao thông, an toàn công cộng, trật tự công cộng nói chung mà còn nhằm mục đích bảo vệ tính mạng, sức khỏe của nhân dân, tài sản của nhà nước, của các tổ chức và của công dân Giữ gìn trật tự an toàn công cộng (trong đó có trật tự an toàn giao thông) là một bộ phận quan trọng của hoạt động quản lý xã hội, là một trong những chức năng cơ bản của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời cũng là nghĩa vụ của công dân Để giữ gìn trật tự an toàn công cộng cần phải kết hợp chặt chẽ, đồng bộ các biện pháp hành chính, kinh tế, thuyết phục, giáo dục và cưỡng chế trong

đó luật hình sự giữ vai trò hết sức quan trọng

Việc BLHS qui định các tội xâm phạm quy định về trật tự an toàn giao thông, trong đó có các tội cản trở giao thông, trước hết là nhằm bảo vệ trật tự

an toàn giao thông, đảm bảo cho hoạt động giao thông đường bộ diễn ra an toàn, thông suốt, thuận lợi phục vụ tốt cho việc xây dựng phát triển kinh tế,

mở rộng sản xuất; xây dựng phát triển văn hóa; củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh; mở rộng quan hệ hợp tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, giữ gìn trật tự an toàn giao thông cũng chính là bảo đảm sự an toàn về tính mạng, sức khỏe không phải chỉ của một người mà là của tất cả mọi người, sự an toàn về tài sản của nhà nước, các tổ chức và công dân nói chung Vì vậy có thể khẳng định rằng, khách thể cùng loại của nhóm tội phạm xâm phạm quy định về trật tự an toàn giao thông là các quan hệ xã hội hết sức quan trọng: đó là trật tự an toàn giao thông, tính mạng, sức khỏe của công dân, tài sản của nhà nước, của tổ chức và sự phát

Trang 21

triển của đất nước nói chung Căn cứ vào khách thể bị xâm hại và các đặc điểm pháp lý của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông thì khách thể loại của nhóm tội phạm này xâm phạm đến những quy định về an toàn công cộng Những quy định về an toàn công cộng rất đa dạng, phong phú trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội bao gồm những quy định, điều lệ, nội quy… (những quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa) v.v… ở những nơi công cộng trên các lĩnh vực giao thông đường bộ… những quy định này nhằm đảm bảo an toàn tài sản của Nhà nước, của tổ chức, an toàn về tính mạng và tài sản của công dân [21, tr.433]

Thứ hai, các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không được thực hiện có lỗi

Lỗi là dấu hiệu bắt buộc cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong LHS Nếu chủ thể thực hiện hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội không

có lỗi thì hành vi đó không phải là tội phạm và người thực hiện hành vi đó sẽ không phải chịu TNHS Các tội cản trở giao thông đều là những hành vi nguy hiểm cho xã hội và được thực hiện bằng lỗi vô ý (vô ý do quá tự tin hoặc vô ý cho cẩu thả) Mức độ lỗi của từng tội phạm cụ thể cản trở giao thông được xác định căn cứ vào các dấu hiệu khách quan và chủ quan của tội phạm và căn cứ vào từng vụ án cụ thể

Thứ ba, các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong LHS là tội phạm

Đặc điểm này của các tội phạm cản trở giao thông thể hiện nguyên tắc

pháp chế về tội phạm LHS Việt Nam sau khi có BLHS năm 1985 đã không

cho phép áp dụng nguyên tắc tương tự Một hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm thì phải được quy định trong BLHS, chỉ có BLHS mới xác định tội phạm và hình phạt Ở Việt Nam hiện nay các tội phạm và hình

Trang 22

phạt đều phải được quy định trong BLHS Các tội phạm cản trở giao thông hiện nay được quy định tại các điều tại các điều 261, 268, 273, 278 trong BLHS năm 2015

Thứ tư, các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không do người có năng lực TNHS và đạt đủ tuổi chịu TNHS thực hiện

Chủ thể của các tội phạm cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không là thể nhân cụ thể đã thực hiện một trong các tội phạm này Người được coi là chủ thể của các tội phạm này (không cần có những đặc điểm riêng của chủ thể đặc biệt) là những chủ thể thường có năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi phạm tội (năng lực TNHS) và đạt đủ 16 tuổi trở lên (Điều 12 BLHS năm 2015) Đối với các tội cản trở giao thông, BLHS năm 2015 quy định TNHS không đặt ra đối với pháp nhân nếu thực hiện một trong những tội này (Điều 76 BLHS)

1.2 Những quy định về các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không trong Luật hình sự Việt Nam từ Cách mạng Tháng tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm

1999 (sửa đổi năm 2009)

1.2.1 Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đập tan chế độ thực dân phong kiến, đồng thời thiết lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Để bảo vệ thành quả cách mạnh, ngay sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân, Nhà nước ta đã ban hành nhiều các văn bản pháp luật hình sự quy định các tội phạm trong các lĩnh vực khác nhau, nhưng trong lĩnh vực giao thông được quy định muộn hơn nhiều và chưa được quy định trong các văn bản pháp luật hình sự trong thời kỳ này Chỉ sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Nhà nước ta tiến hành xây dựng hàng loạt văn bản quy phạm

Trang 23

pháp luật để quản lý xã hội, trong đó có các văn bản pháp luật bảo đảm an toàn giao thông vận tải đường bộ Ngày 03/10/1955 [24, tr.73], Luật đi đường

bộ mới được ra đời kèm theo Nghị định số 348/NĐ của Bộ Giao thông Bưu điện Đây là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta về an toàn giao thông vận tải, tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành các tội cản trở giao thông đường

bộ, đường sắt Sau đó, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp lý khác

về an toàn giao thông vận tải, như: Nghị định số 139/NĐ ngày 19/12/1956; Nghị định số 44/NĐ ngày 27/5/1958 của Bộ Giao thông Bưu điện; Nghị định Liên bộ Giao thông Bưu điện - Công an số 09/NĐLB ngày 07/3/1956 ban hành thể lệ tạm thời về vận tải đường bộ; Nghị định số 10 ngày 11/01/1968 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ về kỷ luật an toàn giao thông vận tải trong thời chiến; Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 quy định tội phạm

và hình phạt đối với hành vi xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng

và sức khỏe của nhân dân…

Nhìn chung, trước khi ban hành BLHS năm 1985, các hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông, trong đó có các tội cản trở giao thông chưa được quy định là một tội phạm độc lập Đường lối xử lý hành

vi phạm tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn được thực hiện theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao tại Bản sơ kết kinh nghiệm về đường lối xét xử tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn Đến năm 1976, Nhà nước mới ban hành một văn bản dưới dạng Sắc luật quy định tội phạm

và hình phạt đối với tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn nghiêm trọng Có thể nói, mặc dù Nhà nước đã ban hành một số văn bản khác nhau, tuy nhiên, phần lớn các văn bản chỉ tập trung chủ yếu vào xử lý và hướng dẫn về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng mà BLHS năm

1985 ghi nhận một cách đầy đủ và có hệ thống sau này

Trang 24

1.2.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017)

Tháng 6 năm 1985, BLHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, được công bố bởi Lệnh của Chủ tịch nước ngày 09/7/1985 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1986

Các tội xâm phạm an toàn giao thông lần đầu tiên được quy định trong Chương VIII – Mục A: Các tội xâm phạm an toàn công cộng (từ điều 186 đến điều 189) Trong đó Điều 187 quy định về tội cản trở giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng

Tội phạm này được quy định nhằm xử lý các hành vi cản trở giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng như: đào, phá các công trình giao thông, đặt vật chướng ngại cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không; di chuyển, phá hủy biển báo hiệu hoặc các thiết bị giao thông; v.v xâm phạm đến an toàn công cộng, qua đó gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của người khác

Sau hơn 10 năm thực hiện, BLHS năm 1985 nói chung, cũng như quy phạm pháp luật quy định về các tội cản trở giao thông nói riêng đã phát huy tác dụng to lớn trong việc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này Tuy nhiên, quy định của BLHS năm 1985 về các tội phạm này cũng bộc lộ một số hạn chế Chẳng hạn, trong đó nổi bật là việc quy định cả bốn loại hành vi

phạm tội trong bốn lĩnh vực an toàn giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt,

đường thủy và đường không) có đặc điểm kỹ thuật và yêu cầu bảo đảm an toàn rất khác nhau vào cùng một điều luật hoặc tương tự, hành vi cản trở giao

thông cũng gộp vào trong cùng một điều luật trong cả bốn lĩnh vực an toàn

giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không); v.v Điều này đã hạn chế nhiều đến việc quy định cụ thể hành vi phạm tội, cũng như việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt đối với người

Trang 25

phạm tội Chính vì vậy, BLHS năm 1999 (sửa đổi năm 2009) đã tách ra và quy định thành bốn tội danh riêng biệt ở các điều 203, 209, 213, 217 chương XIX về các tội xâm phạm an toàn công công, trật tự công công

- Về tội cản trở giao thông đường bộ

Khoản 1 Điều 203 BLHS năm 1999 quy định: Người nào có một trong các hành vi sau đây cản trở giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm

Các hành vi được mô tả bao gồm 8 nhóm hành vi cản trở giao thông đường bộ có tính chất điển hình, đó là:

a) Đào, khoan, xẻ trái phép các công trình giao thông đường bộ

b) Đặt trái phép chướng ngại vật gây cản trở giao thông đường bộ; c) Tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá huỷ biển báo hiệu, các thiết bị an toàn giao thông đường bộ;

d) Mở đường giao cắt trái phép qua đường bộ, đường có giải phân cách; đ) Lấn chiếm, chiếm dụng vỉa hè, lòng đường;

e) Lấn chiếm hành lang bảo vệ đường bộ;

g) Vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ;

h) Hành vi khác gây cản trở giao thông đường bộ

Người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây ở Khoản 2 của điều luật, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Tại các đèo, dốc và đoạn đường nguy hiểm;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng Khoản 3 quy định người phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm

Khoản 4 Điều 203 quy định đối với trường hợp người phạm tội thực

Trang 26

hiện hành vi cản trở giao thông đường bộ có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời thì vẫn cấu thành tôi phạm và bị xử lý hình sự với hình phạt tiền từ năm triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm

- Về tội cản trở giao thông đường sắt

Khoản 1 Điều 209 quy định như sau: Người nào có một trong các hành vi sau đây cản trở giao thông đường sắt gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc

đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm

Như vậy, để cấu thành tội phạm này điều luật quy định 3 trường hợp trong khung cơ bản, đó là:

Thứ nhất, người phạm tội đã thực hiện một trong những hành vi thuộc

Trang 27

g) Lấn chiếm phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn công trình giao thông đường sắt;

h) Hành vi khác gây cản trở giao thông đường sắt Đồng thời hành vi ấy phải gây thiệt hại về tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe của người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản của người khác

Thứ hai, người phạm tội đã thực hiện một trong những hành vi nêu trên

và đã bị xử phạt hành chính về hành vi này

Thứ ba, người phạm tội đã thực hiện một trong những hành vi nêu trên

và đã bị kết án về tội cản trở giao thông đường sắt chưa được xóa án tích mà

- Về tội cản trở giao thông đường thuỷ

Khoản 1 Điều 213 quy định: Người nào có một trong các hành vi sau

đây cản trở giao thông đường thuỷ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm

Những hành vi nguy hiểm cho xã hội cản trở giao thông đường thủy được điều luật quy định có tính chất điển hình như:

Trang 28

+ Khoan, đào trái phép làm hư hại kết cấu của các công trình giao thông đường thuỷ;

+ Tạo ra chướng ngại vật gây cản trở giao thông đường thuỷ mà không đặt và duy trì báo hiệu;

+ Di chuyển làm giảm hiệu lực, tác dụng của báo hiệu;

+ Tháo dỡ báo hiệu hoặc phá hoại công trình giao thông đường thuỷ; + Lấn chiếm luồng hoặc hành lang bảo vệ luồng giao thông đường thuỷ; + Hành vi khác cản trở giao thông đường thủy

Khoản 2 điều luật quy định phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì

bị phạt tù từ ba năm đến mười năm Khoản 3 điều luật quy định phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm

Còn trong trường hợp phạm tội có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm (Khoản 4)

- Về tội cản trở giao thông đường không

Khoản 1 Điều 217 quy định: Người nào có một trong các hành vi sau đây cản trở giao thông đường không gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc đã bị xử lý

kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, Những hành vi cản trở giao thông đường không điển hình được điều luật quy định là:

+ Đặt các chướng ngại vật cản trở giao thông đường không;

+ Di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất, hoặc phá huỷ các biển hiệu, tín hiệu an toàn giao thông đường không;

+ Sử dụng sai hoặc làm nhiễu các tần số thông tin liên lạc;

Trang 29

+ Cung cấp thông tin sai lạc gây nguy hiểm cho chuyến bay;

+ Làm hư hỏng trang thiết bị của sân bay hoặc trang thiết bị phụ trợ khác;

+ Hành vi khác cản trở giao thông đường không

Khoản 2 điều luật quy định phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

+ Là người có trách nhiệm trực tiếp bảo đảm an toàn giao thông đường không hoặc trực tiếp quản lý các thiết bị an toàn giao thông đường không;

+ Gây hậu quả rất nghiêm trọng Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm (Khoản 3) Còn Khoản 4 Điều 217 quy định phạm tội có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ năm triệu đến hai mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt

tù từ sáu tháng đến ba năm

Để áp dụng các quy định về các tội xâm phạm an toàn giao thông trong BLHS năm 1999 được thống nhất các cơ quan chức năng đã ban hành Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/8/2013 Thông tư này đã giải thích một số thuật ngữ và hướng dẫn

áp dụng một số tình tiết định tội, định khung hình phạt đối với các tội phạm xâm phạm an toàn giao thông trong đó có các tội cản trở giao thông như về tình tiết thiệt hại (hậu quả) nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng Ngoài ra, Điều 4 của Thông tư này đã hướng dẫn về các hành vi cản trở giao thông đường bộ cụ thể theo quy định ở Điều 203 BLHS năm 1999 như: Các thiết bị an toàn giao thông đường bộ; Lấn chiếm, chiếm dụng vỉa

hè, lòng đường Lấn chiếm hành lang bảo vệ đường bộ; Vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ; Hành vi khác gây cản trở giao thông đường bộ

Trang 30

Tại Điều 13 của Thông tư liên tịch số VKSNDTC-TANDTC cũng hướng dẫn cụ thể để áp dụng thống nhất về hành

09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-vi khác cản trở giao thông đường không trong tội cản trở giao thông đường không được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 217 BLHS năm 1999

1.3 Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) về các tội cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không

1.3.1 Tội cản trở giao thông đường bộ (Điều 261 BLHS)

1.3.1.1 Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội cản trở giao thông đường bộ

Tội cản trở giao thông đường bộ là hành vi của người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự do vô ý thực hiện một trong các hành vi cản trở giao thông đường bộ quy định tại Điều 261 BLHS xâm phạm sự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại hoặc đe dọa trực tiếp gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác

* Khách thể của tội phạm: Tội phạm cản trở giao thông đường bộ xâm

phạm sự an toàn, sự hoạt động bình thường của giao thông đường bộ, đồng thời còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người, xâm phạm tài sản của Nhà nước, của các tổ chức và công dân

* Mặt khách quan của tội phạm: Theo điều luật, hành vi khách quan

nguy hiểm cho xã hội của tội phạm này được thể hiện rất đa dạng, đó là:

- Đào, khoan, xẻ, san lấp trái phép công trình giao thông đường bộ;

- Đặt, để, đổ trái phép vật liệu, phế thải, rác thải, vật sắc nhọn, chất gây trơn hoặc chướng ngại vật khác gây cản trở giao thông đường bộ;

- Sử dụng trái phép lề đường, hè phố, phần đường xe chạy, hành lang

an toàn đường bộ hoặc vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ

Trang 31

So sánh với Điều 203 BLHS năm 1999 (sửa đổi năm 2009) Khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung các hành vi nguy hiểm cho xã hội trong mặt khách quan của tội cản trở giao thông đường bộ, cụ thể như:

- Hành vi san lấp trái phép công trình giao thông đường bộ;

- Cụ thể hóa một số hành vi cụ thể đặt chướng ngại vật gây cản trở giao thông đường bộ, như: như: Đặt, để, đổ trái phép vật liệu, phế thải, rác thải, vật sắc nhọn, chất gây trơn hoặc chướng ngại vật khác gây cản trở giao thông đường bộ;

- Cụ thể hóa các thiết bị an toàn giao thông đường bộ bị hành vi tháo

dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá hủy: Tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá hủy, đó là các thiết bị như: biển báo hiệu, đèn tín hiệu, cọc tiêu, gương cầu, giải phân cách

- Thay thế hành vi lấn chiếm bằng hành vi sử dụng trái phép lề đường,

hè phố, phần đường xe chạy, hành lang an toàn đường bộ

Hành vi nguy hiểm gây cản trở giao thông đường bộ nêu trên phải gây

ra thiệt hại cho người khác với hậu quả về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản Hậu quả phạm tội trong mặt khách quan của tội cản trở giao thông đường bộ đòi hỏi phải xảy ra và là dấu hiệu định tội Hậu quả của tội phạm là làm chết

01 người; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ

lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên Nếu gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của 02 người trở lên thì tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này phải từ 61% đến 121%; Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng

Trước đây, theo Điều 2 Thông tư liên tịch số

09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/8/2013 hướng dẫn áp dụng quy định tại Chương XIX của BLHS năm 1999 về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông, trong đó có tội cản trở giao thông đường bộ (Điều 203)

Trang 32

thì mức độ hậu quả nguy hiểm do hành vi cản trở giao thông đường bộ gây ra để truy cứu TNHS là nghiêm khắc hơn so với quy định của bLHS hiện hành, cụ thể:

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

+ Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng

Như vậy, theo quy định mới ở khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015 nhà làm luật đã phi tội phạm hóa một phần đối với tội phạm này

Tội phạm hoàn thành từ thời điểm xảy ra hậu quả thiệt hại nghiêm trọng nêu trên Để xác định mức độ thiệt hại đủ để truy cứu tNHS và cũng là cơ sở để bắt người thực hiện hành vi cản trở giao thông đường đường bộ phải chịu TNHS về hậu qủa xảy ra cần thiết phải xác định mối quan hệ nhân quả trên cơ

sở kết luận giám định pháp y, giám định thương tật của cơ quan có thẩm quyền

Trong trường hợp hành vi cản trở giao thông đường bộ chưa gây ra hậu quả:

Trang 33

+ Làm chết 03 người trở lên;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên

mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên, nhưng hành vi cản trở giao thông đó có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đó nếu không ngăn chặn kịp thời, thì trong trường hợp này người phạm tội vẫn có thể bị truy cứu TNHS (Khoản 4 Điều 261)

Như vậy, tội cản trở giao thông đường bộ, tùy thuộc vào từng trường hợp

cụ thể có thể cấu thành tội phạm vật chất hoặc tội phạm có cấu thành hình thức

* Chủ thể của tội phạm: Khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015 quy định:

người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178,

248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của

Bộ luật này

Căn cứ vào quy định trên và Điều 260 BLHS năm 2015 thì chủ thể của tội phạm này phải từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực TNHS, tức là có khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình

* Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện do lỗi vô ý

Tuy nhiên, nếu việc cản trở giao thông đường bộ như đặt các chướng ngại vật chủ ý nhằm gây tai nạn cho người đi đường thì hành vi đó không xử lý theo tội cản trở giao thông đường bộ mà tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho

xã hội có thể xử lý về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên những cơ sở chung

1.3.1.2 Hình phạt áp dụng với tội cản trở giao thông đường bộ

- Khoản 1: Quy định hình phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến

03 năm

Trang 34

- Khoản 2: Quy định hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm trong trường hợp có một trong những tình tiết tăng nặng định khung sau:

+ Tại các đèo, dốc và đoạn đường nguy hiểm Do tính chất nguy hiểm của một số đoạn đường bộ như: đèo, dốc, đường vòng quanh co, đường trơn, các đoạn đường dễ xẩy ra tai nạn, các đoạn đường thường bị ngập lụt Các đoạn đường này nếu bị đào, khoan, xẻ hoặc đặt trái phép chướng ngại vật; tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá huỷ biển báo hiệu, các thiết bị an toàn giao thông; mở đường giao cắt trái phép; lấn chiếm, chiếm dụng vỉa hè, lòng đường; lấn chiếm hành lang bảo vệ sẽ gây nguy hiểm hơn đối với các đoạn đường khác và nếu như tai nạn xảy ra thì hậu quả sẽ nghiêm trọng hơn đối với các đoạn đường khác

+ Làm chết 02 người;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên

mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng

- Khoản 3: Quy định hình phạt tù từ năm năm đến mười năm, trong các trường hợp sau đây:

+ Làm chết 03 người trở lên;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên

mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên

- Khoản 4: Quy định hình phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại tính mạng từ 03 người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên hoặc Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên

Trang 35

1.3.2 Tội cản trở giao thông đường sắt (Điều 268 BLHS)

a Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội cản trở giao thông đường sắt

* Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm này là các quy định

về an toàn giao thông đường sắt bị tội Đối tượng tác động của tội phạm này

là các công trình giao thông đường sắt

Công trình giao thông đường sắt được quy định tại Nghị định số 39/CP ngày 05 tháng 7 năm 1996 của Chính phủ về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường sắt Đây cũng là căn cứ để xác định hành vi cản trở giao thông đường sắt

* Mặt khách quan của tội phạm:

- Hành vi nguy hiểm cho xã hội:

Theo Khoản 1 Điều 268 BLHS năm 2015, hành vi nguy hiểm cho xã hội cản trở giao thông đường sắt thể hiện rất đa dạng, đó là:

- Đặt chướng ngại vật trên đường sắt;

- Hành vi khác gây cản trở giao thông đường sắt

Tương tự như đối với Điều 261, thì Điều 268 BLHS năm 2015 nhà làm

Trang 36

đã hết tất cả các hành vi cản trở giao thông đường sắt, nên cuối cùng vẫn còn quy định “hành vi khác gây cản trở giao thông đường sắt” để đề phòng ngoài những hành vi đã được liệt kê có thể còn những hành vi khác mà nhà làm luật không dự liệu được

Các hành vi được liệt kê trên đều đã được quy định tại Nghị định số 39/CP ngày 05 tháng 7 năm 1996 của Chính phủ về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường sắt (từ Điều 16 đến Điều 33) Ví dụ: Điều 33 quy định: Nghiêm cấm các hành vi làm ảnh hưởng đến an toàn công trình giao thông đường sắt như: Phá huỷ, tháo dỡ, trộm cắp, làm hư hỏng cấu kiện, phụ kiện, trang bị, thiết bị phương tiện, thiết bị thông tin tín hiệu, vật tư đường sắt; Xây dựng công trình, làm nhà, lều quán, biển quảng cáo hoặc những vật khác trong phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn công trình giao thông đường sắt; đào bới, lấy đất đá trong khu vực nền đường sắt Thải nước và các chất độc hại vào đường sắt

- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội

Khoản 1 Điều 268 BLHS năm 2015 đòi hỏi, hậu quả của hành vi cản trở giao thông đường sắt là: ai Làm chết người;ii) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;iii) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng

tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;iv) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng

Cũng như đối với tội cản trở giao thông đường bộ, một trong những hậu quả nêu trên phải xảy ra mới cấu thành tội phạm, đó là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này Nếu hành vi cản trở giao thông đường sắt mà chưa gây ra thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác như đã nêu trên thì chưa cấu thành tội phạm, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 của điều luật

Trang 37

Để truy cứu TNHS của người phạm tội, cần thiết phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội cản trở giao thông đường sắt và hậu quả nguy hiểm cho xã hội nêu trên Nếu giữa các hiện tượng này không có mối quan hệ nhân quả thì người thực hiện hành vi cản trở giao thông đường sắt không phải chịu TNHS

Các dấu hiệu khách quan khác

Ngoài hành vi khách quan, hậu quả, đối với tội cản trở giao thông đường sắt, nhà làm luật quy định một số dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm như: Công trình giao thông đường sắt; biển báo hiệu; đèn hiệu, đường ray, nhà ga, cầu chung và các thiết bị an toàn giao thông đường sắt khác

Cũng như đối với tội cản trở giao thông đường bộ, việc xác định các dấu hiệu khách quan này cũng rất quan trọng, là dấu hiệu để phân biệt giữa tội phạm này với các tội khác Ví dụ: Nếu đào, khoan, xẻ trái phép các công trình quan trọng về an ninh quốc gia thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trong về

an ninh quốc gia

* Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này không phải là chủ

thể đặc biệt, nhưng chỉ những người đủ 16 tuổi trở lên mới là chủ thể của tội phạm này

Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này, vì tội phạm này là tội phạm được thực hiện do

vô ý và không có trường hợp nào là tội đặc biệt nghiêm trọng

* Mặt chủ quan của tội phạm: Cũng như đối với tội vi phạm các quy

định về an toàn giao thông, người thực hiện hành vi cản trở giao thông đường sắt là do vô ý (vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý vì cẩu thả, nhưng chủ yếu là vô ý

vì quá tự tin)

Trang 38

* Hình phạt đối với tội phạm cản trở giao thông đường sắt

- Phạm tội theo quy định tại khoản 1 thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù

từ 01 năm đến 03 năm

- Phạm tội theo quy định tại khoản 2 thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm, đó là trường hợp phạm tội cụ thể có một trong những tình tiết tăng nặng định khung như:

+) Làm chết 02 người;

+) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên

mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

+) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng

- Phạm tội trong trường hợp có tình tiết tăng nặng định khung ở khoản

3 thì bị phạt từ 07 năm đến 15 năm, đó là:

+) Làm chết 03 người trở lên

+) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên

mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

+) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên

- Khoản 4 quy định: Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả thực tế gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác, nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm

1.3.3 Tội cản trở giao thông đường thủy (Điều 273 BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017)

1.3.3.1 Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội cản trở giao thông đường thủy

* Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm này là các quy định

Ngày đăng: 02/01/2020, 11:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
2. Bộ Chính trị (2003), Chỉ thị số 53/CH-TW ngày 21/3/2003 khẳng định quyết tâm chống oan, sai trong hoạt động tố tụng, nâng cao chất lượng công tác tư pháp, tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của con người, của công dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 53/CH-TW ngày 21/3/2003 khẳng định quyết tâm chống oan, sai trong hoạt động tố tụng, nâng cao chất lượng công tác tư pháp, tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của con người, của công dân
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2003
3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
4. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
6. Lê Cảm (1999), Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
7. Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung), sách chuyên khảo sau đại học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung), sách chuyên khảo sau đại học
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
8. Lê Cảm (Chủ biên) (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm)
Tác giả: Lê Cảm (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
9. Lê Cảm - Trịnh Quốc Toản (2011), Định tội danh (Lý luận, lời giải mẫu và 500 bài tập), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh (Lý luận, lời giải mẫu và 500 bài tập)
Tác giả: Lê Cảm - Trịnh Quốc Toản
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
10. Chính phủ (1998), Quy định về đảm bảo trật tự an toàn giao thông - đô thị, đường sắt, đường thủy và xử lý hành chính, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về đảm bảo trật tự an toàn giao thông - đô thị, đường sắt, đường thủy và xử lý hành chính
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
11. Chính phủ (2004), Nghị định 107/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2014 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 171/2013/NĐ- CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 107/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2014 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
12. Chính phủ (2013), Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
13. Chính phủ (2016), Nghị định số 46/NĐ-CP Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, ngày 1/8/2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 46/NĐ-CP Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, ngày 1/8/2016
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
14. Công an Thành phố Hải Phòng (2013-2017), Báo cáo Tổng kết công tác năm 2013-2017. PC67, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết công tác năm 2013-2017. PC67
15. Nguyễn Đắc Dũng (2011), Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn xét xử tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh), Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn xét xử tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh)
Tác giả: Nguyễn Đắc Dũng
Năm: 2011
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
17. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2000), Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2000
18. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2003), Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự
Tác giả: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2003
19. Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (2004), Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 11 năm 2004 về hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “xét xử sơ thẩm” của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 11 năm 2004 về hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “xét xử sơ thẩm” của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Tác giả: Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
Năm: 2004
20. Nguyễn Mạnh Hùng (chủ biên) (2016), Giáo trình luật hình sự phần các tội phạm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự phần các tội phạm
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
21. Trần Minh Hưởng (Chủ biên) (2009), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2009, (tập 1), Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2009
Tác giả: Trần Minh Hưởng (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm