1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp khám xét người người trong bộ luật tố tụng hình sự trên cơ sở số liệu thành phố hải phòng

96 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 825,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu của đề tài Trong những năm gần đây, biện pháp khám xét người là một biện pháp điều tra được quan tâm nghiên cứu của các chuyên gia luật học cả về lý luận lẫn thực t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN HIẾN

BIệN PHáP KHáM NGƯờI THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN HIẾN

BIệN PHáP KHáM NGƯờI THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 8380101.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: TS PHẠM MẠNH HÙNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc “Biện pháp khám người theo Luật tố

tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu

trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người cam đoan

Nguyễn Văn Hiến

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP KHÁM XÉT NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 6

1.1 Khái niệm, đặc điểm của biện pháp khám xét người 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Đặc điểm 9

1.2 Vai trò của việc quy định biện pháp điều tra khám xét người trong luật tố tụng hình sự 14

1.3 Khái quát lịch sử phát triển của quy định pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp khám xét người từ năm 1945 đến trước khi có BLTTHS năm 2015 16

1.3.1 Từ năm 1945 đến trước khi có BLTTHS năm 1975 16

1.3.2 Từ khi có BLTTHS năm 1988 đến trước khi có BLTTHS năm 2003 19

1.3.3 Từ khi có BLTTHS năm 2003 đến trước khi có BLTTHS năm 2015 22

1.4 Khái quát biện pháp khám xét người trong pháp luật tố tụng hình sự của một số quốc gia trên thế giới 24

1.4.1 Pháp luật Tố tụng hình sự của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 24

1.4.2 Pháp luật Tố tụng hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức 26

1.4.3 Pháp luật Tố tụng hình sự của Liên bang Nga 29

1.4.4 Pháp luật tố tụng hình sự của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 31

1.4.5 Pháp luật Tố tụng hình sự của Nhật Bản 32

Trang 5

Chương 2: QUY ĐỊNH VỀ BIỆN PHÁP KHÁM XÉT NGƯỜI TRONG

BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VÀ THỰC TIỄN

ÁP DỤNG TRÊN CƠ SỞ SỐ LIỆU THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 37 2.1 Quy định về biện pháp khám xét người trong BLTTHS năm 2015 37

2.1.1 Về căn cứ khám xét người 392.1.2 Về thẩm quyền ra lệnh và tiến hành khám xét người 402.1.3 Về trình tự, thủ tục tiến hành khám xét người 47

2.2 Thực tiễn áp dụng quy định của BLTTHS về biện pháp khám

xét người trên cơ sở số liệu thành phố Hải Phòng 51

2.2.1 Tình hình thực hiện biện pháp khám xét người trên địa bàn thành

phố Hải Phòng giai đoạn 2013-2018 512.2.2 Những ưu điểm và hạn chế, thiếu sót khi áp dụng biện pháp khám

xét người 56

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG

BIỆN PHÁP KHÁM XÉT NGƯỜI 65 3.1 Hoàn thiện quy định về biện pháp điều tra khám xét người

trong pháp luật tố tụng hình sự 66 3.2 Tăng cường hợp tác quốc tế về áp dụng biện pháp khám xét

người trong tố tụng hình sự 78 3.3 Một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp

khám xét người trong tố tụng hình sự 79 KẾT LUẬN 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT : Cơ quan điều tra

VKS : Viện kiểm sát

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số vụ khám xét người được tiến hành trong giai đoạn

Bảng 2.2 Số vụ bị khiếu nại, tố cáo trong giai đoạn 2013-2018 54

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

“Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người” là nội dung được

xác định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, thể hiện tư tưởng tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân của Đảng Cộng sản Việt Nam Tư tưởng, nội dung này cũng đã được cụ thể hóa tại Điều 14

Hiến pháp năm 2013 rằng “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị

hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, anh ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng”

Những tư tưởng và quy định này đã đặt ra yêu cầu tất yếu là phải hoàn thiện pháp luật theo hướng tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Bên cạnh đó, trong tố tụng hình sự các quy định về khám xét người có vai trò quan trọng trong thực tiễn điều tra Đây là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền phát hiện, thu thập chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án để có hướng điều tra đúng đắn, từ đó xác định, làm sáng tỏ sự thật khách quan của

vụ án, rút ngắn thời gian điều tra và nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết

vụ án hình sự Nghiên cứu sự phát triển của luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay cho thấy các biện pháp điều tra hình sự nói chung và biện pháp khám xét người nói riêng có sự kế thừa, phát triển qua từng thời kỳ Tuy nhiên, tình hình tội phạm trong thời gian qua, đặc biệt tại địa bàn thành phố Hải Phòng với nhiều diễn biến phức tạp, tội phạm ngày càng tinh vi xảo quyệt

về thủ đoạn, phương thức và ngày càng nghiêm trọng về tính chất, mức độ nguy hiểm, thực tiễn áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự tại địa phương đã bộc lộ những điểm bất cập, hạn chế

Chính vì vậy, việc nghiên cứu biện pháp khám xét người trong Bộ luật

Trang 9

tố tụng hình sự trên cơ sở số liệu thành phố Hải Phòng, để từ đó có những giải pháp hoàn thiện pháp luật về biện pháp khám xét người trong tố tụng hình sự, nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật, có ý nghĩa rất quan trọng về

lý luận cũng như thực tiễn Những phân tích trên đây lý giải cho việc học viên

chọn đề tài “Biện pháp khám người theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)” làm luận

văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong những năm gần đây, biện pháp khám xét người là một biện pháp điều tra được quan tâm nghiên cứu của các chuyên gia luật học cả về lý luận lẫn thực tiễn do vai trò quan trọng của khám xét người trong hoạt động điều tra nhằm tìm kiếm dấu vết tội phạm, vật chứng hoặc tài liệu liên quan đến vụ

án và nguy cơ động chạm đến quyền con người, quyền công dân Một số công trình tiêu biểu có thể liệt kê như sau:

Về giáo trình, sách chuyên khảo, có các công trình như: PGS.TS

Nguyễn Ngọc Chí, “Chương 11 – Điều tra vụ án hình sự”, Giáo trình luật Tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2014; “Giáo trình

khoa học điều tra hình sự: dùng cho các trường Đại học, Cao đẳng Luật, An ninh, Cảnh sát, Học viện tư pháp”, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội 2011;

Phạm Thanh Bình, “Một trăm lời giải đáp về bắt giữ, khám xét”, NXB Công

an nhân dân, Hà Nội 1992; Nguyễn Vạn Nguyên, “Một trăm câu hỏi đáp về

bắt, giam, giữ và khám xét đúng pháp luật”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

1995; Nguyễn Mai Bộ, Nguyễn Sĩ Đại, “Biện pháp ngăn chặn và khám xét,

thu giữ, tạm giữ và kê biên tài sản: tìm hiểu pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002; Nguyễn Mai Bộ, “Biện pháp ngăn chặn khám xét và kê biên tài sản trong Bộ luật tố tụng hình sự”, NXB

Tư pháp, Hà Nội 2004

Trang 10

Dưới góc độ bài báo nghiên cứu khoa học, tác giả Nguyễn Thanh Bình,

Ngô Văn Vịnh cũng có bài viết “Hoàn thiện quy định về khám xét trong bộ

luật tố tụng hình sự năm 2003”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6/2013

Dưới góc độ nghiên cứu chuyên sâu như luận văn, luận án, học viên

nhận thấy có hai luận văn, cụ thể là: Nguyễn Thị Nhàn, “Biện pháp điều tra

khám xét theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Hà Nội 2015; Nguyễn Hoàng

Ly, “Hoạt động khám xét chỗ ở trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ

sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Nguyên)”, Hà Nội 2016

Từ những những công trình nghiên cứu được khảo sát trên, có thể nhận thấy rằng, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về biện pháp khám xét nói chung và biện pháp khám xét người nói riêng Tuy nhiên, những nghiên cứu về đề tài này chủ yếu được thực hiện như một phần nội dung của sách chuyên khảo, tham khảo, giáo trình và tạp chí khoa học, trong đó chỉ đề cập một cách tổng thể, khái quát những vấn đề lý luận chứ chưa nghiên cứu thực tiễn áp dụng biện pháp khám xét người Hai nghiên cứu chuyên sâu như hai luận văn trên thực hiện trên cơ sở nghiên cứu Bộ luật tố tụng hình sự năm

2003, chưa tiếp cận Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Đồng thời, hiện nay chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu thực tiễn áp dụng biện pháp khám xét

người tại thành phố Hải Phòng Vì vậy, luận văn “Biện pháp khám người

theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)” là một đề tài độc lập, không có sự lặp lại Luận văn

đi sâu vào nghiên cứu để tìm ra những tồn tại, hạn chế, đề xuất giải pháp cho biện pháp khám xét người người trong luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng tại Hải Phòng

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của nghiên cứu là nhằm góp phần tiếp tục để hoàn thiện một

Trang 11

số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về biện pháp khám xét người người

và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp khám xét người người tại Hải Phòng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về biện pháp khám xét người;

- Nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về biện pháp khám xét người;

- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về biện pháp khám xét người tại Hải Phòng, đồng thời phân tích những tồn tại, hạn chế của việc

áp dụng và nguyên nhân của nó

- Đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định về biện pháp khám xét người trong Bộ luật tố tụng hình sự và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp khám xét người người

3.3.2 Về thời gian

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về biện pháp khám xét người trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, tập trung Bộ luật tố tụng hình sự

Trang 12

năm 2003 và năm 2015; vấn đề thực tiễn được tiếp cận, phân tích và đánh giá trong giai đoạn 2013-2018

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trên cơ sở phương pháp luận từ phép duy vật biện chứng, phép duy vật lịch sử, trong quá trình nghiên cứu đề tài, học viên đã sử dụng các phương pháp cụ thể như: sưu tầm tài liệu, phân tích tài liệu, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê số liệu để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng với nghiên cứu của học viên

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về biện pháp khám xét người trong tố

tụng hình sự

Chương 2: Biện pháp khám xét người trong Bộ luật tố tụng hình sự

năm 2015 và thực tiễn áp dụng trên cơ sở số liệu thành phố Hải Phòng

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp

khám xét người

Trang 13

Các hoạt động khám xét đã được quy định trong pháp luật tố tụng hình

sự, được các cơ quan có thẩm quyền thực hiện thường xuyên, tuy nhiên, khái niệm pháp lý về nó chưa được quy định cụ thể trong BLTTHS năm 2015 Dưới góc độ ngôn ngữ học, khái niệm về khám xét cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, cách định nghĩa khác nhau:

Theo Từ điển tiếng Việt, dưới góc độ pháp lý, “khám” được hiểu là: “Xét,

lục soát để tìm tang chứng của tội lỗi, của hoạt động phạm pháp” [38, tr.230]

Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: “khám xét là lục tìm cái che dấu”

[29, tr.887]

Khám xét là hoạt động nghiệp vụ điều tra của cơ quan có thẩm quyền;

áp dụng nhằm tìm kiếm và thu hồi chứng cứ; phát hiện những người đang bị truy nã và phát hiện tử thi Nghiệp vụ khám xét là hoạt động điều tra ban đầu, được thực hiện trong toàn bộ quá trình tố tụng, bắt đầu từ khi có căn cứ để

Trang 14

tiến hành khám xét; trong trường hợp cần kiểm tra, xác minh các tin tức về tội phạm thì hoạt động này hoàn toàn có thể được thực hiện trước khi khởi tố vụ

án hình sự, ví dụ trường hợp bắt quả tang hoặc bắt khẩn cấp

Theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014 thì:

Khám xét là biện pháp điều tra bằng cách tìm tòi, lục soát có định hướng người, ch ở, địa điểm, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, nhằm thu thập công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết của tội phạm hoặc những vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ

án đang giải quyết hoặc xác chết hay người bị truy nã [7, tr.341] Giáo trình Khoa học điều tra hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2014 định nghĩa:

Khám xét là biện pháp điều tra được tiến hành bằng cách tìm tòi, lục soát, cưỡng chế người, ch ở, địa điểm, thư tín, bưu kiện, bưu phẩm nhằm phát hiện, thu giữ công cụ, phương tiện phạm tội;

đồ vật, tài sản do người phạm tội mà có, đồ vật tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc phát hiện xác chết hay người đang bị truy nã, người bị bắt cóc [31, tr.149]

PGS.TS Nguyễn Ngọc Anh định nghĩa về khám xét trong Cuốn Sổ tay pháp luật của Điều tra viên:

Khám xét là hoạt động điều tra được quy định trong BLTTHS,

do CQĐT tiến hành bằng cách lục soát người, ch ở, ch làm việc, địa điểm để tìm kiếm dấu vết tội phạm, thu thập tài liệu, vật chứng hoặc những đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án [1, tr.102]

Về vấn đề này, TS Trần Quang Tiệp quan niệm trong sách chuyên khảo Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự như sau:

Trang 15

Khám xét là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự do cơ quan có thẩm quyền áp dụng, hạn chế quyền tự do thân thể, quyền bất khả xâm phạm về ch ở, bí mật thư tín, điện tín của người bị áp dụng bằng cách tìm tòi, lục soát người, ch ở, ch làm việc, địa điểm, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm nhằm phát hiện, thu thập công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội

mà có, đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc phát hiện, bắt người bị truy nã [28, tr 187]

Các khái niệm về hoạt động khám xét trong các giáo trình và sách chuyên khảo đã làm rõ hơn về định nghĩa so với các Từ điển; đồng thời, nhấn mạnh, làm sáng tỏ được bản chất của biện pháp khám xét Theo đó, bản chất của hoạt động khám xét là sự tìm tòi, lục soát, cưỡng chế của các cơ quan có thẩm quyền đối với những đối tượng nhất định

Tuy nhiên, cách định nghĩa tại các giáo trình, sách chuyên khảo cũng tồn tại một số điểm hạn chế Thứ nhất, hạn chế về việc liệt kê các hoạt động khám xét; hạn chế này xuất phát từ thời điểm hoàn thành của các công trình nghiên cứu Thời điểm hoàn thành các công trình nêu trên là thời điểm BLTTHS năm 2003 đang có hiệu lực; đến nay, BLTTHS năm 2015 đã có hiệu lực, và bổ sung thêm hai đối tượng của khám xét so với BLTTHS năm

2003, đó là phương tiện và dữ liệu điện tử Như vậy, các hoạt động khám xét theo pháp luật hiện hành bao gồm: khám xét người, ch ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử Thứ hai, các khái niệm chưa đề cập đến các nội dung về căn cứ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền tiến hành khám xét hoặc có đề cập nhưng chưa đầy đủ Khái niệm được đề cập trong trong giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của hai trường đại học đều chưa nêu về thẩm quyền tiến hành khám xét; còn khái niệm được nêu trong sách chuyên khảo của PGS.TS Nguyễn

Trang 16

Ngọc Anh có đề cập đến nhưng chỉ quan niệm thẩm quyền khám xét thuộc về CQĐT Theo quy định tại Điều 192 BLTTHS năm 2015 thì ngoài CQĐT, còn có các cơ quan khác có thẩm quyền tiến hành khám xét trong phạm vi quyền hạn của mình theo quy định pháp luật như VKS, Tòa án nhân dân, Biên phòng,…

Như vậy, dưới góc độ khoa học luật tố tụng hình sự, khái niệm về khám

xét có thể được khái quát như sau: Khám xét là một trong các biện pháp điều

tra có tính cưỡng chế trong tố tụng hình sự; do cơ quan có thẩm quyền tiến hành bằng cách tìm tòi, lục soát dựa trên căn cứ, thủ tục và trình tự theo quy định của pháp luật đối với người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện t ; nhằm phát hiện và thu thập chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án; phát hiện người đang bị truy nã, t thi và giải cứu nạn nhân

Từ những phân tích nêu trên và khái niệm khám xét đã được tổng kết,

có thể rút ra kết luận về khái niệm khám xét người: Khám xét người là một

trong các hoạt động khám xét được quy định trong luật tố tụng hình sự; do cơ quan có thẩm quyền tiến hành bằng cách tìm tòi, lục soát trong người, trong quần áo đang mặc và đồ vật đem theo, dựa trên căn cứ, thủ tục và trình tự luật định nhằm mục đích phát hiện, thu thập chứng cứ liên quan đến vụ án hoặc các tài liệu, đồ vật bất hợp pháp khác theo quy định của pháp luật

1.1.2 Đặc điểm

Khám xét người có một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, khám xét người là biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự

có tính hiệu quả, nhằm mục đích phát hiện, thu thập chứng cứ liên quan đến

vụ án hoặc các tài liệu, đồ vật bất hợp pháp khác theo quy định pháp luật

Khám xét người được quy định tại Điều 194 BLTTHS năm 2015 Theo

đó, khi khám xét người, cơ quan có thẩm quyền tiến hành lục soát, tìm tòi trong người, trong quần áo đang mặc và đồ vật đem theo của bị can, bị cáo,

Trang 17

người bị bắt giữ trong trường hợp quả tang hoặc khẩn cấp, người đang bị truy

nã hoặc người có mặt ở nơi đang bị khám xét mà có căn cứ cho rằng người đó đang giấu trong người đồ vật cần thu giữ, nhằm mục đích phát hiện, thu giữ những vật chứng và tài liệu liên quan đến vụ án Các vật chứng, tài liệu thu thập được là một trong những cơ sở quan trọng làm căn cứ để xác định có hay không hành vi phạm tội; nếu xác định được có hành vi phạm tội, cơ quan có thẩm quyền kịp thời đưa ra những quyết định trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình; từ đó, lập kế hoạch, phương hướng điều tra và tổ chức thực hiện các hoạt động điều tra phù hợp, từng bước giải quyết và nhanh chóng làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự một cách đầy đủ, toàn diện

Thứ hai, khám xét người là biện pháp điều tra mang tính cưỡng chế

trong tố tụng hình sự

Theo Từ điển tiếng Việt năm 2003, “cưỡng chế là buộc người khác

phải làm theo những ý nghĩ hoặc hành động của mình” [38, tr.78] Trong

khoa học pháp lý, cưỡng chế được hiểu là việc căn cứ vào các quy định của pháp luật để buộc đối tượng bị áp dụng phải tuân theo những mệnh lệnh, yêu cầu nhất định Trong pháp luật tố tụng hình sự, có nhiều biện pháp có tính cưỡng chế khác nhau, như: biện pháp ngăn chặn (giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh); biện pháp cưỡng chế (áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản); hoặc các biện pháp điều tra thể hiện tính cưỡng chế như khám xét, thu giữ, tạm giữ vật chứng, tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án,… Khi tiến hành áp dụng các biện pháp có tính cưỡng chế này,

cơ quan có thẩm quyền phải đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật để buộc các đối tượng bị áp dụng phải tuân thủ

Tính cưỡng chế của biện pháp khám xét người đến từ việc đối tượng của biện pháp này là con người Có thể thấy, khám xét người là biện pháp

Trang 18

điều tra tác động trực tiếp đến quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo

vệ và ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013:

Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm [21, Điều 20, Khoản 1]

Tuy nhiên, xuất phát từ tính hiệu quả của biện pháp khám xét người, để kịp thời phát hiện, ngăn chặn âm mưu, hành động phạm tội, thu thập chứng

cứ, từ đó, có căn cứ để nhanh chóng giải quyết, làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án; do vậy, pháp luật tố tụng hình sự quy định quyền khám xét người của cơ quan có thẩm quyền Khám xét người chỉ được tiến hành nếu đủ căn cứ để nhận định trong người của đối tượng khám xét có tài liệu, vật chứng liên quan đến vụ án; đồng thời, việc khám xét người phải tuân theo trình tự, thủ tục, nguyên tắc luật định, đây cũng là một trong những đặc điểm cơ bản của khám xét người sẽ được phân tích ở phần sau

Đối với những đối tượng bị áp dụng biện pháp khám xét người, bên cạnh các quyền được pháp luật bảo hộ, còn có nghĩa vụ phải tuân theo các yêu cầu của lực lượng tiến hành khám xét Nếu các đối tượng này có hành vi cản trở, chống đối hoặc không hợp tác thì tùy theo mức độ, tính chất của hành vi

sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật

Thứ ba, khám xét người phải được tiến hành theo các nguyên tắc nhất định

Như đã phân tích ở những đặc điểm trên, biện pháp khám xét người là một biện pháp tác động mạnh đến quyền con người, do vậy, khi tiến hành khám xét người để đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa và hiệu quả của biện pháp khám xét này, cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau:

Trang 19

Khám xét người dựa trên nguyên tắc cơ bản bảo vệ quyền con người Quyền con người đã được ghi nhận và bảo vệ tại Hiến pháp năm 2013; BLTTHS năm 2015 cũng coi việc đảm bảo quyền này là nguyên tắc quan trọng của tố tụng hình sự vì quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của

cá nhân phải được tôn trọng và bảo vệ trong hoạt động tố tụng nói chung và khám xét người nói riêng:

Khi tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết [24, Điều 8]

Khám xét người là một biện pháp điều tra có tình cưỡng chế, với một bên là Nhà nước mà đại diện là các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành

tố tụng, còn bên “yếu thế” là người bị tình nghi, bị can, bị cáo “Yếu thế” bởi

vì trong quan hệ này, quyền lực Nhà nước nhằm vào họ, và cơ quan, người đại diện cho quyền lực Nhà nước là những người được trang bị kiến thức pháp lý, sự chuyên nghiệp, các thiết bị để tiến hành những nghiệp vụ điều tra cần thiết Trong khi đó, những người bị áp dụng lại là những người không có hoặc có không đầy đủ về kiến thức pháp lý, đôi khi, họ bị động trong toàn bộ quá trình điều tra Sự mất cân bằng về mặt địa vị pháp lý này có thể dẫn đến tình trạng lạm quyền của cơ quan, người có thẩm quyền, và đối tượng phải gánh chịu hậu quả không ai khác ngoài những người bị áp dụng Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân thể hiện một cách rõ ràng, ưu tiên của sự bảo vệ trong hoạt động tố tụng hình

sự nói chung và hoạt động khám xét người nói riêng là quyền và lợi ích hợp

Trang 20

pháp của đối tượng bị áp dụng Do vậy, việc tuân thủ nguyên tắc này trong quá trình tiến hành hoạt động khám xét người là hết sức cấp thiết Nguyên tắc này đòi hỏi những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp, tính hợp lý và sự cần thiết của việc áp dụng biện pháp điều tra khám xét người đã được áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi biện pháp đó, nếu xét thấy không cần thiết nữa

Khám xét người phải được tiến hành hợp pháp, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật Khi tiến hành khám xét người, cơ quan có thẩm quyền phải triệt để tuân thủ các quy định của pháp luật Mọi cuộc khám xét phải đảm bảo tính hợp pháp về căn cứ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền khám xét người và không được xâm phạm các quyền cơ bản của con người Nếu thiếu một trong các yếu tố nêu trên hoạt động khám xét người sẽ không được diễn ra; cơ quan có thẩm quyền vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật

Khám xét người phải đảm bảo yêu cầu về nghiệp vụ là bí mật, bất ngờ, bảo đảm an toàn cho người thực hiện Đây là nhân tố cơ bản để hoạt động khám xét người đạt được mục đích, khi yêu cầu này được thực hiện, tội phạm

sẽ không có cơ hội che giấu, tiêu hủy vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ

án Để đạt được yêu cầu này, cơ quan thi hành lệnh khám phải giữ bí mật chủ trương, kế hoạch khám xét người, việc chuẩn bị, triển khai các lực lượng bao vây, giám sát và tạo được yếu tố bất ngờ khi xuất hiện tại nơi cần khám xét Ngoài ra, trong quá trình khám xét, các cơ quan này không được để lộ bí mật

về thành phần, phương tiện, công cụ h trợ, cách thức hiện và các biện pháp nghiệp vụ đã được áp dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trước mắt và lâu dài

Trên đây là các đặc điểm cơ bản của khám xét người Khi nắm vững được những đặc điểm này, cơ quan có thẩm quyền sẽ dễ dàng phân biệt được biện pháp khám xét người với các biện pháp điều tra khác, từ đó, vận dụng

Trang 21

linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với từng tình huống cụ thể trong thực tiễn hoạt động điều tra

1.2 Vai trò của việc quy định biện pháp điều tra khám xét người trong luật tố tụng hình sự

Bảo đảm quyền con người được thực hiện trong pháp luật tố tụng hình

sự bằng các phương thức, biện pháp khác nhau Trong đó, các biện pháp quan trọng nhất là bằng các quy định đúng đắn, hợp lý, khả thi trong pháp luật tố tụng hình sự và đảm bảo thực hiện các quy định đó trên thực tế

Thứ nhất, đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự

Quyền con người là quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất kỳ ai và bất kỳ chính thể nào Việc điều tra trong tố tụng hình sự để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án có liên quan một cách mật thiết, thiết thực và chặt chẽ với quyền con người, nếu hoạt động điều tra đúng pháp luật, sẽ bảo vệ được quyền con người, nếu hoạt động này có bất kỳ vi phạm nào, dù lớn hay nhỏ, nhiều hay ít, đều dẫn đến hệ quả tiêu cực, xâm phạm quyền con người

Hệ thống các chuẩn mực tối thiểu về quyền con người trong tố tụng hình sự được quy định trong nhiều văn kiện quốc tế như: Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UHDR); Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR); Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với

tù nhân; Công ước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con người năm 1985… Quyền con người trong tố tụng hình sự tại hệ thống pháp luật Việt Nam cũng đã được ghi nhận và đảm bảo trong cả Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan

Trong tố tụng hình sự, khám xét người là biện pháp điều tra được tiến hành bởi một bên là đại diện cho quyền lực Nhà nước, còn một bên là đối tượng chịu sự tác động của biện pháp - thường được coi là bên yếu thế hơn

Trang 22

Sự khác nhau về địa vị pháp lý này rất dễ dẫn đến những hành vi xâm phạm quyền con người, quyền công dân Do vậy, BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể về thẩm quyền, căn cứ, trình tự, thủ tục khám xét người đã góp phần hạn chế sự tùy tiện, lạm quyền của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động khám xét người; từ đó, bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo

tinh thần của BLTTHS năm 2015: “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,

quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân,…” [24, Điều 2]

Thứ hai, bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ

Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết

vụ án [24, Điều 86]

Theo khái niệm nêu trên về chứng cứ thì chứng cứ được coi là hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các thuộc tính khách quan, tính liên quan và tính được thu thập hợp pháp Chứng cứ sẽ mất đi giá trị chứng minh nếu thiếu đi một trong các thuộc tính này Đặc biệt, thuộc tính được thu thập hợp pháp là thuộc tính cần được chú trọng, bởi lẽ, nó dễ bị vi phạm nhất Theo quy định tại BLTTHS năm 2015, những chứng cứ được thu thập bằng biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định là đảm bảo tính thu thập hợp pháp; còn những tài liệu được thu thập không phù hợp với các biện pháp luật định thì sẽ không được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội

Một trong các mục đích quan trọng nhất của biện pháp khám xét người

là nhằm tìm kiếm, thu thập chứng cứ để là sáng tỏ sự thật khách quan của vụ

án đầy đủ và toàn diện Vì vậy, việc quy định chi tiết về biện pháp khám xét người trong BLTTHS năm 2015 sẽ giúp việc thu thập chứng cứ được chính

Trang 23

xác, đúng đắn, đảm bảo giá trị chứng minh cho chứng cứ; hơn nữa, việc quy định cũng đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng biện pháp khám xét người của cơ quan có thẩm quyền

Thứ ba, góp phần giải quyết vụ án hình sự kịp thời

Thực tế hoạt động điều tra cho thấy, những tài liệu, vật chứng mà cơ quan có thẩm quyền thu thập được trong quá trình tiến hành khám xét người

là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng nhất; đóng vai trò quyết định đến thời gian và hiệu quả của việc giải quyết vụ án hình sự Qua việc nghiên cứu những vật chứng, tài liệu này, cơ quan có thẩm quyền nhanh chóng xác định được có hay không có hành vi phạm tội, chủ thể thực hiện hành vi phạm tội, cách thức thực hiện hành vi phạm tội,…

Như vậy, việc ghi nhận khám xét người trong BLTTHS năm 2015 đã giúp cơ quan có thẩm quyền có thêm công cụ điều tra, sớm phát hiện, thu thập vật chứng hoặc tài liệu liên quan đến vụ án, từ đó, xác định được phương hướng điều tra đúng đắn, rút ngắn thời gian điều tra và nâng cáo hiệu quả trong việc giải quyết vụ án

1.3 Khái quát lịch sử phát triển của quy định pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp khám xét người từ năm 1945 đến trước khi có BLTTHS năm 2015

1.3.1 Từ năm 1945 đến trước khi có BLTTHS năm 1975

Quá trình phát triển của các quy định về khám xét người gắn liền với quá trình xây dựng và hoàn thiện của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Năm 1945, cách mạng tháng Tám thành công, đánh dấu sự ra đời của pháp luật xã hội chủ nghĩa, tuy nhiên, thời gian này, nước ta chưa có BLTTHS thống nhất, pháp luật tố tụng hình sự chỉ bao gồm những văn bản đơn hành, riêng lẻ,… Các văn bản pháp luật ban hành trước năm 1957 về cơ bản chưa đề cập đến các quy định về khám xét người

Trang 24

Trước yêu cầu của cách mạng và nhu cầu dân quyền, Hiến pháp năm

1946 và sau đó là Hiến pháp năm 1959 đã có những quy định tương đối rõ ràng về một số nội dung cốt lõi để bảo vệ quyền công dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, tạo cơ sở cho việc xây dựng các quy định về khám xét

người sau này Cụ thể: Hiến pháp năm 1946 quy định: “Tư pháp chưa quyết

định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật” [14, Điều 11]; Hiến pháp năm 1959 ghi nhận: “Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được bảo đảm Không ai có thể bị bắt nếu không có sự quyết định của Toà án nhân dân hoặc sự phê chuẩn của viện kiểm sát nhân dân.” [15, Điều 27]

Dựa trên tinh thần của Hiến pháp, khám xét người với đặc điểm là biện pháp có tính cưỡng chế tố tụng hình sự lần đầu tiên được quy định tại Luật số 103/SL/L.005 ngày 20/5/1957 quy định về quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân Ngày 10/7/1957, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 301-TTg quy định chi tiết thi hành Luật số 103/SL/L.005 ngày 20/5/1957 bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân, lần đầu tiên ghi nhận một số nội dung liên quan đến hoạt động khám xét người với nội dung cụ thể như sau:

Thẩm quyền khám xét người trong các trường hợp thông thường

thuộc về: Công tố ủy viên, Phó Công tố ủy viên, Thẩm phán Tòa án nhân dân

tỉnh hoặc thành phố trở lên (được tạm ủy quyền giữ nhiệm vụ công tố); Chánh

án, Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh hoặc thành phố trở lên (được ủy quyền làm chủ tọa phiên tòa đối những vụ án đem xét xử tại phiên tòa ấy); Cục trưởng hoặc Cục phó Cục quân pháp; Công tố ủy viên hoặc Công

tố ủy viên Tòa án binh các cấp, cán bộ công tố (được ủy nhiệm giữ nhiệm vụ

Trang 25

công tố); Chánh án, Phó Chánh án, cán bộ thẩm phán (được ủy nhiệm làm chủ tọa phiên tòa); Những người thi hành lệnh viết của các cán bộ tư pháp nêu

trên [27, Điều 12, 13, 14]

Thẩm quyền khám xét người trong các trường hợp đặc biệt: Trong

trường hợp phạm pháp quả tang, trường hợp khẩn cấp hoặc có triệu chứng phạm pháp, trường hợp đang tiến hành điều tra vụ án mà can phạm đang bị tạm giữ, hoặc tạm giam, hoặc trong trường hợp được ủy quyền điều tra toàn bộ vụ phạm pháp, thì tùy trường hợp mà thẩm quyền thuộc về: Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện, châu trở lên; Cán bộ công tố của Tòa án binh; Nhân viên và cán bộ công an; chiến sĩ và cán bộ bộ đội bảo vệ; bộ đội biên phòng; chiến sĩ

và bộ đội quốc phòng làm nhiệm vụ bảo vệ; Trưởng công an huyện, châu; Phó công an huyện, châu; Trưởng đồn, Phó Trưởng đồn công an trở lên hoặc những nhân viên thi hành lệnh viết của các cán bộ nêu trên [27, Điều 15, 16, 17] Ủy ban hành chính xã trong khi làm nhiệm vụ tư pháp, Trưởng công an và Phó Trưởng công an xã có quyền khám xét người đối với người phạm pháp quả tang xảy ra trong xã mình [27, Điều 18]

Trình tự, thủ tục khám xét người được điều chỉnh chi tiết tại Nghị

định số 301-TTg ngày 10/7/1957 của Thủ tướng Chính phủ như sau: “Việc

khám người, đồ vật, nhà ở của người phạm pháp có thể tiến hành bất cứ lúc nào ban ngày cũng như ban đêm Khi khám người một phụ nữ phạm pháp cần

có một phụ nữ khám ở một nơi kín đáo” [27, Điều 20]

Năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong thời kỳ chờ đợi thống nhất về mặt Nhà nước (từ 30/4/1975 đến 29/6/1976), ở miền Nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa đã ban hành một số văn bản Luật tố tụng hình sự đơn lẻ Trong đó, Sắc luật số 02/SL-76 ngày 15/3/1976 do Hội đồng Chánh phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành quy định việc bắt, giam, khám người,

Trang 26

khám nhà ở, khám đồ vật là văn bản có nội dung điều chỉnh trực tiếp đến hoạt động khám xét người Trong Sắc luật này, hoạt động khám xét người được điều chỉnh tại 04 điều luật, với nội dung chủ yếu là quy định các hoạt động khám xét người trong trường hợp khẩn cấp, trường hợp phạm tội quả tang, nguyên tắc và việc lập biên bản khi tiến hành khám xét Những quy định này

đã được áp dụng khá triệt để trong hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam giai đoạn trước những năm 1990 của thế kỷ XX

Tóm lại, trong giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1988, do luật tố tụng hình sự chưa được pháp điển hóa; Luật số 103/SL-L.005 ngày 20/5/1957 và Nghị định số 301-TTg ngày 10/7/1957 không phải là những văn bản điều chỉnh trực tiếp biện pháp khám xét người nên các quy định về biện pháp này vẫn còn đơn giản, sơ lược Tuy nhiên, xét bối cảnh lịch sử nước ta lúc bấy giờ, việc các nhà luật học lần đầu tiên ghi nhận một số nội dung liên quan đến biện pháp khám xét người trong riêng một chương của văn bản pháp luật đã thể hiện các nhà làm luật nhận thức được tính quan trọng của biện pháp này trong tố tụng hình sự hình sự và khẳng định nguyên tắc bảo vệ các quyền cơ bản của công dân Những quy định này đã tạo nền móng vững chắc cho việc hình thành và phát triển của các quy định về khám xét người trong giai đoạn sau

1.3.2 Từ khi có BLTTHS năm 1988 đến trước khi có BLTTHS năm 2003

Trên cơ sở của những nguyên tắc Hiến định và định hướng của Đảng, BLTTHS năm 1998, BLTTHS đầu tiên của nước ta có hiệu lực ngày 09/7/1988,

đã có những quy định tương đối rõ ràng, đầy đủ về hoạt động khám xét người Theo đó, hoạt động khám xét được điều chỉnh trong một chương độc lập, trong đó, hoạt động khám xét người được quy định tại 03 điều luật với nội dung cụ thể như sau:

Căn cứ khám xét: Việc khám xét người chỉ được tiến hành khi có căn

Trang 27

cứ để nhận định trong người của đối tượng bị áp dụng có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án [17, Điều 115]

Thẩm quyền ra lệnh khám xét người: Trong những trường hợp

thông thường Viện trưởng, Phó viện trưởng VKS nhân dân và VKS quân sự các cấp; Chánh án, Phó chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp; Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Toà án quân sự cấp quân khu trở lên chủ toạ phiên toà; Trưởng công an, Phó trưởng công an cấp huyện, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên (lệnh khám xét người phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi tiến hành) là những người có thẩm quyền ra lệnh khám xét Tuy nhiên, trong trường hợp không thể trì hoãn, Trưởng công an, Phó trưởng công an cấp huyện, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên; Người chỉ huy của đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo hoặc biên giới; Người chỉ huy máy bay, tàu biển, khi máy bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng có quyền ra lệnh khám xét Sau khi khám xong, trong thời hạn 24 giờ, người ra lệnh khám phải báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp [17, Điều 116]

Ngày 30/06/1990, Luật số 39-LCT/HĐNN8 về sửa đổi, bổ sung một

số điều của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 được ban hành (có hiệu lực

ngày 07/7/1990) đã sửa đổi, bổ sung thẩm quyền của “Trưởng công an,

Phó trưởng công an cấp huyện, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên” thành “Trưởng Công an, Phó trưởng Công

an cấp huyện; Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT cấp tỉnh trở lên; Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT các cấp trong Quân đội nhân dân”; “Người chỉ huy của đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo hoặc biên giới” thành “Người chỉ huy đơn vị quân

Trang 28

đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng

ở hải đảo và biên giới" [18, Điều 1, Khoản 3, 4]

Trình tự, thủ tục khám xét: Trước khi khám người, người tiến hành

khám phải yêu cầu đương sự đưa ra những đồ vật có liên quan đến vụ án, nếu đương sự từ chối thì tiến hành khám Khi bắt đầu khám người, phải đọc lệnh khám và đưa cho đương sự đọc lệnh khám đó; giải thích cho đương sự và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ Tuy nhiên, trong trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người đồ vật cần thu giữ thì có thể tiến hành khám người mà không cần có lệnh Trong quá trình khám xét người phải tuân thủ nguyên tắc, nam khám nam, nữ khám nữ và phải có người cùng giới chứng kiến [17, Điều 117]

Sự ra đời của BLTTHS năm 1988 được sửa đổi, bổ sung năm 1990 đã đánh dấu một giai đoạn mới và quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của tố tụng hình sự Việt Nam, phản ánh những thành tựu và nhận thức mới trong quá trình đổi mới đất nước, tạo cơ sở pháp lý cho sự thống nhất cao trong nhận thức thực tiễn bởi mức độ phát triển cao của pháp luật tố tụng hình

sự BLTTHS năm 1988 đã có một bước phát triển lớn liên quan đến việc tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân Các chế định khác nhau của BLTTHS năm 1988 đều thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm quyền con người trong TTHS Những quy định về khám xét người đã lần đầu tiên được điều chỉnh trong một BLTTHS thống nhất với các nội dung khá

rõ ràng, chi tiết và chặt chẽ Những quy định này vừa thể hiện sự kế thừa của những văn bản trước như Luật số 103/SL-L.005 ngày 20/5/1957, Nghị định số 301-TTg ngày 10/7/1957, Sắc luật số 02/SL-76 ngày 15/3/1976,… vừa có những điểm tiến bộ, phát triển hơn Đây là cơ sở pháp lý vững chắc cho cơ quan chức năng thực hiện hoạt động khám xét và cũng là cơ sở để bảo vệ quyền công dân

Trang 29

Tuy nhiên, qua hơn 15 năm thực hiện và trước yêu cầu của việc đổi mới tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta, nhiều quy định của BLTTHS

1988 đã tỏ ra bất cập: BLTTHS chưa quy định rõ ràng, cụ thể trách nhiệm, quyền hạn của những người tiến hành tố tụng; địa vị tố tụng của những người tham gia tố tụng vẫn chưa thật đầy đủ, nhất là quyền tố tụng của công dân; khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự chưa được quy định một cách đầy đủ, rõ ràng; các thủ tục tố tụng chưa thể hiện đầy đủ cơ chế tố tụng và bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân, quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, v.v

1.3.3 Từ khi có BLTTHS năm 2003 đến trước khi có BLTTHS năm 2015

Nghiên cứu sự phát triển của luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm

1945 đến nay cho thấy các biện pháp điều tra hình sự nói chung và biện pháp khám xét người nói riêng đã được quy định cụ thể, có sự kế thừa, bổ sung qua từng thời kỳ Biện pháp khám xét được ghi nhận trong Chương XII BLTTHS năm 2003 là kết quả của nhiều lần sửa đổi, bổ sung trên cơ sở thực tiễn áp dụng và thi hành của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra Cụ thể:

Căn cứ khám xét người: Việc khám người chỉ được tiến hành khi có

căn cứ để nhận định trong người của đối tượng bị áp dụng có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án [19, Điều 140]

Thẩm quyền ra lệnh khám xét người: Viện trưởng, Phó Viện trưởng

VKS nhân dân và VKS quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp (lệnh khám xét người phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi tiến hành) có quyền ra lệnh khám xét

Trang 30

trong mọi trường hợp Trong trường hợp không thể trì hoãn, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp; Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng có quyền ra lệnh khám xét người Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi khám xong, người ra lệnh khám phải thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp [19, Điều 141]

Trình tự, thủ tục khám xét người: Trước khi tiến hành khám xét,

người tiến hành khám phải yêu cầu đương sự đưa ra những đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, nếu đương sự từ chối thì tiến hành khám Khi bắt đầu khám người, phải đọc lệnh khám và đưa cho đương sự đọc lệnh khám đó; giải thích cho đương sự và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ Trong trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người đồ vật, tài liệu cần thu giữ, người tiến hàng

có thể tiến hành khám người mà không cần có lệnh Khi khám người phải đảm bảo nguyên tắc nam khám nam, nữ khám nữ và phải có người cùng giới chứng kiến [19, Điều 142]

Những quy định về khám xét người được quy định trong BLTTHS năm

2003 một mặt, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho các cơ quan có thẩm quyền thực hiện chức năng, nhiệm vụ; mặt khác, tạo cơ sở để bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trước những cuộc khám xét không đảm bảo về tính hợp pháp Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm hiện nay, một số quy định về biện pháp điều tra khám xét trong BLTTHS năm 2003 đã bộc lộ những bất cập, hạn chế nhất định như chưa quy định chặt chẽ về căn cứ khám xét, thẩm quyền ra lệnh và tiến hành khám xét, thời hạn tiến hành khám xét, quy định về những hoạt động khám xét cụ thể còn nhiều điểm chưa hợp lý, những hướng dẫn về việc tiến hành hoạt động

Trang 31

khám xét trong một số trường hợp cụ thể cũng chưa được ghi nhận… Những tồn tại và hạn chế nêu trên đã gây ra vướng mắc, lúng túng trong quá trình thực hiện hoạt động điều tra của các cơ quan chức năng Mặt khác, trong thực tiễn áp dụng, hoạt động khám xét của các cơ quan này, đặc biệt là CQĐT còn xảy ra một số vi phạm về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, dẫn đến việc xâm phạm các quyền cơ bản của công dân, làm giảm hiệu quả của hoạt động khám xét nói riêng và hoạt động điều tra, giải quyết vụ án hình sự nói chung Những hạn chế này đã được khắc phục tương đối hiệu quả bởi BLTTHS năm 2015, điều này sẽ được phân tích cụ thể hơn tại Chương 2 của luận văn

1.4 Khái quát biện pháp khám xét người trong pháp luật tố tụng hình sự của một số quốc gia trên thế giới

1.4.1 Pháp luật Tố tụng hình sự của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

Hoa Kỳ có 50 tiểu bang và chính quyền liên bang; do đó, có 51 mô hình tố tụng hình sự riêng biệt và độc lập Trong đó, mô hình tố tụng hình sự của liên bang Hoa Kỳ là mô hình tố tụng tranh tụng Không có BLTTHS riêng, nhưng pháp luật của liên bang Hoa Kỳ điều chỉnh về tố tụng hình sự bằng nhiều văn bản, như: Quy tắc tố tụng hình sự Liên bang, Quy tắc tố tụng phúc thẩm liên bang, Quy tắc của tòa án tối cao, Quy tắc về bằng chứng của liên bang, hàng loạt các đạo luật của liên bang và các quyết định hợp hiến của Tòa tối cao, Quy tắc nội bộ của cơ quan điều tra (Quy tắc Miranda) Trong đó, biện pháp khám xét được điều chỉnh tập trung tại nguyên tắc thứ 41: Khám xét và bắt giữ của Các nguyên tắc Liên bang về Tố tụng hình sự năm 2006

(thường được gọi tắt là “Quy tắc tố tụng hình sự Liên bang”)

Căn cứ khám xét người: Khi nhận được một bản khai hoặc thông báo

đề nghị ban hành lệnh khám xét và người có thẩm quyền nhận thấy có căn cứ

để tiến hành khám xét người

Thẩm quyền ra lệnh khám xét: Thẩm phán sơ thẩm hoặc thẩm phán

Trang 32

tòa án bang nơi có hồ sơ (nếu được ủy quyền) Việc đề nghị ban hành lệnh khám xét được quy định có thể được diễn ra thông qua điện thoại hoặc các phương tiện điện tử đáng tin cậy khác (như chuyển fax, điện tín…) nếu những thông tin này được tiến hành ghi âm, chứng nhận theo quy định của pháp luật, sau đó lệnh này sẽ được chuyển hóa thành văn bản theo quy định

Đây là quy định khác biệt của pháp luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ so với các nước khác trên thế giới, bởi hiện nay, hầu hết các nước, trong đó có Việt Nam, chỉ ghi nhận hình thức ban hành lệnh khám xét người bằng văn bản, có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền, nghĩa là lệnh này phải được tồn tại dưới hình thức một văn bản giấy Thực tế điều tra tại Hoa Kỳ cho thấy việc quy định cho cơ quan có thẩm quyền có thể ban hành lệnh khám xét bằng điện thoại hoặc phương tiện điện tử khác đã mang lại ý nghĩa lớn trong những trường hợp khẩn cấp

Đối tƣợng bị áp dụng: Một người cần phải bị bắt hoặc người đang bị

tạm giữ bất hợp pháp; chứng cứ về một tội phạm; hàng buôn lậu, tài sản có được do phạm tội; các đồ vật khác được sở hữu bất hợp pháp; tài sản được thiết kế để sử dụng, có ý định sử dụng hoặc đã được sử dụng để phạm tội

Trình tự, thủ tục áp dụng: Lệnh khám xét người phải được thi hành

trong khoảng thời gian cụ thể, không quá 10 ngày Chỉ được tiến hành khám xét vào ban ngày, trừ khi thẩm phán vì lý do chính đáng ủy quyền việc thi hành vào thời điểm khác Sau khi thi hành, phải trả lại lệnh cho người thẩm phán sơ thẩm được ghi trong lệnh

Đặc điểm của mô hình tố tụng hình sự Hoa Kỳ là ưu tiên cho việc kiểm soát tội phạm và đảm bảo quá trình tố tụng được thực hiện công bằng Điểm nổi bật trong pháp luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ là việc ghi nhận Tòa án phê chuẩn các lệnh khám xét bằng thiết bị điện tử hợp pháp Ngoài ra, với mô hình tố tụng tranh tụng là đặc trưng, quyền con người được đề cao trong các

Trang 33

quy định về biện pháp điều tra khám xét người, điều này thể hiện qua việc các quy định nhấn mạnh về việc ràng buộc chặt chẽ trình tự, thủ tục ban hành và thực thi lệnh khám xét người cũng như tính hợp pháp của nó

1.4.2 Pháp luật Tố tụng hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức

Cộng hoà Liên bang Đức là một đất nước có truyền thống pháp luật lục địa lâu đời, thủ tục tố tụng hình sự của họ được xây dựng và áp dụng trên

mô hình tố tụng thẩm vấn, xét hỏi BLTTHS hiện hành của Cộng hòa Liên bang Đức được xây dựng từ năm 1987, qua quá trình dài hoàn thiện, được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, cho đến nay BLTTHS Cộng hoà Liên bang Đức

có thể nói là một Bộ luật đồ sộ, công phu gồm 6 phần với khoảng gần 470 điều, quy định cụ thể từng hoạt động, thủ tục trong trình tự tố tụng giải quyết

vụ án hình sự của Cộng hoà Liên bang Đức Trong BLTTHS Cộng hòa Liên bang Đức, biện pháp khám xét người được quy định tại Chương VIII, Phần

1, cụ thể: Điều 102, Điều 104, Điều 105, Điều 107, Điều 108, Điều 109, Điều 110, Điều 304, và quy định dẫn chiếu tại Điều 152 Luật tổ chức Toà án Cộng hòa Liên bang Đức

Căn cứ khám xét người: Khi có căn cứ bắt giữ và trong các trường

hợp cho rằng sẽ thu thập được chứng cứ

Thẩm quyền ra lệnh khám xét: Thẩm phán quyết định áp dụng biện

pháp khám xét người Trong trường hợp khẩn cấp, cũng có thể do Cơ quan Công tố và các cán bộ giúp việc quyết định

Đối tượng bị áp dụng: Người phạm tội; người xúi giục; đồng phạm bị

nghi ngờ là đã thực hiện một hành vi phạm tội, hoặc nghi ngờ là đồng phạm hoặc gây cản trở cho thực thi pháp luật hoặc tiêu thụ tài sản trộm cắp

Trình tự, thủ tục áp dụng:

Về khám xét người vào ban đêm: Trường hợp khám xét người tại nhà

riêng, nơi làm việc và bất động sản có rào bao quanh thì chỉ có thể bị khám

Trang 34

xét vào ban đêm để tìm kiếm người phạm tội quả tang, trong trường hợp khẩn cấp, hoặc đề nhằm truy bắt tù nhân bỏ trốn Hạn chế này không áp dụng đối với những địa điểm mà ai cũng có thể vào lúc ban đêm, hoặc địa điểm mà cảnh sát đã biết là nơi trú ngụ hoặc tụ tập của những kẻ phạm tội, là nơi chứa chấp tài sản do phạm tội mà có, hoặc nơi tổ chức đánh bạc, buôn bán ma tuý hay mại dâm

Ban đêm, trong khoản thời gian từ ngày 01/4 đến ngày 30/9, được tính

từ chín giờ đêm đến bốn giờ sáng hôm sau và trong thời gian từ ngày 01/10 đến ngày 31/3, được tính từ chín giờ đêm đến sáu giờ sáng hôm sau

Về kiểm tra giấy tờ của người bị khám xét: Cơ quan Công tố có quyền

kiểm tra các giấy tờ của người bị khám xét Những cán bộ khác chỉ có quyền kiểm tra giấy tờ tìm thấy khi người chủ đồng ý cho thực hiện việc kiểm tra

đó Trong trường hợp không đồng ý, những cán bộ này phải chuyển giao mọi giấy tờ cho là cần thiết phải kiểm tra cho Cơ quan Công tố trong một phong bì có dấu niêm phong trước mặt người chủ Người chủ sở hữu giấy tờ, hoặc đại diện của người đó, sẽ được phép đóng dấu niêm phong của mình; nếu có thể, người đó cũng sẽ được yêu cầu tham gia, khi phá dấu niêm phong và kiểm tra giấy tờ

Về thu giữ các đồ vật khác: Trong quá trình khám xét người, cơ quan

tiến hành phát hiện được những đồ vật khác mặc dù không liên quan đến việc điều tra, tuy nhiên có dấu hiệu liên quan đến tội phạm khác đã được thực hiện thì những đồ vật đó sẽ bị tạm giữ Cơ quan Công tố sẽ được thông báo về việc

đó Các đồ vật nêu trên, nếu được tìm thấy tại địa điểm của một bác sỹ có liên quan đến việc phá thai cho bệnh nhân, việc sử dụng chúng trong tố tụng hình

sự đối với bệnh nhân vì một tội phạm theo quy định tại Điều 218 Bộ luật Hình

sự Cộng hòa liên bang Đức sẽ bị loại trừ

Trang 35

Về đánh dấu đồ vật bị thu giữ: Những đồ vật bị thu giữ sẽ được đánh

dấu, để phòng ngừa việc đánh tráo, sẽ được đánh dấu với niêm phong hoặc một hình thức phù hợp khác

Về thông báo, kiểm kê: Khi kết thúc khám xét người, căn cứ theo yêu

cầu của người bị ảnh hưởng bởi việc khám xét, người đó sẽ được nhận một thông báo bằng văn bản trong đó nêu rõ lý do của việc khám xét người Đồng thời, căn cứ vào yêu cầu, người đó cũng được trao một danh sách các đồ vật

bị thu giữ; nếu không tìm thấy thứ gì đó nghi ngờ, thì cơ quan có thẩm quyền trao cho người đó văn bản xác nhận sự việc

Khiếu nại: Khiếu nại có thể được đưa ra để phản đối tất cả các quyết

định của Tòa án sơ thẩm hoặc trong thủ tục phúc thẩm dựa trên các tình tiết thực tế của vụ án và quy định của pháp luật đối với các quyết định đưa ra của thẩm phán chủ tọa phiên tòa, thẩm phán điều hành thủ tục sơ bộ, thẩm phán được ủy quyền hoặc thẩm phán được chỉ định, trừ khi luật pháp có quy định miễn kháng cáo kháng nghị phúc thẩm.Các quyết định về việc khám xét người của Tòa hình sự liên bang không được phép khiếu nại Các quyết định của Tòa án khu vực cấp cao cũng không được phép khiếu nại; tuy nhiên, trong trường hợp mà các Tòa án khu vực cấp cao có thẩm quyền xét xử sơ thẩm thì khiếu nại về các quyết định của Tòa án này cũng sẽ được chấp nhận

Với lịch sử lập pháp lâu đời, Cộng hòa Liên bang Đức là một trong các nước có hệ thống pháp luật tố tụng hình sự tiên tiến nhất trên thế giới Các quy định về khám xét người trong BLTTHS Cộng hòa Liên bang Đức được quy định rất chặt chẽ, đầy đủ Đặc biệt, về vai trò của Cơ quan công tố trong hoạt động khám xét người được quy định tương đối rõ ràng Cơ quan công tố

là cơ quan thuộc hệ cơ quan quyền lực nhà nước (Stastgewalt), song nó lại không phải là cơ quan thi hành quyền lực nhà nước Tôn chỉ, mục đích hoạt động của Cơ quan công tố là chỉ tuân theo pháp luật và tôn trọng sự thật

Trang 36

khách quan Do đó, Cơ quan công tố là cơ quan bảo vệ quyền lợi của nhà nước và là người đại diện cho lợi ích công (Allgemeine interegge) Cơ quan công tố chỉ hoạt động khi có hành vi xâm phạm lợi ích của nhà nước, xâm phạm lợi ích công Đây là một điểm căn bản để phân biệt giữa công tố trong luật tố tụng của Đức Cơ quan công tố Đức có vai trò chỉ đạo hoạt động khám xét, Cơ quan cảnh sát và nhân viên trong lực lượng cảnh sát có nghĩa vụ phải thực hiện những yêu cầu của Cơ quan Công tố Mối quan hệ giữa Cơ quan công tố với Cơ quan cảnh sát thể hiện rõ vai trò, vị thế quan trọng của Cơ quan công tố trong hoạt động điều tra, truy tố

Mô hình tố tụng và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự Đức và Việt Nam có có nhiều nét tương đồng, dó đó, Việt Nam có thể nghiên cứu, học tập để vận dụng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng các yêu cầu của cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế

1.4.3 Pháp luật Tố tụng hình sự của Liên bang Nga

Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga được Đuma quốc gia thông qua ngày 22/11/2001 và được Quốc hội phê chuẩn ngày 5/12/2001, thay thế cho BLTTHS năm 1960 thời Xô viết Với 01 chương, 11 mục và 77 điều quy định

về hoạt động điều tra, BLTTHS năm 2001 đã điều chỉnh toàn bộ biện pháp điều tra trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Các quy định về khám xét người, dưới góc độ một biện pháp điều tra, cũng được ghi nhận tại một số điều của Mục 25, thuộc Chương VII BLTTHS Liên bang Nga với nội dung cụ thể như sau:

Căn cứ khám xét người: tiến hành khi có những tài liệu cho rằng

trong người nào đó có công cụ phạm tội, những vật, tài liệu có giá trị và có thể có ý nghĩa đối với vụ án

Thẩm quyền ra lệnh khám xét: Trong trường hợp thông thường, việc

khám xét được tiến hành căn cứ vào quyết định của Dự thẩm viên Trong

Trang 37

trường hợp khám người bị tạm giữ, tạm giam mà có căn cứ để cho rằng một người ở một địa điểm hoặc ở nơi tiến hành khám xét đang cất giấu trong người những vật hoặc tài liệu có thể có ý nghĩa đối với vụ án, có thể được tiến hành mà không có lệnh khám xét

BLTTHS Liên bang Nga đã giao thẩm quyền cưỡng chế khá lớn cho các cơ quan chức năng trong việc thực hiện hoạt động khám xét Đây là sự ảnh hưởng của mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn đã tồn tại ở quốc gia này trong nhiều năm về trước

Trình tự, thủ tục khám xét người

Trước khi khám xét, Dự thẩm viên công bố quyết định khám xét, nếu trường hợp Tòa án quyết định cho phép tiến hành khám xét người thì công bố quyết định của Tòa án Sau đó, Dự thẩm viên yêu cầu tự nguyện giao nộp những đồ vật, tài liệu và những vật có giá trị có thể có ý nghĩa đối với vụ án cần thu giữ Nếu chúng được giao nộp một cách tự nguyện và không có căn

cứ cho rằng chúng còn bị cất giấu thì Dự thẩm viên có quyền không tiến hành khám xét hoặc tiếp tục tiến hành khám xét

Việc khám xét phải do người cùng giới tiến hành và phải có mặt người chứng kiến và nhà chuyên môn là người cùng giới, nếu họ tham gia vào hoạt động điều tra này

Sau khi tiến hành khám xét xong phải tiến hành lập biên bản cuộc khám xét, có đầy đủ chữ ký của người tham gia

BLTTHS Liên bang Nga quy định về biện pháp khám xét tương đối chặt chẽ, cụ thể và rõ ràng Nhìn chung, quy định về khám xét người trong BLTTHS Liên bang Nga có khá nhiều điểm tương đồng với các quy định trong BLTTHS Việt Nam Điều này xuất phát từ việc các nhà làm luật Việt Nam đã nghiên cứu, tham khảo và vận dụng có chọn lọc các quy định này vào BLTTHS Việt Nam trong quá trình pháp điển hóa lần đầu tiên vào năm 1988, sau đó là năm 2003 và mới nhất là vào năm 2015

Trang 38

1.4.4 Pháp luật tố tụng hình sự của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

BLTTHS của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ năm vào ngày 14/3/2012, gồm

5 phần, với 290 điều Biện pháp khám xét người được quy định trong Mục 5, chương 2, Phần thứ hai, cụ thể tại Điều 109, Điều 110, Điều 111, Điều 112, Điều 113, Điều 114

Căn cứ khám xét người: Để thu thập chứng cứ phạm tội, bắt giữ

người phạm tội, có căn cứ cho rằng ai đó che giấu tội phạm hoặc chứng cứ phạm tội

Đối tượng áp dụng: Nghi can hoặc bất kỳ ai che giấu tội phạm hoặc

chứng cứ phạm tội

Thẩm quyền tiến hành: Điều tra viên

Thủ tục áp dụng: Mọi tổ chức hoặc cá nhân đều có nghĩa vụ phải giao

nộp vật chứng, chứng cứ bằng tài liệu hoặc âm thanh, hình ảnh có thể chứng minh việc có tội hay vô tội theo yêu cầu của VKS và cơ quan công an

Trước khi tiến hành khám xét, người tiến hành công khai lệnh khám

cho người bị khám xét Khi tiến hành việc bắt hoặc giam trong trường hợp khẩn cấp, có thể khám xét không cần lệnh

Khi tiến hành khám xét, người bị khám xét hoặc thành viên trong gia

đình họ, hàng xóm hoặc người chứng kiến khác phải có mặt Việc khám xét thân thể phụ nữ phải do cán bộ nữ tiến hành

Khi kết thúc khám xét, phải ghi biên bản việc khám xét, có chữ ký hoặc

đóng dấu của điều tra viên và người bị khám xét hoặc thành viên trong gia đình họ, hàng xóm hoặc những người chứng kiến khác Nếu người bị khám xét hoặc các thành viên trong gia đình họ đã bỏ trốn hoặc từ chối ký hoặc đóng dấu vào biên bản thì ghi rõ trong biên bản việc đó

Trang 39

Về việc thu giữ đồ vật, tài liệu là chứng cứ: Bất cứ đồ vật,và tài

liệu nào được phát hiện trong quá trình kiểm tra, hoặc khám xét có thể sử dụng để chứng minh việc có tội hay vô tội của nghi can bị thu giữ Các đồ vật và tài liệu không liên quan đến vụ án có thể không bị thu giữ Những đồ vật, tài liệu bị thu giữ phải bảo quản, niêm phong cẩn thận không được sử dụng hoặc tiêu hủy

Trung Quốc và Việt Nam có các điểm tương đồng về thể chế chính trị,

tổ chức bộ máy, các điều kiện về xã hội, kinh tế, văn hóa, truyền thống lịch sử,… Do đó, pháp luật về tố tụng hình sự Trung Quốc cũng có nhiều điểm tương đồng với các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, trong xu

hướng không ngừng thúc đẩy đường lối “pháp trị”, hệ thống pháp luật tố

tụng hình sự Trung Quốc chưa đảm bảo được toàn diện được quyền con người, ví dụ như chỉ quy định việc khám xét thân thể phụ nữ phải do cán bộ

nữ tiến hành là chưa đảm bảo quyền bình đẳng giới; không quy định rõ giới tính của người chứng kiến;… Ngược lại, về vấn đề này pháp luật tố tụng hình

sự Việt Nam đảm bảo tương đối đầy đủ

1.4.5 Pháp luật Tố tụng hình sự của Nhật Bản

Nhật Bản là quốc gia theo hệ thống Civil Law (Dân luật), hệ thống tố tụng hình sự Nhật Bản đương đại là sự kết hợp đặc biệt của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa với hệ thống pháp luật Anh - Mỹ Trên cơ sở kế thừa, học hỏi pháp luật tố tụng hình sự thế giới, Nhật Bản nghiên cứu, sáng tạo để đặc trưng hóa nó sao cho phù hợp với đời sống văn hóa, xã hội của Nhật BLTTHS Nhật Bản thông qua ngày 10/7/1948, trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung; BLTTHS hiện tại của Nhật Bản đã tương đối hoàn thiện bao gồm 07 quyển, 23 chương đã điều chỉnh một cách toàn diện các nội dung về tố tụng hình sự, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết vụ án, nhưng vẫn trên cơ sở đảm bảo nhân quyền đối với từng cá nhân

Trang 40

Biện pháp khám xét người được điều chỉnh tại Chương IX, Quyển 1 cùng với các biện pháp điều tra khác như biện pháp tạm giữ, biện pháp khám xét ch ở,… Cụ thể tại các Điều 102, Điều 106, Điều 107, Điều 108, Điều

109, Điều 112, Điều 113, Điều 114, Điều 115, Điều 116, Điều 117, Điều 119

và quy định dẫn chiếu tại Điều 65

Căn cứ khám xét người: Khi thấy cần, Tòa án có thể ra lệnh khám xét

người hoặc có những tình huống đủ để chỉ ra đối tượng giữ trong người đồ vật cần bị tạm giữ

Đối tượng áp dụng: Bị cáo hoặc người không phải bị cáo nếu có

những tình huống đủ để chỉ ra đồ vật cần bị tạm giữ

Thẩm quyền ra lệnh khám xét: Tòa án nhân dân có thẩm quyền ra

lệnh khám xét người Lệnh khám xét phải ban hành bên ngoài phòng xử án

Nội dung lệnh khám xét: Tên bị cáo, tội phạm, thân thể cần bị khám

xét, thời hạn có hiệu lực, và tuyên bố là sau khi hết thời hạn này thì không được thi hành và trả lại lệnh cũng như ngày ban hành lệnh, và các vấn đề được quy định trong các nguyên tắc của toà án; và phải ký tên, đóng dấu của Chánh án Trường hợp không biết tên của bị cáo, thì có thể miêu tả diện mạo, vóc dáng, hoặc các đặc điểm khác cho phép nhận dạng người này

Thi hành lệnh khám xét

Thẩm quyền tiến hành: Lệnh khám xét người có thể được thi hành bởi

thư kí văn phòng công tố hoặc cảnh sát dưới sự chỉ huy của công tố viên Trường hợp cần bảo vệ bị cáo, Chánh án có thể ra lệnh cho thư kí toà hoặc cảnh sát thi hành lệnh này Khi thi hành lệnh khám xét, thư kí văn phòng công

tố hoặc thư kí toà có thể yêu cầu cảnh sát trợ giúp

Sự có mặt của các bên có liên quan, người có trách nhiệm: Công tố

viên, bị cáo hoặc người bào chữa có thể có mặt khi thi hành lệnh thu giữ hoặc khám xét (không áp dụng đối với bị cáo bị tạm giữ)

Ngày đăng: 02/01/2020, 11:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Anh (2012), Sổ tay pháp luật của Điều tra viên, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay pháp luật của Điều tra viên
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2012
2. Phạm Thanh Bình (1992), Một trăm lời giải đáp về bắt giữ, khám xét, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một trăm lời giải đáp về bắt giữ, khám xét
Tác giả: Phạm Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1992
3. Nguyễn Thanh Bình, Ngô Văn Vịnh (2013), “Hoàn thiện quy định về khám xét trong bộ luật tố tụng hình sự năm 2003”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, tập 302, (6), tr.77-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quy định về khám xét trong bộ luật tố tụng hình sự năm 2003”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình, Ngô Văn Vịnh
Năm: 2013
4. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/06 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/06 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
5. Nguyễn Mai Bộ (2004), Biện pháp ngăn chặn khám xét và kê biên tài sản trong Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp ngăn chặn khám xét và kê biên tài sản trong Bộ luật tố tụng hình sự
Tác giả: Nguyễn Mai Bộ
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2004
6. Nguyễn Mai Bộ, Nguyễn Sĩ Đại (2002), Biện pháp ngăn chặn và khám xét, thu giữ, tạm giữ và kê biên tài sản: tìm hiểu pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp ngăn chặn và khám xét, thu giữ, tạm giữ và kê biên tài sản: tìm hiểu pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mai Bộ, Nguyễn Sĩ Đại
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
7. Nguyễn Ngọc Chí (2014), Giáo trình luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
8. Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1957), Luật số 103/SL/L.005 ngày 20/5/1957 quy định về quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 103/SL/L.005 ngày 20/5/1957 quy định về quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân
Tác giả: Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Năm: 1957
9. Hội đồng Chánh phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1976), Sắc luật số 02/SL-76 quy định việc bắt, giam, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật là văn bản có nội dung điều chỉnh trực tiếp đến hoạt động khám xét người, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc luật số 02/SL-76 quy định việc bắt, giam, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật là văn bản có nội dung điều chỉnh trực tiếp đến hoạt động khám xét người
Tác giả: Hội đồng Chánh phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Năm: 1976
10. Liên Hợp quốc (1961), Công ước Viên của Liên hợp quốc ngày 19/04/1961 về quan hệ ngoại giao, Vienna, Áo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước Viên của Liên hợp quốc ngày 19/04/1961 về quan hệ ngoại giao
Tác giả: Liên Hợp quốc
Năm: 1961
11. Nguyễn Hoàng Ly (2016), Hoạt động khám xét chỗ ở trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Nguyên), Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động khám xét chỗ ở trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Nguyên)
Tác giả: Nguyễn Hoàng Ly
Năm: 2016
12. Nguyễn Vạn Nguyên (1995), Một trăm câu hỏi đáp về bắt, giam, giữ và khám xét đúng pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một trăm câu hỏi đáp về bắt, giam, giữ và khám xét đúng pháp luật
Tác giả: Nguyễn Vạn Nguyên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
13. Nguyễn Thị Nhàn (2015), Biện pháp điều tra khám xét theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp điều tra khám xét theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Nhàn
Năm: 2015
14. Quốc hội (1946), Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1946
15. Quốc hội (1959), Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1959
16. Quốc hội (1980), Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1980
17. Quốc hội (1988), Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1988
18. Quốc hội (1990), Luật số 39-LCT/HĐNN8 về s a đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 39-LCT/HĐNN8 về s a đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1990
19. Quốc hội (1992), Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1992
20. Quốc hội (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w