1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THCS

80 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 568 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều cần lưu ý là bên cạnh hệ thống kiến thức, cần trang bị cho học sinh những kỹnăng, kỹ xảo, phương pháp nghiên cứu khoa học tương ứng giúp các em ngay trong qúa trìnhhọc tập được rèn

Trang 1

TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐÀ LẠT

BỘ MÔN TÂM LÝ GIÁO DỤC – CTĐ

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

GIÁO ÁN

HỌC PHẦN:

HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC & HĐ GIÁO DỤC (THCS)

Giảng viên: Th.s Nguyễn Văn Thường

Đà Lạt - 2016

Trang 2

PHẦN I: HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở THCS CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG

Các nhân tố trên đây tồn tại thống nhất trong mối quan hệ biện chứng với nhau, tácđộng qua lại với nhau theo những quy luật nhất định dưới ảnh hưởng của môi trường kinh tế,chính trị, văn hóa, cách mạng khoa học kỹ thuật trong đó hai mặt nổi lên rõ rệt nhất là giáoviên và học sinh

2 Các nhiệm vụ dạy học.

2.1 Căn cứ để xác định nhiệm vụ dạy học

- Mục đích giáo dục, mục tiêu của nhà trường phổ thông

- Nhận thức luận Mác xít

- Đặc điểm lứa tuổi

- Đặc điểm các loại trường, cấp học, môn học, hoàn cảnh thực tế của đất nước

2.2 Các nhiệm vụ dạy học

2.2.1.Võ trang cho học sinh một hệ thống những tri thức khoa học kỹ thuật cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, xã hội, tư duy đồng thời rèn luyện cho học sinh một hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng.

Tri thức phổ thông cơ bản là những tri thức được lựa chọn từ các khoa học khác nhau

Đó là những tri thức tối thiểu, cần thiết để làm nền tảng giúp các em bước vào đời hoặc họctiếp lên lớp trên

Tri thức hiện đại: Là những tri thức phản ánh thành tựu mới của khoa học - công nghệ,của nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại Tri thức phù hợp với thực tiễn của đất nước:

Giúp học sinh hiểu được con người Việt Nam, điều kiện của đất nước và giải quyết đượccác vấn đề thực tiễn của cách mạng và xã hội đề ra Trên cơ sở đó rèn luyện kỹ năng, kỹ xảotương ứng

Điều cần lưu ý là bên cạnh hệ thống kiến thức, cần trang bị cho học sinh những kỹnăng, kỹ xảo, phương pháp nghiên cứu khoa học tương ứng giúp các em ngay trong qúa trìnhhọc tập được rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề thực tiễn,đồng thời rèn luyện phương pháp tư duy sáng tạo để sau này các em chủ động bước vào cuộcsống sản xuất, hoạt động kinh tế, hoạt động xã hội, hoặc tiếp tục học các trường chuyên nghiệphay các bậc học cao hơn Như vậy, việc học sinh nắm vững tri thức có nghĩa là hiểu, nhớ vàvận dụng những tri thức đó vào thực tiễn, trong hoàn cảnh đã biết và trong hoàn cảnh mới

Trang 3

2.2.2 Phát triển ở học sinh năng lực nhận thức, đặc biệt là năng lực tư duy độc lập, sáng tạo.

Năng lực hoạt động trí tuệ thể hiện ở năng lực vận dụng thành thục các thao tác trí tuệ, đặc biệt các thao tác tư duy

Trong quá trình dạy học, dưới sự hướng dẫn của thầy, học sinh tự rèn luyện các thao táctrí tuệ, dần dần hình thành các phẩm chất của hoạt động trí tuệ Cụ thể là:

- Tính định hướng: Thể hiện ở chỗ học sinh nhanh chóng và chính xác xác định đối

tượng của hoạt động trí tuệ, mục đích phải đạt tới và con đường tối ưu để đạt mục đích đó.Như vậy là nó chi phối hướng đi và cách đi của hoạt động trí tuệ, đồng thời còn giúp cho họcsinh có ý thức và khả năng ngăn ngừa sự chệch hướng cũng như kịp thời phát hiện lệch lạc vàđiều chỉnh có hiệu quả hành động của mình

- Bề rộng của hoạt động trí tuệ được thể hiện ở chỗ học sinh có thể tiến hành hoạt động

này trong nhiều lĩnh vực, nhất là những lĩnh vực có liên quan với nhau Bề rộng trí tuệ giúpcho học sinh có điều kiện thuận lợi tạo sự hỗ trợ giữa hoạt động trí tuệ thuộc lĩnh vực này đốivới lĩnh vực khác, ví như hoạt động trí tuệ trong toán giúp cho hoạt động trong vật lý, hoáhọc…

- Chiều sâu của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ năng lực đi sâu tìm hiểu bản chất của

sự vật, hiện tượng khách quan Nó giúp học sinh phân biệt được cái bản chất và không bảnchất, bản chất và hiện tượng, tránh suy nghĩ nông cạn có tính hình thức trong quá trình học tập

- Tính linh hoạt thể hiện ở chỗ học sinh biết tiến hành hoạt động trí tuệ không những

nhanh chóng, có hiệu quả mà còn có khả năng di chuyển hoạt động tư duy từ tình huống nàysang tình huống khác một cách linh hoạt, sáng tạo Nhờ đó, các em nâng cao khả năng thíchứng nhanh và có hiệu quả các tình huống nhận thức khác nhau và đạt được kết quả tối ưu tronghọc tập

- Tính mềm dẻo trong hoạt động trí tuệ được thể hiện ở chỗ hoạt động tư duy của học

sinh được tiến hành theo các hướng xuôi và ngược chiều, từ cụ thể đến trừu tượng và ngượclại, từ cái riêng đến cái chung và ngược lại Nhờ tính mềm dẻo, học sinh có thể dễ dàng thíchứng với các chiều hướng nhận thức đối ngược nhau Với ý nghĩa đó, tính mềm dẻo được coi làtrường hợp đặc biệt của tính linh hoạt

- Tính độc lập của hoạt động trí tuệ được thể hiện ở chỗ học sinh tự mình phát hiện vấn

đề, tự đề xuất cách giải quyết và tự giải quyết vấn đề Nó giúp học sinh chủ động, linh hoạt vàsáng tạo trong hoạt động nhận thức Tính độc lập nhận thức liên quan mật thiết với tính tự giác

và tính tích cực của học sinh, trong đó tính tự giác và cơ sở của tính tích cực và tính tích cựcphát triển cao sẽ hình thành tính độc lập

- Tính nhất quán trong hoạt động trí tuệ phản ánh lôgíc hoạt động nhận thức của học

sinh, bảo đảm sự thống nhất tư tưởng chủ đạo từ đầu đến cuối, không mâu thuẫn

- Tính phê phán trong hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ, trong quá trình học tập, học sinh

biết nhận xét, đánh hgiá vấn đề, sự kiện, hiện tượng hoặc đánh giá, nhận xét quan điểm,phương pháp, lý thuyết của người khác và nêu lên được ý kiến chủ quan của mình và bảo vệ ýkiến đó Điều này giúp cho học sinh tiếp thu kinh nghiệm của loài người một cách sáng tạo,đồng thời đưa kinh nghiệm đó vào hệ thống kinh nghiệm bản thân, tránh giáo điều, mù quáng,máy móc trong hoạt động nhận thức

- Tính khái quát trong hoạt động trí tuệ được thể hiện khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ

nhận thức, học sinh có khả năng hình thành mô hình giải quyết một cách khái quát tương ứng

Trang 4

Từ đó , các em có thể vận dụng giải quyết các nhiệm vụ cụ thể cùng loại và dễ dàng thích ứngvới việc giải quyết các nhiệm vụ tương tự.

Các phẩm chất hoạt động trí tuệ nói trên có mối liên hệ mật thiết với nhau đảm bảo chohoạt động này đạt kết quả cao nhất với sự tốn kém ít nhất về sức lực thời gian, hoàn cảnh điềukiện nhất định

2.2.3 Hình thành ở học sinh cơ sở thế giới quan khoa học, lý tưởng cách mạng và phẩm chất đạo đức của con người mới

Trên cơ sở học sinh nắm vững tri thức và kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức

mà hình thành cho học sinh cơ sở thế giới quan khoa học, lý tưởng, động cơ, những phẩm chấtđạo đức nói riêng và phát triển nhân cách nói chung theo mục đích giáo dục đã đề ra Có thểnói, dạy học là con đường cơ bản và chính yếu thực hiện phát triển toàn diện nhân cách họcsinh “phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em” như Bác Hồ đã nói

Thế giới quan là hệ thống những quan điểm, quan niệm về thế giới tự nhiên, xã hội vàcon người, các quan điểm về triết học, chính trị học, kinh tế, mỹ học…Nó chi phối cách nhìnnhận, thái độ và hành động của cá nhân Trong xã hội có giai cấp, thế giới quan của cá nhânđều mang tính giai cấp Có thể nói, thế giới quan cá nhân là động cơ chủ đạo của mỗi cá nhân

Nó quy định xu hướng chính trị, đạo đức và các phẩm chất khác Nói cách khác, nó là sự thểhiện toàn bộ nhân cách của mỗi con người,

Ở nước ta, thế giới quan cần hình thành cho học sinh là thế giới quan của chủ nghĩaMác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đó là thế giới quan khoa học nhất, tiến bộ và vănminh nhất

Chính vì vậy, trong quá trình dạy học, cần phải quan tâm đầy đủ đến việc giáo dục chohọc sinh cơ sở thế giới quan khoa học để giúp các em có suy nghĩa đúng, có thái độ và hànhđộng đúng, đồng thời ngăn ngừa sự thâm nhập thế giới quan phản khoa học, bồi dưỡng cho các

em những phẩm chất đạo đức theo mục tiêu đề ra như trách nhiệm công dân, lòng yêu nước,yêu chủ nghĩa xã hội, năng động, sáng tạo, tiết kiệm, thích ứng nhanh với yêu cầu của côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đây là chức năng giáo dục của dạy học

2.3 Mối quan hệ giữa ba nhiệm vụ dạy học.

Trong quá trình dạy học, ba nhiệm vụ trên đây có quan hệ mật thiết tác động, hỗ trợ lẫnnhau để thực hiện mục đích giáo dục Thiếu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, thiếu phươngpháp nhận thức đúng đắn thì không thể tạo điều kiện cho sự phát triển trí tuệ và thiếu cơ sởhình thành thế giới quan khoa học

Phát triển trí tuệ vừa là kết quả, vừa là điều kiện của việc nắm vững tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo, đồng thời là cơ sở để hình thành thế giới quan khoa học và phẩm chất đạo đức

Nhiệm vụ thứ ba vừa là mục đích, vừa là yếu tố kích thích và chỉ đạo việc nắm tri thức,hình thành kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực nhận thức ở học sinh

3 Bản chất quá trình dạy học.

3.1 Những cơ sớ để xác định bản chất của quá trình dạy học

3.1.1 Mối quan hệ giữa nhận thức và dạy học

Trong xã hội diễn ra hoạt động nhận thức của loài người và nhận thức của học sinh,trong đó hoạt động nhận thức đi thức đi trước hoạt động dạy học Song hoạt động nhận thứccủa học sinh diễn ra trong điều kiện có sự tổ chức sư phạm đặc biệt, không lặp lại toàn bộ quátrình nhận thức của loài người, vì thế tránh được những sai lầm, những bước đường quanh co,khúc khuỷu của loài người

3.1.2 Mối quan hệ giữa dạy và học, giữa thầy và trò.

Trang 5

Quá trình dạy học có 2 nhân tố trung tâm, hoạt động dạy của thầy và học của trò Haihoạt động này thống nhất với nhau, phản ánh tính hai mặt của quá trình dạy học.

Thầy giữ vai trò chủ đạo ( tổ chức, điều khiển, lãnh đạo học sinh và hoạt động nhậnthức của học sinh )

Trò: Vừa là đối tượng điều khiển, đối tượng dạy nhưng đồng thời vừa là chủ thể hoạtđộng nhận thức

Kết quả dạy học tập trung ở kết quả nhận thức của học sinh, như vậy chỉ có có thể tìmthấy bản chất quá trình dạy học trong mối quan hệ giữa học sinh và tài liệu học tập, ở hoạtđộng nhận thức của bản thân học sinh

3.2 Bản chất quá trình dạy học

Quá trình dạy học về bản chất, là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh dưới sự chỉđạo của giáo viên nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học

* Quá trình dạy học thực chất là quá trình nhận thức của học sinh

Quá trình nhận thức của học sinh có những nét tương tự như quá trình nhận thức củanhà khoa học hay quá trình nhận thức có tính chất xã hội, lịch sử của loài người

- Cũng là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào ý thức con người

- Cũng diễn ra theo quy luật nhận thức chung: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừutượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”

- Cũng dựa trên sự huy động các thao tác tư duy ở mức độ cao nhất

- Cũng làm cho vốn hiểu biết của chủ thể được phong phú thêm, hoàn thiện hơn

Tuy nhiên quá trình nhận thức của học sinh lại có những nét độc đáo so với quá trìnhnhận thức chung của loài người của các nhà khoa học

- Học sinh chỉ phải nhận thức những cái mới đối với bản thân, những tri thức phổ thông

cơ bản phù hợp với thực tiễn của đất nước, được rút ra từ vốn kinh nghiệm chung của loàingười và được gia công về mặt sư phạm dưới sự chỉ đạo của giáo viên Do vậy, quá trình nhậnthức của học sinh diễn ra theo đường thẳng “thuận buồm xuôi gió” Trong khi đó, các nhà khoahọc phải tìm ra được những cái mới đối với loài người với tính độc lập cao, bằng con đườngquanh co khúc khuỷu đầy khó khăn, gian khổ

- Quá trình nhận thức của học sinh có chứa đựng các khâu củng cố, kiểm tra và đánh giátri thức kỹ năng, kỹ xảo nhằm biến chúng thành vốn riêng của bản thân học sinh Và bên cạnh

đó, quá trình nhận thức của học sinh lại có tính giáo dục, thông qua dạy chữ để dạy người.Trong khi đó, những nét đặc biệt này không có trong quá trình nhận thức của các nhà khoahọc

Trên cơ sở tính đến những nét tương tự, đặc biệt là những nét độc đáo của quá trìnhnhận thức của học sinh so với quá trrình nhận thức chung của loài người, của các nhà khoahọc, trong quá trình dạy học, giáo viên cần có những biện pháp hợp lý để tổ chức điều khiểnhoạt động nhận thức của học sinh đạt được kết quả tối ưu, tuyệt đối không được cường điệuhoá những nét tương tự và những nét độc đáo đó

4 Động lực của quá trình dạy học.

4.1 Khái quát về động lực của quá trình dạy học:

Đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê Nin về sự vận động và phát triển của sự vật

và hiện tượng trong thế giới Quá trình dạy học với tư cách là một hệ thống cũng vận động vàphát triển

Quá trình dạy học gồm nhiều nhân tố cấu trúc tồn tại trong mối quan hệ biện chứng vớinhau, bản thân mỗi nhân tố cũng ở trạng thái vận động và phát triển

Trang 6

Chúng ta xét biểu hiện của các nhân tố trung tâm

+ Từ chỗ chưa biết đến biết ngày càng nhiều

+ Từ chỗ nắm được tri thức đến hình thành kỹ năng ở mức độ cao hơn

+ Từ chỗ biết vận dụng những điều đã học vào các tình huống quen thuộc đến tình huốngmới

Từ đó năng lực và phẩm chất trí tuệ ngày càng hoàn thiện

4.1.2 Thầy và hoạt động dạy

Dưới ảnh hưởng của các nhân tố khác đặc biệt là sự tác động qua lại với học sinh vàhoạt động học, giáo viên và hoạt động dạy cũng vận động và phát triển

Cụ thể: Trình độ chuyên môn, trình độ nghiệp vụ sư phạm, trình độ hoạt động sư phạm

và phẩm chất nhân cách của giáo viên không nggừng được nâng cao và hoàn thiện

Như vậy các nhân tố trung tâm nói riêng và quá trình dạy học nói chung đều vận động

và phát triển theo chiều hướng đi lên, sự vận động và phát triển này diễn ra nhờ sự tác độngcủa những động lực nhất định

4.2 Động lực của quá trình dạy học

Theo chủ nghĩa Mác - Lê nin, sự vận động và phát triển có nguồn gốc ở sự đấu tranh vàthống nhất giữa các mặt đối lập, nghĩa là ở các mâu thuẫn của quá trình dạy học, các mâuthuẫn bên trong và các mâu thuẫn bên ngoài

4.2.1 Các mâu thuẫn bên trong bao gồm các mâu thuẫn giữa các nhân tố cấu trúc của

quá trình dạy học và mâu thuẫn giữa các yếu tố trong cùng một nhân tố cấu trúc đó

* Mâu thuẫn giữa các nhân tố cấu trúc của quá trình dạy học:

- Mâu thuẫn giữa mục đích, nhiệm vụ dạy học đã được nâng cao và hoàn thiện với nộidung dạy học còn thấp và lạc hậu

- Nội dung dạy học mang tính chất hiện đại hóa >< phương pháp, phương tiện dạy học

cũ kỹ

- Mâu thuẫn giữa yêu cầu, nhiệm vụ học tập mới và trình độ hiện còn có hạn ở học sinh

* Mâu thuẫn giữa các yếu tố trong cùng một nhân tố cấu trúc đó:

- >< giữa yêu cầu đầy đủ về nắm tri thức với chưa đầy đủ về rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo

- >< giữa nội dung kiến thức mới với kiến thức cũ và kinh ngiệm đã có của học sinh

- Trong các phương pháp cũng có ><

+ >< giữa phương pháp dạy của thầy và học của trò

+ >< giữa phương pháp thuyết trình với trực quan…

4.2.2 Mâu thuẫn bên ngoài của quá trình dạy học

Là điều kiện của sự phát triển nhưng không thể thiếu được Đó là những mâu thuẫn giữacác nhân tố cấu trúc của quá trình này với các nhân tố của môi trường xã hội - chính trị và môitrường cách mạng khoa học - kỹ thuật Như:

+ Mâu thuẫn giữa tiến bộ khoa học - kỹ thuật và nội dung dạy học lạc hậu

+ Mâu thuẫn giữa sự tiến bộ xã hội và nhiệm vụ dạy học lạc hậu

+Mâu thuẫn giữa sự tiến bộ xã hội và nhiệm vụ dạy học chưa được nâng cao…

Trang 7

Như vậy động lực của quá trình dạy học là sự thúc đẩy giải quyết những mâu thuẫn bêntrong và mâu thuẫn bên ngoài Trong đó giải quyết >< bên trong có ý nghĩa quyết định

Nhưng để quá trình dạy học đạt hiệu quả cần phải xác định được >< cơ bản của nó

Muốn xác định được >< cơ bản của quá trình dạy học phải dựa vào các dấu hiệu sau:

- Mâu thuẫn phải tồn tại suốt từ đầu đến cuối quá trình dạy học

- Việc giải quyết các mâu thuẫn khác, xét cho cùng là để phục vụ cho việc giải quyếtmâu thuẫn này

- Việc giải quyết mâu thuẫn này có liên quan trực tiếp đến sự vận động và phát triển củanhân tốt học sinh và hoạt động học

Căn cứ vào những dấu hiệu vừa nêu, mâu thuẫn cơ bản của quá trình dạy học là

mâu thuẫn giữa một bên là nhiệm vụ dạy học do tiến trình dạy học đề ra và một bên là trình độtri thức và kỹ năng, kỹ xảo, trình độ phát triển trí tuệ hiện có của học sinh Bởi vì:

Đó là mâu thuẫn tồn tại từ đầu đến cuối quá trình dạy học và khi nó xuất hiện dưới sự chỉđạo của giáo viên học sinh tự lực giải quyết nó Nhờ vậy trình độ nhận thức của học sinh ngàycàng được nâng cao

Khi >< này được giải quyết lập tức xuất hiện >< khác ở mức độ cao hơn và nhiệm vụnhận thức lại tiếp tục được giải quyết

Nhờ vậy, học sinh nâng cao được trình độ, đáp ứng được nhiệm vụ dạy học đề ra Cứnhư vậy quá trình dạy học luôn luôn vận động và phát triển không ngừng

* Điều kiện để mâu thuẫn trở thành động lực của dạy học :

- Mâu thuẫn phải được học sinh ý thức đầy đủ, sâu sắc về yêu cầu, nhiệm vụ học tập, cókhó khăn trong nhận thức, từ đó xuất hiện nhu cầu giải quyết để hoàn thành nhiệm vụ học tập

- Mâu thuẫn phải vừa sức học sinh, đúng hơn là khó khăn phải vừa sức học sinh Như

đã biết, nếu nhiệm vụ nhận thức được đề ra có mức độ tương ứng với vùng phát triển gần nhấtcủa học sinh thì họ có khả năng giải quyết được với sự huy động tối đa nỗ lực của mình trongviệc giải quyết nhiệm vụ nhận thức đó

- Mâu thuẫn phải xuất hiện tự nhiên do lô gíc của tiến trình dạy học dẫn đến Điều đó

có nghĩa là mâu thuẫn xuất hiện tại thời điểm nào đó là sự tất yếu trên con đường vận động đilên của quá trình dạy học nói chung và quá trình nhận thức của học sinh nói riêng Không nênnóng vội, đốt cháy giai đoạn khiến mâu thuẫn xuất hiện “non” mang tính chất gượng ép, giảtạo hoặc áp đặt từ giáo viên Học sinh thì vẫn thờ ơ, “vô cảm” trước những “bức xúc” của giáoviên Điều đó chỉ dẫn đến hậu quả là làm cho học sinh thụ động, bị “dắt mũi” trong suốt quátrình dạy học Do đó, vấn đề là làm thế nào để cho mâu thuẫn xuất hiện đúng lúc để kích thíchtối đa tiềm lực và sự chủ động sáng tạo của học sinh

Tóm lại: Quá trình dạy học là quá trình liên tục giải quyết các mâu thuẫn bên trong và

bên ngoài luôn luôn nảy sinh trên con đường đi lên của nhận thức Nhiệm vụ của giáo viên làphải khai thác mâu thuẫn, đặc biệt mâu thuẫn cơ bản Muốn vậy giáo viên phải nâng cao vaitrò tích cực, chủ động, độc lập của học sinh trong quá trình dạy học làm cho học sinh có động

Trang 8

Quá trình dạy học vận động theo 2 con đường:

- Vận động theo tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của chương trình, sách giáo khoa, đó là lô gícmôn học

-Vận động theo trình độ nhận thức của học sinh Đó là lô gíc quá trình nhận thức

Như vậy: Lô gíc quá trình dạy học là hợp kim của lô gíc môn học và lô gíc quá trình nhận thức

5.2 Lôgíc (các khâu) quá trình dạy học.

Quá trình dạy học diễn ra theo các khâu thống nhất sau đây:

5.2.1 Kích thích thái độ học tập tích cực của học sinh:

Thái độ học tập tích cực là một điều kiện quan trọng để nắm vững tài liệu học tập được tốt giúp học sinh có sự chú ý và hứng thú học tập, hình thành nhu cầu nhận thức, sẵnsàng tích cực học tập

Biện pháp:

- Ổn định tổ chức lớp, gây không khí hăng say học tập một cách nhanh chóng

- Xây dựng dần dần động cơ học tập cho học sinh đúng đắn cho học sinh

- Đặt nhiệm vụ nhận thức cho học sinh nhằm giúp các em định hướng đúng đắn và thựchiện tốt đẹp hoạt động học tập của mình

- Tổ chức quá trình học tập có nền nếp, có kỷ luật, không gò bó, gây được bầu khôngkhí học tập lành mạnh, sôi nổi

- Gây hứng thú học tập bằng nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phongphú, hấp dẫn, bằng thái độ, tác phong chan hoà, đúng mực, bằng sự thu hút học sinh vào việcgiải quyết tập trung những nhiệm vụ nhận thức chủ yếu và loại trừ những cái làm cho học sinhchán học, ngại học

5.2.2 Tổ chức, điều khiển học sinh nắm tri thức mới.

Trong khâu này, học sinh phải tri giác tài liệu học tập, hình thành biểu tượng và kháiniệm về các sự vật, hiện tượng

a Tổ chức điều khiển học sinh nắm tài liệu cảm tính

Trang 9

tình trạng học sinh tập trung chú ý vào những dấu hiệu bề ngoài, không bản chất của sự vật,hiện tượng.

Khai thác những kinh nghiệm sống của học sinh

b Tổ chức điều khiển học sinh hình thành khái niệm khoa học:

Nội dung

Trên cơ sở những tài liệu cảm tính đã thu được, học sinh tiến hành các thao tác tư duy,liên hệ giữa tri thức mới với tri thức cũ, vốn kinh nghiệm sống, tách cái chủ yếu khỏi cái thứyếu, từ đó hình thành khái niệm khoa học

Biện pháp

Kích thích các thao tác tư duy ở học sinh bằng các câu hỏi, các bài tập có tính vấn đề(tránh lạm dụng những câu hỏi, những bài tập chỉ đòi hỏi học sinh tái hiện thuần tuý) đóthường là những câu hỏi, những bài tập đòi hỏi học sinh phải biết phân tích và tổng hợp, biếtgiải thích, chứng minh, biết rút ra kết luận khái quát, biết so sánh, phân loại, biết

kiểm tra tính đúng đắn của việc giải quyết các bài tập…

Rèn luyện cho học sinh kỹ năng thực hiện sự tương tác giữa tư duy cụ thể và tư duytrừu tượng giúp cho việc nắm tri thức được hoàn thiện

Hướng dẫn học sinh độc lập hệ thống hoá các khái niệm đã tiếp thu được

Ý nghĩa

Tổ chức tốt học sinh sẽ phát triển được tư duy lô gíc, khả năng độc lập nắm tri thức

c Tổ chức, điều khiển học sinh củng cố tri thức:

Có tác dụng đào sâu tri thức đã tiếp thu, bổ xung mở rộng, đào sâu tri thức đã học

d Tổ chức, hướng dẫn cho học sinh rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo.

Nội dung

Trong quá trình học tập, học sinh cần biết tri thức thành kỹ năng, kỹ xảo Nhờ vậy, các

em mới có khả năng vận dụng những điều đã học vào các tình huống đa dạng

Những kỹ năng cần rèn luyện cho học sinh: Kỹ năng tóm tắt tài liệu học tập, kỹ nănggiải bài tập, kỹ năng tập làm văn, thí nghiệm, đo đạc, kỹ năng lao động…

Giáo viên cần giúp học sinh biến một số kỹ năng thành kỹ xảo và thói quen: Kỹ năng

đo đạc, tính nhẩm nhanh, đúng, thói quen làm việc có tổ chức, có kế hoạch theo thời gian biểu

Biện pháp.

Giáo viên cần tổ chức, hướng dẫn các em luyện tập một cách có hệ thống, giải thíchhiện tượng, vận dụng tri thức khoa học chính xác, đúng đắn, rèn luyện kỹ năng từ thấp đến

Trang 10

cao, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ những tình huống quen thuộc sang những tìnhhuống mới…

e Kiểm tra, đánh giá kết quả nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh:

Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh một cách

có hệ thống, có kế hoạch, với nhiều hình thức khác nhau

Đảm bảo tính khách quan, tính giáo dục của kiểm tra, đánh giá

Bồi dưỡng dần dần cho học sinh ý thức và năng lực tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả họctập của mình

f Phân tích kết quả một bước (giai đoạn, chu trình nhất định của quá trình dạy học)

Sau khi tiến hành một bước nhất định của quá trình dạy học cả giáo viên và học sinh nhìn lạitoàn bộ bước giảng dạy và học tập vừa qua đối chiếu kết quả đã đạt được với mục đích và nhiệm vụ

đã đề ra phát hiện: nhiệm vụ chưa hoàn thành, nguyên nhân học yếu kém của học sinh, khẳng định

ưu và tồn tại của thầy và trò Thực hiện tốt khâu này là hoàn thành mối liên hệ ngược cuối cùng

II Nguyên tắc dạy học

1 Khái niệm nguyên tắc dạy học

1.1 Khái niệm

Nguyên tắc dạy học là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lý luận dạy học, cótác dụng chỉ đạo toàn bộ tiến trình giảng dạy và học tập phù hợp với mục tiêu dạy học nhằmthực hiện tốt nhất các nhiệm vụ dạy học đã đặt ra

* Ý nghĩa:

Nguyên tắc dạy học có giá trị thưc tiễn cao, nó hướng dẫn toàn bộ quá trình dạy học từviệc xác định nội dụng phương pháp, phương tiện và các hình thức tổ choc dạy học hướng dẫnhoạt động của thầy và trò Các nguyên tắc dạy học là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, dẫn đường đảmbảo cho quá trình dạy học đi đúng hướng để đạt tới kết quả và chất lượng cao

1.2 Những căn cứ xây dựng nguyên tắc dạy học.

1.2.1 Mục đích giáo dục

Nhà trường xã hội chủ nghĩa phải giáo dục và đào tạo học sinh trở thành những người

kế tục sự nghiệp cách mạng của thế hệ đi trước Mục đích đó chi phối toàn bộ quá trình giáodục nói chung và dạy học nói riêng Vì vậy quá trình đó phải thực hiện tốt mục đích giáo dục

Trang 11

1.2.3 Xuất phát từ đặc điểm tâm lý học sinh.

Quá trình nhận thức của học sinh có những nét tương tự như quá trình nhận thức củaloài người nhưng cũng có những nét đặc thù riêng, tức là tùy vào đặc điểm tâm sinh lý của họcsinh

1.2.4 Được xây dựng trên cơ sở kế thừa có phê phán những di sản giáo dục tiến bộ

trước đây cũng như những kinh nghiệm tiên tiến của nhà trường phổ thông

1.2.5 Xuất phát từ những thành tựu của nhiều ngành khoa học có liên quan tới dạy

học và giáo dục như: tâm lý học, sinh lý học, điều khiển học, thông tin học… có thể vận dụngvào quá trình dạy học đạt hiệu quả cao

2 Hệ thống các nguyên tắc dạy học.

2.1 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học.

2.1.1 Nội dung nguyên tắc:

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải võ trang cho học sinh những trithức khoa học chính xác, chân chính, phản ánh những thành tựu hiện đại của khoa học, kỹthuật, văn hoá Mặt khác, phải giúp cho học sinh dần dần làm quen với phương pháp nghiêncứu, có thói quen suy nghĩ và làm việc một cách khoa học Thông qua đó hình thành thế giớiquan khoa học, phẩm chất và tình cảm cao quý của con người mới

2.1.2 Cách thực hiện nguyên tắc.

Để thực hiện nguyên tắc này, cần áp dụng một số biện pháp sau đây:

Truyền thụ cho học sinh những tri thức khoa học đã được khẳng định vững chắc trongkhoa học hiện đại Qua đó giúp các em nắm được các quy luật tự nhiên, xã hội, tư duy để cócách nhìn, có thái độ và hành động đúng đắn, sâu sắc đối với hiện thực

Làm cho học sinh hiểu được thiên nhiên, xã hội, con người Việt Nam, truyền thốngdựng nước và giữ nước của dân tộc ta, từ đó có trách nhiệm trong học tập, có tình cảm vàquyết tâm đem sức mình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Bồi dưỡng cho học sinh năng lực phân tích, phê phán những hiện tượng phản khoa họcnhư: Mê tín dị đoan, những tệ nạn xã hội…

Cho học sinh làm quen dần với phương pháp nghiên cứu khoa học theo mức độ phứctạp tăng dần, rèn luyện phẩm chất, tác phong của nhà nghiên cứu

Vận dụng phương pháp và tổ chức dạy học theo quan điểm phát triển, tôn trọng và pháthuy năng lực độc lập tự chủ, tích cực, sáng tạo ở học sinh Mặt khác khắc phục tình trạng họcvẹt, học tủ, học gạo, thụ động trong học tập

2.2 Nguyên tắc bảo đảm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học.

2.2.1 Nội dung nguyên tắc:

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải làm cho học sinh nắm vững nhữngtri thức lý thuyết

Nhận rõ tác dụng của tri thức này đối với đời sống, đối với thực tiễn

Trang 12

Giúp học sinh cos được những kỹ năng vận dụng chúng góp phần vào cải tạo hiện thực,cải tạo bản thân.

2.2.2 Cách thực hiện nguyên tắc.

Để thực hiện nguyên tắc này cần có các biện pháp sau đây:

Khi xây dựng kế hoạch và chương trình dạy học, cần lựa chọn những môn và những trithức phổ thông cơ bản phù hợp với điều kiện thiên nhiên, với thực tiễn xây dựng và bảo vệ tổquốc, chuẩn bị cho học sinh tham gia xây dựng cuộc sống Mặt khác, trong quá trình giảng dạycần đưa thêm những kiến thứcđịa phương nhằm giúp cho học sinh vừa nắm sâu kiến thức, vừahiểu biết thêm về địa phương mình

Về nội dung dạy học, cần cho học sinh thấy rõ nguồn gốc thực tiễn của các tri thức khoahọc, xem thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, cần phản ánh được tình hình thực tiễn vào nộidung dạy học và biết cách ứng dụng tri thức vào những hoàn cảnh cụ thể của đất nước, khaithác được vốn sống của học sinh

Về phương pháp dạy học: Cần vận dụng các phương pháp dạy họcphải thực hiện đầy đủcác thí nghiệm, thực nghiệm, các bài luyện tập, thực hành theo quy định của chương trình, mặtkhác phải hết sức tạo điều kiện cho học sinh vận dụng tri thức vào nhiều tình huống khắc nhaunhư: giải thích hiện tượng thực tiễn, giải bài tập có nội dung thực tiễn, tổng kết kinh nghiệmthực tiễn…

Về hình thức tổ chức dạy học: Cần tận dụng các hình thức dạy học, ở vườn, ở trường,xưởng trường, các cơ sở sản xuất công, nông nghiệp, các cơ sở kinh doanh…Đây là dịp họcsinh có điều kiện liên kết kiến thức với thực tiễn, học kết hợp với hành

2.3 Nguyên tắc bảo đảm thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng trong dạy học.

2.3.1 Nội dung nguyên tắc.

Nguyên tắc này đòi hỏi phải tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với các sự vật,hiện tượng hay những hình tượng, mô hình của chúng, từ đó đi đến chỗ nắm được những kháiniệm, những quy luật, những lý thuyết khái quát Ngược lại, có thể cho học sinh nắm nhữngcái trừu tượng, khái quát rồi từ đó xem xét những sự vật, hiện tượng cụ thể

Cần đảm bảo mối quan hệ giữa hai con đường nhận thức đó

2.3.2 Cách thực hiện nguyên tắc.

Để thực hiện nguyên tắc trên, có thể áp dụng các biện pháp sau đây:

- Trong quá trình dạy học phải sử dụng nhiều phương tiện trực quan khác nhau như:Các vật thật, vật tạo hình, các mô hình, sơ đồ, bản đồ… Có thể sử dụng chúng khi trình bàytri thức mới, khi rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, khi củng cố tri thức hoặc khi kiểm tra tri thức, kỹnăng, kỹ xảo

- Kết hợp việc trình bày các phương tiện trực quan với lời nói Nghĩa là kết hợp hai hệthống tín hiệu với nhau

- Rèn luyện cho học sinh óc quan sát và năng lực tư duy Mặt khác cho học sinh làmcác bài tập nhằm giải quyết mối quan hệ qua lại giãư tính cụ thể và trừu tượng

- Tổ chức cho học sinh sau khi nắm cái trừu tượng, nêu những ví dụ minh hoạ hoặc vậndụng để giải quyết các bài toán thực tiễn Mặt khác, cho học sinh làm những bài tập đòi hỏivận dụng kết hợp tư duy trừu tượng và tư duy cụ thể

2.4 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vững chắc của tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo và tính mềm dẻo của tư duy.

2.4.1 Nội dung nguyên tắc.

Trang 13

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học cần phải làm cho học sinh nắm vững

chắc những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo khi cần có thể nhớ lại và vận dụng linh hoạt vào các tìnhhuống nhận thức hay thực tiễn

Trong quá trình học sinh nắm được tri thức, kỹ năng, kỹ xảo phải phát triển được các phẩmchất của tư duy nói chung, phẩm chất mềm dẻo của tư duy nói riêng

2.4.2 Cách thực hiện nguyên tắc.

- Trong quá trình dạy học, cần làm nổi bật cái cơ bản, bản chất của vấn đề

- Trong tự học, học sinh phải biết sử dụng phối hợp các loại ghi nhớ: Ghi nhớ chủ định,ghi nhớ không chủ định, ghi nhớ máy móc, ghi nhớ có ý nghĩa

- Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa, cách sưu tầm và tra cứu tài liệu thamkhảo

- Trong quá trình dạy học, chú ý ôn tập cho học sinh Song, trong ôn tập phải yêu cầuhọc sinh nắm được tính hệ thống của kiến thức, thấy được cái mới, đồng thời tạo điều kiện chohọc sinh vận dụng kiến thức vào nhiều tình huống thực tiễn khác nhau Điều đó có tác dụnglàm cho học sinh vừa nắm chắc kiến thức, vừa rèn luyện phẩm chất linh hoạt trong tư duy

2.5 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và tính vừa sức riêng trong dạy học.

2.5.1 Nội dung nguyên tắc.

Nguyên tắc này đòi hỏi trong dạy học phải vận dụng nội dung phương pháp, hình thức

tổ chức dạy học sao cho phù hợp với trình độ phát triển của học sinh chung trong lớp, đồngthời phù hợp với trình độ phát triển của từng loại đối tượng, với từng học sinh, bảo đảm mọihọc sinh đều được phát triển tối đa khả năng của mình

Dạy học vừa sức có nghĩa là yêu cầu, nhiệm vụ học tập đề ra phải phù hợp với “vùngphát triển gần nhất” của học sinh, mà học sinh có thể hoàn thành với sự nỗ lực cao nhất về trítuệ và thể lực

2.5.2 Cách thực hiện nguyên tắc.

- Trước khi tiến hành giảng dạy, cần nắm đặc điểm chung cũng như đặc điểm riêng củatừng học sinh, nhất là về trình độ nhận thức, tinh thần, thái độ, động cơ học tập, hoàn cảnh giađình để lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp - Trongquá trình dạy học phải đi từ dễ đến khó, từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp

- Trong tiến trình dạy học phải kịp thời điều chỉnh hoạt động nhận thức của học sinh, đặcbiệt là những học sinh yếu kém

- Cần cá biệt hoá việc dạy học, sử dụng những tác động thích hợp để nâng cao năng lựccủa học sinh khá, đồng thời dẫn dắt học sinh yếu kém

- Cần tổ chức cho học sinh giỏi giúp học sinh yếu kém

2.6 Nguyên tắc bảo đảm thống nhất giữa vai trò tự giác, tích cực, độc lập của học sinh

và vai trò chủ đạo của giáo viên trong dạy học.

2.6.1 Nội dung nguyên tắc.

Trong quá trình dạy học đòi hỏi phải phát huy được tính tự giác, tích cực, độc lập củahọc sinh dưới vai trò chủ đạo của giáo viên trong mọi khâu của quá trình dạy học

* Tính tự giác nhận thức thể hiện ở chỗ học sinh ý thức được mục đích nhiệm vụ họctập, có ý thức trong việc lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, có ý thức kiểm tra, tựkiểm tra, đánh giá, tự đánh giá quá trình và kết quả học tập của mình

Trang 14

* Tính tích cực nhận thức thể hiện ở thái độ cải tạo của chủ thể đối với đối tượng nhậnthức Nghĩa là tài liệu học tập được hoà vào vốn kinh nghiệm của mình và được vận dụng linhhoạt vào các tình huống khác nhau nhằm cải tạo hiện thực và bản thân

Tính tích cực nhận thức còn thể hiện ở chỗ: Các em biết khắc phục khó khăn, nâng caohứng thú học tập, phát triển mọi choc năng tâm lý, đặc biệt là choc năng tư duy

* Tính độc lập nhận thức được thể hiện ở chỗ:

- Các em đi từ chỗ bắt chước đến chỗ suy luận và làm theo ý mình có tính chất sáng tạo,

tự mình phát hiện vấn đề và tìm cách giải quyết vấn đề Như vậy, đòi hỏi học sinh có năng lực

tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức của bản thân

Ba phẩm chất nêu trên có quan hệ mật thiết với nhau: tính tự giác là cơ sở để hình thànhtính tích cực, tính tích cực đến mức độ nào đó làm nảy sinh tích độc lập Như vậy, tính độclập chứa đựng trong nó tính tự giác và tính tích cực Chúng được hình thành và phát triển dưới

sự chỉ đạo của giáo viên

2.6.2 Cách thực hiện nguyên tắc.

- Trong quá trình dạy học, cần giáo dục cho các em ý thức được đầy đủ mục đích, nhiệm

vụ học tập, từ đó có động cơ, thái độ học tập đúng đắn

- Cần sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề

- Cần bồi dưỡng cho học sinh thói quen hoài nghi khoa học, không lĩnh hội và không tin

mù quáng vào những vấn đề mà bản thân chưa hiểu, không làm bài tập khi chưa nắm chắcnhững vấn đề lý thuyết

- Cần duy trì thường xuyên mối liên hệ ngược trong và liên hệ ngược ngoài trong

quá trình dạy học Nhờ đó, giáo viên và bản thân học sinh có thể điều chỉnh hoạt động nhậnthức của mình nhằm làm cho tri thức, kỹ năng, kỹ xảo được lĩnh hội một cách vững chắc

2.7 Nguyên tắc chuyển từ dạy học sang tự học.

2.7.1 Nội dung nguyên tắc.

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải hình thành cho học sinh nhu cầu,năng lực, phẩm chất tự học để có thể chuyển dần từ quá trình dạy học sang tự học Bởi vậy,ngày nay quan niệm quá trình dạy học là quá trình dạy - tự học Trong thời đại khoa học - kỹthuật phát triển như vũ bão, thời đại mà nền kinh tế tri thức đã và đang hình thành ở nhiềunước và ở nước ta, Đảng và Nhà nước đang chủ trương tăng dần các yếu tố của nền kinh tế trithức trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội thì việc học hỏi suốt đời có tầm quan trọngmang tính chất sống còn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Học hỏi là một công việc phải tiếptục suốt đời” trong đó phải “Lấy tự học làm cốt”

2.7.2 Cách thực hiện nguyên tắc.

- Trong quá trình dạy học phải chú ý rèn kỹ năng học tập, kỹ năng tự học cho học sinhnhư: Kỹ năng đọc sách, kỹ năng tra cứu, kỹ năng lập kế hoạch học tập, kỹ năng tự tổ chức vàthực hiện việc học tập, kỹ năng tự kiểm tra…

- Làm tăng tỷ trọng hoạt động tự lực của học sinh trong tiến trình dạy học, tránh tìnhtrạng thầy đọc, trò chép ở trên lớp

- Nêu những gương tự học của cha ông và những người đi trước những danh nhân và cảgương tự học trong học sinh để khích lệ học sinh tự học

- Tổ chức trao đổi kinh nghiệm học tập trong tập thể học sinh

- Chú ý xây dựng thư viện nhà trường và khuyến khích học sinh sử dụng, khai thác mộtcách tốt nhất tài liệu trong thư viện phục vụ cho học tập

Trang 15

Trên đây là các nguyên tắc chủ yếu của dạy học Chúng làm thành một hệ thống có liênquan chặt chẽ với nhau, chỉ đạo toàn bộ tiến trình dạy học với tinh thần phát huy vai trò chủthể của học sinh dưới sự chỉ đạo của giáo viên.

HƯỚNG DẪN HỌC Câu hỏi ôn tập

1 Thế nào là quá trình dạy học? Phân tích các nhiệm vụ của quá trình dạy học và mốiquan hệ giữa các nhiệm vụ Lấy ví dụ minh hoạ

2 Phân tích bản chất của quá trình dạy học Từ đó, rút ra những kết luận sư phạm

3 Trình bày các khâu của quá trình dạy học và mối liên hệ giữa chúng

Trang 16

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC Ở TRƯƠNG THCS (6:3)

2.1 Khái niệm chung về nội dung dạy học.

2.1.1 Nội dung dạy học là gì?

Nội dung dạy học là một bộ phận được chọn lọc trong nền văn hoá của dân tộc và củaloài người (bao gồm văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần) mà người giáo viên cần tổ chứccho học sinh lĩnh hội để đảm bảo hình thành nhân cách theo mục tiêu giáo dục đã định

Nội dung dạy học là hệ thống kiến thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo mà học sinh cần nắmvững, đảm bảo hình thành ở học sinh cơ sở thế giớ quan khoa học và phẩm chất của con ngườimới chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống và hoạt động lao động

Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần là hình thức đặc biệt thể hiện những kinh nghiệm xãhội mà loài người đã tích lũy được Nớ gồm 4 yếu tố cơ bản:

+ Hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội, tư duy, về kỹ thuật và cách thức hoạt động mà

xã hội thu được

+ Hệ thống những kinh nghiệm thực hiện những cách thức hoạt động đã biết

+ Kinh nghiệm tìm kiếm sáng tạo

+ Kinh nghiệm về thái độ đối với thế giới, đối với con người

2.1.2 Những thành phần của nội dung dạy học.

2.1.2.1 Hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội, tư duy về kỹ thuật và cách thức hoạt động

- Các tri thức này gồm nhiều dạng khác nhau

- Các sự kiện thông thường và các sự kiện khoa học

- Các khái niệm cơ bản và các thuật ngữ khoa học

- Các quy luật, định luật và các học tuyết

- Những tri thức về cách thức hoạt động, về các phương pháp nhận thức và lịch sử thulượm tri thức cũng như lịch sử khoa học

2.1.2.2 Hệ thống những kinh nghiệm thực hiện những cách thức hoạt động đã biết.

Đó là những kỹ năng, kỹ xảo hoạt động thực tiễn, hoạt động trí óc có liên quan đến từngmôn học hoặc liên quan tới tất cả các môn

2.1.2.3 Hệ thống những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo.

Hệ thống kinh nghiệm này được con người tích lũy trong quá trình phát triển các hoạtđộng thực tiễ và đảm bảo cho học sinh có năng lực tiếp tục sáng tạo nền văn hóa xã hội

2.1.2.4 kinh ngiệm về thái độ đối với thế giới, đối với con người.

Đó là những kinh nghiệm về thái độ đánh giá đối với các tri thức khoa học, đối với cácchuẩn mực đạo đức, đối với sự thể hiện về các mặt thẩm mỹ của hiên thực, đối với lý tưởng xãhội chính trị

2.2 Kế hoạch dạy học, chương trình dạy học, sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác 2.2.1 Kế hoạch dạy học ở trường trung học cơ sở.

Kế hoạch dạy học là văn kiện do nhà nước ban hành trong đó quy định mục tiêu các bậchọc, cấp học, số lượng môn học, trình tự giảng dạy và học tập các môn qua từng năm học, sốgiờ dành cho mỗi môn trong một tuần, việc tổ chức năm học

( số tuần thực học, số tuần lao động, chế độ học tập hàng ngày, hàng tuần …)

2.2.2 Chương trình dạy học.

Trang 17

Là văn kiện do nhà nước ban hành trong đó quy định một cách cụ thể: vị trí, mục đíchmôn học, nội dung chi tiết môn học, thời gian thực hiện cho từng đơn vị kiến thức của bộ môn

và kèm theo đó là hướng dẫn thực hiện chương trình

2.2.3 Sách giáo khoa và các tài liệu dạy học khác.

a Sách giáo khoa:

Là văn bản thể hiện nội dung chi tiết của chương trình môn học, là tài liệu chính để thầydạy và học sinh học

* Chức năng của sách giáo khoa

- Phải trình bầy những nội dung của từng môn một ccách rõ ràng, cụ thể, chi tiết và theocấu trúc của nó

- Trình bày những nội dung cơ bản, những thông tin cần thiết vừa sức đối với học sinh vàtheo một hệ thông chặt chẽ

- Có chức năng chủ yếu là giúp học sinh lĩnh hội, củng cố, đào sâu những tri thức tiếp thuđược trên lớp, phát triển năng lực trí tuệ và có tác dụng giáo dục họ

*Yêu cầu đối với sách giáo khoa:

- Những tri thức trình bày trong sách giáo khoa phải đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng,tính hệ thống, tính vừa sức và phù hợp với chương trình quy định

- Phải giúp học sinh dần dần nắm được phương pháp học tập độc lập qua đó giúp họ biếthọc tập liên tục, suốt đời qua sách báo và hoạt động thực tiễn Vì vậy cần phải có

những chỉ dẫn, những bài tập quan sát và luyện tập, những câu hỏi ôn tập và tự kiểm tra

- Phải kích thích tính tích cực hoạt động nhận thức, đặc biệt là hoạt động tư duy, mở rộngtầm hiểu biết cho học sinh

- Ngôn ngữ trong sách giáo khoa phải chính xác, rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu

- Phải đảm bảo những yêu cầu sư phạm về vệ sinh và thẩm mỹ Hình thức sách giáo khoaphải đẹp, những kiến thức trọng tâm phải trình bày nổi bật

b Những tài liệu học tập khác

Nhằm giúp giáo viên tiến hành công tác giảng dạy thuận lợi, giúp học sinh mở rộng, bổxung, đào sâu kiến thức phù hợp với trình độ và hứng thú của mình

HƯỚNG DẪN HỌC Câu hỏi ôn tập

1 Nguyên tắc dạy học là gì? Kể tên các nguyên tắc dạy học

2 Trình bày những yêu cầu và biện pháp thực hiện từng nguyên tắc dạy học Lấy ví dụminh họa

II Phương pháp dạy học

4.1 Khái niệm chung.

4.1.1.Khái niệm

Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của thầy và trò (trong đó thầyđóng vai trò chủ đạo) được tiến hành trong quá trình dạy học, nhằm thực hiện các nhiệm vụdạy học

Từ định nghĩa trên ta thấy, phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phươngpháp học với sự tương tác lẫn nhau, trong đó phương pháp dạy học đóng vai trò chủ đạo, còn

Trang 18

phương pháp học có tính độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy Song, nócũng có ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy.

4.1.2 Đặc điểm

- Là phương pháp của hai chủ thể nên chúng có tính độc lập tương đối song chúng đượcthực hiện trong cùng một nội dung với cùng một mục đích cho nên hai loại phương pháp nàyhòa quyện, phối hợp và thống nhất với nhau dưới sự chỉ đạo của phương pháp dạy

- Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của chủ thể nên chứa đựng những dấu ấn chủquan: Phương pháp giảng dạy thể hiện trình độ nghiệp vụ sư phạm của giáo viên, là khoa họctrong nội dung, là kỹ thuật trong các thao tác, là nghệ thuật trong thể hiện

- Phương pháp dạy học bao giờ cũng mang mục đích rõ rệt Nó gắn với mục đích dạy họcbao gồm cả mục đích giáo dục và giáo dục học sinh Phương pháp dạy học phục vụ cho mụcđích môn học, bài học, đồng thời giáo dục cả tính sáng tạo, kiên trì thúc đẩy hứng thú học tậpcủa học sinh

- Phương pháp dạy học phụ thuộc một cách khách quan vào mục đích và nhiệm vụ

dạy học, chịu sự chi phối của nội dung dạy học, nó thay đổi cùng với sự thay đổi của điều kiện

xã hội chính trị và sự phát triển của khoa học kỹ thuật

+ Nhóm các phương pháp dạy học dùng lời

+ Nhóm phương pháp dạy học trực quan

+ Nhóm phương pháp dạy học thực hành

4.2.1.1 Nhóm phương pháp dạy học dùng lời.

a Các phương pháp thuyết trình.

a.1 Định nghĩa: Phương pháp thuyết trình là phương pháp dạy học giáo viên dùng lời nói sinh

động để trình bày, giải thích nội dung bài học một cách chi tiết, dễ hiểu cho học sinh tiếp thu

và để hệ thống hóa những tri thức mà học sinh đã thu lượm được

a.2 Các phương pháp thuyết trình

* Giảng thuật: Là dùng lời nói để trần thuật và mô tả một hiện tượng, một sự kiện

Giảng thuật không chỉ được sử dụng trong việc dạy học các môn học xã hội - nhân văn mà còn

cả những bộ môn khoa học tự nhiên Nó được sử dụng khi mô tả những thí nghiệm, hiện tượnghoặc trình bày cuộc đời và sự nghiệp của nhà bác học lỗi lạc, những thành tựu nổi tiếng trongkhoa học - công nghệ…

Khi sử dụng giảng thuật, giáo viên có thể trích những đoạn văn, thơ ngắn, những câunói hay những đoạn trích từ các tác phẩm văn học, các văn kiện lịch sử…để làm bài giảng sinhđộng, giầu hiện tượng, xúc cảm Cũng có thể sử dụng kết hợp các phương tiện trực quan,phương tiện kỹ thuật dạy học để minh hoạ cho việc trình bày của mình Cũng có thể đặt ranhững câu hỏi hoặc tạo ra các tình huống có vấn đề nhằm thu hút sự chú ý, định hướng sự lắngnghe hoặc kích thích tính tích cực cũng như để kiểm tra hiệu quả việc lĩnh hội tri thức của họcsinh

Trang 19

* Giảng giải: Là hình thức của phương pháp thuyết trình, thể hiện bằng việc dùng những

luận cứ, số liệu để chứng minh một hiện tượng, sự kiện, quy tắc, định lý, định luật, công thức,nguyên tắc trong các môn học Giảng giải chứa đựng các yếu tố phán đoán, suy lý nên cónhiều khả năng phát triển tư duy lô gíc của học sinh Trong quá trình dạy học, giảng giảithường kết hợp với giảng thuật

* Giảng diễn: Là một hình thức của phương pháp thuyết trình, nhằm trình bày một vấn đề

hoàn chỉnh, có tính phức tạp, trừu tượng và khái quát trong một thời gian tương đối dài )

a.3 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp thuyết trình

- Ưu điểm: Phương pháp thuyết trình có những ưu điểm sau:

+ Là phương pháp được sử dụng lâu đời nhất trong lịch sử dạy học, nó là phương pháp dễthực hiện đối với giáo viên vì không đòi hỏi bất cứ một phương tiện kỹ thuật nào

+ Giúp học sinh nắm tri thức một cách có hệ thống, hoàn chinh phát triển được tư duy lôgíc

+ Cho phép giáo viên truyền đạt những nội dung lý thuyết tương đối khó, phức tạp, chứađựng nhiều thông tin mà học sinh tự mình không dễ dàng tìm hiểu được một cách sâu sắc +Tạo cho học sinh nắm được hình mẫu về cách tư duy lô gíc, cách đặt và giải quyết vấn đềkhoa học, cách sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt những vấn đề khoa học một cách chính xác, rõràng, súc tích thông qua cách trình bày của giáo viên

+Tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của họcsinh qua việc trình bày tài liệu với giọng nói, cử chỉ, điệu bộ thích hợp và diễn cảm

+Tạo điều kiện phát triển năng lực chú ý kích thích tính tích cực tư duy của học sinh, vìnhư vậy họ mới có thể cải biến lời nói của giáo viên thành ý của mình để ghi chép

+ Giáo viên bằng phương pháp thuyết trình có thể truyền đạt một khối lượng thông tin khálớn cho nhiều học sinh trong cùng một lúc, vì vậy đảm bảo tính kinh tế cao

- Hạn chế: Bên cạnh những ưu điểm, phương pháp thuyết trình cũng có những hạn chế,

nếu sử dụng không đúng có thể:

+ Làm cho học sinh thụ động, dễ mệt mỏi

+ Làm cho học sinh thiếu tích cực trong việc phát triển ngôn ngữ nói

+ Thiếu điều kiện cho phép giáo viên chú ý đầy đủ đến trình độ nhận thức cũng nhưkiểm tra đầy đủ lĩnh hội tri thức của từng học sinh

a.4 Những yêu khi sử dụng phương pháp thuyết trình.

Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần:

- Đảm bảo tính giáo dục, tính khoa học, tính thực tiễn của người thuyết trình

- Trình bày chính xác các sự kiện, hiện tượng, khái niệm, định luật vạch ra được bản chất củavấn đề, ý nghĩa tư tưởng chính trị và thực tiễn của tài liệu học tập

- Trình bày phải đảm bảo tính tuần tự lô gíc, rõ ràng, dễ hiểu với lời nói rõ, gọn, sángsủa, giầu hình tượng, chuẩn xác, súc tích

- Trình bày phải thu hút và duy trì sự chú ý, gây được hứng thú hướng doẫn tư duy củahọc sinh thông qua giọng nói, tốc độ nói, âm lượng thay đổi thích hợp, qua các mẩu chuyệnvui đúng mức, qua cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, kết hợp lời nói và điệu bộ, nét mặt,biết đưa vào lời trích dẫn đúng chỗ, đúng lúc

Trình bày phải đảm bảo cho học sinh ghi chép được những vấn đề cơ bản và qua đó dạycho họ biết cách vừa ghi, vừa tập trung nghe giảng

b Phương pháp vấn đáp (đàm thoại)

Trang 20

b.1 Định nghĩa: Phương pháp vấn đáp là phương pháp giáo viên khéo léo đặt ra hệ

thống câu hỏi để học sinh trả lời nhằm gợi mở cho họ sáng tỏ những vấn đề mới, tự khai phánhững tri thức mới bằng cách tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tíchluỹ được trong cuộc sống, nhằm củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệ thống hoá những trithức đã tiếp thu được và nhằm kiểm tra, đánh giá, giúp họ tự kiểm tra, tự đánh giá việc lĩnh hộitri thức

- Vấn đáp củng cố: Là phương pháp giáo viên khéo léo đặt ra một câu hỏi hoặc hệ thốngcâu hỏi nhằm giúp học sinh củng cố những tri thức cơ bản hoặc giúp họ mở rộng, đào sâunhững tri thức đã thu lượm được

- Vấn đáp tổng kết: Là phương pháp vấn đáp nhằm giúp học sinh khái quát, hệ thốnghoá những tri thức sau khi đã học một số bài, một chương, một bộ môn nhất định

- Vấn đáp kiểm tra: Là phương pháp vấn đáp nhằm kiểm tra những tri thức đã học,

đã được củng cố, khái quát, hệ thống hoá Qua câu trả lời của học sinh mà giáo viên có thểđánh giá và họ cũng tự kiểm tra, tự đánh giá những tri thức đã được lĩnh hội một cách kịp thời,nhanh gọn Vấn đáp này được sử dụng trước, trong và sau khi học xong một chương hay nhiềubài

Dựa vào tính chất nhận thức của học sinh có thể phân ra vấn đáp giải thích - minh hoạ,vấn đáp tái hiện, vấn đáp tìm tòi - phát hiện

Vấn đáp giải thích minh hoạ: Là phương pháp mà giáo viên đặt ra những câu hỏi đòihỏi học sinh giải thích, nêu lên dẫn chứng để minh hoạ, làm sáng tỏ cho sự giải thích của mình.Trong câu trả lời của học sinh không chỉ đòi hỏi nhớ lại tri thức mà phải có sự cấu trúc lại trithức để có sự suy luận cần thiết

Vấn đáp tái hiện: Là phương pháp mà giáo viên đặt ra những câu hỏi đòi hỏi học sinhphải nhớ lại tri thức đã học và vận dụng chúng để giải quyết những nhiệm vụ học tập tronghoàn cảnh đã biết

Vấn đáp tìm tòi - phát hiện: Là phương pháp mà giáo viên đặt ra những câu hỏi có tínhchất vấn đề gây cho học sinh gặp phải tình huống vấn đề và qua đó họ có nhu cầu phải lĩnh hộitri thức mới để giải quyết vấn đề đó

b.3 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp vấn đáp.

*Ưu điểm:

Nếu vận dụng khéo léo, phương pháp vấn đáp sẽ có tác dụng sau:

- Làm cho lớp học sinh động, tạo nên một không khí học tập thoải mái Kích thích họcsinh tự giác, tích cực học tập, hào hứng học tập, tiếp thu tri thức không thụ động

- Bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt bằng lời những vấn đề khoa học một cáchchính xác, đầy đủ, súc tích

- Giúp giáo viên thu được tín hiệu ngược từ học sinh một cách nhanh, gọn, kịp thời đểđiều chỉnh hoạt động của mình và của học sinh Đồng thời qua đó học sinh cũng thu được tínhiệu ngược để kịp thời điều chỉnh hoạt động nhận thức - học tập của mình Ngoài ra, thông qua

đó giáo viên cũng có khả năng chỉ đạo hoạt động nhận thức của cả lớp và từng học sinh

Trang 21

* Hạn chế:

- Nếu vận dụng thiếu khéo léo sẽ dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng đến kế hoạch lên lớp,biến vấn đáp thành cuộc đối thoại giữa giáo viên và một vài học sinh, không thu hút toàn lớptham gia vào hoạt động chung

- Nếu câu hỏi đặt ra chỉ đòi hỏi nhớ lại tri thức một cách máy móc thì sẽ làm ảnh hưởngđến sự phát triển tư duy lôgíc, tư duy sáng tạo của học sinh

b.4 Những yêu cầu khi sử dụng phương pháp vấn đáp.

Đối với giáo viên:

- Cần xây dựng một hệ thống câu hỏi phù hợp với nội dung bài

- Nội dung câu hỏi phải chính xác, rõ ràng, gọn, phù hợp với các loại đối tượng học sinh,kích thích học sinh tích cực tư duy: tránh những câu hỏi khó quá hoặc dễ quá, không có tácdụng kích thích tính tích cực của học sinh

- Cần nêu câu hỏi chung cho toàn lớp chú ý, sau mới gọi học sinh nào đó trả lời Khihọc sinh không trả lời được, tránh để thời gian chết, giáo viên cần có những câu hỏi gợi mởhoặc gọi học sinh khác tiếp sức

- Khi học sinh trả lời, giáo viên phải chú ý lắng nghe, có nhận xét, có động viên, nhất làvới những học sinh ít phát biểu

Đối với học sinh:

- Cần yêu cầu các em trả lời rõ ràng, ngắn gọn, cố gắng nói sao cho các bạn dễ hiểu, nêu được bản chất vấn đề và phải bình tĩnh, dõng dạc, chống hiện tượng nói lý nhí, khó nghe

4.2.1.2 Nhóm phương pháp dạy học trực quan

a Khái niệm:

Phương pháp dạy học trực quan là phương pháp dạy học mà giáo viên sử dụng nhữngphương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học nhằm tổ chức cho học sinh tri giác có chủđích, có kế hoạch, tạo khả năng cho họ theo dõi tiến trình và sự biến đổi diễn ra trong đốitượng quan sát trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới, kho ôn tập, củng cố, hệ thống hoá vàkiểm tra tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

b Các phương pháp cụ thể:

- Quan sát:

Phương pháp quan sát là phương pháp giáo viên tổ chức cho học sinh độc lập xem xét

sự vật, hiện tượng, từ đó rút ra những kết luận cần thiết

c Ưu nhược điểm:

Ưu điểm: Nếu sử dụng khéo sẽ:

- Huy động được sự tham gia của nhiều giác quan kết hợp chặt chẽ hai hệ thống tín hiệuvới nhau tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, giảm độ mệt nhọc, gây được mối liên hệthần kinh tạm thời phong phú

- Phát triển ở học sinh năng lức chú ý, năng lực quan sát, óc tò mò khoa học, tạo điều kiệncho học sinh lên hệ học tập với thực tiễn

Nhược điểm: Nếu sử dụng không đúng, lạm dụng dễ làm học sinh phân tán chú ý, không tậptrung vào dấu hiệu cơ bản và hạn chế năng lực tư duy trừu tượng

Trang 22

d Một số yêu cầu khi sử dụng

- Lựa chọn phương tiện trực quan sao cho phù hợp với mục đích và nhiệm vụ học tập

- Trình bầy phương tiện trực quan theo trình tự, theo yêu cầu của nội dung bài

- Phương tiện trực quan phải được cả lớp nhìn thấy Khi cần thiết và có điều kiện cần chohọc sinh quan sát những sự vật hiện tượng trong sự vận động và phát triển của nó

- Các phương tiện trực quan phải rõ ràng, chính xác, không được gây biểu tượng sai lệch.Giáo viên cần hướng dẫn học sinh tập trung chú ý vào những cái chủ yếu để xem xét, ghi chép,biết mô tả bằng lời đối tượng được trình bày và tự rút ra kết luận

- Phương tiện trực quan phải được đưa ra đúng lúc, dùng xong cất đi ngay để học sinhkhông bị phân tán tư tưởng

- Phương tiện trực quan phải đảm bảo yêu cầu về thẩm mỹ, về độ lớn, về an toàn laođộng, về kỹ thuật, về kinh tế

a.2 Các loại ôn tập

- Ôn tập bước đầu: Hình thức ôn tập này thường được sử dụng ngay sau khi lĩnh hội trithức, kỹ năng, kỹ xảo Hình thức này diễn ra thường ngày nhằm củng cố sơ bộ những tri thức,

kỹ năng, kỹ xảo vừa lĩnh hội

- Ôn tập khái quát hoá, hệ thống hoá tri thức: Hình thức ôn tập này thường diễn ra saukhi học xong một số chương, một môn học, nhằm khái quát hoá, hệ thống hoá, đào sâu, mởrộng tri thức, hoàn thiện những kỹ năng, kỹ xảo Nó cũng được sử dụng trong quá trình lĩnhhội tri thức mới, luyện tập, vận dụng tri thức để giải những bài toán, những vấn đề thực tế

a.3 Ưu nhược điểm

Ưu điểm:

- Giúp học sinh nắm vững, mở rộng, hệ then hóa những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

- Giúp cho giáo viên có điều kiện sửa chữa sai sót trong tri thức học sinh

- Phát triển được trí nhớ, tư duy, nâng cao được hứng thú học tập cho học sinh, trên cơ sở

đó chuẩn bị tốt cho việc học tri thức mới, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo

Nhược điểm:

Nếu sử dung không khéo, không có kế hoạch ôn tập sẽ không đạt yêu cầu, sẽ làm mấtthời gian, không mang lại hiệu quả ôn tập

a.4 Những yêu cầu sử dụng phương pháp ôn tập:

- Ôn tập phải có kế hoạch, có hệ thống và kịp thời

- Ôn tập phải bằng nhiều hình thức khác nhau

- Ôn tập thường xuyên, ôn rải ra, ôn xen kẽ nhiều môn

- Ôn tập phải có tính chất tích cực: ôn tập bằng cách tái hiện lại, cấu trúc lại tri thức đểgiải quyết vấn đề nhằm lĩnh hội tri thức mới, vận dụng tri thức trong hoàn cảnh đã biết và hoàncảnh mới

b Phương pháp luyện tập.

Trang 23

b.1.Định nghĩa:

Luyện tập là phương pháp dạy học mà dưới sự chỉ dẫn của giáo viên, học sinh lặp đi lặplại nhiều lần những hành động nhất định trong hoàn cảnh khác nhau nhằm hình thành và pháttriển những kỹ năng, kỹ xảo

b.2 Các dạng luyện tập

- Dựa trên cơ sở sự thể hiện của nó:

+ Luyện tập nói

+ Luyện tập viết

- Dựa theo các khâu của quá trình dạy học:

+ Luyện tập nhằm tiếp thu tri thức mới+ Luyện tập nhằm hình thành kỹ năng, kỹ xảo + Luyện tập nhằm vận dụng tri thức

+ Luyện tập nhằm ôn tập, củng cố tri thức

- Dựa trên mức độ tính chất hoạt động người ta phân ra:

+ Luyện tập có tính chất tái hiện+ Luyện tập vận dụng

Nhược điểm:

Nếu không có kế hoạch luyện tập dễ làm mất thời gian, không mang lại kết quả luyệntập

b.4 Những yêu cầu cơ bản của vận dụng phương pháp luyện tập.

- Luyện tập phải nhằm mục đích, yêu cầu nhất định

- Luyện tập phải tiến hành theo một trình tự chặt chẽ Lúc đầu đơn giản, theo mẫu, cóchỉ dẫn, sau tăng dần tính phức tạp của hành động và sự tự lực luyện tập

- Phải nắm lý thuyết rồi mới luyện tập và qua luyện tập để hiểu sâu lý thuyết

- Luyện tập phải đảm bảo tính khó khăn vừa sức trong những hoàn cảnh khác nhau vàtheo nhiều phương án

- Học sinh phải biết tự kiểm tra, đánh giá kết quả luyện tập của mình

- Luyện tập phải đảm bảo tính giáo dục

c.2.1 Sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu khác

*Là phương pháp giúp học sinh sử dụng sách giáo khoa ở trên lớp cũng như ở nhà

* Việc dùng sách giáo khoa ở trên lớp:

Giáo viên giảng kỹ phần trọng tâm, quan trọng, giải thích những danh từ mới, hướng dẫnhọc sinh gạch chân những phần quan trọng, đọc phần dễ hiểu

* Việc dùng sách giáo khoa ở nhà

Trang 24

Để việc sử dụng sách giáo khoa và các tài lệu khác có kết quả cần hình thành cho họcsinh một số kỹ năng, kỹ xảo sau:

- Kỹ năng, kỹ xảo đọc: Đọc lướt để tìm ý chính, để biết bố cục, đọc kỹ để đi sâu nắm vữngchủ đề, các luận điểm chính, các phương pháp nghiên cứu những sự kiện cụ thể của tài liệu

- Kỹ năng, kỹ xảo lập dàn ý, xây dung đề cương nhằm giúp học sinh phát triển năng lựckhái quát hóa, hệ thống hóa, dựa trên những điểm ghi nhớ để khi cần có thể viết tóm tắt hoặctrình bày lại

- Ghi tóm tắt: dựa trên dàn ý ghi lại những ý cơ bản nhất, chủ yếu phản ánh được nội dung

cơ bản của tài liệu dưới dạng ngắn gọn nhất

- Kể lại: Kể lại cả một đoạn, một bài hoặc một cuốn sách

* Ưu, nhược điểm của phương pháp:

Ưu điểm:

+ Rèn luyện cho học sinh kỹ năng, kỹ xảo sử dụng sách giáo khoa

+ Bồi dưỡng vốn ngữ pháp, vốn sống, óc nhận xét, phê phán

+ Bồi dưỡng hứng thú học tập, giáo dục tư tưởng tình cảm cho học sinh

+ Góp phần mở rộng, củng cố tri thức đã học

Nhược điểm:

Nếu quá miệt mài đọc sách, dẫn đến xa rời cuộc sống, xa rời thự tế

*Yêu cầu khi sử dụng

- Về phía học sinh:

Trước khi lên lớp cần đọc bài mà thầy giáo giảng để nắm sơ bộ dàn ý, nội dung bài mới,cần tích cực tư duy khi đọc sách

- Về phía giáo viên:

Khi chuẩn bị lên lớp cần nghiên cứu kỹ sách giáo khoa để tìm phần học sinh có thể tựhiểu được để mở rộng đào sâu tri thức, tránh xa rời sách giáo khoa hoặc quá phụ thuộc vàosách giáo khoa

c.2.2 Phương pháp công tác thí nghiệm, thực hành

* Khái niệm:

Phương pháp công tác thí nghiệm thực hành là phương pháp dạy học dưới sự chỉ đạocủa giáo viên học sinh sử dụng những thiết bị và phương pháp làm thí nghiệm, tiến hành côngtác thực hành nhằm làm sáng tỏ, khẳng định những vấn đề lý thuyết mà giáo viên đã trình bàynhằm củng cố, mở rộng, đào sâu những tri thức đã lĩnh hội hoặc vận dụng lý luận để nghiêncứu những vấn đề do thông qua công tác này mà hình thành kỹ năng, kỹ xảo

* Ưu, nhược điểm:

Ưu điểm

Phương pháp này giúp cho học sinh có niềm tin khoa học, nắm tri thức dược vững chắc,rèn luyện một số kỹ năng, kỹ xảo quan sát, sử dụng các dụng cụ thí nghiệm, bồi dưỡng óc tò

mò khoa học và thói quen làm việc khoa học

Hạn chế: Nếu sử dụng dụng cụ thí nghiệm không then trọng dễ gây tai nạn

Việc cung cấp tri thức có hệ thống cho học sinh bị hạn chế

Trang 25

- Học sinh báo cáo kết quả.

- Giáo viên đánh giá, tổng kết chung

d Phương pháp dạy học tình huống

d.1 Khái niệm:

Dạy học tình huống là phương pháp dạy học nhằm giới thiệu cho học sinh một tình huống

cụ thể có thực hoặc có tính chất hư cấu đòi hỏi phải giải quyết như một bài toán hoặc một vấn

đề Các giải pháp tình huống đó được người học nêu lên căn cứ vào những nguyên tắc nhấtđịnh

d.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học tình huống

Tình huống ở đây có thể là tình huống bài toán và tình huống có tính chất vấn đề Tìnhhuống vấn đề đòi hỏi chủ thể nhận thức tham dự vào những điều đã cho và yêu cầu của bàitoán và chuyển chúng thành mối quan hệ giữa điều đã biết

Tình huống bài toán không đòi hỏi điều đó

Với phương pháp dạy học tình huống có thể người học khám phá ra tri thức hoạc theocách thức hành động mới dưới hình thức cá nhân hoặc hình thức nhóm nhằm hợp tác với nhaubằng cách so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát các sự kiện, hiện tượng hoặc tìm ra tri thứcmới khác thông qua thực hành Nhờ đó học sinh nắm được khái niệm, lý thuyết sâu săc, tạo cơhội cho người học áp dụng lý thuyết đã học để giải quyết các tình huống thực tế, cụ thể, Đồngthời làm giảm khoản cách giữa kiến thức sách vở với thực tế cuộc sống

4.2.2 Nhóm phương pháp kiểm tra đánh giá tri thức kỹ năng, kỹ xảo của học sinh.

a Khái niệm.

Đây là phương pháp xác nhận khả năng tiếp thu tri thức kỹ năng, kỹ xảo và phát triểntrí tuệ của học sinh, thông qua đó người giáo viên bổ sung các thiếu sót và sửa chữa những sailầm lệch lạc trong tri thức kỹ năng, kỹ xảo, đồng thời giáo dục tư tưởng chính trị đạo đức, tinhthần, thái độ học tập cho học sinh

b Các dạng kiểm tra cơ bản.

- Kiểm tra thường ngày: Chính là nhằm xem xét kết quả học tập ở học sinh một cáchthường xuyên liên tục, đồng thời khôi phục kiến thức cũ ở các em, chuẩn bị cho việc học kiếnthức mới Qua đó, kích thích các em không ngừng chăm chỉ, tích cực học tập Khi kiểm trahàng ngày, giáo viên quan sát các hoạt động của học sinh trong học tập, xem bài làm ở nhà, hỏimiệng về những điều đã học

- Kiểm tra định kỳ: Dạng kiểm tra này thường được thực hiện sau khi đã học mộtchương, một số chương, do đó khối lượng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong nội dung kiểm trakhá lớn và có tính tổng quát hơn so với kiểm tra thường ngày

- Kiểm tra tổng kết: Dạng kiểm tra này được thực hiện vào cuối học kỳ, cuối năm họcnhằm đánh giá kết quả chung những tri thức đã học hoặc một bộ phận giáo trình hoặc toàn bộgiáo trình

c Các phương pháp kiểm tra.

Trang 26

* Kiểm tra miệng:

- Phương pháp kiểm tra này không chỉ sử dụng trước khi học bài mới, mà cả trong vàsau khi học bài mới, khi ôn tập, khi mở đầu công tác thực hành công tác thí nghiệm

- Kiểm tra miệng có thể bằng lời, có thể kết hợp trình bày đồ dùng trực quan với lời nói,đòi hỏi học sinh tái hiện tri thức đã biết để giải thích một hiện tượng, sự kiện hoặc giải quyếtmột vấn đề trong hoàn cảnh đã biết hoặc trong hoàn cảnh mới đòi hòi phải tư duy một cáchsáng tạo

- Kiểm tra miệng có những ưu điểm và hạn chế như phương pháp vấn đáp, vì phươngpháp vấn đáp có thể thực hiện chức năng kiểm tra Vì vậy, việc sử dụng nó cần theo những yêucầu cơ bản của sử dụng phương pháp vấn đáp

Khi đánh giá, cần thu hút sự đánh giá của những học sinh khác thông qua việc bổ sungnhững ý kiến, nhận xét đối với câu trả lời của học sinh được kiểm tra và sự tự đánh giá củachính họ Trước khi công bố điểm (một hình thức đánh giá) giáo viên cần tổng kết những ưuđiểm và nhược điểm trong tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh (một hình thức đánh giákhác) Với những điều kiện như vậy việc kiểm tra và đánh giá mới có ý nghĩa động viên vàgiáo dục

Lưu ý: Ưu điểm, hạn chế và cách sử dụng phương pháp kiểm tra vấn đáp như phương

pháp vấn đáp

* Kiểm tra viết.

- Phương pháp này được sử dung cả trước và sau khi học một tiết học, một phầnchương, một chương hay một số chương hoặc toàn bộ môn học Tuỳ theo yêu cầu của nội dungkiểm tra mà thời gian dành cho nó cũng khác nhau: trong khoảng 10 - 15 phút và cũng có thểchiếm cả tiết học

Ưu điểm và hạn chế của phương pháp kiểm tra viết.

Ưu điểm:

Kiểm tra viết có một số ưu thế hơn kiểm tra vấn đáp, cụ thể là: Có thể kiểm tra đồng thời tất cả học sinh toàn lớp trong một thời gian nhất định, dễ dàng thống nhất yêu cầu kiểmtra và đánh giá, giúp học sinh rèn luyện việc biểu đạt ý nghĩa của mình bằng ngôn ngữ viết,cho phép sử dụng tiết kiệm thời gian học tập

- Hình thức tự luận: Khi sử dụng hình thức này cần chú ý

Đề bài phải chính xác, dễ hiểu và hiểu như nhau đối với mọi người, vừa sức, phù hợpvới thời gian làm bài, phát huy được trí thông minh của học sinh Để đạt điều đó cần diễn đạtcâu hỏi rõ ràng, chọn từ có nghĩa chính xác, dùng câu đơn giản, tránh từ gây hiểu lầm, tránhnhững câu hỏi dập khuôn sách giáo khoa, những câu hỏi có tính đánh lừa hay gài bẫy

Phải xác định hệ thống đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh Việc xác địnhtiêu chuẩn đánh giá là vấn đề rất phức tạp và trừu tượng, có thể hiểu đó là một đơn vị để (cân,

đo, đong, đếm các đơn vị tri thức) theo các mức độ từ vĩ mô đến vi mô, từ nội dung tổng quátđến các chi tiết đơn lẻ

Ưu điểm và hạn chế của hình thức tự luận

Trang 27

Ưu điểm: Tự luận không chỉ đánh giá kết quả kiểm tra mà còn biết quá trình dẫn tới kếtquả đó Do đó giúp giáo viên biết rõ những nguyên nhân đúng, sai để có những biện pháp khắcphục những sai lầm phù hợp.

Hạn chế: Tuy nhiên, việc kiểm tra với những đề thi tự luận thường bộc lộ nhiều nhượcđiểm, đặc biệt là không thể phán ánh toàn bộ nội dung chương trình, dễ gây tâm lý học tủ, dạy

tủ và khi chấm bài giáo viên dễ mang tính chủ quan khi đánh giá

- Hình thức trắc nghiệm khách quan: Sở dĩ gọi như vậy là hình thức này đảm bảo tính

khách quan khi chấm điểm, tạo cho việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh đảmbảo tính khách quan

Các loại trắc nghiệm khách quan: Trắc nghiệm khách quan có nhiều loại: trắc nghiệmđúng - sai, trắc nghiệm có nhiều phương án lựa chọn, trắc nghiệm điền - thế, trắc nghiệm đốichiếu cặp đôi

Ưu điểm và hạn chế của hình thức trắc nghiệm khách quan:

+ Ưu điểm: Nhìn chung, nếu xây dựng đảm bảo tính khoa học và sử dụng có hiệu quả

hệ thống trắc nghiệm khách quan thì trong chừng mực nhất định, có thể khắc phục được nhữnghạn chế của hình thức kiểm tra, thi theo trắc nghiệm tự luận

Trong thời gian ngắn có thể kiểm tra khối lượng tri thức rất lớn Do đó đảm bảo tínhtoàn diện của việc kiểm tra, đánh giá, việc chấm bài được tiến hành nhanh gọn, việc đánh giáđảm bảo tính khách quan

+ Hạn chế: Hình thức trắc nghiệm khách quan mới giúp cho giáo viên biết kết quả

kiểm tra nhưng chưa giúp họ biết được quá trình dẫn tới kết quả do rất nhiều nguyên nhân tíchcực, tiêu cực khác nhau Vì vậy mà người giáo viên khó xác định đúng những biện pháp dạyhọc có hiệu quả

Yêu cầu sử dụng trắc nghiệm khách quan.

Để đảm bảo trắc nghiệm khách quan có hiệu quả cao trong việc phản ánh đúng trình độtri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ học tập tích cực của học sinh, cần:

+ Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phải đảm bảo yêu cầu về tính đầy đủ của nội dung họcvấn phổ thông

+ Mặt khác, hệ thống câu hỏi đó phải có tác dụng phát triển trí tuệ, bồi dưỡng và rènluyện phương pháp học tập, phương pháp tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh

Vì vậy, cần sử dụng phối hợp hình thức kiểm tra bằng trắc nghiệm tự luận và trắcnghiệm khách quan

- Yêu cầu tổ chức kiểm tra viết:

Khi tổ chức kiểm tra viết cần phải thực hiện các yêu cầu sau:

+Trong khi tiến hành kiểm tra tạo điều kiện cho học sinh bình tĩnh tập trung tư tưởng và

tự tin, tự giác làm bài đầy đủ và cẩn thận

+ Thu bài đúng giờ quy định

+ Đáp án chấm phải chính xác, rõ ràng, mọi người hiểu như nhau, thang điểm từng câu,từng ý phù hợp với yêu cầu nội dung phải trả lời

+ Chấm bài cẩn thận, có lời nhận xét chính xác, gọn, rõ

+ Trả bài đúng hạn, có nhận xét chung về kết quả, những sai lầm phổ biến chung củalớp, về kết quả, về một số người, về hình thức, phương pháp làm bài, phương pháp độc đáo,hay của một số cá nhân, thái độ làm bài…

* Kiểm tra thực hành:

Trang 28

Phương pháp này nhằm kiểm tra kỹ năng, kỹ xảo thực hành như đo lường, thí nghiệm,lao động…ở trên lớp, phòng thí nghiệm, ở vườn trường…

Việc kiểm tra kỹ năng, kỹ xảo thí nghiệp hoặc lao động có thể dưới hình thức các bàitập đòi hỏi học sinh thực hiện một quy trình các thao tác, biện pháp nhất định, những bài tậpđòi hỏi giải thích về mặt lý thuyết, về các biện pháp hoặc phương pháp thực hiện

Kiểm tra thực hành có thể tiến hành với từng cá nhân và hình thức nhóm nếu việc kiểmtra từng cá nhân tiến hành không thể đạt được kết quả chắc chắn

* Kiểm tra bằng máy:

Ở một số nước hiện nay, người ta sử dụng phương pháp kiểm tra bằng máy về chấtlượng lĩnh hội tri thức, đặc biệt là về các môn Toán và khoa học tự nhiên Chương trình kiểmtra được đưa vào máy Học sinh lựa chọn câu trả lời bằng số và ấn vào số tương ứng trên máy.Phương pháp này đảm bảo tính khách quan cao, nhưng nó không chú ý đến những đặc điểmtâm lý của học sinh, không cho phép kiểm tra được tính lô gíc, sự biểu đạt ngôn ngữ và giúp

đỡ kịp thời khi học sinh gặp khó khăn Điều đó nói lên rằng, ngay trong kiểm tra cũng cần phốikết hợp các phương pháp kiểm tra, cả kiểm tra bằng máy và kiểm tra không dùng máy để biếtđược chất lượng đào tạo học sinh

4.3 Sự lựa chọn kết hợp các phương pháp dạy học.

Mỗi phương pháp dạy học đều có những ưu nhược điểm khác nhau, không có phương phápdạy học nào là vạn năng Trong quá trình dạy học giáo viên phải vận dụng phối hợp một cáchkhéo léo các phương pháp tùy theo:

+ Yêu cầu nội dung bài học

+ Đặc điểm bộ môn

+ Đặc điểm đối tượng học sinh

+ Điều kiện cụ thể của từng trường

+ Năng lực và trình độ của giáo viên

4 Vài nét về xu hướng đổi mới và cải tiến phương pháp dạy học hiện nay.

Trong những thập kỷ gần đây, cùng với đổi mới nội dung dạy học, việc đổi mới phươngpháp dạy và học theo hướng lấy hoạt động của người học làm trung tâm đang ngày càng được

áp dụng rộng khắp Bản chất của sự đổi mới và cải tiến đó là chuyển nhượng phương phápthông báo tái hiện sang việc tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh nhằm pháthuy cao độ tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của họ để họ tự chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹxảo Để thực hiện điều đó, người ta đã tiến hành phối hợp các xu hướng cơ bản sau: tích cựchoá, cá biệt hoá, phân hoá hoạt động nhận thức, học tập của học sinh và công nghệ hoá quátrình dạy học

HƯỚNG DẪN HỌC Câu hỏi ôn tập

Phương pháp dạy học là gì? kể tên các nhóm phương pháp và các phương pháp được sửdụng ở trường THCS hiện nay

Bài tập thực hành

Tại sao trong quá trình dạy học ở trường THCS phải sử dụng phối hợp các phương pháp

dạy học Phân tích những căn cứ để lựa chọn, phối hợp các phương pháp

Trang 29

CHƯƠNG 5 CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC.

5.1 Khái niệm.

Hình thức tổ chức dạy học là toàn bộ những cách thức tổ chức hoạt động của giáo viên

và học sinh trong quá trình dạy học ở thời gian và địa điểm nhất định, với việc sử dụng nhữngphương pháp, phương tiện dạy học cụ thể nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học

Hình thức tổ chức dạy học là một thành tố của quá trình dạy học nên nó quan hệ chặtchẽ với mục đích dạy học, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học, nó khác nhau chủyếu tuỳ thuộc vào:

- Mối quan hệ giữa dạy học có tính tập thể hay có tính cá nhân

- Mức độ tính tự lực hoạt động nhận thức của học sinh

- Sự chỉ đạo đặc biệt của giáo viên đối với hoạt động tập thể của học sinh

- Chế độ làm việc

- Thành phần của học sinh

- Địa điểm và thời gian học tập

5.2 Các hình thức tổ chức dạy học ở trường trung học cơ sở.

5.2.1 Hình thức lên lớp.

5.2.1.1 Định nghĩa:

Hình thức bài - lớp hoặc hình thức lên lớp là một hình thức tổ chức dạy học mà với hìnhthức đó, trong suốt một thời gian học tập được quy định một cách chính xác ở một địa điểmriêng biệt, giáo viên chỉ đạo hoạt động nhận thức có tính chất tập thể ổn định, với thành phầnhọc sinh không đổi, đồng thời chú ý đến những đặc điểm của từng học sinh, sử dụng cácphương pháp và phương tiện dạy học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh nắm vững tàiliệu học tập một cách trực tiếp từ giáo viên, cũng như làm phát triển năng lực nhận thức vàgiáo dục họ

5.2.1.2 Những đặc điểm cơ bản của hình thức lên lớp.

- Hoạt động được tiến hành chung cho cả lớp gồm một số học sinh nhất định có cùng một

- Cùng một lúc đào tạo được nhiều học sinh

- Đảm bảo cung cấp cho học sinh những tri thức có hệ thống và thống nhất trong cả nước -Tạo điều kiện bồi dưỡng học sinh tinh thần tập thể, ý thức tổ choc kỷ luật, tác phong làmviệc khoa học

Nhược điểm:

- Thu thông tin ngược không kịp thời

Trang 30

- Khó chỉ đạo cá biệt

5.2.1.4 Các loại bài học.

Dựa trên mục đích dạy học và tính chất của nội dung dạy học, có thể phân ra 6 loại bài sau:

+ Bài lĩnh hội tri thức mới

+ Bài hình thành kỹ năng, kỹ xảo

+ Bài vận dụng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

+ Bài khái quát và hệ thống hoá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

+ Bài kiểm tra và hiệu chỉnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

+ Bài hỗn hợp

Để đảm bảo tính toàn vẹn của quá trình dạy học trong hình thức bài lớp, cần sử dụng rất

cả những loại bài trên, song với tỷ lệ khác nhau tuỳ theo nội dung môn học và mục tiêu của tiếthọc

5.2.15 Cấu trúc bài học.

Cấu trúc bài học quy định hoạt động của giáo viên và của học sinh, trình tự nhữnghoạt động đó và việc lựa chọn phương pháp và phương tiện dạy học

Mỗi bài học có cấu trúc riêng Trong cấu trúc đó có yếu tố vĩ mô và yếu tố vi mô

+ Cấu trúc vĩ mô: là yếu tố cơ bản

+ Cấu trúc vi mô: Là yếu tố hỗ trợ, là yếu tố bên trong của bài học Những thành phầncủa cấu trúc vi mô là phương pháp, phương tiện, biện pháp dạy học, cách xử lý, chế biến nộidung dạy học kết hợp với nhau thành những tổ hợp Nó quy định trình tự hợp lý những hànhđộng, những thao tác sư phạm của giáo viên và những hành động, thao tác học tập - nhận thứccủa học sinh Do đó, hiệu quả của mỗi tiết học không chỉ bị quy định bởi cấu trúc vĩ mô màcòn bởi cả cấu trúc vi mô nữa

* Cấu trúc vĩ mô của các loại bài

- Bài lĩnh hội tri thức mới: Loại bài này có cấu trúc vĩ mô như sau:

+ Tổ chức lớp:

+ Tích cực hoá những kinh nghiệm cảm tính và những tri thức đã có để làm chỗ dựacho việc nắm tri thức mới

+ Thông báo đề bài, mục tiêu của bài học:

+ Học sinh tri giác tài liệu học tập:

+ Khái quát hoá và hệ thống hoá sơ bộ tri thức

+ Tổng kết tiết học:

+ Ra bài về nhà và hướng dẫn việc tự học ở nhà:

- Bài hình thành kỹ năng, kỹ xảo: Cấu trúc vĩ mô của loại bài này như sau:

+ Tổ chức lớp

+ Tích cực hoá những tri thức lý thuyết và những kinh nghiệm thực hành đã có để làmchỗ dựa cho sự hình thành tri thức và kỹ năng, kỹ xảo mới

+ Thông báo đề bài, mục đích của tiết học:

+ Luyện tập mở đầu: ở bước này, cần làm cho học sinh nhớ lại những khái niệm và quytắc hành động tương ứng để trên cơ sở đó thực hiện những bài tập hoặc hành động

+ Luyện tập thử: Đó là việc luyện tập nhằm bước đầu vận dụng những tri thức vừa tiếpthu được Nhiệm vụ chính của giai đoạn này là biến tri thức thành kỹ năng

Việc luyện tập thử cho học sinh thường đi kèm với việc giải thích bằng lời những thaotác và lập luận một cách ngắn gọn cho những thao tác đó

Trang 31

+ Luyện tập có tính chất rèn luyện: Việc luyện tập này nhằm hình thành cho học sinhnhững kỹ xảo trong những điều kiện bình thường, ổn định Nó khác với giai đoạn luyện tập thử

ở chỗ nó đòi hỏi tính tự lực, tính chủ động của học sinh ở mức độ cao hơn, đồng thời tăng mức

độ phức tạp, khó khăn trong khi luyện tập

Tuỳ theo mức độ tính tự lực về mặt nhận thức và về mặt thực hành, người ta phân

việc luyện tập có tính chất rèn luyện thành 3 loại: luyện tập theo mẫu, luyện tập theo sự chỉdẫn, luyện tập theo nhiệm vụ của giáo viên đề ra

+ Luyện tập có tính sáng tạo: Mục đích của việc luyện tập này là di chuyển một cáchsáng tạo những tri thức, hành động vào hoàn cảnh mới, luôn luôn biến đổi + Tổng kết bàihọc: Ở giai đoạn này, giáo viên nhận xét tình hình học tập của cả lớp và một số học sinh, đánhgiá, cho điểm

+ Ra bài về nhà và hướng dẫn học sinh tự học:

- Bài vận dụng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Cấu trúc vĩ mô của loại bài này như sau:

+ Suy nghĩ nội dung và trình tự vận dụng những hành động thực hành: ở bước này, họcsinh cần hiểu nội dung bản chỉ dẫn: suy nghĩ xem cần dựa trên những tri thức lý thuyết nào đểgiải quyết bài làm này: sử dụng những thao tác nào và trình tự các thao tác đó; sử dụng nhữngdụng cụ, thiết bị, máy móc nào

+ Học sinh tự lực hoàn thành bài tập dưới sự giúp đỡ, kiểm tra của giáo viên:

+ Học sinh khái quát và hệ thống hoá kết quả công việc: Sau khi hoàn thành nhiệm vụđược giao, học sinh phải phân tích một cách cẩn thận kết quả đã đạt được, hệ thống hoá nhữngkết quả bằng biểu đồ, sơ đồ, đồ thị, phân tích, so sánh, khái quát những số liệu và được trìnhbày dưới dạng những kết luận, định luật, quy tắc Trên cơ sở những báo cáo đó, giáo viênkiểm tra tri thức, đánh giá chất lượng báo cáo và phương pháp tiến hành của học sinh

+ Tổng kết tiết học: ở giai đoạn này, giáo viên tổng kết những kết quả công việc mà họcsinh đã tiến hành, thái độ và phương pháp tiến hành của cả lớp và những học sinh đặc biệt

- Bài khái quát hoá và hệ thống hoá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.

Loại bài này có cấu trúc vĩ mô như sau:

+ Tổ chức lớp

+ Thông báo đề bài, mục đích và nhiệm vụ của tiết học

+ Khái quát những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ, ở giai đoạn này, giáo viên thường dùngphương pháp đàm thoại, trình bày đồ dùng trực quan, phân tích các bảng, biểu đồ, sơ đồ giúphọc sinh ý thức hiện tượng một cách đúng đắn, sâu sắc, đầy đủ để hiểu rõ bản chất hiện tượng

+ Khái quát hoá và hệ thống hoá những khái niệm, trên cơ sở đó hình thành cho họcsinh lý thuyết cơ bản và tư tưởng chủ đạo của khoa học

+ Tổng kết tiết học

+ Ra bài về nhà và hướng dẫn tự học

- Bài kiểm tra và hiệu chỉnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.

Loại bài kiểm tra viết có cấu trúc vĩ mô như sau:

+ Tổ chức lớp

Trang 32

+ Trình bày những yêu cầu khi làm bài kiểm tra

+ Đọc đề kiểm tra

+ Giáo viên quan sát học sinh làm bài

+ Học sinh nộp bài kiểm tra

+ Nhận xét thái độ làm bài của học sinh

Loại bài kiểm tra vấn đáp có cấu trúc vĩ mô như sau:

+ Tổ chức lớp

+ Trình bày những yêu cầu khi làm bài kiểm tra vấn đáp

+ Học sinh lần lượt bốc thăm

+ Học sinh chuẩn bị trả lời những nội dung kiểm tra

+ Học sinh lần lượt trình bày nội dung trả lời câu hỏi của mình

+ Giáo viên hỏi lại và học sinh trả lời

+ Giáo viên đánh giá cho điểm

+ Giáo viên nhận xét kết quả, thái độ của học sinh trong khi kiểm tra

+ Giáo viên chỉ đạo lớp cùng nhau giải quyết nội dung bài kiểm tra và yêu cầu học sinh

hệ thống hoá cách giải bài kiểm tra đó

+ Phát bài lại cho học sinh và yêu cầu học sinh nêu lên những thắc mắc của mình vềcách đánh giá của giáo viên

+ Học sinh tự sửa chữa những sai lầm của mình

+ Tổng kết tiết học

+ Ra bài về nhà và hướng dẫn tự học

- Bài hỗn hợp: Bài hỗn hợp thường có hai hoặc một vài mục đích dạy học Chẳng hạn,

mục đích bài lĩnh hội tri thức mới kết hợp với mục đích kiểm tra tri thức, mục đích bài kháiquát hoá, hệ thống hoá tri thức kết hợp với mục đích hình thành kỹ năng, kỹ xảo Có nhiều sựkết hợp như vậy, nhưng không thể có một bài hỗn hợp thực hiện tất cả mục đích dạy học đómột cách tương đương nhau ở các lớp bậc THCS, vì nội dung tài liệu trong một tiết học hết sứcphong phú mà thời lượng của một tiết học không đủ để hoàn thành nội dung đó được

Do việc kết hợp các mục đích dạy học rất khác nhau nên cấu trúc của loại bài hỗn hợprất đa dạng Song, cấu trúc vĩ mô của bài hỗn hợp vẫn có những giai đoạn sau: Tổ chức lớp,tích cực hoá những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để làm chỗ dựa cho việc lĩnh hội tri thức, để hìnhthành kỹ năng, kỹ xảo, để khái quát hoá, hệ thống hoá tri thức, tổng kết tiết học, ra bài về nhà

và hướng dẫn học sinh tự học

5.2.1.6 Những yêu cầu đối với bài học.

a.Yêu cầu về mặt giáo dục:

Bồi dưỡng cho học sinh những luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, đường lối chínhsách của Đảng, thế giới quan khoa học nhân sinh quan cộng sản, bồi dưỡng phẩm chất đạođức, những hành vi thói quen đạo đức, uốn nắn kịp thời những sai lệch của học sinh

b.Yêu cầu về mặt lý luận dạy học.

Trang 33

- Xác định được mục đích dạy học

- Thống nhất những nhiệm vụ giáo dục và giáo dưỡng

- Lựa chọn hợp lý tài liệu học tập và phương pháp, phương tiện dạy học

- Kết hợp hài hòa hoạt động của thầy và trò

- Thường xuyên củng cố, ôn tập

- Phải kiểm tra chất lượng lĩnh hội tri thức của học sinh

c Yêu cầu về mặt tâm lý.

- Phải nghiên cứu toàn diện và chú ý đặc điểm tâm lý học sinh

- Phải biết tự chủ, tự kiểm tra mình

- Hình thành động cơ học tập đúng đắn cho học sinh

- Yêu cầu đề ra phải vừa sức và hợp lý đối với học sinh và có kiểm tra kịp thời việc thựchện các yêu cầu

d Yêu cầu về mặt vệ sinh:

- Phải tuân theo yêu cầu vệ sinh của tiết học

- Cần tránh cho học sinh những mệt mỏi về trí lực và sức lực

5.2.1.7 Việc chuẩn bị lên lớp.

a Ý nghĩa của việc chuẩn bị lên lớp.

Tiến hành công tác dạy học theo những yêu cầu của bài học đã nêu trên là một côngviệc vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật Nó luôn luôn đòi hỏi một sự sáng tạo củagiáo viên trong hoạt động giảng dạy Song, không có một sự sáng tạo nào mà lại thiếu sựchuẩn bị chu đáo Vì vậy, việc chuẩn bị lên lớp không những là điều cần thiết mà còn là điềubắt buộc không chỉ đối với người giáo viên mới bước vào nghề mà cả đối với giáo viên lâunăm, có nhiều kinh nghiệm

b Nội dung công việc chuẩn bị lên lớp.

Việc chuẩn bị lên lớp của giáo viên bao gồm việc chuẩn bị dài hạn cho cả năm học hoặctừng học kỳ và việc chuẩn bị ngắn hạn cho từng tiết học cụ thể

* Việc chuẩn bị dài hạn cho cả năm học hoặc từng học kỳ bao gồm những công việc sau:

+ Tìm hiểu học sinh lớp mình giảng dạy về kết quả học tập - giáo dục thái độ và phongtrào học tập, tu dưỡng của lớp, đặc điểm tâm lý chung của lớp và những học sinh cá biệt, phongcách sư phạm của những giáo viên đã hoặc đang giảng dạy ở lớp đó Trên cơ sở đó mà đề ranhững yêu cầu hợp lý đối với học sinh

+ Nghiên cứu kỹ chương trình, nội dung tài liệu dạy học, trên cơ sở đó để thu nhập, lựachọn tài liệu cho từng tiết học, phương pháp, phương tiện dạy học, những hình thức tổ chứcdạy học thích hợp

+ Tìm hiểu những phương tiện dạy học hiện có ở trường để có kế hoạch tự tạo hoặc đềnghị trang bị những phương tiện mới, những tài liệu, sách báo có trong tủ sách của trường để

có kế hoạch cùng với học sinh xây dựng nên tủ sách của lớp Qua đó mà có những dự định đổimới phương pháp dạy học

+ Nghiên cứu những tài liệu hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của các cơ quanquản lý giáo dục để xây dựng kế hoạch dạy học theo chương mục cả năm học hay từng học kỳcủa mình và trao đổi với nhóm chuyên môn

*Việc chuẩn ngắn hạn:

Được thể hiện qua giáo án

Cấu trúc giáo án:

Trang 34

Ngày/ tháng/ nămTên chương… tên bài …Lớp dạy

Mục tiêu tiết họcPhương pháp, phương tiệnTài liệu tham khảo…

Trong giáo án phải thể hiện được nội dung cơ bản, trọng tâm, phương pháp, phương tiện tiến hành, các bài tập ở lớp, ở nhà, chỉ dẫn, các hình thức dạy học hỗ trợ, phân phối thờigian cho từng phần

* Soạn giáo án.

Muốn soạn giáo án tốt giáo viên cần:

+ Nghiên cứu kỹ sách giáo khoa và tài lệu tham khảo

+ Nắm được khả năng nhận thức của học sinh ở tiết trước

+ Xác định được cấu trúc nội dung của bài và dạng tổ choc dạy học

+ Dự kiến tình huống có thể xảy ra và cách giải quyết

+ Dự kiến thời gian cho từng phần của bài học để chủ động được thời gian

5.2.18 Lên lớp và sau khi lên lớp.

* Khi lên lớp.

Giáo viên nghiêm túc và linh hoạt thực hiện giáo án Cụ thể:

+ Đảm bảo theo trình tự dự kiến, duy trì được bầu không khí làm việc tích cực, bao quátđược lớp, kịp thời giải quyết được các tình huống có thể xảy ra

+ Có tác phong đàng hoàng nghiêm túc, kết thúc tiết học trong không khí phấn khởi

* Sau khi lên lớp.

Giáo viên tự đánh giá, rút kinh nghiệm tiết học

Ví dụ: Cách vận dụng, phối hợp các nguyên tắc, phương pháp, phương tiện dạy học nhưthế nào? sự phối hợp hoạt động dạy và hoạt động học có đảm bảo phát huy tối đa tính tích cực,chủ động, sáng tạo của học sinh hay không? việc chỉ đạo cá biệt trong tiến trình dạy được thựchiện như thế nào?.Việc sử dụng ngôn ngữ, tác phong sư phạm như thế nào?Việc phân phối thờigian đã hợp lý chưa? …

5.2.2 Hình thức dạy học theo nhóm tại lớp.

a khái niệm hình thức học tập theo nhóm tại lớp.

- Hình thức học tập theo nhóm tại lớp là hình thức dạy học có sự kết hợp tính tập thể vàtính cá nhân, mà trong đó học sinh trong nhóm dưới sự chỉ đạo của giáo viên trao đổi những tưtưởng, nguồn kiến thức với nhau, giúp đỡ, hợp tác với nhau trong việc lĩnh hội tri thức, hìnhthành kỹ năng, kỹ xảo Từng thành viên của nhóm không chỉ có trách nhiệm với việc học tậpcủa mình mà còn có trách nhiệm quan tâm đến việc học tập của các bạn khác trong nhóm

Đặc trưng của hình thức học tập nhóm là sự tác động trực tiếp giữa học sinh với nhau,

sự cùng phối hợp hoạt động của họ

b Ý nghĩa của hình thức học tập theo nhóm.

Hình thức học tập theo nhóm có những ý nghĩa sau:

- Tạo nên môi trường học tập mà trong đó có sự hợp tác, trao đổi giúp đỡ tương trợ giữacác thành viên trong nhóm với nhau

- Tạo nên không khí cởi mở, cảm thông, tự do trao đổi những vấn đề học tập, một bầukhông khí hoà hợp cộng đồng

Trang 35

- Hình thành tinh thần trách nhiệm đối với tập thể cho từng thành viên của nhóm, nhờvậy mà tránh được tính lười biếng, sao nhãng nhiệm vụ được giao, tránh được sự ghen tị.

- Hình thành thói quen làm việc tự giác, không cần kiểm soát

- Giúp hình thành kỹ năng tổ chức, giao tiếp, thói quen tự đánh giá vì có điều kiện để sosánh thường xuyên những kết quả của cá nhân và do đó nhận thức rõ những giá trị chân thựccủa mình

- Giúp hình thành tính tích cực nhận thức và sự thích ứng nhanh chóng với nhịp điệulàm việc cùng nhau

- Mối quan hệ giữa học sinh với nhau

Do những điểm cần lưu ý đó mà nhóm học tập tại lớp có thể khác nhau tuỳ theo mônhọc, thậm chí từng chương, từng chủ đề Điều đó có nghĩa là nhóm học tập tại lớp không ổnđịnh

Số lượng thành viên tối ưu trong một nhóm nếu căn cứ vào cơ sở tiếp nhận được thôngtin mới và đề xuất được ý tưởng thì nên từ 5 - 7 người Song còn phụ thuộc vào kích thướcphòng học, điều kiện bàn ghế và những điều kiện thực tế khác thì hợp lý hơn cả là nhóm 4người

Nhóm nói chung là không có nhóm trưởng cố định mà chỉ thay nhau làm đại diện chonhóm trong những thời điểm nhất định Tuy nhiên, trong hoàn cảnh trình độ tổ chức của cácthành viên yếu thì có thể cử nhóm trưởng trong thời gian đầu Khi các thành viên nhóm đãquen dần với việc tổ chức học nhóm thì có thể loại bỏ Tất nhiên, nhóm trưởng ở những nhóm

đó phải là người có kết quả học tập tốt, có thể giúp đỡ những thành viên học yếu hơn trongnhóm mình

* Nội dung học tập nhóm

Những tài liệu, bài tập để học nhóm cần đảm bảo những yêu cầu sau: phải có tính vấn

đề, mức độ khó khăn tương đối cao, về cấu trúc phải làm sao có thể phần ra thành những đơn

vị tương đối độc lập để những nhóm khác nhau làm việc ( đối với dạng nhóm học tập có tínhchất phân hoá) và để cho từng học sinh làm việc trong khuôn khổ một nhóm: tài liệu, bài tậpphải liên hệ với những nguồn thu nhận thông tin khác nhau: từ sách báo từ vô tuyến truyềnhình, truyền thanh, triển lãm, tham quan, kinh nghiệm cá nhân để từng người có thể thể hiệnhết những năng lực, hiểu biết của mình, qua đó mà bồi bổ sự hiểu biết cho nhau

e Tiến hành tiết học với hình thức học tập tại lớp

Trang 36

- Tiết học được bắt đầu bằng việc giáo viên đề ra những nhiệm vụ cho các nhóm trước

cả lớp Tuỳ theo dạng hình thức học tập theo nhóm và đặc điểm của từng nhóm mà nhiệm vụđược phân khác nhau

- Từng nhóm được sắp xếp ngồi từng cụm với nhau để dễ dàng trao đổi ý kiến, để giáoviên dễ dàng quan sát, động viên hoặc gợi ý nếu cần trong quá trình hoạt động của nhóm

- Sau đó mỗi người tự lực thực hiện từng nhiệm vụ và sau từng nhiệm vụ học tập đó,từng thành viên thông báo cho nhau kết quả thực hiện Nếu kết quả giữa các thành viên khôngthống nhất thì họ thảo luận với nhau để đạt được sự thống nhất chung cho cả nhóm Khi hoànthành xong nhiệm vụ, nhóm cử người đại diện báo cáo kết quả chung của nhóm trước lớp

- Đại diện các nhóm trình bày những kết quả công việc trước lớp Nếu cần, các nhóm cóthể thảo luận với nhau để đi đến kết luận

g Vai trò của giáo viên trong điều kiện học tập nhóm tại tiết học.

Trong quá trình dạy học hiện nay, đặc biệt trong điều kiện dạy học theo nhóm tại tiếthọc , người giáo viên nên đóng vai trò là người cố vấn người trọng tài, người động viên, cổ vũhoạt động của nhóm mình, người hướng dẫn các nhóm học tập, làm việc theo các quy tắc dânchủ, hợp tác, tương trợ, tôn trọng lẫn nhau Hoạt động của người giáo viên phải tạo cho họcsinh có những cơ hội để lĩnh hội tài liệu học tập, mở mang trí tuệ cho nhau

Vì vậy, trong khi các nhóm làm việc, giáo viên đi khắp các nhóm theo dõi công việc đểxem các nhóm có tìm ra cách giải quyết hợp lí nhất hay không: những sai lầm nào mà cácthành viên của nhóm nào đó mắc phải trong số sai lầm đó, sai lầm nào là điển hình; những sailầm nào chưa được sửa chưa

Trên cơ sở những quan sát đó, giáo viên suy nghĩ, lập kế hoạch hoạt động sau này củamình; những sai lầm điển hình nào cần được đem ra thảo luận chung trước lớp, cần đề nghịnhóm nào đó giới thiệu cách giải quyết nhiệm vụ được giao cho toàn lớp

Nếu nhóm nào đó gặp khó khăn thì giáo viên tham gia vào với tư cách chỉ đạo thảo luậnnhằm giải quyết khó khăn đó Vì vậy, giáo viên có thể dành được sự chú ý nhiều hơn đến nhữnghọc sinh học yếu hơn là trong điều kiện dạy toàn lớp

5.2.3 Hình thức học tập ở nhà.

a Ý nghĩa.

Học tập ở nhà là sự tiếp tục một cách lôgíc hình thức lên lớp Học tập ở nhà khác vớihình thức lên lớp ở chỗ nó đòi hỏi học sinh phải có tính tự lực học tập cao hơn và thiếu sự chỉđạo trực tiếp của giáo viên

Học tập ở nhà rất quan trọng và không thể thiếu được trong quá trình lĩnh hội, hoànthiện tri thức và kỹ năng, kỹ xảo Nó có tác dụng củng cố, đào sâu, khái quát hoá, hệ thống hoátri thức, kỹ năng, kỹ xảo và có tác dụng chuẩn bị lĩnh hội những tri thức mới Thông qua việchọc tập ở nhà, học sinh bồi dưỡng, rèn luyện tinh thần trách nhiệm trong học tập, tính chủđộng, tự lực, phát huy tinh thần nỗ lực chủ quan, khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ

đề ra trong thời gian quy định, tính tổ chức và tính kế hoạch trong học tập

b Điều kiện để tổ chức học tập ở nhà đạt kết quả.

- Cần làm cho học sinh ý thức được việc học ở nhà có tầm quan trọng đặc biệt Do vậyphải đảm bảo cho học sinh có thời gian học ở nhà tối thiểu nhất

- Cá biệt hóa việc học ở nhà, bảo đảm cho bài học có tính đa dạng, bồi dưỡng cho họcsinh phương pháp học tập

- Tạo cơ sở vật chất cho việc học ở nhà của học sinh

Trang 37

- Hướng dẫn việc học ở nhà của học sinh, thường xuyên kiểm tra nghiêm túc bài làm ởnhà của học sinh

Ví dụ: Làm bài dễ trước, làm bài khó sau Nếu bài làm đòi hỏi vận dụng lý thuyết thìnghiên cứu những vấn đề lý luận trước khi bắt tay vào làm bài Biết cách phân phối thời gianlàm dần dần các bài tập có tính chất dài hạn đòi hỏi nghiên cứu sách báo, quan sát thí nghiệm,

đo đạc…Tránh tình trạng để đến gần ngày nộp bài mới vội vàng làm…

Tổ chức thảo luận có thể tiến hành theo các bước sau:

- Bước chuẩn bị thảo luận:

+ Giáo viên nêu lên vấn đề thảo luận là những vấn đề quan trọng, có ý nghĩa trongchương trình dạy học Qua thảo luận có thể giúp cho học sinh nắm vững những tri thức thenchốt nhất của một phần nội dung của bộ môn

+ Giáo viên trình bày kế hoạch chuẩn bị thảo luận cũng như giao nhiệm vụ cho cả lớp,cho từng nhóm và từng người chuẩn bị báo cáo

+ Học sinh chuẩn bị trong một thời hạn nhất định tuỳ theo nội dung và khối lượng vấn

đề thảo luận

- Bước tiến hành thảo luận: Mở đầu, người điều khiển thảo luận (giáo viên, học sinhđược chỉ định) trình bày ngắn gọn mục đích, yêu cầu và nội dung vấn đề thảo luận Tiếp đó,học sinh dựa trên các vấn đề đặt ra, tự nguyện trình bày ý kiến đã chuẩn bị hoặc một, hai họcsinh đã có sự chỉ định trước trình bày vấn đề mà mình đã chuẩn bị Những học sinh khác cóthể hỏi thêm Sau khi báo cáo viên trả lời thì cả lớp tiến hành thảo luận, phân tích những dữkiện trong các bản báo cáo, từ đó đi tới những kết luạn, đồng thời có những sự đánh giá đối vớicác bản báo cáo

Khi thảo luận, người điều khiển có thể động viên mọi người phát biểu ý kiến, song cũng

có thể chỉ định trong trường hợp cần thiết

Khi những người phát biểu tranh luận những vấn đề vụn vặt, không trọng tâm hoặctrình bày những vấn đề xuôi chiều, giáo viên có thể hướng sự thảo luận lại và nêu lên nhữngvấn đề mâu thuẫn với ý kiến chung của những người tham gia thảo luận

- Bước tổng kết thảo luận:

Nếu cần, giáo viên có thể bổ sung, sửa chữa những sai lầm của báo cáo viên hoặcnhững người tham gia phát biểu Ngoài ra, giáo viên có thể nhận xét thêm về tinh thần, thái độchuẩn bị của cả lớp và của những cá nhân đặc biệt, sau đó đánh giá, cho điểm

5.2.5 Hình thức hoạt động ngoại khoá trong dạy học.

a Ý nghĩa:

Trong quá trình dạy học, hình thức hoạt động ngoại khoá có tính chất tự nguyện Hìnhthức này tạo điều kiện cho học sinh khả năng mở rộng và dào sâu tri thức đã tiếp thu được ởchương trình bắt buộc Đồng thời nó cũng tạo thêm hứng thú học tập và làm phát triển nănglực riêng của từng học sinh, qua đó góp phần hướng nghiệp cho học sinh

Những hình thức của hoạt động ngoại khoá có thể là: Câu lạc bộ khoa học, hội “các nhàkhoa học trẻ tuổi”, dạ hội khoa học hay nghệ thuật

Trang 38

b Nội dung hoạt động ngoại khoá.

Nội dung hoạt động ngoại khoá rất phong phú, bao gồm các mặt văn hoá, khoa học,nghệ thuật, thể dục thể thao, kỹ thuật…Để tổ chức hoạt động ngoại khoá đạt được hiệu quả,cần có sự tham gia, chỉ đạo của giáo viên và tập thể sư phạm nhà trường Đồng thời cần có sự

đỡ đầu, hỗ trợ của những cá nhân và các cơ quan văn hoá, khoa học, nghệ thuật, thể dục thểthao, đặc biệt là Hội cha mẹ học sinh

5.2.6 Hình thức tham quan học tập.

a Ý nghĩa:

Tham quan học tập là hình thức tổ chức dạy học nhằm tổ chức cho học sinh quan sáttrực tiếp và nghiên cứu những hiện tượng, sự vật trong thiên nhiên, trong xã hội, trong cuộcsống, trong sản xuất…Qua đó giúp cho họ tích luỹ thêm nhiều tri thức, làm phong phú thêmkinh nghiệm, mở rộng, đào sâu nền học vấn của họ, nâng cao hứng thú học tập, phát triển ócquan sát, trí tò mò khoa học Bước đầu hình thành cho họ phương pháp quan sát, phân tích,tổng hợp những tài liệu thu được trong quá trình tham quan Ngoài ra, qua tham quan học tập

mà bồi dưỡng lòng yêu quê hương đất nước, yêu con người và cuộc sống lao động cho họcsinh

Tham quan học tập là hình thức cần thiết để thực hiện mối liên hệ giữa lý luận và thực

tế, gắn nhà trường với cuộc sống và thực hiện nhiệm vụ giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho họcsinh

b Tổ chức tham quan học tập.

Có thể tổ chức tham quan trước, trong và sau khi học một tài liệu học tập nào đó, tuỳtheo vị trí của nó trong quá trình học tập Tham quan được tổ chức trước khi học một tài liệunào đó là nhằm chuẩn bị cho học sinh tích luỹ những sự kiện cần thiết để dễ dàng và hứng thútiếp thu tri thức mới Tham quan được tiến hành trong quá trình nghiên cứu tài liệu mới nhằmminh hoạ cho vấn đề đang học tập Tham quan tổ chức sau khi học tài liệu học tập nào đó lànhằm củng cố, đào sâu kiến thức đã học

- Đối tượng tham quan có thể là phong cảnh thiên nhiên, di tích lịch sử, hiện tượng địa

lý, viện bảo tàng, cơ sở sản xuất - kinh tế, phòng triển lãm…

- Các bước tổ chức tham quan học tập Tổ chức tham quan bao gồm những bước sau:+ Chuẩn bị tham quan

Trước hết, phải xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung tham quan Sau đó, giáo viên cầnphải đến địa điểm tham quan nghiên cứu cụ thể, trên cơ sở đó vạch ra kế hoạch tham quan Kếhoạch bao gồm mục đích, yêu cầu tham quan, các đối tượng cần quan sát, những tài liệu cầnthu thập, cách tổ chức học sinh, tổ chức việc hướng dẫn tham quan, phương tiện cần mangtheo, tiến độ tham quan

Kế hoạch tham quan phải được phổ biến, trao đổi kỹ càng với học sinh, với bộ phậnlãnh đạo của tập thể học sinh để họ đóng góp ý kiến, thấm nhuần nội dung kế hoạch tham quan

và phân công học sinh vào các bộ phận tổ chức việc tham quan

+ Tiến hành tham quan Đầu tiên, giáo viên nhắc lại mục đích, yêu cầu, nội dung thamquan Sau đó, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên hoặc cán bộ hướng dẫn của cơ sởtham quan, học sinh tiến hành tham quan theo kế hoạch Trong quá trình đó giáo viên có thểđặt những câu hỏi hay nhắc nhở các em chú ý quan sát, ghi chép những nội dung, thu thậpnhững hiện vật cần thiết Cần lưu ý học sinh thực hiện nghiêm túc nội quy, duy trì kỷ luật khitham quan để tránh những sự cố đáng tiếc có thể xảy ra

Trang 39

+ Tổng kết tham mưu Sau khi tham quan, giáo viên cần hướng dẫn học sinh kiểm tra,chỉnh lý tài liẹu thu thập được Trên cơ sở đó viết thu hoạch, trao đổi ý kiến hay thảo luậntrong tập thể, làm các bài tập ở lớp hay ở nhà như tập làm văn, viết báo cáo, xây dựng bộ sưutập…để đào sâu, củng cố kiến thức đã thu nhận được khi tham quan Ngoài ra, khi ôn tập,kiểm tra, giáo viên cần đề ra những câu hỏi yêu cầu học sinh sử dụng những tri thức lý thuyết

để giải thích những hiện tượng quan sát được khi tham quan Hoặc ngược lại, sử dụng nhữnghiện tượng quan sát khi tham quan để minh hoạ, làm sáng tỏ lý thuyết đã học

5.2.7 Hình thức giúp đỡ riêng.

a Ý nghĩa.

Hình thức này thường gọi là phụ đạo, nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi và giúp đỡ học sinhyếu

+ Đối với học sinh yếu, hình thức đó giúp họ lấp được các lỗ hổng tri thức kịp thời và nhờ

đó mà ngăn ngừa tình trạng một bộ phận học sinh không theo kịp được trình độ chung của cảlớp

+ Đối với học sinh giỏi, hình thức giúp đỡ riêng giúp họ phát triển hơn nữa những

năng lực sẵn có, nghiên cứu sâu một số vấn đề về khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật nào đó mànhững buổi học trên lớp không có điều kiện giải quyết

Hình thức giúp đỡ riêng có thể tiến hành theo từng nhóm hoặc có tính chất cá nhân, cóthể tổ chức thường xuyên hoặc theo từng chủ đề, hoặc có tính chất tình huống như khi chuẩn bịcho học sinh kiểm tra, sát hạch, thi

b Yêu cầu vận dụng hình thức giúp đỡ riêng.

- Đối với học sinh yếu kém:

Phải tìm ra nguyên nhân học yếu, do vắng mặt trong những buổi học vì ốm đau, do hoàncảnh gia đình hoặc chưa có phương pháp học tập đúng, hoặc do thiếu chăm chỉ, ngại học…Trên cơ sở đó mới vạch ra được phương pháp giúp đỡ thích hợp

- Việc giúp đỡ riêng phải chú ý đến đặc điểm cá nhân, phải kiên trì, không nôn nóng,tránh những lời nói hoặc hành vi xúc phạm nhân cách các em Cần từng bước đề ra những yêucầu vừa sức, tạo cho học sinh đạt những kết quả cụ thể, qua đó mà có những động viên thíchhợp, tạo cho họ lòng tin vào khả năng của mình

- Trong việc giúp đỡ riêng, một mặt cần giúp đỡ học sinh lấp các lỗ hổng trong tri thứccủa họ, mặt khác cần từng bước hình thành cho họ phương pháp học tập để học sinh có thể tự

bổ sung sự hiểu biết của mình Ngoài ra, cần tổ chức những hình thức thích hợp để học sinhkhá, giỏi trong lớp giúp đỡ những em có học lực yếu hơn

- Đối các em khá giỏi:

Bồi dưỡng cho học sinh phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập, đề ra cho họ nhữngvấn đề để họ tự giải quyết Qua đó mở rộng việc đào sâu tri thức về một số bộ môn mà họhứng thú và tỏ ra có năng khiếu, song tuyệt đối tránh việc học tủ, học lệch

5.2.8 Trò chơi học tập

a Đặc điểm của trò chơi học tập:

Trò chơi học tập là trò chơi có mục đích học tập rõ rệt Nó là một dạng hoạt động dạyhọc được tiến hành thông qua trò chơi nhằm giáo dục cho các em những đức tính hoặc những

kỹ năng cần thiết Nó là một trong những hình thức hoạt động học tập rất hấp dẫn đối với họcsinh Trò chơi học tập bao giờ cũng có mục đích học tập thông qua các hoạt động chơi và cácluật (quy tắc) chơi

b Những yêu cầu khi tổ chức trò chơi học tập.

Trang 40

- Trò chơi học tập bao giờ cũng hấp dẫn nên trước khi chơi giáo viên phải làm cho các

em hiểu được đầy đủ luật chơi, tránh vì quá vui mà bỏ qua luật

- Dụng cụ, đồ dùng phục vụ cho trò chơi phải được chuẩn bị chu đáo và đầy đủ, vì trongthực tế chuẩn bị đầy đủ cho một trò chơi học tập là một vấn đề không phải đơn giản, đòi hỏinhiều thời gian và công sức của giáo viên

- Địa điểm tổ chức trò chơi phải đảm bảo an toàn, tránh để những trường hợp không hay

có thể xảy ra (như không nên tổ chức chơi cạnh bờ ao, trên sân đầy sỏi đá…)

5.3 PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC

5.3.1 Khái niệm phương tiện dạy học.

Phương tiện dạy học là tập hợp những đối tượng vật chất được giáo viên sử dụng với tưcách là những phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, và đối vớihọc sinh, đó là phương tiện để tiến hành hoạt động nhận thức của mình, thông qua đó mà thựchiện những nhiệm vụ dạy học

5.3.2.Vai trò, tác dụng của phương tiện dạy học

+ Tạo điều kiện nâng cao hứng thú học tập của học sinh

+ Tạo cơ hội để kết hợp hoạt động trí óc với hoạt động của các giác quan

+ Làm cho việc học tập có ý nghĩa hơn vì kết hợp với kiến thức đã học và cho phépkhái quát dễ dàng thông qua ví dụ cụ thể

+ Phù hợp với đặc điểm nhận thức khác nhau của học sinh: Ví dụ như có học sinh họctập có kết quả khi nghe giảng, nhưng có em lại qua nhìn và sờ mó

+ Dễ giảng giải những khái niệm khó

+ Khuyến khích việc hoạt động độc lập

5.3.3 Các loại phương tiện dạy học

- Phương tiện DH kỹ thuật bao gòm các phương tiện nghe- nhìn chiếm vị trí quan trọng nhất Các phương tiện nghe- nhìn bao gồm 2 bộ phận chính

+ Các giá mang thông tin như bản trong, phim, băng từ âm, băng từ hình, đĩa ghi âm, ghi hình + Các máy móc chuyển tải thông tin ghi ở các giá mang thông tin như: đèn chiếu, ra đio, cát sét,viđio, máy thu hình, máy quay phim…

- Đồ dùng dạy học trực quan:

+ Các vật thật

+ Các vật tượng trưng ( bản đồ, sơ đồ, đồ thị … )

+ Các mẫu vật ( có thể dưới dạng vật thật, vật nhồi, tiêu bản …)

5.3.4 Những điều kiện cần chú ý khi lựa chọn, sử dụng các phượng tiện dạy học.

Khi lựa chọn và sử dụng phương tiện dạy học cần chú ý:

+ Dựa vào những căn cứ đã được nêu khi thiết kế bài học để bảo đảm cho việc sử dụngphương tiện dạy học đúng lúc và đúng chỗ, phù hợp với lứa tuổi, khả năng, vốn hiểu biết vàhứng thú của học sinh, thích hợp với giờ giấc, với kích thước của phòng học…

+ Sử dụng phương tiện dạy học phải phục vụ cho việc đạt được mục tiêu học tập Vìvậy đồ dùng dạy học chỉ là phương tiện để đạt mục tiêu học tập và phải phù hợp với đặc điểmcủa nội dung học và môn học

+ Giáo viên đã biết cách sử dụng phương tiện dạy học được lựa chọn

+ Sử dụng phương tiện dạy học đúng chỗ và không quá nhiều Phương tiện dạy họcđược sử dụng là một bộ phận hữu cơ của bài học, đáp ứng trình tự lô gíc của bài học

+ Cần khuyến khích học sinh sử dụng phương tiện dạy học Muốn vậy cần giao cho họcsinh nhiệm vụ sử dụng, tìm tòi, sử dụng phương tiện dạy học

Ngày đăng: 01/01/2020, 22:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w