1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

giáo án tổ chức quản lý quá trình dạy học

56 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 351,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thì dạy học là con đường tối ưu nhất giúp cho tuổi trẻ tiếp cận, nắm vững kinh nghiệm xã hộiđược phản ánh trong các khái niệm khoa học do loài người tích lũy; - Học tập là công việc suốt

Trang 1

GIÁO ÁN MÔN HỌC:

TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC

1 Khái niệm chung về quá trình dạy học

1.1 Dạy học và ý nghĩa của nó

Trong quá trình sống và tồn tại, con người có thể tiếp nhận kinh nghiệmsống một cách tự nhiên nhờ quá trình giao tiếp và hoạt động với cộng đồng:

- Tiếp nhận thụ động những kỹ năng, kỹ xảo về ngôn ngữ, lao động sản xuất, cáchgiao tiếp, sống chung giữa người với người;

- Qua thời gian, cá nhân có sự sàng lọc những điều có lợi cho bản thân, giúp mìnhtồn tại trong các mối quan hệ xã hội phức tạp, thiếp lập những kinh nghiệm sống

- Xây dựng một hệ thống tri thức và kỹ năng thực hành nhờ chỉ dẫn của những lớpngười đi trước, người có kinh nghiệm qua hàng bao thế hệ để đạt tới sự đúng - sai,giữ lại - loại bỏ, thay đổi - phát triển, bổ sung - cập nhật

Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người nhận thức rõ rằng:

- Sự truyền đạt cho lớp trẻ sau này những kinh nghiệm của mình một cách khoahọc, bài bản và có hệ thống là điều cần thiết;

- Nói cách khác, cùng với sự tiến bộ của xã hội, con người đã biết gìn giữ những disản của quá khứ và hiện tại bằng con đường tự giác, thông qua con đường dạy học;

- Cho dù việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng hoạt động của con người được thực hiệnbằng nhiều hình thức (tự phát hoặc tự giác, thụ động hoặc chủ động ) thì dạy học

là con đường tối ưu nhất giúp cho tuổi trẻ tiếp cận, nắm vững kinh nghiệm xã hộiđược phản ánh trong các khái niệm khoa học do loài người tích lũy;

- Học tập là công việc suốt đời, học bằng nhiều cách, nhưng cách tốt nhất, đem lạihiệu quả nhanh chóng nhất cho mỗi người là sự học tập đặt ra trong quá trình dạyhọc được tổ chức theo một kế hoạch chặt chẽ, thực hiện một nội dung bao gồmnhững tri thức phổ thông cơ bản, những kỹ năng - kỹ xảo hoạt động nhờ một hệthống các tác động sư phạm của đội ngũ giáo viên

- Thông qua quá trình dạy học mà tuổi trẻ dễ dàng và nhanh chóng tích lũy cho

Trang 2

bản thân một hệ thống những chân lý khoa học và kỹ năng sống được tích tụ quathời gian của nhiều thế hệ và các nhà khoa học Quá trình dạy học tạo điều kiệnthuận lợi cho hoạt động nhận thức của người học, họ vừa lĩnh hội những tri thứckhoa học đã được loài người tích luỹ, vừa hình thành phương pháp nhận thức thếgiới khách quan làm cơ sở cho những hoạt động sáng tạo sau này.

> Học tập là một quá trình hoạt động căng thẳng của tư duy

- Từ ngàn xưa, con người tích lũy kiến thức bằng sự quan sát, lâu dần tích lũythành kinh nghiệm để thích nghi với cuộc sống, hòa hợp với tự nhiên;

- Quá trình tiếp thu có chọn lọc, con người đã nhận biết, so sánh, phân tích, tổnghợp, đánh giá và vận dụng để đạt một mục đích nào đó Tất cả những gì có được

về phương pháp nhận thức, về tư duy là kết quả tất yếu của một quá trình học tậplâu dài, bền bỉ

Ý nghĩa của quá trình dạy học

- Dạy học là phương tiện đem lại hiệu quả to lớn trong việc phát triển hệ thốngnăng lực hoạt động trí tuệ của người học: thể hiện bằng việc họ nhận thức thế giớiquan một cách sâu sắc nhờ khối lượng tri thức có được giúp họ thích ứng với tựnhiên, xã hội và xác định vai trò của bản thân phù hợp với bối cảnh đang sống;

- Hình thành những quan điểm sống, thế giới quan, nhân sinh quan và những phẩmchất đạo đức phù hợp với những gì do môi trường sống đang quy định cho conngười;

- Dạy học góp phần vào việc nâng cao trình độ học vấn cho người học, cùng với

nó là sự hình thành bộ mặt nhân cách, chuẩn mực sống cho mỗi cá nhân, giúp họsống có ích cho bản thân và cho cộng đồng xã hội;

- Dạy học không đồng nhất với dạy người nhưng là phương tiện cơ bản giúp chomỗi cá nhân trở thành con người xã hội theo đúng nghĩa của nó

1.2 Nhiệm vụ của dạy học

 Những cơ sở để xác định nhiệm vụ dạy học

Nhiệm vụ dạy học trong trường phổ trung, trung học chuyên nghiệp được xâydựng dựa trên những cơ sở sau:

Trang 3

- Những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với giáo dục - đàotạo trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;

- Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

- Luật Giáo dục;

- Mục đích và mục tiêu đào tạo của Nhà trường trên cơ sở chỉ đạo của Bộ Giáo dục

& Đào tạo cùng định hướng phát triển của xã hội;

- Sự tiến bộ của khoa học công nghệ và truyền thông;

- Đối tượng trọng tâm của quá trình dạy học;

- Cơ sở vật chất, điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị

 Các nhiệm vụ cụ thể

 Nhiệm vụ 1 - Dạy tri thức khoa học

Trang bị cho học sinh những tri thức, kỹ năng, bước đầu hình thành những kỹxảo tương ứng về một lĩnh vực cụ thể ở trình độ hiện đại để sau khi ra trường họcsinh có khả năng xác định chính xác tương lai nghề nghiệp của mình Tri thức là

sự hiểu biết, là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan thông qua hoạt độngcủa chủ thể nhận thức, là những kinh nghiệm loài người tích lũy được trong quátrình đấu tranh và tồn tại với tự nhiên, xã hội và trong hoạt động tư duy

- Những tri thức thực hành bao gồm những tri thức về cách thức hành động, cơ sở

lý luận của việc hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng;

- Những tri thức về phương pháp nhận thức khoa học nói chung, phương pháp họctập, phương pháp nghiên cứu khoa học, phương pháp học tập Đó là điều kiện đểphát triển tư duy sáng tạo, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả quá trình dạy

Trang 4

- Tri thức khoa học cơ bản là tri thức tạo nên nền tảng vững bền để từ đó học sinh

có thể học tốt những tri thức cơ sở và chuyên ngành Ví dụ: tri thức về toán học,triết học

- Tri thức cơ sở bao gồm những tri thức đại cương về chuyên ngành, nó được hìnhthành trên nền tảng của những tri thức cơ bản, đồng thời là nguồn gốc tạo nên trithức chuyên ngành;

- Tri thức chuyên ngành là những tri thức giúp học sinh có thể nắm vững tri thứctrực tiếp có liên quan tới nghề nghiệp tương lai Nó bao gồm những tri thức vềchuyên môn rộng và hẹp cũng như liên ngành (với một số ngành gần);

- Tri thức hiện đại: là những tri thức phản ánh những thành tựu mới nhất, tiên tiếnnhất về các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, xã hội nhân văn, kinh tế, văn hóa Đó lànhững tri thức phản ánh được xu thế phát triển và phù hợp với chân lý khách quan

 Nhiệm vụ 2 - Dạy phương pháp nhận thức

Bồi dưỡng cho học sinh phương pháp luận khoa học, phương pháp nghiên cứu vàphương pháp tự học, giúp họ phát triển những phẩm chất, tính cách và năng lựchoạt động trí tuệ sáng tạo để họ tìm kiếm và phát hiện ra tri thức

- Bồi dưỡng cho học sinh phương pháp luận khoa học, phương pháp nghiên cứu

và phương pháp tự học:

Trang 5

+ Phương pháp tự học của học sinh là cách thức hoạt động tự giác, tích cực chủđộng, tự lực và sáng tạo nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục đích,nhiệm vụ học tập, nghiên cứu nhất định;

+ Phương pháp nghiên cứu khoa học là cách thức, con đường thu thập thông tinkhoa học (số liệu, sự kiện, dữ kiện), phân tích, xử lý chúng làm sáng tỏ một vấn đềnghiên cứu để giải quyết nhiệm vụ và cuối cùng là đạt được mục đích nghiên cứu;+ Phương pháp luận khoa học là học thuyết triết học (duy vật biện chứng và duyvật lịch sử) về phương pháp nhận thức và cải tạo thế giới quan

- Phát triển những phẩm chất, tính cách và năng lực hoạt động trí tuệ của học sinh:

+ Tính định hướng của hoạt động trí tuệ: đó là khả năng xác định nhanh chóng vàchính xác đối tượng của hoạt động trí tuệ, mục đích phải đạt tới Nó chi phốihướng đi và cách thức đi của hoạt động trí tuệ; đồng thời giúp học sinh có ý thứcphát hiện và điều chỉnh những chệch hướng;

+ Bề rộng của hoạt động trí tuệ: thể hiện ở khả năng học sinh có thể tiến hành hoạtđộng này ở nhiều lĩnh vực, nhất là những lĩnh vực có liên quan mật thiết với nhau;+ Chiều sâu của hoạt động trí tuệ: thể hiện ở khả năng nắm được ngày càng sâusắc bản chất của sự vật, hiện tượng khách quan;

+ Tính linh hoạt và mềm dẻo trong hoạt động trí tuệ: thể hiện ở việc học sinh cóthể tiến hành hoạt động trí tuệ nhanh chóng và di chuyển nhạy bén sang nhữngtình huống khác có lợi cho việc giải quyết vấn đề, thích ứng với sự đa dạng trongcác hoạt động của thực tiễn;

+ Tính độc lập của hoạt động trí tuệ: thể hiện ở khả năng tự phát hiện và giải quyếtcác vấn đề trong nhận thức và trong thực tiễn, là cơ sở của các hoạt động tư duysáng tạo;

+ Tính phê phán của hoạt động trí tuệ: thể hiện ở khả năng phân tích, đánh giá cácquan điểm, lỹ thuyết, học thuyết, các phương pháp của người khác và đưa ranhững chính kiến của bản thân trên cơ sở tư duy logic

Năng lực hoạt động trí tuệ bao gồm:

Trang 6

+ Năng lực nhận thức thể hiện ra ở khả năng tư duy trừu tượng và tư duy độc lập,

có khả năng tiên đoán chính xác kết quả, lập luận và suy luận tốt;

+ Năng lực hành động thể hiện ở khả năng chiếm lĩnh tri thức và vận dụng linhhoạt tri thức ở nhiều tình huống khác nhau trong thực tiễn cuộc sống

 Nhiệm vụ 3 - Dạy thái độ

Trên cơ sở trang bị hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực hoạtđộng trí tuệ cho học sinh, quá trình dạy học phải nhằm hình thành thế giới quankhoa học, nhân sinh quan và những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của những người

“có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, năng động và sáng tạo, có khảnăng thích ứng với những thay đổi của nghề nghiệp, có bản lĩnh và trách nhiệmvới công việc ”

Quá trình dạy học phải đảm bảo được sự thống nhất biện chứng giữa nội dung giáodục tư tưởng, chính trị với nội dung tri thức khoa học trên cơ sở nền tảng những trithức và kỹ năng nghề nghiệp tương lai

Mặt khác, việc nắm vững tri thức, kỹ năng là cơ sở và điều kiện để phát triển nănglực hoạt động trí tuệ của học sinh trong quá trình dạy học Nó phản ánh rõ nét mụctiêu đào tạo của các trường phổ thông, trung học chuyên nghiệp đáp ứng phù hợpvới nhu cầu của xã hội

Mối quan hệ giữa 3 nhiệm vụ:

- Nhiệm vụ 1 là cơ sở và nền tảng vì thiếu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng thìkhông thể phát triển trí tuệ và thiếu cơ sở để hình thành thế giới quan khoa học;

- Nhiệm vụ 2 là kết quả và điều kiện của việc nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

và là cơ sở để hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo đứcnghề nghiệp vì phải có trình độ phát triển nhận thức nhất định mới giúp học sinh

có cách nhìn, thái độ và hành động đúng đắn;

- Nhiệm vụ 3 là mục đích và kết quả của 2 nhiệm vụ trên vì nó kích thích và chỉđạo việc nắm tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực nhậnthức

1.3 Khái niệm về quá trình dạy học

Trang 7

Quá trình dạy học là một quá trình phức tạp, rộng lớn và bao gồm nhiều thành

tố có liên quan chặt chẽ với nhau Hiện nay, các nhà lý luận dạy học ở Việt Namcũng như thế giới đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về quá trình dạy học tùy theoquan điểm tiếp cận về hoạt động dạy và học Ví dụ, các nước phương Tây khinghiên cứu quá trình dạy học thường xem xét hai phạm trù độc lập: dạy và học,với hoạt động dạy có phương pháp của giáo viên, với hoạt động học có phongcách học của mỗi cá nhân

Ở Việt Nam, theo quan niệm truyền thống, quá trình dạy học là tập hợp nhữnghành động liên tiếp thâm nhập vào nhau của giáo viên và của học sinh dưới sựhướng dẫn của giáo viên, nhằm làm cho học sinh tự giác nắm vững hệ thốngnhững cơ sở khoa học và trong quá trình đó phát triển những năng lực nhận thức

và năng lực hành động, hình thành thế giới quan và nhân sinh quan

> Như vậy, có thể hiểu đơn giản, quá trình dạy học là tập hợp những hoạt độngcủa thầy và trò dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của thầy, nhằm giúp trò phát triển đượcnhân cách và nhờ đó mà đạt tới mục đích dạy học

Phân tích khái niệm:

+ Sự phối hợp hành động, thống nhất giữa thầy và trò hướng tới mục đích dạy học;+ Cấu trúc cơ bản của quá trình dạy học với các thành tố chủ yếu và các quan hệgiữa chúng: thầy - trò - mục đích dạy học (thầy chỉ đạo, trò lĩnh hội)

+ Thầy: giữ vai trò tổ chức, lãnh đạo, điều chỉnh hoạt động nhận thức của họcsinh;

+ Trò: tự giác, tích cực, chủ động thông qua việc tự tổ chức, tự điều chỉnh hoạtđộng nhận thức của bản thân nhằm đạt tới mục đích dạy học

 Dạy học là một quá trình

Dạy học là một hiện tượng xã hội, được diễn ra trong một quá trình và đượcthực hiện trong các trường hợp, tổ chức, thể chế xã hội tồn tại cùng với các quátrình xã hội khác như chính trị - xã hội, pháp chế, văn hóa, đạo đức Bản thân dạyhọc là một quá trình bởi những lý do:

- Quá trình dạy học được diễn ra ở những không gian xác định và được phân chia

Trang 8

theo những khoảng thời gian nào đó

- Quá trình dạy học bao giờ cũng trải qua những trạng thái khác nhau nhờ sự vậnđộng của các yếu tố bên trong và bên ngoài

- Quá trình dạy học được thực hiện thông qua những dạng và những loại hoạt độngcủa người dạy và người học Họ là những chủ thể có ý thức và ở chừng mực nhấtđịnh những quy luật khách quan đã vận động dựa trên những hiểu biết đó

- Quá trình dạy học luôn mang trong nó tính định hướng, tính mục đích lâu dài,trải qua các trạng thái khác nhau, vận động nhờ tác động của những điều kiện bêntrong và bên ngoài, tuân theo những quy luật khách quan và biểu hiện thông quanhững hoạt động các chủ thể tham gia vào hoạt động dạy học

 Dạy học với tư cách là một hoạt động giáo dục

Hoạt động là quá trình nhiều mặt trong đó chủ thể có tính xã hội tạo lập các điềukiện cho sự tồn tại và phát triển của mình Bản chất của hoạt động được thể hiệnbởi những thuộc tính cơ bản sau:

+ Tính đối tượng của hoạt động: luôn có sự định hướng vào đối tượng vật chấthoặc tinh thần

+ Tính mục đích và ý thức của hoạt động: hướng tới kết quả cuối cùng của hoạtđộng nhằm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể

+ Tính cải biến (cải tạo) của hoạt động: hoạt động của con người không chỉ dừnglại ở mức độ chiêm ngưỡng giới tự nhiên mà phải luôn cải biến không ngừng môitrường vật chất khách thể và nhờ có quá trình này, bản thân chủ thể - con ngườicũng theo đó mà có sự biến đổi tương ứng Hoạt động chính là con đường phảnánh hiện thực khách quan qua đó, con người thể hiện năng lực cải tạo tự nhiên, xãhội và bản thân

Chúng ta thấy hoạt động dạy học là hoạt động chung bao gồm các hoạt độngthành phần và hoạt động dạy và hoạt động học, mà tương ứng với chúng là hai chủthể: thầy - trò Hoạt động hai chủ thể hay sự tồn tại của quá trình dạy học là haihoạt động qui định lẫn nhau Hoạt động dạy - học đều có những nét chung mangtheo tính bản chất và đều có các yếu tố cấu trúc của mọi hoạt động Tuy nhiên, hai

Trang 9

hoạt động đó lại có những điểm khác biệt về chủ thể, đối tượng, mục đích, phươngtiện và kết quả hoạt động:

+ Chủ thể của hoạt động dạy là giáo viên và tập thể sư phạm, hoạt động học là trò,

là tập thể những người được giáo dục;

+ Đối tượng của hoạt động dạy là hoạt động của học sinh, là các quan hệ giao lưugiữa chúng Đối tượng của hoạt động học là hoạt động của loài người trong việcnhận thức và cải tạo hiện thực khách quan, trong các quan hệ xã hội đa dạng;+ Mục đích của hoạt động dạy là cải biến và hoàn thiện hoạt động nhận thức, kỹnăng thực hành của học sinh, là hình thành và phát triển nhân cách của các em phùhợp với nhu cầu đòi hỏi của xã hội Mục đích của hoạt động học là nhằm chiếmlĩnh kinh nghiệm xã hội, giá trị văn hóa của loài người để lại, trên cơ sở đó hìnhthành năng lực sáng tạo trong việc cải tạo tự nhiên và xã hội, biết sống chung vớinhững gì quy định sự tồn tại của các em;

+ Phương tiện của hoạt động dạy bao gồm những công cụ vật chất, phương pháp,hình thức tổ chức tác động sư phạm, tổ chức quản lý, trong đó phải kể tới cảnhững phẩm chất nhân cách và năng lực sư phạm của giáo viên Phương tiện củahoạt động học bao gồm những công cụ vật chất, những phương pháp và hình thức

tổ chức các loại hoạt động nhận thức, khoa học định hướng giá trị, hoạt động sảnxuất, chính trị xã hội, văn hóa - thẩm mĩ, thể dục thể thao mà học sinh được tổchức tham gia;

+ Kết quả hoạt động của dạy là chất lượng và trình độ mới của hoạt động và giaolưu của học sinh đã được hình thành, kể cả chất lượng và trình độ mới về sự pháttriển nhân cách của học sinh; kết quả của hoạt động dạy còn thể hiện ở sự hoànthiện trình độ tri thức và kỹ năng giáo dục, sự thỏa mãn những nhu cầu chính trị,đạo đức, nghiệp vụ của giáo viên Kết quả của hoạt động học là những khả năngmới của học sinh trong việc nhận thức, cải biến hiện thực, là sự phát triển nhữngthuộc tính của nhân cách học sinh phù hợp với nhu cầu xã hội

Hai hoạt động dạy và học tồn tại, thống nhất với nhau trong sự khác biệt chứcnăng hoạt động, vì thế nó là một hoạt động riêng biệt, song sự tích hợp những kết

Trang 10

quả của một hoạt động do các chủ thể mang lại sẽ tạo nên kết quả của sự phát triểnnhân cách cho đối tượng giáo dục

 Quá trình dạy học rút ra chính là một hệ thống

Quá trình dạy học là một dạng hoạt động chuyên biệt, là quá trình xã hội Xuấtphát từ những đặc điểm hoạt động của quá trình dạy học, chúng ta có thể đưa ramột cấu trúc gồm các thành tố cơ bản như sau tồn tại trong quá trình dạy học:

- Mục đích dạy học là mục đích thành phần nhằm thực hiện mục đích giáo dụctổng thể trong việc hình thành một kiểu nhân cách cho người học phù hợp vớinhững nhu cầu đòi hỏi của phát triển xã hội, nhu cầu về phát triển nhân cách củamỗi cá nhân;

- Mục đích dạy học được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ dạy học ứng với từng bàihọc, từng môn học, từng cấp học, năm học và phải được chủ thể và đối tượng dạyhọc, ý thức trở thành động cơ của hoạt động dạy và hoạt động học;

- Chủ thể dạy học: là giáo viên và tập thể giáo viên trong hoạt động dạy; là họcsinh và tập thể học sinh trong hoạt động học;

- Đối tượng dạy học: là học sinh và tập thể học sinh với tư cách vừa là những cánhân, vừa là những nhân cách với những đặc điểm phát triển, trình độ phát triểntâm sinh lí, trình độ nhận thức rất đa dạng và phức tạp;

- Nội dung dạy học: là nội dung các học vấn bao gồm những giá trị văn hóa vàkinh nghiệm của loài người đã được chọn lọc, phù hợp với mục đích từng cấp học,từng môn học;

- Phương pháp dạy học: là các con đường, là cách thức vận động của nội dung dạyhọc phù hợp với quy luật phát triển tâm lí, sinh lí và trình độ nhận thức của ngườihọc, là các biện pháp tổ chức hợp tác giữa giáo viên và trò nhằm giúp cho tròchiếm lĩnh được nội dung dạy học một cách vững chắc;

- Hình thức tổ chức dạy học: là các hình thức tổ chức hoạt động dạy và hoạt độnghọc của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện phương pháp giáo dục và chiếm lĩnhnội dung dạy học;

- Phương tiện dạy học: là những vật thể mang nội dung và phương pháp dạy học,

Trang 11

là phương tiện tác động tới hoạt động dạy và hoạt động học;

- Điều kiện dạy học: bao gồm những điều kiện bên trong nhà trường (về cơ sở hạtầng, vật chất kĩ thuật, vệ sinh học đường, đạo đức thẩm mĩ v.v ) và những điềukiện bên ngoài nhà trường (môi trường kinh tế - xã hội, địa phương và đất nước)

- Kết quả dạy học: là kết quả của hoạt động dạy và hoạt động học thông qua kiểmtra, đánh giá, trở thành yếu tố kích thích, điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học.Tất cả những yếu tố nêu trên có một liên quan mật thiết với nhau, quy định lẫnnhau tạo thành một hệ thống của quá trình dạy học Nhờ có sự liên hệ và tác độnglẫn nhau giữa các thành tố mà quá trình dạy học đã làm cho hệ thống dạy học hoànthành và phát triển Sự thiếu vắng một thành tố nào đó, hoặc do tính chất và trình

độ không phù hợp với các thành tố khác và do vậy không phù hợp với quá trìnhtổng thể sẽ gây trở ngại cho quá trình hoạt động của các yếu tố khác, ảnh hưởngtới chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học

Trong những yếu tố nêu trên, mục đích dạy học có vai trò đặc biệt quan trọng, quyđịnh tính chất và nội dung của tất cả những yếu tố khác Nội dung dạy học là đốitượng chiếm lĩnh của trò, là mục đích dạy học đã được đối tượng hóa trong hoạtđộng dạy học, có tác dụng trực tiếp dẫn dắt sự phát triển nhận thức của học sinhthông qua phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Việc làm cho nội dung họcvấn thực sự trở thành đối tượng hoạt động của người học, việc tổ chức hoạt độngtích cực và tự giác của người học để chiếm lĩnh nội dung học vấn chỉ có thể thựchiện được bởi các phương pháp giảng dạy và học tập Chất lượng của phươngpháp và hình thức tổ chức dạy học quy định hiệu quả tác dụng của nội dung giáodục Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học chỉ được thực hiện bằngnhững phương tiện và trong những điều kiện nhất định Hơn nữa, phương tiện vàđiều kiện dạy học cũng mang những đặc điểm của nội dung và phương pháp dạyhọc, do đó cũng tác động tới chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học

1.4 Bản chất của quá trình dạy học

 Những căn cứ để xác định bản chất của quá trình dạy học

Để xác định bản chất quá trình dạy học, cần căn cứ vào mối quan hệ giữa hoạt

Trang 12

động nhận thức của loài người với hoạt động học tập của học sinh là mối quan hệgiữa hoạt động dạy với hoạt động học trong quá trình dạy học Hoạt động nhậnthức của loài người đi trước theo con đường vòng nhằm tìm tòi, phát hiện nhữngcái mới khách quan; còn hoạt động học tập của học sinh là quá trình nhận thứcnhằm lĩnh hội những cái mới chủ quan nhưng được diễn ra trong môi trường sưphạm có sự hướng dẫn, có vai trò chủ đạo của giáo viên.

Mặt khác, khi xác định bản chất của quá trình dạy học, cần xem xét mối quan hệgiữa hoạt động dạy và hoạt động học Dạy và học phản ánh tính hai mặt của quátrình dạy học trên cơ sở thống nhất biện chứng với nhau Xét cho cùng, mọi sự đầu

tư cho việc tổ chức, điều khiển quá trình dạy học của giáo viên đều nhằm thúc đẩyhoạt động nhận thức của học sinh - với tư cách là chủ thể tích cực, độc lập, sángtạo chiếm lĩnh nội dung học tập được quy định trong chương trình

Như vậy trong quá trình học tập, học sinh phải không ngừng lĩnh hội những kiếnthức do giáo viên cung cấp, mà quan trọng hơn, các em còn phải tự tìm ra tri thứcmới, kỹ năng mới từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau

 Những đặc điểm cơ bản của quá trình dạy học hiện nay

Một số đặc điểm cơ bản của quá trình dạy học:

- Hoạt động học tập của học sinh được tích cực hóa trên cơ sở nội dung dạy họcngày càng hiện đại hóa;

- Cuộc cách mạng KHCN phát triển khiến thông tin bùng nổ đi đôi với sự lão hóatri thức trong mọi lĩnh vực khoa học, điều này khiến cho việc đổi mới nội dungdạy học phải luôn theo hướng hiện đại hóa, cung cấp cho người học những kiếnthức cần và đủ thích ứng với yêu cầu của xã hội;

- Mâu thuẫn giữa khối lượng nội dung dạy học với thời gian học tập có hạn,phương pháp, phương tiện dạy học đôi khi lạc hậu không theo kịp với công nghệ

Do đó, bài toán giải quyết là cần tiến hành cuộc cách mạng về phương pháp dạyhọc theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh bằng việc thiết kế

và thực hiện các bài giảng theo các phương pháp tích cực với hệ thống những tìnhhuống nhằm khơi dậy, phát huy cao trình độ năng lực, tìm tòi, độc lập, sáng tạo

Trang 13

của người học thông qua việc phát hiện và giải quyết các tình huống có vấn đề Vìvậy, dạy học phải hướng vào hoạt động tự nhận thức của học sinh còn vị thế củagiáo viên sẽ là người hỗ trợ, người hướng dẫn, là cố vấn và trọng tài khoa học;

- Kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lí học và giáo dục học cũng đã khẳng định:nhìn chung, so với trẻ có cùng độ tuổi ở các thế hệ trước, người học sinh ngày nay

có năng lực nhận thức và vốn sống phát triển hơn, thông minh, năng động, khônhơn Chính vì vậy hoạt động dạy học phải có tác dụng thúc đẩy sự phát triển nănglực và phẩm chất trí tuệ, phải tạo nên sự biến đổi về chất trong hoạt động nhậnthức, phải động viên, khuyến khích tính tích cực tham gia các lĩnh vực hoạt động

và cần quan tâm khai thác vốn sống, phát huy tiềm năng trí tuệ của các em, v.v

- Trong quá trình dạy học hiện nay, học sinh có xu hướng vượt ra khỏi nội dung trithức, kĩ năng do chương trình đã quy định Phần đông học sinh không thỏa mãnvới nội dung những gì các em được học chính trong chương trình, trong sách giáokhoa, thậm chí cả trong bài giảng của giáo viên Các em luôn nhạy cảm với nhữngcái mới, muốn được học thêm, tự tìm tòi, phát hiện cái mới, muốn liên hệ lí luậnvới thực tiễn, muốn phát hiện và giải quyết vấn đề bằng nhiều con đường, cáchthức, phương án khác nhau, muốn được học thêm những môn tự chọn (do năng lựcnhận thức cao, nhu cầu đa dạng; điều kiện khách quan tác động, xu hướng chọnnghề, nguyện vọng tương lai );

- Quá trình dạy học hiện nay được tiến hành trong điều kiện cơ sở vật chất và cácphương tiện kĩ thuật dạy học ngày càng hiện đại Cùng với sự đổi mới nội dung vàphương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh, các nhàtrường hiện nay cũng đã được trang bị khá đầy đủ các phương tiện dạy học, đặcbiệt là một số phương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại như: các phương tiện nghenhìn, các máy móc chuyền tải thông tin Nhờ vậy mà gây hứng thú học tập củahọc sinh, giúp họ lĩnh hội nhanh, dễ dàng hơn những tri thức và vận dụng linhhoạt, sáng tạo tri thức đó vào thực tiễn cuộc sống

Vậy quá trình dạy học, về bản chất là quá trình nhận thức đặc biệt của học sinh

do giáo viên tổ chức, điều khiển nhằm chiếm lĩnh nội dung học vấn phổ thông

Trang 14

Nói cách khác, dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh dưới vai tròchủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tới mục đích, nhiệm vụ dạy học.

1.5 Các yếu tố tạo nên quá trình dạy học và mối quan hệ giữa chúng

Các yếu tố cấu tạo nên quá trình dạy học bao gồm:

- Mục đích dạy học: nhu cầu xã hội được cụ thể hóa trong những bài học, mônhọc, cấp học khác nhau;

- Giáo viên, học sinh và những người làm công tác quản lí và phục vụ quá trìnhdạy học;

- Nội dung dạy học: hệ thống các sự kiện, hiện tượng, khái niệm, quy tắc, định lí,những kĩ năng, kĩ xảo thực hành, vận dụng, sáng tạo;

- Phương pháp dạy và phương pháp học;

- Hình thức tổ chức, quản lí hoạt động dạy và hoạt động học;

- Kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học;

- Phương tiện vật chất, kĩ thuật trợ giúp cho hoạt động dạy và hoạt động học;

- Những tác động ngẫu nhiên ảnh hường tới quá trình dạy học

Những thành phần nêu trên được sắp xếp theo một cấu trúc được phản ánh bằng sơ

đồ dưới đây:

Nhu cầu xã hội

Mục đích dạy học

Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, cơ sở vật chất

Nhận thức, thái độ, kỹ năng, điều kiện, hoàn cảnh

Kiểm tra, đánh giá

Kết quả dạy học

Trang 15

1.6 Động lực của quá trình dạy học

Ngay khi chủ thể xác định được mục đích của hoạt động thì cùng với nó là sựxuất hiện động cơ hoạt động Động cơ hoạt động là nhu cầu đã được chủ thể ýthức một cách sâu sắc, để từ đó trở thành nhân tố thúc đẩy ban đầu đối với hoạtđộng Nói tóm gọn, nhu cầu là nhân tố thúc đẩy ban đầu đối với hoạt động, cònđộng cơ là động lực chủ yếu duy trì sự tồn tại của hoạt động

Vận dụng quan điểm trên vào quá trình dạy học chúng ta thấy trong quá trìnhdạy học những nhiệm vụ đặt ra cho học sinh gồm hệ thống tri thức, kĩ năng màhọc sinh cần nắm vững là đối tượng khách quan của hoạt động học tập Một khihọc sinh tự ý thức được mình cần lĩnh hội cái gì? (tức là xác định được đối tượngcần chiếm lĩnh dựa trên thực lực của bản thân về kinh nghiệm và trình độ nhậnthức), lĩnh hội để làm gì? (tức là mục đích cần đạt tới để thỏa mãn những nhu cầu

về nhận thức) Nói cách khác, chỉ khi học sinh ý thức được nhiệm vụ học tập nhưmột mục đích tự giác của bản thân, thì động cơ học tập mới xuất hiện Sự tồn tạicủa động cơ này thúc đẩy người học vượt qua những chướng ngại về mặt nhậnthức và kinh nghiệm vốn có thông qua quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập

để đạt tới một trình độ nhận thức mới

Việc giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình dạy học sẽ tạo rađộng lực cho sự phát triển Có hai loại mâu thuẫn: mâu thuẫn bên trong và mâuthuẫn bên ngoài

Với mâu thuẫn bên trong, có thể kể đến:

+ Mâu thuẫn giữa mục đích, nhiệm vụ dạy học đã được hoàn thiện bởi quátrình sư phạm với nội dung chưa thường xuyên cập nhật cũng như sự thay đổi củakinh nghiệm xã hội;

+ Mâu thuẫn giữa yêu cầu, nhiệm vụ học tập mới với trình độ có hạn ở họcsinh về kinh nghiệm sống và trữ lượng tri thức, kĩ năng;

+ Mâu thuẫn giữa sự thay đổi của nội dung, phương pháp, phương tiện dạyhọc với sự thiếu hụt tri thức, kĩ năng sư phạm tương ứng của giáo viên;

Trang 16

+ Mâu thuẫn giữa trình độ tư duy của thầy và trò v.v

> Những mẫu thuẫn bên trong là nguồn gốc thực sự làm cho quá trình dạyhọc phát triển

Những mâu thuẫn bên ngoài được coi là những điều kiện của sự phát triển cóthể được kể tới là:

+ Mâu thuẫn giữa yêu cầu cao đối với việc nắm tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và yêucầu chưa tương ứng về giáo dục v.v xuất hiện trong nội dung dạy học;

+ Mâu thuẫn giữa trình độ chuyên môn với trình độ về tay nghề sư phạm củagiáo viên;

+ Mâu thuẫn về sự phát triển chưa hài hòa giữa tư duy cụ thể với phát triểncủa tư duy trừu tượng diễn ra ở học sinh

Xem xét các mâu thuẫn bên trong và bên ngoài hiện diện trong quá trình dạyhọc, chúng ta nhận thấy mâu thuẫn giữa một bên là nhiệm vụ học tập do tiến trìnhdạy học đặt ra và một bên là trình độ phát triển trí tuệ hiện có của học sinh luônluôn tồn tại trong suốt quá trình dạy học

Việc giải quyết mâu thuẫn này có ảnh hưởng sâu sắc đến sự vận động và pháttriển của học sinh và hoạt động học, còn việc giải quyết các mâu thuẫn khác chỉnhằm phục vụ cho việc giải quyết nó Vì thế chúng ta có thể khẳng định rằng, mâuthuẫn này được coi là mâu thuẫn cơ bản của quá trình dạy học Việc giải quyếtmâu thuẫn cơ bản này có ảnh hưởng trực tiếp tới sự vận động và phát triển của họcsinh và hoạt động học, nơi thể hiện tập trung nhất kết quả vận động và phát triển

từ quá trình dạy học

Quá trình dạy học vận động còn chịu sự tác động xã hội, chính trị, môi trườngkhoa học - kĩ thuật - công nghệ Đôi khi, trong những điều kiện nhất định, một sốmâu thuẫn bên ngoài của quá trình dạy học lại được coi là có ý nghĩa quyết địnhđối với sự vận động và phát triển của quá trình dạy học

Mâu thuẫn trở thành động lực trong quá trình dạy học trong những điều kiệnsau:

- Học sinh phải ý thức được trình độ phát triển trí tuệ hiện có của bản thân,

Trang 17

cảm thấy những khó khăn vật cản trong nhận thức, và điều đó dẫn tới nhu cầu xuấthiện vượt vật cản, giải quyết các khó khăn này để thực hiện các nhiệm vụ học tập;

- Mâu thuẫn phải vừa sức với học sinh, mặt khác nó cũng phải thuộc vùngtiềm năng của hoạt động, để nhờ tiềm năng này mà khi có được một kích thích nào

đó mà học sinh có thể giải quyết được mâu thuẫn Nói cách khác, mâu thuẫn vừasức phải là mâu thuẫn trong đó, các nhiệm vụ học tập mới được đề ra có mức độ,tương ứng với mục tiêu và trình độ nhận thức của học sinh;

- Biện pháp tốt nhất để làm cho mâu thuẫn trở thành động lực của sự dạy học

là mâu thuẫn phải có nội dung chứa đựng những khó khăn về nhận thức với mức

độ tăng dần để tạo ra những điều kiện luyện tập, thích ứng trong quá trình giảiquyết những nhiệm vụ dạy học

- Kiểm tra – đánh giá

- Điều kiện, hình thức tổ chức dạy học

Do đó, để tổ chức một quá trình dạy học hoàn chỉnh, người dạy cần phải thực hiệnmột chuỗi các hoạt động liên tiếp nhau nhằm truyền đạt nội dung môn học đến họcsinh bằng phương pháp phù hợp, sử dụng các phương tiện khác nhau để chuyển tảithông tin trên các nguyên tắc đã xác định (căn cứ đối tượng tiếp nhận) để đi đếnmục đích cuối cùng là kiểm tra/đánh giá khối lượng kiến thức mà học sinh lĩnhhội Các bước tổ chức một quá trình dạy học bao gồm:

Trang 18

2.1 Mục tiêu dạy học

Việc xác định mục tiêu dạy học bao giờ cũng là yếu tố đầu tiên trong tiến trình

tổ chức dạy học Mục tiêu dạy học là trạng thái phát triển nhân cách dự kiến dựatrên yêu cầu phát triển của xã hội mà người học cần đạt tới sau quá trình học tập,nghiên cứu Cần hiểu rõ, mục tiêu dạy học không phải là bản tóm tắt của nội dungdạy học mà nó là cơ sở định hướng cho toàn bộ hoạt động tổ chức và quản lý đàotạo ở mọi loại hình và phương thức đào tạo, là cơ sở để thiết kế nội dung chươngtrình đào tạo cho các ngành nghề cụ thể Nó còn là tiêu chuẩn cho việc đánh giátoàn bộ quá trình dạy học

Vị trí và tầm quan trọng của mục tiêu dạy học:

 Đối với người học

- Biết mình phải học gì  để làm được việc gì?

- Lựa chọn phương pháp học tập thích hợp

- Xây dựng chiến lược tiếp nhận thông tin phù hợp

- Xây dựng biểu đồ thời gian hợp lý

- Tự đánh giá được kết quả học tập của bản thân, từ đó có những điều chỉnhthích hợp

 Đối với người dạy

- Xác định được nội dung dạy học (dạy cái gì, ở mức độ nào, dạy cho đốitượng nào )

- Lựa chọn được phương pháp dạy học và tổ chức quá trình dạy học tối ưu

- Tự đánh giá được kết quả giảng dạy và có những điều chỉnh hợp lý hoạtđộng giảng dạy của mình

- Tiếp nhận phản hồi từ phía người học để có sự điều chỉnh phù hợp

- Đánh giá chính xác được kết quả của người học

 Đối với nhà trường

- Có căn cứ để xây dựng danh mục các ngành đào tạo, chương trình đào tạo,

kế hoạch đào tạo, chương trình môn học, kế hoạch tuyển sinh

Trang 19

- Tổ chức và tiến hành đánh giá chất lượng đào tạo

- Cải tiến quá trình đào tạo cho phù hợp với nhu cầu thực tiễn của xã hội và

xu hướng phát triển chung của khu vực và thế giới (them/bỏ chương trình,tách/sát nhập chương trình đào tạo…)

 Đối với xã hội

- Có thể đào tạo được đội ngũ nhân lực có chất lượng cao (đáp ứng được cácyêu cầu đặt ra)

- Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phù hợp

Các loại mục tiêu dạy học: được xác định dựa trên hệ thống giáo dục, loạihình đào tạo và nội dung chuyển tải đến người học Cụ thể:

- Hệ thống giáo dục quốc dân  Mục tiêu chung

- Các cấp học, bậc học  Mục tiêu bậc học

- Loại hình trường  Mục tiêu trường

- Ngành nghề đào tạo  Mục tiêu ngành học

- Học phần, môn học  Mục tiêu môn học

- Chương, mục  Mục tiêu chuyên biệt

Thế nào là mục tiêu chuyên biệt? Là mục tiêu được xác định cho từng bài học

cụ thể của người dạy, trong đó phải xác định rõ ràng năng lực mà người học phảiđạt được sau khi kết thúc quá trình học tập theo ba khía cạnh Tri thức, Kỹ năng vàThái độ trong những điều kiện, tiêu chuẩn cụ thể để có thể thực hiện được nhữngcông việc của một nhiệm vụ nào đó

Các yếu tố cấu thành nên mục tiêu chuyên biệt:

+ Động từ (biểu hiện mức độ mà hành động cần đạt tới, ví dụ: nắm được, vậndụng được, áp dụng được…)

+ Đối tượng chịu sự tác động (nội dung)

+ Các điều kiện (hoàn cảnh, phương tiện kỹ thuật…)

+ Các tiêu chuẩn (để đánh giá)

Các mục tiêu chuyên biệt này phải được thiết kế phù hợp với mục tiêu chung

Trang 20

của môn học, chính xác, rõ ràng, mang tính khả thi và có thể kiểm tra, đánh giáđược thông qua quá trình dạy học.

2.2 Nội dung dạy học

Nội dung dạy học là một trong những thành tố tạo nên cấu trúc của quá trình

tổ chức dạy học Đó là hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, đồng thời cũng là các giá trị tinh thần và đạo đức mà việc lĩnh hội chúng đảm bảo sự phát triển toàn diệncủa nhân cách và sự xác lập nghề nghiệp của người tốt nghiệp, tạo điều kiện cho

sự hình thành thế giới quan và những phẩm chất đạo đức của con người lao động.Cấu trúc nội dung dạy học là cách thức tổ chức nội dung dạy học thành từngkhối kiến thức phục vụ cho những mục tiêu khác nhau của quá trình dạy học và tỉ

lệ giữa các khối kiến thức đó Tỉ lệ các khối kiến thức này là khác nhau với từngcấp học, bậc học và được quy định cụ thể trong khung chương trình do cơ quancấp bộ quản lí

Về nguyên tắc, nội dung dạy học được chia ra làm ba khối kiến thức, đó là:

- Khối kiến thức chung: được giảng dạy chung cho tất cả các ngành như khoahọc tự nhiên, ngoại ngữ, quốc phòng… (khối kiến thức đại cương)

- Khối kiến thức cơ sở chuyên ngành: dung chung cho một số ngành có liênquan với nhau (mang tính chất liên ngành – khối kiến thức cốt lõi)

- Khối kiến thức chuyên ngành: là các kiến thức chuyên sâu cho một ngànhnào đó (chuyên môn chính/phụ; rộng/hẹp)

Mỗi khối kiến thức lại có thể được tổ chức thành các phần kiến thức khácnhau:

- Phần kiến thức bắt buộc

- Phần kiến thức bổ trợ

- Phần kiến thức tự chọn

Mỗi phần kiến thức trên lại được tổ chức theo các cách như sau:

- Tổ chức thành các môn khoa học  Quá trình dạy học sẽ được tổ chứcdưới hình thức niên chế

- Tổ chức thành các module  Quá trình dạy học được tổ chức dưới hình

Trang 21

Hiểu đơn giản nhất, chương trình đào tạo là bản thiết kế tổng thể cho một hoạtđộng đào tạo Một chương trình đào tạo cần phải xác định rõ:

- Mục tiêu chung

- Mục tiêu cụ thể

- Nội dung đào tạo (chi tiết đến các môn khoa học)

- Quy trình đào tạo

- Cách thức kiểm tra/đánh giá/xếp loại kết quả đào tạo

- Chuẩn đầu ra dự kiến

- Kế hoạch năm học của bộ môn

- Kế hoạch dạy của môn học

- Kế hoạch dạy học của từng chương

Trang 22

- Kế hoạch dạy học cho từng bài (giáo án).

Một số mâu thuẫn tồn tại trong việc xác định nội dung dạy học:

- Sự lạc hậu của nội dung dạy học với khoa học, công nghệ và thực tiễn,trong khi đó dạy học phải đòi hỏi có tính hiện đại, kịp thời để đáp ứng nhucầu thực tiễn

- Tính trừu tượng của môn học với tính cụ thể của nhiệm vụ một người ratrường

- Nội dung môn học mang nặng tính lý thuyết với yêu cầu của nghề nghiệpđòi hỏi kỹ năng thực hành

- Thực hành nghề nghiệp tác động trở lại lý thuyết, đôi khi gây ra một số mâuthuẫn

- Tính cá nhân của quá trình lĩnh hội với tính quy định chung của lớp học vàphương pháp học

Các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc xây dựng nội dung môn học

 Nội dung dạy học trong nhà trường

Phải phù hợp với mục đích, mục tiêu giáo dục nói chung, các nhiệm vụ dạyhọc ở các bậc học nói riêng Chương trình và sách giáo khoa phải phản ánh đượcnhững thành phần cơ bản của nội dung dạy học, đảm bảo cân đối giữa tri thức lýthuyết và thực hành, sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục, giữa nhucầu xã hội và khả năng đáp ứng…trong nội dung dạy học

 Xây dựng nội dung môn học

Phải đảm bảo tính toàn diện và cân đối, coi trọng việc giáo dục tư tưởng, chínhtrị, đạo đức thông qua hệ thống kiến thức khoa học cơ bản và hệ thống kiến thứcgiáo dục chuyên ngành (giáo dục công dân)

- Tính toàn diện của nội dung: thể hiện trong cấu trúc chương trình giảng dạy

ở các cấp học phải bao gồm: đạo đức, thể lực, trí tuệ, thẩm mỹ, lao động kỹthuật Sự kết hợp này sẽ góp phần giúp học sinh phát huy những tiềm năng

về hoạt động trí lực, thể lực, khả năng lao động và năng khiếu thẩm mỹ.Mỗi môn học, tùy theo đặc thù riêng của mình sẽ thực hiện những chức

Trang 23

năng riêng.

- Tính cân đối trong cấu trúc nội dung dạy học được - thể hiện ở sự thiết lập

tỉ trọng khối lượng giữa các môn học trong chương trình, giữa lí thuyết vàthực hành, giữa nội khóa và ngoại khóa, giữa hoạt động dạy học trên lớp và

tự học ở nhà của học sinh Để đảm bảo tính cân đối trong xây dựng nộidung dạy học trong xu hướng toàn cầu hóa của sự phát triển kinh tế, khoahọc kĩ thuật, văn hóa hiện nay, chúng ta cần quan tâm tới việc gìn giữ bảnsắc văn hóa dân tộc bên cạnh việc cập nhật những thành tựu khoa học tiêntiến của thế giới

 Nội dung môn học

Phải đảm bảo cung cấp cho học sinh hệ thống những tri thức khoa học phổthông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với sự tiến bộ của khoa học hiện nay trên thế giới

và thực tế của đất nước về tự nhiên, xã hội, đảm bảo cho học sinh nắm được một

hệ thống kĩ năng, kĩ xảo thực hành, lao động kĩ thuật; qua đó mà hình thành thếgiới quan khoa học, phát triển trí tuệ, nâng sức hoạt động và trí thông minh, sángtạo cho các em Thể hiện bằng các khía cạnh:

- Tính phổ thông của tri thức trong nội dung dạy học: là những tri thức tốithiểu, chung nhất, cần thiết nhất cho người học, để họ có điều kiện trở thànhnhững người lao động có thực lực, có khả năng thích ứng được với nhữngbước tiếp theo của cuộc sống;

- Tính hiện đại của tri thức: là những tri thức mà học sinh lĩnh hội trong quátrình học tập, phải phán ánh được trình độ phát triển của khoa học – kỹthuật – công nghệ thời đại phù hợp với năng lực nhận thức của các em;

- Tính thực tiễn của tri thức: là những tri thức giúp cho học sinh có đượcnhững khái niệm đối tượng tương ứng với khái niệm lý thuyết Một số biệnpháp đem lại hiệu quả như: đưa vào nội dung những tri thức phản ánh tìnhhình phát triển kinh tế - xã hội – văn hóa

 Tính liên thông giữa các môn học

Trang 24

 Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục phổ thông, kỹ năng, hướng nghiệp và dạynghề

 Phù hợp với đặc điểm địa lý, dân cư, lứa tuổi và giới tính của người học

2.3 Nguyên tắc dạy học

Nguyên tắc dạy học là tên gọi vắn tắt của nguyên tắc lí luận dạy học, nó đượcdiễn tả bằng lời những quy luật tác động vào sự dạy học Nguyên tắc dạy học lànhững nguyên lí chung của sự tổ chức dạy học về mặt nội dung, phương pháp,hình thức tổ chức, nhằm thực hiện mục đích dạy và phù hợp với những quy luậtkhách quan tác động vào sự dạy học

Các nguyên tắc dạy học được xây dựng dựa trên những cơ sở sau:

- Nguyên tắc dạy học phải phản ánh được bản chất nhận thức của quá trìnhdạy học Nói cách khác: nguyên tắc dạy học phải đảm bảo chỉ đạo quá trình dạyhọc nói chung, quá trình nhận thức của học sinh nói riêng thu được kết quả caonhất; - Nguyên tắc dạy học phải kết hợp đượcnhững đặc điểm nhận thức của loài người với những đặc điểm nhận thức độc đáocủa học sinh để quá trình dạy học có thể vận động đạt tới kết quả;

- Khi xây dựng hệ thống các nguyên tắc dạy học chúng ta phải lưu ý tới sự kếthừa có chọn lọc hệ thống các nguyên tắc dạy học trước đây để làm cho hệ thốngcác nguyên tắc phản ánh được đầy đủ các quy luật dạy học mà chúng ta đã pháthiện được

Nguyên tắc dạy học mang trong nó những đặc điểm sau:

- Nó là nguyên lí của sự chỉ đạo quá trình dạy học và mặt khác nó là sự vậndụng những quy luật tác động khách quan vào việc dạy học;

- Chúng có giá trị chung cho các môn học, các cấp học trong nhà trường;

- Chúng ảnh hưởng đến quá trình dạy học toàn bộ, về mọi mặt, trong mọikhâu;

- Chúng là sự ràng buộc nhất định đối với giáo viên, được coi là những địnhhướng cơ bản cho hoạt động dạy của giáo viên

Trang 25

Các nguyên tắc dạy học cụ thể:

Nguyên tắc thứ nhất: tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học

Trang bị cho học sinh những tri thức khoa học chân chính, chính xác, phản ánhnhững thành tựu hiện đại của khoa học, kỹ thuật và văn hóa dần dần hình thànhcho người học cơ sở thế giới thuần khoa học, những phẩm chất và tình cảm caoquý của con người lao động Chính những phẩm chất, tình cảm này sẽ có tác dụngthúc đẩy các em hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, làm chủ được tri thức khoa học.Nói một cách khác, phải thông qua dạy chữ mà dạy người

> Xã hội hoá con người

Nguyên tắc thứ hai: Tính khoa học và tính vừa sức trong quá trình dạy học

- Tính khoa học: trong quá trình dạy học, đảm bảo tính khoa học là đảm bảotính chân thực khách quan, tính hiện đại, tính hệ thống và tính tổ chức hợp lí tối

ưu Có nghĩa là:

* Mục tiêu dạy học phải dựa trên nhu cầu phát triển của xã hội và xu hướngphát triển chung của khu vực và thế giới

* Nội dung dạy học phải thể hiện được:

+ Phản ánh hiện thực một cách đúng đắn, chân thực, không thêm bớt, khôngxuyên tạc, không bóp méo (tính chân thực khách quan)

+ Đưa ra được những đặc điểm, tính chất cơ bản của sự vật hiện tượng vànhững mối liên hệ bản chất giữa chúng (tính sâu sắc) + Đảm bảo cho người học nắm được tri thức khoa học theo một hệ thống logicchặt chẽ và có mối quan hệ biện chứng với nhau Tri thức phải được lĩnh hội theomột trật tự logic nhất định, mỗi nguyên lí khoa học sau phải được suy ra, kế thừa

từ nguyên lí trước, nguyên lí trước lại được phát triển mở rộng ở nguyên lí sau(tính hệ thống)

+ Đảm bảo phù hợp với sự phát triển của khoa học và công nghệ (tính hiệnđại)

- Tính vừa sức: trong quá trình dạy học, nội dung dạy học phải thể hiện được

tính khoa học nhưng đồng thời cũng phải phù hợp với từng đối tượng người học

Trang 26

khác nhau cũng như phải phù hợp với các quy luật của quá trình nhận thức Ta

nói rằng nội dung dạy học phải thể hiện được tính vừa sức

Nguyên tắc thứ ba: tính lý luận và thực tiễn trong quá trình dạy học

Trong quá trình dạy học, phải làm sao cho học sinh nắm vững những tri thức

lý thuyết, tác dụng của chúng đối với đời sống, thực tiễn và những kỹ năng vậndụng chúng nhằm góp phần cải tạo hiện thực, bản thân

> Học đi đôi với hành

Nguyên tắc thứ tư: tính tự giác, tích cực, tự lực của người học dưới sự chỉ

đạo của giáo viên trong quá trình dạy học, phải tạo điều kiện cho người học tựmình tìm ra được tri thức mới dưới sự chỉ đạo của người thầy

=> Lấy học sinh làm trung tâm

Nguyên tắc thứ năm: tính trực quan trong quá trình dạy học

Trong quá trình dạy học, cần “trực quan hoá” các khái niệm, nguyên lí… trừutượng, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lĩnh hội tri thức (người học có thểhoặc trực tiếp hoặc gián tiếp tri giác được đối tượng nhận thức)

Nguyên tắc thứ sáu: tính vững chắc của tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và tính

Vật thật Mô hình, sơ đồ,

tranh ảnh Các khái niệm, biểu tượng

Chiều tăng của mức độ trừu tượng

Trang 27

mềm dẻo của tư duy

Giúp cho học sinh nắm được bản chất của vấn đề, bổ sung được những kinhnghiệm của loài người vào vốn kinh nghiệm của bản thân: nhớ nhiều, nhớ nhanh,nhớ chính xác và nhớ lâu những điều đã học, phù hợp với yêu cầu của hoạt động

và đặc điểm cá nhân Quá trình nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo này có liênquan mật thiết với tất cả các chức năng tâm lý, đặc biệt là chức năng tư duy Cùngvới các phẩm chất khác, phẩm chất mềm dẻo đảm bảo cho học sinh có thể có khảnăng cơ động trong việc lĩnh hội và vận dụng những điều đã học vào những tìnhhuống khác nhau

Nguyên tắc thứ bảy: tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy học

Quá trình dạy học phải đảm bảo cho học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảomột cách có hệ thống trong mối liên hệ của các khoa học Mỗi khoa học có nhữngkhái niệm, luận điểm, học thuyết được xây dựng dựa trên cơ sở kế thừa và pháttriển vốn văn hóa của nhân loại kết hợp với những thành tựu hiện đại Vốn tri thứccủa nhân loại đó được lựa chọn theo một hệ thống cấu trúc khoa học hợp lý vớimột trình tự nhất định và phản ánh vào nội dung dạy học sao cho phù hợp với trình

độ phát triển của học sinh Do đó, tính hệ thống không thể tách rời mà thống nhấtbiện chứng với tính tuần tự của nội dung dạy học

Nguyên tắc thứ tám: tính thống nhất vai trò tự giác, tích cực, độc lập của học

sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên trong dạy học

Nguyên tắc này đòi hỏi trong mọi khâu tổ chức của quá trình dạy học, phảiphát huy được tính tích cực, tính tự giác, tính độc lập của học sinh dưới tác dụngchủ đạo của giáo viên Điều này phản ánh sâu sắc, toàn diện các quy luật của hoạtđộng nhận thức về sự thống nhất biện chứng giữa dạy học và phát triển trí tuệ cùngmâu thuẫn cơ bản của quá trình dạy học

Nguyên tắc dạy học là những luận điểm cơ bản mang tính quy luật của lí luậndạy học có tác dụng chỉ đạo tiến trình dạy học nhằm đạt kết quả dạy học tối ưu.Các nguyên tắc của quá trình dạy học không tách biệt mà có mối quan hệ mật thiếtvới nhau Nội dung của từng nguyên tắc dẫn kết, bổ sung, hỗ trợ với nhau trong

Trang 28

một chỉnh thể thống nhất đảm bảo cho quá trình dạy học luôn vận động, phát triểnkhông ngừng theo những quy luật vốn có của nó

Theo Iu - K.Babanxki: " Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữathầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trongquá trình dạy học"

Theo I.Ia Lécne: "Phương pháp dạy học là một hệ thống những hành động cómục đích của giáo viên, nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của họcsinh, đảm bảo cho học sinh lĩnh hội nội dung học vấn"

Vậy, có thể hiểu phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của thầy và tròtrong sự phối hợp thống nhất và trong sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò tựgiác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học nhằm đạt tới mục tiêu dạy học

Ngày đăng: 01/01/2020, 22:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w