1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đọc hiểu văn bản “chữ người tử tù” (nguyễn tuân) theo định hướng phát triển năng lực ngữ văn cho học sinh THPT (2016)

69 808 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 916 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA N GỮ VĂ N HỨA THỊ HƯƠNG DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” NGUYỄN TUÂN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGỮ VĂN CHO HỌC SINH THPT KHÓA LU

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA N GỮ VĂ N

HỨA THỊ HƯƠNG

DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN

“CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” (NGUYỄN TUÂN)

THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGỮ VĂN CHO HỌC SINH

THPT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA N GỮ VĂ N

HỨA THỊ HƯƠNG

DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN

“CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” (NGUYỄN TUÂN)

THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGỮ VĂN CHO HỌC SINH

THPT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa họcThS TRẦN HẠNH PHƯƠNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình triển khai và thực hiện đề tài “Đọc - hiểu văn bản “Chữngười tử tù” (Nguyễn Tuân) theo định hướng phát triển năng lực Ngữ văn cho họcsinh THPT”, tác giả đã thường xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợicủa các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ phươngpháp dạy học Ngữ văn và ThS Trần Hạnh Phương - người hướng dẫn trực tiếp

Tác giả khóa luận xin được bày tỏ sự biết ơn và gửi lời cảm ơn chân thànhđến các thầy cô giáo Do năng lực nghiên cứu có hạn, khóa luận chắc chắn khôngtránh khỏi những thiếu xót Rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô vàcác bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 11 tháng 05 năm 2016

Tác giả khóa luận

Hứa Thị Hương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp Đại học với đề tài “Đọc - hiểu vănbản “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân) theo định hướng phát triển năng lực Ngữ văncho học sinh THPT” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Tôi xin chịu tráchnhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày 11 tháng 05 năm 2016

Tác giả khóa luận

Hứa Thị Hương

Trang 5

MỘT SỐ THUẬT NGỮ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

GV: Giáo viênHS: Học sinhTHPT: Trung học phổ thôngSGK: Sách giáo khoa

CH: Câu hỏiDKTL: Dự kiến trả lờiVQN: Viên quản ngụcHC: Huấn Cao

BH: Bài học TD: Tác dụng ND: Nội dung NT: Nghệ thuật

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng nghiên cứu 4

5 Phạm vi nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Đóng góp của khóa luận 5

8 Bố cục của khóa luận 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Lý thuyết đọc - hiểu 6

1.1.1.1 Khái niêm đọc - hiểu 6

1.1.1.2 Chức năng của đọc - hiểu 7

1.1.2 Lý thuyết tiếp nhận 7

1.1.2.1 Khái niệm 7

1.1.2.2 Bạn đọc với vấn đề tiếp nhận văn học 8

1.1.3 Năng lực Ngữ văn 9

1.1.3.1 Khái niệm 9

1.1.3.2 Cấu trúc 9

1.1.3.3 Những năng lực Ngữ văn 10

1.2 Cơ sở thực tiễn 14

1.2.1 Dạy học Ngữ văn truyền thống 14

1.2.2 Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh THPT 15

CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGỮ VĂN CHO HỌC SINH THPT QUA DẠY HỌC VĂN BẢN “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” - NGUYỄN TUÂN 17

Trang 7

2.1 Vị trí, vai trò của Nguyễn Tuân trong chương trình Ngữ văn THPT 17

2.2 Các nguyên tắc dạy trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh THPT 17

2.2.1 Nguyên tắc dạy học Ngữ văn gắn với đời sống 17

2.2.2 Nguyên tắc tạo không khí tích cực trong giờ giảng 18

2.2.3 Nguyên tắc dạy học Ngữ văn phải phối hợp linh hoạt các phương pháp 18

2.2.4 Nguyên tắc dạy học Ngữ văn phải phát huy cao độ năng lực chủ thể của học sinh 18

2.2.5 Nguyên tắc dạy học Ngữ văn phải đảm bảo quan điểm tích hợp 18

2.3 Phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh THPT qua dạy học văn bản “Chữ người tử tù” - Nguyễn Tuân 19

2.3.1 Năng lực đọc - hiểu 19

2.3.1.1 Phương pháp đọc 19

2.3.1.2 Phương pháp đàm thoại 21

2.3.1.3 Phương pháp thuyết trình: 22

2.3.2 Năng lực tiếp nhận 23

2.3.2.1 Phương pháp dạy học nhóm 23

2.3.2.3 Phương pháp dạy học theo sơ đồ tư duy 27

2.3.3 Năng lực cảm thụ thẩm mĩ 32

2.3.3.1 Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề 32

2.3.4.1 Phương pháp đàm thoại 35

2.3.4.2 Kĩ thuật trình bày một phút 36

CHƯƠNG 3 GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 38

KẾT LUẬN 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

“Văn học là nhân học” (M.Gorki) Văn chương vừa là khoa học, vừa là nghệ

thuật Văn chương không chỉ cung cấp cho con người những tri thức rộng lớn vềmọi mặt của đời sống xã hội cho con người với ý nghĩa “mở ra những chân trờimới” mà nó còn góp phần tích cực hoàn thiện và phát triển nhân cách con người,dạy cho con người sống phải hướng đến những cái Chân - Thiện - Mĩ

Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trìnhgiáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học - từ chỗ quan tâmtới việc học sinh học được gì đến chỗ quan tâm tới việc học sinh học được cái gìqua việc học Để thực hiện được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việcchuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học,cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất.Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàndiện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thựctiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội

Trong những năm qua, việc dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông cònthiếu sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực,

tự lực của học sinh… chưa nhiều Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức, việcrèn luyện kỹ năng chưa được quan tâm Hoạt động kiểm tra, đánh giá chưa thực sựkhách quan, chính xác (chủ yếu tái hiện kiến thức), chú trọng đánh giá cuối kì chưachú trọng đánh giá quá trình Tất cả những điều đó dẫn tới học sinh học thụ động,lúng túng khi giải quyết các tình huống trong thực tế

Trước bối cảnh đó cũng như để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình

- SGK sau năm 2015, việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng pháttriển năng lực của người học là cần thiết để thúc đẩy quá trình học tập của học sinhcũng như có những tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động dạyhọc và giáo dục

Trang 9

Nguyễn Tuân là một trong những tác gia lớn của nền văn học Việt

Nam là một trong 9 tác gia được chọn để dạy trong chương trình phổ thông Ông lànhà văn có vị trí vững chắc trong lịch sử văn học dân tộc, người đã tìm được chomình được tiếng nói riêng nhờ phong cách văn học đặc sắc Phong cách này đượcthể hiện rõ trong "Chữ người tử tù" - một truyện ngắn "gần đạt tới sự toàn mĩ" (VũNgọc Phan) Tác phẩm ca ngợi Huấn Cao - một nhà Nho chân chính - giàu khíphách chọc trời khuấy nước, có tài viết chữ, qua đó khẳng định một quan niệmsống: Phải biết yêu quý cái đẹp, đồng thời phải biết coi trọng thiên lương Viết về

đề tài phải biết yêu quý trân trọng cái đẹp cũng đã có nhiều tác giả đề cập đếnnhưng làm thế nào để người học có thể tiếp nhận tác phẩm một cách chủ động nhất,sáng tạo nhất và đạt hiệu quả cao nhất Đó chính là vấn đề mà các nhà giáo dục luônbăn khoăn dù có rất nhiều phương pháp, phương tiện, biện pháp, nhưng không phảiphương pháp, biện pháp nào cũng đạt được kết quả như mong muốn Vì những lí

do trên, tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài: Dạy học theo định hướng phát triển

năng lực” làm đối tượng nghiên cứu.

2 Lịch sử nghiên cứu

Hiện nay, ở Việt Nam vấn đề đọc hiểu đang đứng trước nhu cầu cần đượcxây dựng thành một hệ thống lí thuyết văn bản theo hướng đổi mới Ở bậc THCS,điều này mới chỉ được định hướng một cách khái quát bằng hệ thống các câu hỏiđọc hiểu trong SGK Ngữ văn Đến bậc THPT các nhà biên soạn SGK đã cung cấptri thức về phương pháp đọc - hiểu cụ thể hơn bằng các bước đọc hiểu một văn bản

Có thể kể một số công trình tiêu biểu sau:

- V.A Nhicônxki trong “Phương pháp giảng dạy văn học ở trường phổthông” đã chú ý đến hoạt động đọc, vị trí của người HS trong trường phổ thông, đặcbiệt tác giả chú ý đến đọc diễn cảm

- GS.TS Nguyễn Thanh Hùng (Đại học Sư phạm Hà Nội) trong bài viết

“Đọc - hiểu văn chương” trên Tạp chí giáo dục số 92, tháng 7 - 2004 cũng đưa ranhững kiến giải về khái niệm đọc hiểu Theo ông đọc - hiểu văn chương là đọc cáichủ quan của người viết bằng cách đồng hóa tâm hồn, tình cảm, suy nghĩ của mình

Trang 10

trong trang sách”, nghĩa là một quá trình đồng sáng tạo Tác giả bài viết cũng chia

“đọc” làm 3 dạng: Đọc kĩ, đọc sâu, đọc diễn cảm

- GS Phan Trọng Luận trong cuốn “Phương pháp dạy học văn” đã xem đọcdiễn cảm là một trong 3 phương pháp thường dùng trong quá trình thâm nhập tácphẩm Trong chuyên luận “Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học”, tác giả đã phântích rõ tầm quan trọng của hoạt động đọc

- GS.TS Trần Đình Sử trong bài viết “Dạy học văn là dạy học sinh đọc - hiểuvăn bản” đã bàn luận về vấn đề thế nào là đọc hiểu văn bản thông qua cắt nghĩa đọc

là gì và hiểu là gì Ông cho rằng đọc - hiểu văn bản có hai bước: Hiểu thông báo vàhiểu ý nghĩa

- Nguyễn Trọng Hoàn (2010), “Tài liệu huấn luyện giáo viên thực hiện dạyhọc và kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng chương trình Giáo dục phổthông môn Ngữ văn”, NXB Giáo dục, cũng đã nhấn mạnh đến việc đổi mới giảngdạy, kiểm tra, đánh giá lấy học sinh làm trung tâm của hoạt động học và giáo viênchỉ là người hướng dẫn các em học sinh khám phá, tìm tòi phát huy hết khả năng,năng lực của mình để giải quyết các vấn đề mà các em gặp phải trong thực tiễn

Theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn

diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và

học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động

xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin

và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản,

toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bảnchất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực ngườihọc và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này

Qua khảo sát, có thể thấy nghiên cứu về dạy học đọc hiểu tác phẩm “Chữngười tử tù” cũng có một số công trình:

Trang 11

- Đọc - hiểu truyện ngắn “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân) ở trường phổthông theo đặc trưng thể loại (Khóa luận tốt nghiệp, Nguyễn Hải Hà, Đại học Sưphạm Hà Nội)

- Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu tác phẩm “Chữ người tử tù” - Nguyễn Tuâncho học sinh lớp 11 (Luận văn Thạc sĩ, Trần Thị Hồng Bắc, Đại học Giáo dục)

Nhìn chung, các công trình đã đi vào nhiều phương diện, khía cạnh của đọc hiểu Trên cơ sở kế thừa những thành tựu lí thuyết đã có vận dụng vào một tác giả

-cụ thể - Tác giả Nguyễn Tuân, một tác giả có vị trí đặc biệt trong nền văn học ViệtNam, người viết hi vọng có thể tìm ra hướng tiếp cận tích cực, góp một phần nhỏvào việc hình thành các thao tác, các bước đọc - hiểu trong giảng dạy văn chươngnói chung và cụ thể trong truyện ngắn “Chữ người tử tù”

3 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu các vấn đề lí luận liên quan đến đề tài Nghiên cứu các công trình

đề cập đến vấn đề dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực của họcsinh Vận dụng dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực của học sinh

vào tác phẩm “Chữ người tử tù”.

3.2 Mục đích nghiên cứu

- Củng cố, nâng cao hiểu biết về phương pháp dạy học Ngữ văn theo hướngđổi mới Trên cơ sở đó giúp học sinh tiếp thu tác phẩm “Chữ người tử tù” có hiệuquả nhất

- Qua việc đọc hiểu văn bản “Chữ người tử tù” giúp HS hình thành được một

số năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn và vận dụng các năng lực đó vào việcđọc hiểu các tác phẩm khác trong SGK, các tác phẩm ngoài nhà trường và trong đờisống thực tiễn

4 Đối tượng nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu một số phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá theođịnh hướng phát triển năng lực của học sinh Để vận dụng vào việc dạy - học tácphẩm “Chữ người tử tù” theo chương trình chuẩn Từ đó đưa ra những cách tiếp

Trang 12

cận, giảng dạy có hiệu quả làm tiền đề áp dụng rộng rãi cho những tác phẩm truyện tiếp theo trong chương trình học của học sinh.

5 Phạm vi nghiên cứu

Tập trung làm rõ một số phương pháp, biện pháp, kỹ thuật dạy học của mônNgữ văn theo định phát triển năng lực qua tổ chức dạy học đọc - hiểu văn bản “Chữngười tử tù”

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp so sánh

7 Đóng góp của khóa luận

Giúp sinh viên sư phạm, giáo viên thuận lợi hơn trong việc thiết kế bài họcdạy học đọc - hiểu trong giảng dạy Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng pháttriển năng lực của học sinh Mặt khác, khóa luận cũng góp phần nâng cao chấtlượng đọc - hiểu các văn bản văn chương ở nhà trường THPT nói chung và đọc -hiểu văn bản “Chữ người tử tù” nói riêng

8 Bố cục của khóa luận

Khóa luận gồm có:

Mở đầu:

Nội dung:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh THPT qua đọc hiểu vănbản “Chữ người tử tù” - Nguyễn Tuân

Chương 3: Giáo án thực nghiệm

Kết luận

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Lý thuyết đọc - hiểu

1.1.1.1 Khái niêm đọc - hiểu

Theo “Từ điển tiếng Việt: “Đọc là tiếp nhận nội dung của tập hợp kí hiệu”[12, 431]

Đọc là khâu đầu tiên, là tiền đề trong việc tiếp nhận tác phẩm văn học Đọckhông chỉ để lĩnh hội thông tin, làm giàu hiểu biết, làm phong phú tâm hồn mà còngóp phần hoàn thiện nhân cách con người Đọc là hoạt động đặc trưng của conngười, một hoạt động mang tính văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống.Đồngthời nó cũng phản ánh những năng lực, tầm văn hóa của người tiếp nhận Đọc gắnliền với hiểu vì mục đích cuối cùng của đọc là để hiểu

Theo “Từ điển tiếng Việt”: “Hiểu là để nhận ra ý nghĩa, bản chất, lí lẽ của cái

gì bằng sự vận dụng trí tuệ” [12, 567]

Hiểu còn được xem là là một cấp độ kĩ năng trong tư duy bậc cao Hiểu làmức độ cần đạt tới của đọc, do đó đọc luôn gắn liền với hiểu và hiểu là một đốitượng không chỉ dừng ở quan sát nắm bắt cái bề ngoài của đối tượng mà phải đi sâukhám phá cái bên trong của nó

Như vậy đọc - hiểu là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng luôn có mối quan

hệ chặt chẽ

Vậy đọc hiểu là gì?

Theo Nguyễn Thanh Hùng; “Đọc - hiểu là một hoạt động của con người Nókhông chỉ là hình thức nhận biết nội dung tư tưởng từ văn bản ma còn là hoạt độngtâm lí giàu cảm xúc và có tính trực giác Đọc - hiểu mang tính chất đối diện mộtmình, đối diện với văn bản Nó có cái hay là tập trung tích đọng và lắng kết nănglực cá nhân Đây là hoạt động thu nạp, tỏa sáng âm thầm với sức mạnh nội hóa kinhnghiệm sống, kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm nghệ thuật và kinh nghiệm văn hóatrong cấu trúc tinh thần cá thể” [8, 22]

Trang 14

Theo Nguyễn Thái Hòa trong “Vấn đề đọc - hiểu và dạy học đọc - hiểu”:

“Đọc - hiểu dù đơn giản hay phức tạp đều là hành vi ngôn ngữ, sử dụng một loại thủpháp và thao tác bằng cơ quan thị giác, thính giác để tiếp nhận, phân tích, giai mã

và ghi nhớ nội dung thông tin, cấu trúc văn bản” [3, 6]

Hiểu một cách ngắn gọn thì đọc - hiểu là một quá trình mà người đọc bằnghoạt động học thực hiện mục đích của việc đọc

Trong dạy học Ngữ văn hiện nay, đọc - hiểu được coi là phương pháp dạyhọc đặc thù Tuy nhiên để hoạt động này diễn ra đúng nghĩa của nó trong quá trìnhdạy học, giáo viên phải là người tổ chức cho học sinh khám phá được nội dung tưtưởng nghệ thuật của tác phẩm để có thể vận dụng vào việc phân tích tác phẩm và

tự rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm quý báu

1.1.1.2 Chức năng của đọc - hiểu

Trong thời đại bùng nổ công nghệ như hiện nay, con người có rất nhiều cách

để tiếp cận tác phẩm văn học Trong đó đọc - hiểu là con đường hữu hiệu giúp bạnđọc chiếm lĩnh tác phẩm bởi văn chương là loại hình nghệ ngôn từ nên chỉ có đọcmới có thể giúp bạn đọc chiếm lĩnh những giá trị và ý nghĩa của tác phẩm

Người đọc bằng những hiểu biết của cá nhân sẽ chuyển hóa các kí hiệu ngônngữ trong văn bản thành những thông tin thẩm mĩ Tùy theo các cấp độ đọc khácnhau mà mỗi người thu về cho mình những lượng thông tin không giống nhau.Thông qua việc đọc - hiểu tác phẩm văn chương, người đọc sẽ tự rút ra cho bản thânnhững bài học kinh nghiệm quý báu về cuộc đời, con người

Đọc - hiểu giúp cho quá trình khám phá nội dung tư tưởng nghệ thuật của tácphẩm trở nên dễ dàng Từ đó, có thể vận dụng phương pháp dạy học đọc - hiểu vàoviệc đọc và tạo lập văn bản tương đương

Đọc - hiểu không chỉ là hoạt động thông thường mà đã trở thành hoạt độngvăn hóa thể hiện tầm đón nhận của mỗi bạn đọc Đọc - hiểu trở thành một phươngpháp, một con đường đặc trưng để tiếp nhận tác phẩm văn học

1.1.2 Lý thuyết tiếp nhận

1.1.2.1 Khái niệm

Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” tiếp nhận văn học là: “Hoạt động chiếmlĩnh giá trị tư tưởng thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản

Trang 15

ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài năngtác giả cho đến tác phẩm sau khi đọc” [2, 325]

Theo tác giả cuốn giáo trình “ Lí luận văn học” do Phương Lựu (chủ biên) thì

“tiếp nhận văn học là giai đoạn hoàn tất quá trình sáng tác” của văn học [10, 215]

Như vậy, các ý kiến, quan niệm có nội hàm tương đối khác nhau nhưng hầuhết các khái niệm mà các tác giả đưa ra đều thể hiện rõ bản chất của quá trình tiếpnhận văn học Đó là quá trình người đọc thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tácphẩm để khám phá, phát hiện và chiếm lĩnh những giá trị tư tưởng thẩm mĩ mà nhàvăn muốn gửi gắm qua tác phẩm Cũng có khi người đọc trở thành người sáng tạovăn bản, đem lại cho văn bản một cách hiểu mới, một giá tri mới Vì vậy, theo thờigian lịch sử, tiếp nhận văn học có tác dụng to lớn trong thúc đẩy ảnh hưởng của vănhọc biến một văn bản khô khan thành một thế giới sống động, phong phú

1.1.2.2 Bạn đọc với vấn đề tiếp nhận văn học

Nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm văn học là để truyền thụ những khái quát, cảmnhận về những vấn đề phong phú của hiện thực đời sống Không có người đọc thìmọi tác phẩm chỉ là trang giấy bất động, hoàn toàn không có giá trị Người đọcchính là người thẩm định, quyết định sự tồn tại của tác phẩm Người nghệ sĩ chỉ làngười sáng tạo ra tác phẩm

Tiếp nhận văn học là một quá trình diễn ra trong tư duy, tình cảm, tâm lí,sinh lí của bạn đọc và hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ , năng lực hiểu biết về vănhọc nghệ thuật, vào nghề nghiệp của họ cũng như vào thời đại, xã hội mà họ đangsống Tuy nhiên ở mỗi thời điểm, cùng một bạn đọc lại có sự lĩnh hội khác nhau.Khi đọc “Truyện Kiều” của Nguyễn Du vua Tự Đức đòi đánh cho tác giả 100 roi,còn Chu Mạnh Trinh thì phê phán Kiều “Đoạn trường đáng kiếp tà dâm”; NguyễnVăn Vĩnh và Phạm Quỳnh lại cho rằng “Truyện Kiều” là: “Quốc hồn, Quốc túy:Truyện Kiều còn nước nam còn”…Như vậy, ý nghĩa khách quan của tác phẩm hoàntoàn được tiếp nhận khác nhau ở mỗi bạn đọc Tác động thẩm mĩ của tác phẩm cànglớn thì độc giả tiếp thu càng đa dạng, tạo nên tính dị biệt trong tiếp nhận

Mặt khác, trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học, bên cạnh tính kháchquan cần đảm bảo thì người đọc cũng gặp phải muôn vàn khó khăn, thử thách do

Trang 16

“sự chuyên chế về khoảng cách” (cách dùng của GS ĐăngThành Lê) Đó là khoảngcách về không gian, thời gian lịch sử, khoảng cách về tâm lí, ngôn ngữ, văn hoá…

Vì vậy, khi tiếp nhận một tác phẩm văn học đòi hỏi người đọc phải luôn vận động

để rút ngắn khoảng cách, tiến tới tiếp nhận tác phẩm văn học một cách đúng hướng

và toàn diện nhất Nhưng khoảng cách này có thể khắc phục băng nhiều biện pháp

1.1.3 Năng lực Ngữ văn

1.1.3.1 Khái niệm

- Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên): Năng lực là:“ Khả năng, điềukiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Phẩm chấttâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đóvới chất lượng cao”

- Theo tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo địnhhướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm2014: “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chứckiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng

hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực

thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiếnthức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thựchiện một loại công việc nào đó Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người

lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các năng lực chung, cốt lõi”.

Có nhiều cách hiểu về năng lực Ngữ văn Căn cứ vào mục tiêu, tính chất vànội dung chương trình môn học này từ trước đến nay; từ cách hiểu chung về nănglực, có thể nói năng lực Ngữ văn là khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng cơbản về văn học và tiếng Việt để thực hành giao tiếp trong cuộc sống Năng lực Ngữvăn gồm 2 năng lực bộ phận là: Năng lực tiếp nhận văn bản (đọc, nghe, quan sát )

và Năng lực tạo lập văn bản (viết, nói, trình bày )

Trang 17

- Kĩ năng: Kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuầnthục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinhnghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi Kỹ năng được hình thành khi chúng ta ápdụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặcmột nhóm hành động nhất định nào đó Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõràng Những kĩ năng của học sinh được hình thành thông qua việc thực hiện cáchoạt động học và thực hành trong đời sống thực tiễn.

- Thái độ: Trong học tập, thái độ chính là những nhận thức, giá trị sống vàđịnh hướng hành vi của học sinh sau khi học một nội dung nào đó

1.1.3.3 Những năng lực Ngữ văn

* Năng lực đọc hiểu

Đọc hiểu là một trong những năng lực tối thiểu cần thiết cần cho một họcsinh chuẩn bị bước vào cuộc sống trưởng thành và cũng là những giá trị nền tảngkhông thể thiếu trong quá trình học tập suốt đời Vì thế, đọc và dạy học đọc là mộttrọng tâm quan trọng trong chương trình dạy tiếng của các quốc gia nói chung vàviệc dạy Tiếng Việt - Văn học Việt Nam nói riêng Yêu cầu về đọc của chươngtrình Ngữ văn Việt Nam có sự thay đổi qua từng giai đoạn không chỉ dừng lại ở yêucầu “đọc để thu thập và truyền đạt thông tin” Việc tiếp cận và phát triển năng lựccho người học trong đó có năng lực đọc hiểu đáp ứng yêu cầu giải quyết nhữngnhiệm vụ, tình huống phức tạp và đa dạng của cuộc sống thực là xu thế tất yếu củagiáo dục thời đại

Môn Ngữ văn giúp học sinh hình thành và phát triển hai năng lực: Năng lựctiếp nhận văn bản (đọc, nghe, quan sát…), năng lập tạo lập văn bản (viết, nói, trìnhbày…) Năng lực đọc hiểu thuộc năng lực tiếp nhận nó bao gồm việc tiếp nhận, lígiải, khôi phục nội dung đã được truyền đi, giải mã đúng và chính xác nội dungthông tin đã được tạo lập Chúng ta đã biết, từ văn bản đến người tiếp nhận có mộtkhoảng cách lớn bởi không phải lúc nào cũng có thể giải mã hết được tất cả lượngthông tin trong văn bản được tạo lập, lí giải được nguyên nhân lựa chon nội dung,hình thức văn bản cũng như tình cảm của người tạo lập văn bản Năng lực đọc hiểuđược xem như là năng lực nền tảng của việc tiếp cận tác phẩm văn chương

Trang 18

Dạy học đọc - hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mới phươngpháp dạy học Ngữ văn trong việc tiếp nhận văn bản Vậy thế nào là dạy học đọchiểu? Dạy học đọc - hiểu không nhằm truyền thụ một chiều cho học sinh nhữngcảm nhận của giáo viên về văn bản được học, mà hướng đến việc cung cấp cho họcsinh cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật củavăn bản, từ đó hình thành cho học sinh năng lực tự đọc một cách tích cực, chủ động

có sắc thái cá nhân Hoạt động đọc - hiểu cần được thực hiện theo một trình tự từ dễđến khó, từ thấp đến cao, trải qua các giai đoạn từ đọc đúng, đọc thông đến đọchiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo Khi hình thành năng lực đọc - hiểu của họcsinh cũng chính là hình thành năng lực cảm thụ thẩm mỹ, khơi gợi liên tưởng, tưởngtượng và tư duy Năng lực đọc - hiểu còn là sự tích hợp kiến thức kỹ năng của cácphân môn cũng như kinh nghiệm sống của học sinh

* Năng lực tiếp nhận

Năng lực tiếp nhận văn bản là khả năng lĩnh hội, nắm bắt được các thông

tin chủ yếu; từ đó hiểu đúng, hiểu thấu đáo, thấy cái hay, cái đẹp của văn bản, nhất

là văn bản văn học Muốn có năng lực tiếp nhận phải biết cách tiếp nhận

Tức là dựa vào những yếu tố, cơ sở nào (từ, ngữ, câu, đoạn, hình ảnh, biểutượng, số liệu, sự kiện, tiêu đề, dấu câu…) để có thể có được các thông tin và cáchhiểu ấy

Đánh giá năng lực tiếp nhận thường dựa vào kết quả của 2 kĩ năng chính lànghe và đọc Nghe và phản hồi các thông tin nghe được một cách nhanh chóng,chính xác, không rơi vào tình trạng “ông nói gà, bà nói vịt”

Việc các nước phát triển trong nhiều kỳ thi phải tổ chức thi nói chính là đểkiếm tra năng lực nghe/nói, năng lực trình bày miệng Do tính chất và yêu cầu tổchức phức tạp hơn nên hình thức thi nói ít được vận dụng Việc đánh giá năng lựctiếp nhận chủ yếu dồn vào kĩ năng đọc hiểu văn bản

Văn bản ở đây cần hiểu theo nghĩa rộng Đó không chỉ là các tác phẩm thơvăn nghệ thuật mà còn là các loại văn bản không phải là văn chương, như văn bảnviết về lịch sử, địa lý, toán học, sinh học… khoa học thường thức hoặc một thông

Trang 19

báo nơi công cộng, một bản thuyết minh công dụng và cấu tạo của máy móc, mộtđơn xin việc…

Nhiều nước gọi đó là văn bản thông tin - một loại văn bản rất gần gũi vớimọi người và thường xuyên gặp trong cuộc sống Về phương diện cấu trúc, bố cụccũng không chỉ kiểm tra mình loại văn bản viết liền mạch trên trang giấy mà còn rấtnhiều loại văn bản kết hợp giữa kênh chữ và kênh hình (biểu đồ, đồ thị, minh họa,công thức, tranh ảnh, hình khối, bản đồ…), người ta gọi là văn bản không liền mạch(Non-Continuous Texts) Tất cả đều là những văn bản cần đọc hiểu và phải dạy chohọc sinh cách đọc hiểu mỗi loại văn bản

Tóm lại, bên cạnh việc yêu cầu học sinh đọc hiểu một đoạn văn, bài thơ; nhàtrường cần dạy và yêu cầu các em biết đọc hiểu các loại văn bản thông tin, trong đó

có rất nhiều văn bản kết hợp kênh chữ và kênh hình, học sinh phải biết đọc hình kếthợp với đọc chữ để nắm được thông tin và hiểu đúng ý nghĩa của văn bản

* Năng lực cảm thụ thẩm mĩ

Năng lưc cam thụ thâm mi thê hiên kha năng cua môi ca nhân trong viêc nhân ra đươc cac gia tri thâm mi cua sư vât , hiên tương, con ngươi va cuôc sông ,thông qua nhưng cam nhân , rung đông trươc cai đep va cai thiên , tư đo biêt hương nhưng suy nghi , hành vi của mình theo cái đẹp , cái thiện Như vậy, năng lực cảmthụ (hay năng lực trí tuệ xúc cảm) thường dùng với hàm nghĩa nói về các chỉ số cảmxúc của mỗi cá nhân Chỉ số này mô tả khả năng tự nhận thức để xác định, đánh giá

và điều tiết cảm xúc của chính mỗi người, của người khác, của các nhóm cảm xúc

Năng lưc cam thu thâm mi la năng lưc đăc thu cua môn hoc Ngư vă,ngăn vơi

tư duy hinh tương trong viêc tiêp nhân văn ban văn hoc Quá trình tiếp xúc với tácphẩm văn chương là quá trình người đọc bước vào thế giới hình tượng của tác phẩm

và thế giới tâm hồn của tác giả từ chính cánh cửa tâm hồn của mình Năng lực cảmxúc như trên đã nói được thể hiện ở nhiều khía cạnh; trong quá trình người học tiếpnhận tác phẩm văn chương năng lực cảm xúc được thể hiện ở những phương diệnsau:

- Cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học, biết rung động trước những hìnhảnh, hình tượng được khơi gợi trong tác phẩm về thiên nhiên, con người, cuộc sốngqua ngôn ngữ nghệ thuật

Trang 20

- Nhận ra được những giá trị thẩm mĩ được thể hiện trong tác phẩm văn học:cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái bi, cái cao cả, cái thấp hèn từ đó cảm nhận đượcnhững giá trị tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật của nhà văn được thể hiện qua tácphẩm.

- Cảm hiểu được những giá trị của bản thân qua việc cảm hiểu tác phẩm vănhọc; hình thành và nâng cao nhận thức và xúc cảm thẩm mĩ của cá nhân; biết cảmnhận và rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống; có nhữnghành vi đẹp đối với bản thân và các mối quan hệ xã hội; hình thành thế giới quanthẩm mĩ cho bản thân qua việc tiếp nhận tác phẩm văn chương

Từ việc tiếp xúc với các văn bản văn học, HS sẽ biết rung động trước cáiđẹp, biết sống và hành động vì cái đẹp, nhận ra cái xấu và phê phán những hìnhtượng, biểu hiện không đẹp trong cuộc sống, biết đam mê và mơ ước cho cuộc sốngtốt đẹp hơn

* Năng lực đánh giá

Năng lực đánh giá Ngữ văn là năng lực nhìn nhận phát hiện giá trị của tácphẩm ở tầm khái quát, vĩ mô trong nhiều quan hệ giữa tác phẩm với tác giả, vớinhững tác phẩm khác của các tác giả khác, với đời sống xã hội phát sinh của tácphẩm, với đời sống xã hội ngày nay Năng lực đánh giá đòi hỏi học sinh phải cónhững hiểu biết ngoài tác phẩm, phải đặt tác phẩm trong nhiều quan hệ so sánh đốichiếu với thời đại với với các sáng tác và tác phẩm… để có thể đưa ra những nhậnđịnh khách quan có giá trị về vai trò, về vị trí của tác phẩm trong lịch sử sáng táccủa nhà văn cũng như ở tiến trình lịch sử văn học Năng lực này không những cầnthiết để hiểu, cảm được tác phẩm một cách đúng đắn mà còn mà còn cần thiết đểhọc sinh có thể vận dụng chuyển tải hiểu biết về tác phẩm cũng như về lịch sử vănhọc để làm một bài văn nghị luận văn học có kết quả tốt nhất Năng lực này giúpcho học sinh mở rộng giới hạn hiểu biết về một tác phẩm để đi rộng ra bối cảnh lịch

sử văn học, xã hội của tác phẩm Đọc một bài thơ học sinh có thể cảm thụ được vẻđẹp của bài thơ đó và tâm hồn trí tuệ cũng được phát triển hơn Song dù sao, đócũng chỉ mới là những thu hoạch đóng khung trong bản thân một bài thơ, một tácphẩm mà thôi Khi học sinh biết đánh giá tác phẩm là lúc học sinh tự nâng tầm hiểu

Trang 21

biết của bản thân cao hơn, rộng hơn và cách nhìn về tác phẩm cũng được mở rộnghơn Và chính bản thân tác phẩm cũng được đặt vào một vị trí có tầm khái quát hơn.Năng lực này rất cần thiết cho việc nâng cao khả năng làm văn của học sinh trongnhà trường nói riêng cũng như khả năng sáng tạo nói chung.

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Dạy học Ngữ văn truyền thống

Môn Ngữ văn được coi là môn học chủ đạo trong nhà trường phổ thông.Nhưng từ nhiều năm nay, việc dạy học môn Ngữ văn vẫn thực hiện theo phươngpháp dạy học truyền thống thiên về lí thuyết, thầy cô giáo soạn bài giảng, truyền thụđến học sinh, học sinh tiếp thu kiến thức ấy, ghi nhớ và vận dụng vào bài kiểm tra

Cứ như thế tạo thành một chu kì khép kín Phương pháp dạy học này cũng có những

ưu điểm riêng không thể phủ nhận là đã đạt được những kết quả đáng kể trong việcbồi dưỡng học sinh giỏi Tuy nhiên trong môi trường giáo dục ngày nay phươngpháp truyền thống ấy cũng bộc lộ không ít những nhược điểm như: học sinh thụđộng, chỉ biết tiếp nhận một chiều chứ không có sự tương tác lại với GV, HS không

tự nghiên cứu, tìm hiểu Như thế, hậu quả khó tránh khỏi là HS dần mất đi năng lực

tư duy, tự cảm thụ tác phẩm mà chỉ chấp nhận và sao chép lại cảm thụ của thầy cô;

GV chỉ thuyết giảng; thỉnh thoảng lại đặt câu hỏi chiếu lệ sẽ không thể nắm bắtđược hiệu quả tiếp thu cũng như quan điểm, thái độ của học sinh Cảm nhận vănhọc mang tính chủ quan của GV không có sự phản hồi từ HS sẽ dễ trở thành khiêncưỡng áp đặt Giờ đọc văn vì không có sự tương tác qua lại giữa thầy và trò trở nênbuồn tẻ, nặng nề không hứng thú Khi tiếp xúc với tác phẩm văn học, học sinh chỉhiểu theo một chiều, ít chịu khó phát hiện, vốn từ ngữ nghèo, diễn đạt kém Vì vậy,không đạt hiệu quả cao khi cảm nhận tác phẩm văn chương

Trước thực trạng ấy, có thể thấy đổi mới phương pháp dạy học là việc làmcấp thiết, có ý nghĩa quan trọng đối với việc cải thiện môn Ngữ văn vốn đang mấtdần sức hút đối với học sinh

Trong những năm qua, ngành giáo dục đã có nhiều cải cách quan trọng từgiáo dục ở bậc tiểu học cho đến đào tạo đại học và sau đại học Riêng ở phổ thông,

Trang 22

sự đổi mới thể hiện trên nhiều phương diện, rõ nhất là về chương trình, sách giáokhoa và đặc biệt là phương pháp dạy học Mục đích của việc đổi mới phương phápdạy học ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạyhọc theo “phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp học sinh phát huy tính tíchcực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thầnhợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập

và thực tiễn, tạo niềm tin, niềm vui hứng thú trong học tập

1.2.2 Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh THPT

Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh là thôngqua môn học học sinh có khả năng kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiếnthức, kỹ năng với thái độ, tình cảm… nhằm đáp ứng hiệu quả một số yêu cầu phứchợp của hoạt động trong một số hoàn cảnh nhất định Các năng lực đặc thù của mônhọc gồm: Năng lực đọc - hiểu, năng lực giao tiếp tiếng Việt và năng lực thưởngthức văn học/cảm thụ thẩm mỹ, năng lực đánh giá Ngoài ra, học sinh cũng cầnđược phát huy các năng lực khác như: Năng lực giải quyết vấn đề, giao tiếp, sángtạo, hợp tác, tự quản bản thân…

Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trìnhgiáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học, nghĩa là từ chỗ quantâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái

gì qua việc học Để đảm bảo điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việcchuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học,cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Điềunày đã được triển khai và thực hiện nhiều năm nay, nhiều GV đã có những nhậnthức đúng đắn về đổi mới phương pháp dạy học và đã xác định rõ sự cần thiết,cómong muốn thực hiện đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học Một số GV đã vậndụng được các phương pháp theo định hướng đổi mới của chương trình giáo dụchiện nay Tuy nhiên hoạt động đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường phổthông hiện nay vẫn chưa mang lại nhiều hiệu quả cao Dạy học truyền thụ một chiều

Trang 23

vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo của GV, số GV thường xuyên chủ động, sángtạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học cũng như sử dụng các phươngpháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS chưa nhiều Dạy họcvẫn nặng về lí thuyết, quá chú trọng nội dung bài học mà chưa chú trọng đầy đủ đếnchủ thể người học cũng như việc rèn luyện kĩ năng sống, kĩ năng giải quyết các tìnhhuống trong thực tiễn cho HS thông qua vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sựđược quan tâm Hoạt động kiểm tra đánh giá chưa đảm bảo yêu cầu khách quan,chính xác, việc kiểm tra chủ yếu chú ý đến yêu cầu tái hiện lại kiến thức và đánh giáqua điểm số đã dẫn đến tình trạng GV và HS duy trì lối dạy học “đọc chép” thuầntúy HS học tập thiên về ghi nhớ, ít quan tâm vận dụng kiến thức đã học được.Trước những thực trạng đó và để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình, sáchgiáo khoa giáo dục phổ thông sau 2018, cần thiết phải đổi mới đồng bộ phươngpháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục theo định hướng phát triển nănglực người học.

Trang 24

CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGỮ VĂN CHO HỌC SINH THPT

QUA DẠY HỌC VĂN BẢN “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” - NGUYỄN TUÂN

2.1 Vị trí, vai trò của Nguyễn Tuân trong chương trình Ngữ văn THPT

Nguyễn Tuân là một tác gia lớn của nền văn học Việt Nam là một trong

9 tác gia được chọn để dạy trong chương trình phổ thông Ông là nhà văn có vị trívững chắc trong lịch sử văn học dân tộc, người đã tìm được cho mình được tiếngnói riêng nhờ phong cách văn học đặc sắc Ngòi bút của ông đi vào nhiều vấn đề,nhiều vẻ của những hình tượng Và ở hai thời kì trước và sau Cách mạng thángTám, sáng tác của Nguyễn Tuân có những khác biệt rõ nét Tìm hiểu văn chương

Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám có thể thấy cái đẹp ở “Chữ người tử tù” trong tập truyện ngắn đầu tay “ Vang bóng một thời” viết về những con người trong

quá khứ, từng “vang bóng” - những anh hùng hảo hán nhất thế Nguyễn Tuân đã cốníu kéo những giá trị tinh thần, giá trị văn hóa của dân tộc còn ẩn sâu hoặc lấp lóthú chơi chữ của những nhân vật trong tác phẩm Đề cao vẻ đẹp thiên lương củanhững con người biết trân trọng cái đẹp, biết ngông trên cái tài năng của mình Vì

vậy dạy “Chữ người tử tù” trong trường phổ thông sẽ góp phần đưa những giá trị

về vẻ đẹp một thời đã qua đến với học sinh và giúp các em tiếp cận với “người

chiến sĩ ngôn từ đã đưa cái đẹp thăng hoa đến một độ cao hiếm thấy trong văn học Việt Nam” (Hoài Anh).

2.2 Các nguyên tắc dạy trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh THPT

2.2.1 Nguyên tắc dạy học Ngữ văn gắn với đời sống

“Giờ giảng tốt thường được bắt đầu từ thực tiễn và kết thúc bằng thực tiễn” Ulrich Lipp Những gì được dạy trên lớp phải gắn với cuộc sống bên ngoài, ở quákhứ, hiện tại và tương lai của người học Đối với những người lớn tuổi nếu nội dunghọc không liên quan đến việc họ đang làm, họ sẽ không muốn học, không có hứngthú để học Họ chỉ có thể hiểu lí thuyết qua các ví dụ thực tế Trong dạy học, người

Trang 25

-GV đưa ra các ví dụ liên quan đến các công việc hằng ngày của người học là cáchvào bài tốt, những ví dụ khiến người học tò mò và nhận thức được rằng giờ học sẽgần gũi và hữu ích hơn với họ khi đó họ sẽ tập trung và tiếp thu tốt hơn Sau khởiđầu thuận lợi, người dạy có thể đưa ra kiến thức mới về lí thuyết Đến cuối bài,người dạy cần phải móc nối kiến thức, lập lại mối liên hệ giữa bài học với thực tếcủa người học.

2.2.2 Nguyên tắc tạo không khí tích cực trong giờ giảng

Việc học sẽ đơn giản hơn khi giữa học và chơi không đối nghịch nhau màngược lại Khi người học tìm thấy niềm vui trong học tập thì việc học sẽ trở nên dễdàng hơn

Có rất nhiều cách khác nhau để tạo nên không khí tích cực,vui vẻ trong giờhọc: Trò chơi khởi động tạo tâm thế cho học sinh trước khi vào bài mới tạo sự thíchthú, hào hứng; sử dụng ngôn ngữ cơ thể, cử chỉ thân thiện, linh hoạt thay đổi cácphương pháp để tạo sự sinh động, sử dụng các phương tiện, kĩ thuật, tranh ảnh

2.2.3 Nguyên tắc dạy học Ngữ văn phải phối hợp linh hoạt các phương pháp

Trong một bài học, người dạy phải linh hoạt kết hợp nhiều phương pháp dạyhọc khác nhau Tùy thuộc vào nội dung của từng bài sử dụng các phương pháp saocho phù hợp Trong một bài người dạy chỉ sử dụng đi lặp lại một số phương phápquen thuộc thì sẽ gây tâm lí nhàm chán, thụ động, không gây được sự chú ý, tậptrung của người học Để bài học đạt được hiệu quả như mong muốn người dạy phảiphối hợp linh hoạt các phương pháp

2.2.4 Nguyên tắc dạy học Ngữ văn phải phát huy cao độ năng lực chủ thể của học sinh

Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tích cực chủ động trong việc tiếpthu kiến thức Khi được khuyến khích người học sẽ trở nên chủ động, tích cực họchỏi với tinh thần thoải mái Giáo viên có thể tổ chức việc học phát huy cao độ nănglực chủ thể của học sinh bằng nhiều cách khác nhau: Tạo cơ hội cho người họcđóng góp, phát biểu ý kiến, làm việc nhóm, làm bài tập thực hành

2.2.5 Nguyên tắc dạy học Ngữ văn phải đảm bảo quan điểm tích hợp

Nguyên tắc này cần được thể hiện trong quá trình tổ chức dạy học Theo tinhthần này khi dạy một văn bản văn học cần hướng dẫn cho học sinh khai thác tối đa

Trang 26

các yếu tố ngôn ngữ, thấy được ý nghĩa, vai trò và tác dụng của chúng trong việcbiểu hiện nội dung của tác phẩm văn học, tránh xa rời văn bản Để tiếp nhận tốt cáctác phẩm văn học cần phải huy động nhiều kiến thức và kĩ năng văn học khác nhauchứ không riêng gì các yếu tố ngôn ngữ Đồng thời trong giờ văn, ngoài việc chỉ racác vẻ đẹp của tác phẩm được học, giáo viên cần chú ý giúp các em cách thức phântích, bình giá một tác phẩm văn học theo một thể loại nhất định Làm như vậy đãtích hợp nội dung và phương pháp dạy tập làm văn và phân tích, bình giảng văn họctrong giờ Ngữ văn.

2.3 Phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh THPT qua dạy học văn bản

“Chữ người tử tù” - Nguyễn Tuân

Giúp học sinh nhận rõ hơn nội dung của tác phẩm, hình dung ra tính cách,tình cảm, suy nghĩ của nhân vật và thái độ của tác giả đối với các sự kiện được miêu

tả qua thái độ, nết mặt, giọng của người đọc

Rèn luyện cho học sinh sự nhạy cảm với ngôn ngữ, giúp học sinh nhận biếtđược sự giàu, có tinh tế của tiếng Việt, rèn luyện năng lực nói và đọc: cách phát âm,ngắt giọng, nhấn trọng âm

Tóm lại, phương pháp này nhằm rèn luyện cách đọc tích cực, nhận biết cáihay, cái đẹp của tác phẩm nằm trong chương trình, ngoài chương trình Mục tiêucủa việc dạy văn không chỉ giúp cho học sinh hiểu và có kiến thức về các tác phẩm

Trang 27

nằm trong chương trình, rèn luyện năng lực thẩm mĩ, giáo dục tư tưởng mà còn rèn luyện cho học sinh cách đọc, cách tiếp nhận tác phẩm tích cực.

Có hai hình thức đọc tác phẩm: tùy theo mức độ của bài học và dung lượngcủa tác phẩm mà giáo viên có thể đưa ra các hình thức đọc khác nhau có thể là đọcthầm, đọc lướt, đọc thành tiếng

Đọc diễn cảm tác phẩm (đọc thành tiếng): là cách sử dụng các sắc thái tìnhcảm của giọng đọc; vui, buồn, mỉa mai, phê phán nhấn mạnh trọng âm, ngắt giọng

để miêu tả lại các nội dung của tác phẩm cũng như thái độ của nhà văn với nhân vật.Ngữ điệu của người đọc không chỉ giúp cho người nghe hiểu nhân vật nói gì mà cònhình dung rõ nhân vật nói như thế nào

Nếu có điều kiện cho phép giáo viên có thể cho học sinh nghe các giọngngâm của các nghệ sĩ Đối với các đoạn hội thoại trong truyện ngắn, tiểu thuyếtngười đọc phải lột tả hết tính cách của từng nhân vật Với các đoạn trích về kịch,giáo viên nên cho học sinh đọc phân vai Để hướng dẫn cách đọc cho học sinh, giáoviên có thể nêu vài nhận xét vắn tắt về tính cách của từng nhân vật

Việc đọc tác phẩm có thể tiến hành dưới nhiều hình thức, kết hợp việc đọccủa giáo viên và học sinh; đọc đầu giờ, đọc trong quá trình phân tích, đọc khi kếtthúc bài giảng Với những tác phẩm dài, nếu thời gian không cho phép, nên đọcphần quan trọng, phần còn lại giáo viên tóm tắt, gạch chân ý chính hoặc dặn họcsinh đọc trước và hướng dẫn soạn bài ở nhà để thuận lợi cho việc nghiên cứu tácphẩm

Trang 28

b Sự nghiệp

- Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp.

- Tác phẩm chính: (SGK)

+ Trước CM: Vang bóng một thời.

+ Sau CM: Tuỳ bút Sông Đà

Ông đặc biệt thành công ở hai thể loại: truyện ngắn và tuỳ bút

c Phong cách nghệ thuật: “Ngông”

- Là người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp, có tri thức uyên bác và cách sửdụng ngôn từ độc đáo, sáng tạo

- Yêu chuộng sự phóng túng, tự do và có ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân

- Nguyễn Tuân thường quan sát sự vật ở góc độ thẩm mĩ và miêu tả conngười ở phương diện tài hoa nghệ sĩ

Đánh giá: Năm 1996, ông được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn họcnghệ thuật

2 Truyện ngắn “Chữ người tử tù”

a Xuất xứ:

- Lúc đầu có tên: Dòng chữ cuối cùng, in năm 1938 trên tạp chí “Tao đàn”

- Năm 1940 đổi tên thành “Chữ người tử tù” và in trong tập “Vang bóng một

thời”

GV: Cho học sinh đọc phân vai theo các nhân vật của tác phẩm: HS1 nhânvật Huấn Cao; HS2 nhân vật Quản Ngục; HS3 nhân vật thầy thơ lại; HS4 người dẫntruyện và các nhân vật còn lại Yêu cầu học sinh đọc to, rõ ràng, đọc diễn cảm, đọcđúng giọng điệu của từng nhân vật trong văn bản Sau khi HS đọc xong cho từng

em nêu cảm nhận chung về tính cách của từng nhân vật mình vừa đọc

2.3.1.2 Phương pháp đàm thoại

* Mục đích

- GV và HS trao đổi với nhau, thông qua sự đối thoại, một mặt độc lập pháthiện và nghiên cứu, mặt khác có tính giao tiếp Đàm thoại cũng có thể diễn ra đốivới nhóm HS, khi các em cùng trao đổi, tìm ra những câu trả lời cho câu hỏi của

GV hoặc cùng bàn bạc, đánh giá về một nội dung nào đó phương pháp này giúp các

Trang 29

em tăng khả năng tư duy, đưa ra những ý kiến, thắc mắc của mình, từ đó khắc sâukiến thức Thông qua việc đọc và hiểu nội dung tác phẩm, HS có thể dễ dàng trả lờicâu hỏi của GV, trả lời các câu hỏi của bạn hoặc hỏi các bạn về những điều mìnhcòn băn khoăn.

- Trong phương pháp này có thể sử dụng các kĩ thuật động não, kĩ thuật đặtcâu hỏi…

* Hoạt động cụ thể:

GV: Sau khi cho học sinh đọc xong tác phẩm GV đưa ra câu hỏi: Từ việc

đọc tác phẩm em hãy khái quát lại tình huống truyện “Chữ người tử tù”? Và tình

+ Huấn Cao - người tử tù có tài viết chữ đẹp, chống lại triều đình phong kiến

=> HS nhận xét: Đó là cuộc hội ngộ diễn ra giữa chốn ngục tù căng thẳng, kịch tính,

có ý nghĩa đối đầu giữa cái đẹp cái thiên lương với quyền lực tội ác nhưng cái đẹpcái thiên lương đã thắng thế

GV: Đưa ra một số hình ảnh về chữ Nho (chữ Hán) để HS hiểu hơn về nghệthuật chơi chữ của các nhà Nho thời phong kiến

CH: Em thường nhìn thấy các kiểu chữ Nho ở đâu? Có hình dáng như thế nào? HS: Chữ Nho (chữ Hán): chữ tượng hình viết bằng bút lông mực tàu,viết

theo khối vuông tròn, nét thanh, nét đậm, nét cứng, nét mềm khác nhau

GV nói rõ thêm: Nghệ thuật chơi chữ Nho, viết chữ Nho là thú chơi chữ củacác nhà Nho mà xưa gọi là Thư pháp Đó là thú chơi đài các, thanh tao, lịch sự củanhững người có văn hóa và khiếu thẩm mĩ, thường diễn ra ở các thư phòng sangtrọng

2.3.1.3 Phương pháp thuyết trình:

* Mục đích

- Nếu phần thuyết trình là của GV: cung cấp thêm cho HS những kiến thức

Trang 30

- Nếu phần thuyết trình là của HS: không những giúp các em hình thành kĩnăng giao tiếp, kĩ năng đứng trước đám đông mà còn giúp các em trình bày đượcnhững hiểu biết của mình thông qua hoạt động đọc - hiểu Từ đó giúp các em chủđộng lĩnh hội ghi nhớ và khắc sâu kiến thức.

* Hoạt động cụ thể:

- GV khái quát: Tác phẩm chưa đầy 3000 từ nhưng chứa đựng một nội dung

tư tưởng lớn Chỉ có 3 nhân vật ở 3 cảnh khác nhau: Huấn Cao, Quản ngục, Thầythơ lại: Quản ngục đọc công văn về tên tử tù Huấn Cao; Huấn Cao bị giải vào ngục

và sự biệt đãi; cảnh Huấn Cao cho chữ -> cảnh nào cũng hội tụ đủ cả 3 nhân vật

đó rút ra những thiếu sót, tổng hợp kiến thức một cách đầy đủ nhất

- Đó thể kết hợp với phương pháp dạy học nêu vấn đề, kĩ thuât khăn trải bàn

để tổ chức cho HS làm viêc

- Tùy vào số HS, vào lượng công việc, yêu cầu, GV chia lớp thành các nhómphù hợp, GV giao nhiệm vụ và đưa ra vấn đề HS trong nhóm tự phân chia côngviệc và hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian nhất định Sau khi thảo luận, HS trìnhbày kết quả của nhóm mình bằng cách thuyết trình hoặc bằng các kĩ thuật khác như:

kĩ thuật trình bày 1 phút, phòng tranh…

* Hoạt động cụ thể

- Tìm hiểu về nhân vật Quản Ngục: GV chia lớp ra làm 4 nhóm

+ Nhóm 1: Quản ngục là người như thế nào: nghề nghiệp, sở thích?

+ Nhóm 2: Quản ngục có thái độ như thế nào khi gặp Huấn Cao? Tại sao lại

có thái độ như vậy?

+ Nhóm 3: Đánh giá của em về nhân vật Quản ngục?

Trang 31

+ Nhóm 4: Quản ngục có phẩm chất gì khiến Huấn Cao cảm kích?

GV cho HS thảo luận trao đổi trong 5 phút sau đó yêu cầu đại diện nhóm trình bày.CH1: Quản ngục là người như thế nào: nghề nghiệp, sở thích?

DKTL:

- Nghề nghiệp: cai quản ngục tù

- Sở thích: kẻ say mê chơi chữ đến kì lạ

+ Kiên trì, nhẫn nại, công phu, quyết xin chữ cho bằng được

+ Suốt đời chỉ có một ước ao: “có được chữ Huấn Cao trong nhà”

+ Có sở thích cao quý đến coi thường cả tính mạng của mình: Muốn chơichữ Huấn Cao; dám nhờ Thơ lại xin chữ; đối đãi đặc biệt với tử tù

-> Đó là cuộc chạy đua nguy hiểm, nếu để lộ chuyện Quản ngục chắc chắn không giữ được mạng sống

CH2: Quản ngục có thái độ như thế nào khi gặp Huấn Cao? Tại sao lại có thái độ như vậy?

DKTL:

- Thái độ: tiếc nuối cho tài năng của Huấn Cao, trân trọng, biệt đãi người tài:+ Lần đầu: Gặp Huấn Cao trong cảnh nhận tù, ngục quan có “lòng kiêngnể”, lại còn có “biệt nhỡn” đối riêng với Huấn Cao Suốt nửa tháng trời, ngục quan

bí mật sai viên thơ lại dâng rượu và đồ nhắm cho tử tù - Huấn Cao và các đồng chícủa ông

+ Lần hai: Y gặp mặt Huấn Cao, nhẹ nhàng và khiêm tốn bày tỏ “muốn

châm chước ít nhiều” đối với tử tù, nhưng đã bị ông Huấn miệt thị nặng lời, gần

như xua đuổi, nhưng ngục quan vẫn ôn tồn, nhã nhặn “xin lĩnh ý” rồi lui ra

CH3: Quản ngục hiện lên với những vẻ đẹp gì?

DKTL:

- Chọn nhầm nghề, giữa bọn người tàn nhẫn, lừa lọc thì hắn lại có “tính

cách dịu dàng… biết trọng người ngay” chẳng khác nào “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bàn đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”.

- Một tâm hồn nghệ sĩ tài hoa đã lạc vào chốn dơ bẩn tuy làm nghề thất đứcnhưng có một tâm hồn đẹp

Trang 32

- Trong XHPK suy tàn, chốn quan ngục đầy rãy những bất lương vô nhân

đạo, Quản ngục đúng là một người trong Vang bóng.

CH4: Quản ngục có phẩm chất gì khiến huấn cao cảm kích?

DKTL:

- Ngục quan là một nhà nho “biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền” suốt đời chỉ ao ước một điều là “có một ngày kia treo ở nhà riêng mình một câu đối do tay

ông Huấn Cao viết” Ngục quan đang sống trong bi kịch: y tâm phục Huấn Cao là

một người chọc trời khuấy nước nhưng lại tự ti “cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại

giữ tù” Viên quản ngục khổ tâm nhất là “có một ông Huấn Cao trong tay mình, không biết làm thế nào mà xin được chữ” Là quản ngục nhưng lại không can đảm

giáp mặt tử tù vì y cảm thấy Huấn Cao “cách xa y nhiều quá?” Tử tù thì ung dung, trái lại, ngục quan lại lo “mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà chưa xin được

mấy chữ thì ân hận suốt đời” Bi kịch ấy cho thấy tính cách quản ngục là một con

người biết phục khí tiết, biết quý trọng người tài và rất yêu cái đẹp Y yêu chữ HuấnCao chứng tỏ y có một sở thích cao quý Vì thế khi nghe viên thơ lại nói lên ước

nguyện của ngục quan, Huấn Cao cảm động nói: “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn

liên tài của các người Nào ta biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy Thiếu chút nữa, ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ” Như vậy, trong vị thế xã hội, ngục quan và tử tù là đối địch, còn trên lĩnh

vực nghệ thuật, họ là tri âm Huấn Cao đã tri ngộ một kẻ biệt nhỡn liên tài là ngụcquan Đó là một con người biết phục khí tiết, biết quý trọng người tài và yêu quý cái

đẹp - một tấm lòng Biệt nhỡn liên tài

*Tìm hiểu về nhân vật Huấn Cao: chia lớp ra làm 3 nhóm:

Nhóm 1: Tại sao Huấn Cao bị bắt? Vẻ đẹp khí phách hiên ngang của HuấnCao thể hiện ở những chi tiết nào?

Nhóm 2: Tìm những chi tiết cho thấy Huấn Cao là một nghệ sĩ tài hoa?Nhóm 3: Chỉ ra những chi tiết chứng minh Huấn Cao là người có thiênlương trong sáng?

GV cho HS làm việc trong vòng 5 phút sau đó mời đại diện từng nhóm trình bày

Trang 33

CH1: Tại sao Huấn Cao bị bắt? Vẻ đẹp khí phách hiên ngang của Huấn Cao thểhiện ở những chi tiết nào?

DKTL: Huấn Cao - một anh hùng hiên ngang

- Kẻ cầm đầu cuộc đại nghịch chống lại triều đình bị bắt giam với án tử hìnhđang chờ ngày ra pháp trường

- Có khí phách hiên ngang:

+ Là một nhà nho kiệt hiệt dám chọc trời khuấy nước Chí lớn không thành

mà vẫn hiên ngang chết chém cũng chẳng sợ một tinh thần gang thép “vô úy” bất

khuất Một cái “rỗ gông” trước của ngục, một câu miệt thị ngục quan: “Ngươi hỏi

ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều: Là nhà ngươi đừng tới quấy rầy ta”.

+ Dám chống lại triều đình, coi thường cái chết Mặc dù đang chờ ngày rapháp trường nhưng vẫn ung dung, đường hoàng, không cúi đầu trước thế lực vàđồng tiền

+ Không sợ lao tù, uy vũ, coi thường lính giải: “dám xua đuổi khinh miệt

viên Quản ngục”, “thản nhiên nhận rượu thịt”, “đón nhận cái chết bình thản”…

-> Huấn cao là một bậc trí dũng bản lĩnh kiên cường

CH2: Tìm những chi tiết cho thấy Huấn Cao là một nghệ sĩ tài hoa?

DKTL: Huấn Cao - một nghệ sĩ tài hoa

- Người khắp vùng Sơn Tây khen “có tài viết chữ nhanh và đẹp…”

- Lời ca ngợi và mong ước cháy bỏng của viên Quản ngục “Chữ ông đẹp

lắm, vuông lắm, có được chữ Huấn Cao mà treo là có một vật báu trên đời…”

- Nét chữ nết người “Nét chữ vuông vắn nói lên hoài bão lớn của con người”

-> Huấn Cao có nhân cách trong sáng, trọng nghĩa, khinh lợi, có tài, có tâm, coi khinh tiền bạc và quyền thế Huấn Cao không chỉ là một nghệ sĩ tài hoa mà còn là

hiện thân của cái tâm kẻ sỹ, có tấm lòng biệt nhỡn liên tài, một thiên lương cao cả

CH3: Chỉ ra những chi tiết chứng minh Huấn Cao là người có thiên lương trong sáng? DKTL: Huấn Cao - một con người mang vẻ đẹp thiên lương

- Biết giữ gìn thiên lương coi khinh vàng ngọc không vì vàng ngọc, vì quyền

uy mà “ép mình viết bao giờ?” Chữ thì quý thật? Nhất sinh ông mới viết hai bộ tứ

bình và một bức trung đường tặng ba người bạn thân Không chỉ đẹp ở nét chữ, mà

Trang 34

mỗi chữ, mỗi bức thư họa của Huấn Cao là một bức châm, thể hiện một lý tưởngtung hoành, một hoài bão, một đạo lý cao đẹp Chữ của Huấn Cao cho thấy cái tài,

cái tầm nhìn của kẻ sĩ chân chính mà ta ngưỡng mộ và kính phục “Ta nhất sinh

không vì tiền bạc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối…đời ta mới viết…cho ba người bạn thân…”

- Hiểu được tấm lòng và sở thích của viên Quản ngục, ông vô cùng xúc động

và ân hận “Thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”

- Biết bảo vệ và tôn vinh cái đẹp “cho chữ viên quản ngục vì cảm tấm lòng

biệt nhỡn liên tài”

=> Hình tượng nhân vật Huấn Cao trọn vẹn và hoàn hảo bởi một cảm hứng lãngmạn, một bút pháp lí tưởng hóa của Nguyễn Tuân Huấn Cao hiện lên là nhân vật

toàn mĩ “Chí - Tài - Tâm”, một cốt cách: “Nhất sinh đệ thủ bái hoa mai”

2.3.2.3 Phương pháp dạy học theo sơ đồ tư duy

* Hoạt động cụ thể

CH1: GV yêu cầu HS tóm tắt tình huống truyện bằng cách lập sơ đồ, HS làmviệc cá nhân trong vòng 3 phút sau đó trả lời GV nhận xét và chốt lại

DKTL:

Ngày đăng: 01/01/2020, 21:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Duy Bình (1993), Dạy văn dạy cái hay cái đẹp, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn dạy cái hay cái đẹp
Tác giả: Nguyễn Duy Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
3. Nguyễn Thái Hòa (2004), “Vấn đề đọc - hiểu và dạy đọc - hiểu”, Thông tin Khoa học sư phạm số 5, Viện nghiên cứu Sư phạm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đọc - hiểu và dạy đọc - hiểu”
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Năm: 2004
4. Nguyễn Trọng Hoàn (2010), “Tài liệu tập huấn giáo viên thực hiện dạy học và kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng chương trình gióa dục phổ thong môn Ngữ văn”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn giáo viên thực hiện dạy học vàkiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng chương trình gióa dục phổ thongmôn Ngữ văn”
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
5. Nguyễn Thanh Hùng (2000), “Đọc và tiếp nhận văn chương”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc và tiếp nhận văn chương”
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
6. Nguyễn Thanh Hùng (2003), “Học văn, dạy văn”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học văn, dạy văn”
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
7. Nguyễn Thanh Hùng (2004), “Đọc - hiểu văn chương”, Tạp chí Giáo dục số 92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc - hiểu văn chương”
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Năm: 2004
8. Nguyễn Thanh Hùng (2008), “Đọc - hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường”, NXB Giáo dục. 9. Phan Trọng Luận (2008), Phương pháp dạy học văn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc - hiểu tác phẩm văn chương trong nhàtrường”", NXB Giáo dục. 9. Phan Trọng Luận (2008), "Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng (2008), “Đọc - hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường”, NXB Giáo dục. 9. Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Giáo dục. 9. Phan Trọng Luận (2008)
Năm: 2008
10. Phương Lựu (chủ biên) (2004), “Lí luận dạy học”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học”
Tác giả: Phương Lựu (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
11. Phan Trọng Luận (2009), “Thiết kế bài học Ngữ văn 11, tập 1”, NXB Giáo dục 12. Hoàng Phê (2005), “Từ điển tiếng Việt”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học Ngữ văn 11, tập 1”", NXB Giáo dục12. Hoàng Phê (2005), “"Từ điển tiếng Việt”
Tác giả: Phan Trọng Luận (2009), “Thiết kế bài học Ngữ văn 11, tập 1”, NXB Giáo dục 12. Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Giáo dục12. Hoàng Phê (2005)
Năm: 2005
13. Đỗ Ngọc Thống (2006), “Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa THPT”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa THPT”
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
14. Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11, tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11, tập 1
Nhà XB: NXB Giáo dục
15. Sách giáo viên Ngữ văn lớp 11, tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn lớp 11, tập 1
Nhà XB: NXB Giáo dục

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w