Hi vọng với đề tài “Tết Xíp Xí của người Thái trắng ở Mộc Châu – SơnLa” sẽ góp phần nhận diện và giữ gìn những giá trị văn hóa tộc người trướcnhững biến đổi của cuộc sống trong thời đại
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN -o0o -
VŨ THỊ QUYÊN
TẾT XÍP XÍ CỦA NGƯỜI THÁI TRẮNG
Ở MỘC CHÂU – SƠN LA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN -o0o -
VŨ THỊ QUYÊN
TẾT XÍP XÍ CỦA NGƯỜI THÁI TRẮNG
Ở MỘC CHÂU – SƠN LA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THỊ TÍNH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến quý Thầy Cô trongkhoa Ngữ văn, nhất là các Thầy Cô tham gia giảng dạy chuyên ngành ViệtNam học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã thường xuyên giúp đỡ, tạođiều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài khóa luận
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị
Tính đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn chỉnh khóa luận.
Mặc dù đã rất cố gắng để hoàn thiện, song vì điều kiện thời gian cùngnhững hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức chuyên môn nên khóaluận của tôi không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đónggóp bổ sung của quý Thầy Cô và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 11 tháng 05 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Vũ Thị Quyên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Tết Xíp Xí của người Thái
trắng ở Mộc Châu – Sơn La” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các kết
quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bốtrong bất cứ công trình nào
Hà Nội, ngày 11 tháng 05 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Vũ Thị Quyên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khóa luận 5
7 Bố cục khóa luận 5
NỘI DUNG 6
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 6
1.1 Khái quát về huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 6
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 6
1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 10
1.2 Vài nét về lịch sử của người Thái trắng ở Mộc Châu – Sơn La 11
1.2.1 Tên gọi, dân cư và địa bàn cư trú 12
1.2.2 Lịch sử tộc người 12
1.2.3 Đặc trưng văn hóa 13
1.3 Giới thiệu chung về tết Xíp Xí của dân tộc Thái 20
1.3.1 Khái niệm tết Xíp Xí 21
1.3.2 Truyền thuyết tết Xíp Xí 21
Chương 2 VĂN HÓA NGƯỜI THÁI TRẮNG TRONG DỊP TẾT XÍP XÍ Ở MỘC CHÂU – SƠN LA 24
2.1 Thời gian và không gian tổ chức tết Xíp Xí 24
2.2 Các hoạt động văn hóa trong tết Xíp Xí của người Thái trắng 25
2.2.1 Công tác chuẩn bị tết Xíp Xí 25
Trang 62.2.2 Các nghi lễ truyền thống 26 2.2.3 Các hoạt động ẩm thực, thăm hỏi, vui chơi 29
Chương 3 GIÁ TRỊ VÀ THỰC TRẠNG TẾT XÍP XÍ CỦA NGƯỜI THÁI TRẮNG Ở MỘC CHÂU – SƠN LA 343.1 Giá trị văn hóa 34
3.1.1 Tết Xíp Xí – nét văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc Thái trắng 34 3.1.2 Tết Xíp Xí – môi trường nuôi dưỡng các giá trị văn hóa độc đáo 40
3.2 Thực trạng 42KẾT LUẬN 46TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đối với phần lớn các dân tộc trên Thế giới, đặc biệt là nhóm cư dânnông nghiệp, tết giữ một vai trò quan trọng bởi chứa đựng nhiều mặt của đờisống văn hóa, tâm lý, tín ngưỡng Ở Việt Nam, tết gắn với làng xã như mộtphần tất yếu trong cuộc sống Mỗi vùng quê nằm trải dài trên dải đất conghình chữ S đều là không gian văn hóa để chúng ta không ngừng tìm hiểu,khám phá Mộc Châu – Sơn La là một vùng đất mang đậm giá trị văn hóa
Lễ tết là một hoạt động văn hóa lớn của Việt Nam, do ảnh hưởng từgốc văn hóa nông nghệp mà trong một năm có diễn ra nhiều lễ tết Cùng với
53 dân tộc anh em, người Thái luôn là một phần của sự thống nhất khối đạiđoàn kết dân tộc và góp phần làm phong phú cho nền văn hóa các dân tộcViệt Nam Nếu như mùa xuân đến hầu hết các dân tộc ở đều háo hức với ngàyTết Nguyên Đán cổ truyền thì người Hà Nhì cũng có riêng ngày Tết Hồ SựChà, Tết Cơm Mới của người Ê Đê, đồng bào Dao có ngày Tết Nhảy… vàonhững thời điểm khác nhau trong năm Riêng tháng 7 âm lịch hàng năm,người Thái từ bao đời nay vẫn đón Tết Xíp Xí – một trong những lễ hội đặcsắc của mảnh đất Tây Bắc Đối với dân tộc Thái nói chung và người Tháitrắng nói riêng, tết Xíp Xí có ý nghĩa sâu sắc và chứa đựng giá trị văn hóa dântộc Trong dịp tết này, người Thái trắng tiến hành những hoạt động văn hóanhư: nghi lễ, thăm hỏi, vui chơi, ăn uống… qua đó thấy được nếp sống, nếpnghĩ cũng như văn hóa của người Thái trắng
Mộc Châu – Sơn La là nơi tập trung sinh sống của người Thái trắng,đồng thời có quá trình cộng cư lâu đời Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài:
“Tết Xíp Xí của người Thái trắng ở Mộc Châu – Sơn La” làm đề tài khóa
luận
Trang 8Là sinh viên ngành Việt Nam học, nghiên cứu tìm hiểu văn hóa dân tộc
là việc làm có ý nghĩa, giúp tôi có thêm hiểu biết về cuộc sống, văn hóa, kinh
tế Hi vọng với đề tài “Tết Xíp Xí của người Thái trắng ở Mộc Châu – SơnLa” sẽ góp phần nhận diện và giữ gìn những giá trị văn hóa tộc người trướcnhững biến đổi của cuộc sống trong thời đại mới
Xí, nét văn hóa tiêu biểu của dân tộc Thái trắng
Vấn đề lịch sử - văn hóa của người Thái ở Việt Nam được sưu tầm,nghiên cứu từ rất lâu với các tác phẩm của Cầm Trọng – người có nhiều côngtrình nghiên cứu lớn:
- Năm 1978, Cầm Trọng viết Người Thái Tây Bắc Việt Nam, Nhà xuất
bản Khoa học Xã hội, nội dung khá đầy đủ về đời sống vật chất, tinh thần củangười Thái, đặc biệt ở khu vực Tây Bắc
- Năm 2003, Cầm Trọng cùng Ngô Đức Thịnh đã viết tác phẩm Luật
tục Thái ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc.
- Năm 2003, Cầm Trọng có cuốn Những hiểu biết về người Thái ở Việt
Nam, với nội dung giới thiệu văn hóa Thái trong lịch sử Việt Nam, nét sinh
hoạt ăn uống, ở, mặc, đi lại, quan hệ gia đình, xã hội
Trong cuốn Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam của Đại họcQuốc gia Hà Nội, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc Hà Nội (1998) có viết: “Thái
Trang 9là cộng đồng tộc người mến khách và có xu hướng coi đó là đặc trưng tâm lý.Điều đó không sai, nhưng tâm lý này cũng có ở nhiều tộc người khác, khôngriêng gì người Thái Song, nếu xét kỹ, chúng ta sẽ thấy những nét khác nhaumột cách rõ rệt.”
Ở Việt Nam, dân tộc Thái có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóatinh thần, cho nên đây là vấn đề thu hút được sự chú ý của nhiều độc giả, học
giả với những công trình như: Nghệ thuật trang phục Thái của Lê Ngọc Thắng, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Văn hóa các dân tộc Tây Bắc – Thực
trạng và những vấn đề đặt ra của Trần Văn Bính, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia (2004), Văn hóa dân gian người Thái vùng Mộc Châu, Phù Yên, Bắc
Yên tỉnh Sơn La của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam (2010)…
Bên cạnh đó còn nhiều bài viết công bố trên các tạp chí như: Tạp chí
Tư tưởng văn hóa, Tạp chí văn hóa nghệ thuật, Tạp chí tuyên truyền… Các
công trình nghiên cứu kể trên tiếp cận từ nhiều góc độ, khía cạnh khác nhaunhư: văn hóa, dân tộc học, sử học
Nhìn chung, các công trình đều đã đi vào khai thác những đặc điểmchung về bản sắc văn hóa, văn hóa các dân tộc thiểu số và nhiều khía cạnhkhác nhau của văn hóa người Thái Tuy nghiên, những nghiên cứu này mớichỉ dừng lại ở việc tìm hiểu những giá trị văn hóa, phong tục tập quán củangười Thái ở Việt Nam, ở phạm vi rộng và khái quát, chưa đi sâu vào nghiêncứu cụ thể, chi tiết một cách có hệ thống các nghi lễ trong dịp tết Xíp Xí trêntừng địa bàn khác nhau Mặc dù vậy, kết quả các bài nghiên cứu lại là cơ sởgiúp tôi hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Tết Xíp Xí của ngườiThái trắng ở Mộc Châu – Sơn La”
Trong bối cảnh xã hội hiện nay, khi mà những văn hóa, đạo đức cónhững biểu hiện bị xâm hại đến tình trạng suy thoái thì việc nghiên cứu vănhóa, tập tục, lễ hội của người Thái ở Mộc Châu, Sơn La sẽ cung cấp cơ sở lý
Trang 10luận để phát huy những giá trị của nó đối với sự phát triển nền tảng văn hóa,tinh thần của cả dân tộc.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tết Xíp Xí của người Thái trắng
ở Mộc Châu – Sơn La” nhằm một số mục đích sau:
- Tìm hiểu văn hóa dân tộc Thái trắng Sơn La nói chung và tết Xíp Xí ởMộc Châu – Sơn La nói riêng
- Cung cấp cho độc giả những hiểu biết cụ thể, chính xác về tết Xíp Xícủa người Thái trắng từ các nghi lễ đến hoạt động ẩm thực, vui chơi… để từ
đó có những đánh giá về những giá trị văn hóa của tết Xíp Xí
- Nhìn nhận một cách khách quan về thực trạng giá trị của tết Xíp Xícủa người Thái trắng ở Mộc Châu – Sơn La
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tết Xíp Xí cũng như các lễ tết khác bao gồm cả nghi lễ đến hoạt động
ẩm thực, vui chơi Nhưng có sự độc đáo riêng không thể lẫn với lễ tết nào Ở
đề tài này đi sâu tìm hiểu về văn hóa của tết Xíp Xí như: truyền thuyết tết Xíp
Xí, thời gian, không gian tổ chức tết, hoạt động vui chơi… để làm rõ giá trịvăn hóa đặc sắc mà tết Xíp Xí mang lại Qua đó có thể đánh giá được thựctrạng tết Xíp Xí của người Thái trắng ở Mộc Châu – Sơn La
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tết Xíp Xí của người Thái trắng
- Phạm vi nghiên cứu: Khái quát văn hóa dân tộc Thái và cung cấpnhững hiểu biết cụ thể về tết Xíp Xí của người Thái trắng từ các nghi lễ đếnhoạt động ẩm thực, vui chơi… để từ đó có những đánh giá về những giá trịvăn hóa của tết Xíp Xí tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình làm khóa luận sinh viên có sử dụng các phương phápnghiên cứu khoa học để hoàn thành như:
- Phương pháp thu thập tài liệu, sưu tầm thông tin để viết khóa luận: Ápdụng khi bắt đầu nghiên cứu đề tài Nguồn tư liệu được cập nhật qua Internet
và tài liệu sách báo, tạp chí, tra cứu thông tin thư viện…
- Phương pháp tổng hợp, phân tích xử lý thông tin: Thực hiện trên cơ
sở nguồn tài liệu đã được thu thập, tiến hành xử lý và chọn lọc tài liệu liênquan phục vụ cho đề tài: “Tết Xíp Xí của người Thái trắng ở Mộc Châu –Sơn La”
- Phương pháp liên ngành: Địa lý học, Dân tộc học, Du lịch học
6 Đóng góp của khóa luận
Đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, nâng cao hiểu biết về tết Xíp Xí của ngườiThái trắng cho những ai quan tâm và ham tìm hiểu
Giới thiệu về phong tục đặc sắc với các giá trị văn hóa tiêu biểu trongdịp tết Xíp Xí
Trang 12NỘI DUNG
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khái quát về huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
- Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Hoà Bình
- Phía Tây và Tây Bắc giáp hai huyện Bắc Yên và Yên Châu
- Phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Thanh Hoá và nước CHDCND Làovới đường biên giới chung dài 36 km
- Phía Bắc giáp với huyện Phù Yên, được ngăn cách bởi dòng sông Đà.Mộc Châu có tuyến quốc lộ 6 chạy dọc theo chiều ngang của địa bàn.Ngoài ra, thị trấn còn là điểm đầu của tuyến quốc lộ 43 nối đến cửa khẩu PaHáng trên biên giới Việt - Lào Trên địa phận thị trấn có một số khe suối nhỏ
đổ vào suối Nà Bó và suối Môn Về vị trí và mối liên hệ trong Vùng Trung dumiền núi Bắc Bộ, Mộc Châu là khu vực có những lợi thế không nhỏ thể hiện
ở những điểm sau:
Trang 13Thứ nhất, Mộc Châu là cửa ngõ đặc biệt quan trọng kết nối Sơn La vàcác tỉnh vùng Tây Bắc với Hà Nội và vùng đồng bằng sông Hồng thông quaquốc lộ 6, đồng thời, Mộc Châu còn có cửa khẩu Quốc gia Lóng Sập thôngvới tỉnh Hủa Phăn và cố đô Luông Phra Bang (Luang Prabang) của nướcCHDCND Lào và xa hơn là sang các nước ASEAN như Thái Lan,Myanmar… Đối với thủ đô Hà Nội, Lóng Sập là cửa khẩu Quốc gia sang Lào
có khoảng cách ngắn nhất
Thứ hai, Mộc Châu là một trong những điểm nút giao thông quan trọngtrên quốc lộ 6 Từ Mộc Châu có thể kết nối thuận lợi với Sơn La, Hòa Bình,Lào, Điện Biên, Lai Châu
Thứ ba, Mộc Châu nằm gần sân bay Nà Sản - Thành phố Sơn La vớikhoảng cách không quá xa (hơn 100 km) tương đối thuận tiện cho vậnchuyển khách du lịch Trong tương lai, khi sân bay Nà Sản được đầu tư nângcấp mở rộng sẽ tạo ra cơ hội thuận lợi để Mộc Châu kết nối với các thịtrường du lịch trong nước, khu vực và quốc tế
Như vậy có thể thấy, vị trí địa lý đã tạo cho Mộc Châu một vị thế rấtđắc địa để tổ chức một trung tâm của khu vực Tây Bắc trong quá trình pháttriển kinh tế - xã hội trong đó có du lịch Bởi Mộc Châu là cao nguyên rộnglớn và xinh đẹp nhất miền núi phía bắc, có khí hậu ôn đới gió mùa, các điểm
du lịch nổi tiếng như: Hang Doi, rừng thông Mộc Châu, thác Thái Hưng,thắng cảnh động Sơn Mộc Hương, thác Dải Yếm, đỉnh Phiêng Luông, và bảnsắc văn hóa của dân tộc Mông, Thái, Dao và không thể thiếu các đồi chè,đồng cỏ ở thị trấn Nông trường Mộc Châu Hàng năm huyện đã đón hàng vạn
du khách tới tham quan và nghỉ mát
Điều kiện tự nhiên:
Địa hình
Địa hình của tỉnh Sơn La chia thành những vùng đất có đặc trưng sinh
Trang 14địa hình bị chia cắt phức tạp có nhiều núi cao hiểm trở và nhiều thung lũngrộng, độ cao trung bình từ 950 - 1050 m so với mặt nước biển, có cao nguyênrộng lớn và tương đối bằng phẳng Cao nguyên Mộc Châu nằm ở độ cao1.050 m so với mặt biển, kéo dài 80 km từ Yên Châu đến Suối Rút, bề ngangnơi rộng nhất đạt tới 25 km, với những đồng cỏ mênh mông, những đồi chèxanh ngắt khí hậu ôn đới, mát mẻ rất thích hợp để du lịch Các khu vực xungquanh Mộc Châu như Hòa Bình, Sơn La đều có độ cao trung bình thấp hơn sovới Mộc Châu.
Khí hậu
Mộc Châu nằm trong vùng núi cao mang đặc trưng của khí hậu á nhiệtđới; mùa đông lạnh và thường có sương muối, mưa phùn; mùa hè mát mẻ.Mộc Châu có độ cao lớn lại nằm giữa sông Đà và sông Mã do đó khí hậu ởMộc Châu quanh năm mát mẻ nhiệt độ trung bình 18,50C, lượng mưa trungbình hàng năm khoảng 1.800mm, độ ẩm trung bình khoảng 85% Nhiệt độtrung bình hàng năm của Mộc Châu thấp hơn so với các khu vực lân cận nhưThành phố Sơn La (21,100C), Hòa Bình (23,000C), Điện Biên (23,000C) Nềnnhiệt độ thấp như vậy được coi là lý tưởng ở đất nước nhiệt đới như ViệtNam, chỉ có ở các khu vực nổi tiếng về du lịch nghỉ dưỡng ở Việt Nam như
Sa Pa, Tam Đảo, Bà Nà, Đà Lạt, Bạch Mã… mới có những điều kiện khí hậutương tự Đồng thời còn hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu cho phép pháttriển một nền sản xuất nông – lâm nghiệp phong phú Cao nguyên Mộc Châurất phù hợp với cây trồng và vật nuôi vùng ôn đới Vùng dọc sông Đà phù hợpvới cây rừng nhiệt đới quanh năm
Thủy văn
Trên địa bàn Mộc Châu có sông Đà, sông Mã và 7 dòng suối chính làsuối Sập, suối Bàng, suối Giăng, suối Khủa, suối Vinh, suối Tân và suốiQuanh chảy qua Do địa hình núi đá vôi nên nước mặt ở Mộc Châu rất hạn
Trang 15chế và sông suối ở Mộc Châu có độ dốc lớn, trắc diện hẹp nên có nhiều thuậnlợi phát triển thuỷ điện vừa và nhỏ.
Sông Đà là sông lớn nhất và nằm giáp với huyện Mộc Châu ở phíaĐông Bắc và có vai trò quan trọng đối với Mộc Châu Sông Đà vừa là nguồnnước mặt, vừa là tuyến giao thông thủy của Mộc Châu, đồng thời sông Đàcũng có vai trò quan trọng đối với việc điều hòa tạo ra khí hậu quanh năm mát
mẻ cho Mộc Châu
Nhìn chung, tài nguyên nước phân bố không đồng đều, do điều kiệnmiền núi địa hình chia cắt mạnh nên việc khai thác nguồn nước phục vụ chođời sống và phát triển sản xuất mang lại hiệu quả chưa cao Nước ngầm ởMộc Châu tương đối ít gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế - xã hội và dulịch Tuy nhiên, với hồ thủy điện Hòa Bình, tình trạng này đã được cải thiệnnhiều
Đất đai thổ nhưỡng
Mộc Châu có quỹ đất rộng, diện tích đất tự nhiên của huyện Mộc Châu
là 202.513 ha Trong đó: đất nông nghiệp: 34.830,51 ha (chiếm 17,2% tổngdiện tích tự nhiên); đất lâm nghiệp: 81.359,21 ha (chiếm 40,17%); đất chuyêndùng: 4.547,28 ha (chiếm 2,25%); đất ở: 1.179,76 ha (chiếm 0,58%); đấtchưa sử dụng và sông suối, núi đá: 80.596,24 ha (chiếm 39,8 % diện tích tựnhiên) Đây là điều kiện thuận lợi để khai thác phát triển nông lâm nghiệp và
du lịch Tuy nhiên, đối với Mộc Châu phát triển du lịch sẽ thuận lợi hơn sovới phát triển nông nghiệp do các quỹ đất chưa sử dụng hầu hết là đất có địahình dốc, thuộc vùng xa, hạ tầng giao thông kém phát triển… điều này sẽ ảnhhưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất nông lâmnghiệp song đối với du lịch vấn đề này không ảnh hưởng quá nhiều
Thảm thực vật
Trang 16Đất đai phù hợp với nhiều loại cây, có điều kiện xây dựng hệ thốngrừng phòng hộ và tạo các vùng rừng kinh tế hàng hoá có giá trị cao Tài
Trang 17nguyên rừng Mộc Châu khá phong phú với khoảng 456 loài thực vật và 49loài động vật hoang dã trong đó có nhiều loài quý hiếm và các khu rừng đặcdụng có giá trị nghiên cứu khoa học, phục vụ du lịch sinh thái trong tương lai.
Tài nguyên rừng của Mộc Châu có giá trị quan trọng đối với phát triển
du lịch là khu rừng đặc dụng Xuân Nha với diện tích trên 12.313,6 ha cónhiều loại gỗ và động vật quý hiếm có khả năng tạo thành điểm du lịch sinhthái hấp dẫn Tuy nhiên, do nằm ở khu vực giáp biên giới, thủ tục hành chínhchặt chẽ và phức tạp nên khả năng tổ chức các hoạt động du lịch ở khu vựcnày ít thuận lợi
Tài nguyên khoáng sản
Sơn La có trên 50 mỏ và điểm khoáng sản, do vậy Mộc Châu có một sốloại khoáng sản trữ lượng nhỏ, cụ thể:
- Than: Có mỏ than Suối Bàng với trữ lượng 2,4 triệu tấn và Than bùn
ở xã Tân Lập có thể khai thác để sản xuất phân bón phục vụ sản xuất nôngnghiệp
- Bột Tan: Tập trung ở Tà Phù xã Liên Hoà, với trữ lượng khoảng 2,3triệu tấn, có thể khai thác để phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
- Đất sét: Có trữ lượng tương đối lớn đang được khai thác phục vụ pháttriển sản xuất gạch phục vụ xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật tronghuyện và ngoài huyện
Như vậy, có thể thấy Mộc Châu không có nhiều lợi thế về khoáng sản
để phát triển công nghiệp
1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Trong toàn tỉnh Sơn La, vùng Mộc Châu có tốc độ tăng trưởng kinh tếcao nhất Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2005 - 2013 đạt19,74%/năm, khá cao so với mặt bằng của tỉnh Sơn La Vùng Mộc Châu có
sự phát triển khá mạnh về sản xuất chế biến sữa, chè, các sản phẩm nông
Trang 18nghiệp, lâm nghiệp khác và hoạt động thương mại, dịch vụ du lịch tăngtrưởng nhanh Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷtrọng ngành Công nghiệp - Xây dựng và Thương mại - Dịch vụ, giảm tỷ trọngngành Nông lâm nghiệp.
Nhờ có chính sách mới của Đảng và Nhà nước trong những năm gầnđây: việc giao đất, giao rừng cho người dân, chính sách khuyến nông… MộcChâu đã có những quan điểm đúng đắn tiếp tục phát triển rõ nét hơn nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần, với các sản phẩm ngành hàng chủ lực có lợi thếtrên thị trường và xuất khẩu Đã củng cố bổ sung và phát triển ngày càng toàndiện, hiệu quả các sản phẩm có lợi thế, hình thành các vùng sản xuất tậptrung, thâm canh gắn với công nghiệp chế biến có quy mô, công nghệ phùhợp Đồng thời chú trọng xây dựng, điều chỉnh địa bàn sản xuất, đẩy mạnhứng dụng giống mới và quy trình sản xuất tiến bộ để tăng năng suất, sảnlượng và hiệu quả Chăn nuôi phát triển khá toàn diện cả về gia súc, gia cầm,cây ăn quả và cây chè Tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi được ứng dụng cóhiệu quả
Với những điều kiện thuận lợi về du lịch sinh thái và nhân văn, MộcChâu có rất nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, cơ cấu kinh tế thay đổimang lại cho huyện Mộc Châu diện mạo mới
Tình hình kinh tế phát triển, tương đối toàn diện, cơ cấu kinh tế nôngnghiệp và nông thôn đã có sự chuyển dịch, tài nguyên đất đai, lao động đangđược khai thác, các lĩnh vực văn hóa – xã hội có chuyển biến tích cực, an ninhchính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được duy trì, đời sống nhân dânnhiều vùng được ổn định và cải thiện
1.2 Vài nét về lịch sử của người Thái trắng ở Mộc Châu – Sơn La
Người Thái là một trong bảy dân tộc thiểu số có số dân đông trong đạigia đình 54 dân tộc Việt Nam Phân bố chủ yếu ở miền Bắc, tập trung ở Tây
Trang 19Bắc và Bắc Trung Bộ Người Thái gồm nhiều ngành, mỗi ngành gồm nhiềunhóm khác nhau Về giới hạn của bài viết, tôi chỉ đi qua, tìm hiểu đôi nét vềtên gọi, dân cư, địa bàn cư trú… của người Thái trắng.
1.2.1 Tên gọi, dân cư và địa bàn cư trú
Tên gọi: Dân tộc Thái là cộng đồng đông nhất ở Sơn La, chiếm 54%
dân số, gồm các nhóm Thái đen và Thái trắng Tộc danh mà đồng bào tự gọi
là Táy hoặc các tên khác như: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, TayMường, Tay Do, Thổ
Các nhóm địa phương gồm có:
+ Ngành Thái đen (Táy Đăm)
+ Ngành Thái trắng ( Táy Khao)
Dân cư:
Ở miền Bắc Việt Nam có khoảng 250.000 - 400.000 người thuộc dântộc Thái trắng Họ đã và đang sống ở miền Bắc Việt Nam được hơn 1.200năm Năm 2002 dân số của người Thái trắng ước tính khoảng 280.000 người
Địa bàn cư trú:
Người Thái Trắng đã có mặt dọc hữu ngạn sông Hồng và tỉnh LaiChâu, Điện Biên từ thế kỷ 13 và làm chủ Mường Lay (địa bàn chính là huyệnMường Chà ngày nay) thế kỷ 14, một bộ phận di cư xuống Đà Bắc và ThanhHóa thế kỷ 15 Ngày nay, người Thái trắng cư trú tập trung tại các tỉnh: Sơn
La, Hòa Bình, Điện Biên, Thanh Hóa, Nghệ An…
1.2.2 Lịch sử tộc người
Người Thái trắng đã di cư dến miền Bắc Việt Nam trong khoảng thế kỷthứ 6 hay 7 là tổ tiên của người Thái trắng tìm thấy ngày nay, họ hiện đangsống tại các tỉnh Yên Bái, Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá và Nghệ An Banđầu họ định cư ở vùng lân cận huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai Nơi đây họ thànhlập Muang Pak Ha Từ sự định cư này, họ lại thành lập khu dân cư mới ở
Trang 20Muang Lo (Nghĩa Lộ) ở tỉnh Yên Bái, bắc ngang qua dòng sông Hồng Saunày, họ thành lập khu định cư mới Muang Pua ở huyện Bắc Yên và MuangTak ở huyện Phú Yên, tỉnh Sơn La Từ đây, một số người dân tộc Thái trắngvượt qua dòng sông Đen và thành lập khu định cư Muang Sang (MuangXang) ở huyện Mộc Châu.
hi dân tộc Thái trắng thành lập khu định cư Muang Pak Hà (Bắc Hà)thì có nhóm khác đã vượt biên giới Trung Quốc sang miền Bắc Việt Nam, bâygiờ là tỉnh Lai Châu Nhóm này thành lập khu định cư ở các huyện Mường
Tè, Phong Thổ và Lai Châu thuộc tỉnh Lai Châu
Trong vòng thế kỷ thứ 14, một số người Thái trắng di cư từ Muang Lođến huyện Mai Châu Di cư từ Mai Châu theo dọc dòng sông Mã đến tỉnhThanh Hoá, thành lập khu định cư Muang asa, đặt trung tâm gần thị trấnQuan Hóa ngày nay Về sau, một số Thái trắng đã di cư đến tỉnh Nghệ An vàocác huyện ngày nay như: Quế Phong, Quỳ Hợp, Con Cuông và Tương Dương
1.2.3 Đặc trưng văn hóa
Người Thái đã sáng tạo ra kho tàng văn hóa truyền thống mang tínhthống nhất nhưng cũng hết sức đa dạng phong phú, thể hiện ở văn hóa vật thể
và phi vật thể
Văn hóa vật thể:
Văn hóa vật thể của người Thái bao gồm: nhà ở, trang phục, trang sức,
ẩm thực
Nhà ở: Theo truyền thống người Thái có tập quán sống trong nhà sàn
làm bằng các vật liệu như: gỗ, tre, nứa, vầu và lợp bằng cỏ gianh, lá cọ Chỗđặt nhà thích hợp là những vị trí vừa phải, không quá cao, không quá thấp,không bị che chắn bởi vách núi và có độ dốc thoải để dễ thoát nước mưa, cónguồn nước ngầm ở phía dưới để làm giếng nước ăn, nền nhà phải được đắplên cao hơn so với xung quanh Khi chọn đất để dựng nhà, vợ chồng con cái
Trang 21cùng bàn bạc nhất trí Hướng nhà lựa chọn theo địa hình, bao giờ cũng quaylưng về núi, quay mặt ra cánh đồng.
Ngôi nhà sàn có vẻ đẹp về tỷ lệ, hài hòa với thiên nhiên, thích ứng vớikhí hậu, cấu trúc gỗ đặc sắc và là nơi gìn giữ tinh thần truyền thống của ngườiThái Nhà người Thái trắng có khá nhiều điểm gần với nhà Tày – Nùng, theotruyền thống là dạng nhà sàn, kết cấu gỗ, mái dốc lợp tranh, nhà có 5 - 7 gian,sàn cao khoảng 1,3 - 2,4m Nhà sàn bao giờ cũng làm số gian lẻ, mái đầu hồiphẳng hay mái "vòm khum mui rùa" (Tụp Cống) và thường đặt ở hai đầu hồi,biểu tượng tạc bằng gỗ quét vôi trắng tựa như hai đôi sừng gọi là khâu cút.Người Thái có câu: “ hửn song phái/ cái song đay” - tức là mở hai cửa/ đi haithang Nhà người Thái bao giờ cũng có hai cầu thang: “Tang Chan” và “TangQuản” “Tang Chan” ở cuối nhà, bên trái dành cho phụ nữ lên xuống “Chan”
là phần sàn nhà được nối dài ra ngoài trời Đây là nơi các mẹ, các chị, cácem thường ngồi chơi lúc nhàn rỗi, thêu thùa Cầu thang này bao giờ cũngmang số lẻ, thường là 9 bậc (ứng với 9 vía) Cầu thang dành riêng cho namgiới - “Tang Quản” ở đầu nhà, thường có 7 bậc (ứng với 7 vía) Nhà sàn củangười Thái có hai bếp lửa “Chík Pháy” Bếp lửa phía “Tang Quản” dành chongười già, bếp chính ở phía “Tang Chan” dành cho nữ giới và những côngviệc nội trợ
Một nếp nhà sàn là một đơn vị không gian chứa đựng một tế bào của xãhội nên người Thái mới gọi là "Cộng đồng nhà" (Chúa Hướn) Ðó có thể làmột gia đình nhỏ gồm một cặp vợ chồng và con cái chưa đến tuổi trưởngthành để lấy vợ, lấy chồng rời ra ở riêng Hoặc đó cũng có thể là một gia đìnhlớn gồm ba, bốn thế hệ cùng chung sống hòa thuận bên nhau Đây là nơichứng kiến buồn vui của bao thế hệ để rồi mỗi người hiểu thêm về quá khứ,hiện tại và tương lai, trân trọng nâng niu những tài sản vô giá cả về vật chất
Trang 22và tinh thần đã trở thành truyền thống tốt đẹp và phấn đấu vì một ngày maitươi sáng hơn.
Các bản Thái thường quần tụ ven suối chân đồi theo tiêu chí: “sơn chầuthủy tụ” Những ngôi nhà sàn bình dị ấm cúng, khói lam thơm thoảng gióđồng, lách cách tiếng thoi đưa, đâu đây da diết một điệu khèn câu khắp, lốccốc tiếng mõ trâu đàn về bản Tất cả làm nên một vẻ đẹp trong sáng đậm tìnhnhư một bức tranh sơn thuỷ, dân dã nguyên sơ của một nền văn hoá
Hiện nay, về cơ bản văn hóa kiến trúc nhà sàn đồng bào Thái ở tỉnhSơn La vẫn còn giữ được nét kiến trúc của nhà sàn truyền thống Cùng vớinền kinh tế phát triển, thu nhập hộ gia đình được nâng lên, việc mua sắm đồđạc, tiện nghi phục vụ cho sinh hoạt phong phú hơn inh tế phát triển, thunhập khá hơn cũng làm cho nhu cầu sinh hoạt của người dân thay đổi, cũngkhông ít gia đình đã bán ngôi nhà sàn truyền thống để xây dựng lên nhữngngôi nhà nhiều tầng, hiện đại, hợp với thời đại hơn Cũng không ít gia đìnhlàm biến đổi kiến trúc nhà sàn truyền thống để thuận tiện trong sinh hoạt hiệnnay, làm mất đi tính truyền thống Việc giữ gìn và phát huy văn hóa kiến trúctruyền thống nhà sàn dân tộc Thái là hết sức cần thiết
Trang phục: Từ trước tới nay, trang phục của người dân tộc Thái được
ca ngợi bởi sự đơn giản, duyên dáng và thanh lịch Theo truyền thống từ lâuđời, người Thái (Mộc Châu) đã biết trồng bông, dệt vải, trồng dâu nuôi tằm
để tự cấp lấy vải mặc
Để làm đẹp cho bộ trang phục, họ biết tìm cây tô mộc (cây tô phượng)làm màu đỏ, cây chàm làm màu xanh và đen, củ nghệ làm màu vàng; biết côđặc lá chàm qua nhiều động tác phức tạp và kỹ thuật làm “chua” bằng lá trầu,nước chanh cùng các loại lá cây có chất keo làm bền sợi, sau đó, mới đemnhuộm màu Có nhiều trang phục phù hợp với từng giới tính, thích ứng chotừng lứa tuổi Ai đã từng lên Tây Bắc đều không khỏi ngẩn ngơ trước những
Trang 23cô gái Thái trong trang phục truyền thống với áo cóm, váy đen và chiếc khănPiêu Ngay từ nhỏ, người con gái Thái được các bà, các mẹ dạy cách thắt “xàiyêu”, một loại thắt lưng bằng vải, để lớn lên các cô đều có thân hình “eo kíumanh po”, nghĩa là thắt đáy lưng ong Chính vì vậy khi trưởng thành, các côgái Thái đều uyển chuyển với những đường cong tuyệt mỹ Phải thế chăng
mà phụ nữ Thái ở lứa tuổi nào cũng đều có một cơ thể cân đối hài hòa vàcàng nổi bật hơn khi mặc bộ trang phục của chính dân tộc mình
Ngay từ khi mới trưởng thành, phụ nữ Thái đã biết lo sắm cho mình cáimặc, cái nằm… để làm đẹp cho bộ trang phục của mình, từ những chất liệuvải lụa dệt ra, họ tự cắt may, thêu thùa cho mình những bộ trang phục đặc sắc,phù hợp với từng lứa tuổi, tầng lớp và hoạt động xã hội Trong văn hóa mặc,người Thái nổi tiếng có khiếu thẩm mỹ phong phú, nhờ đôi tay khéo léo củaphụ nữ Thái dệt lên những chiếc khăn độc đáo, tinh xảo Các nguồn nguyênliệu tự nhiên để làm trang phục ngoài vải thổ cẩm còn có các chất liệu khácbền đẹp, phù hợp với từng loại trang phục như: hoa, quả, củ, rễ cây, lá cây đểnhuộm màu cho đẹp Mỗi khi mở hội người phụ nữ Thái với những trangphục đẹp nhất như: khăn trắng, váy đen mịn màng đính cạp rồng,phượng, thắt lưng màu xanh (nếu mặc áo dài màu đỏ) Cổ tay đeo 2, 3 đôivòng bạc, cổ đeo kiềng bạc, tai đeo khuyên tai nhỏ mặt ngọc óng ánh,chùm dây xà tích uốn lượn bên hông Mỗi người khi vào hội còn có chiếc áodài với những màu sắc riêng khác nhau Khi vào hội, chiếc áo dài được cởi
ra vắt lên sào cho khỏi vướng người, đồng thời cũng là kỷ vật gửi tặngchàng trai nào thắng trong cuộc ném còn với mình
Áo cóm của người Thái đen có cổ cao còn áo của người Thái trắng thì
cổ hình trái tim Chiếc áo cóm của phụ nữ Thái trắng có 2 loại Một loại ngắntay dành cho người phụ nữ có tuổi, còn loại áo cộc dành cho thiếu nữ Xửa
Trang 24cỏm (áo ngắn bó sát người có hàng cúc bướm) có thể may bằng nhiều loại vảivới màu
Trang 25sắc khác nhau Chính hàng khuy bạc hay kim loại đã làm cho xửa cỏm thànhchiếc áo đặc trưng của bộ nữ phục Thái Hàng cúc áo bằng bạc hình conbướm “Mák Pém” trên áo cóm cũng có tiếng nói và ý nghĩa nhân sinh tinh
tế Một bên là hàng cúc hình bướm đực, một bên là hàng bướm cái, tượngtrưng cho sự kết hợp nam với nữ, tạo nên sự trường tồn của nòi giống Congái chưa chồng hàng cúc mang số lẻ, con gái có chồng hàng cúc mang sốchẵn
Phụ nữ Thái còn mặc hai loại áo dài là xửa chải và xửa luổng Xửa chảimay bằng vải chàm đen, kiểu áo 5 thân, cài cúc phía bên tay trái, cổ đứng,gấu áo phủ quá đầu gối Theo tục lệ, phụ nữ có chồng mới mặc xửa chải vàodịp
cưới xin, hội hè Xửa luổng là áo khoác ngoài, may dài, rộng, có tay hoặckhông có tay Phụ nữ Thái từ khi còn trẻ đã may loại áo này, một dành chobản thân khi về già và một dành biếu mẹ chồng khi về làm dâu Các cụ giàmặc áo xửa luổng lộn trái vào ngày thường, chỉ khi chết mới mặc mặt phải
Đi kèm với áo cóm, áo dài là chân váy (Xỉn) Váy của người Thái trắng
có màu đen, mặt trong gấu váy táp vải màu rực rỡ Mỗi bước đi chân váy thấpthoáng màu sắc, lượn sóng kín đáo mà duyên dáng Phần eo giữa váy và áođược trang trí bằng chiếc thắt lưng bằng vải gọi là Xài ẻo Thắt lưng (Xài Ẻo)làm bằng vải tơ tằm hay sợi bông màu xanh lam hoặc tím xẫm, giữ cho cạpváy quấn chặt lấy eo bụng
So với trang phục nữ, trang phục nam người Thái đơn giản và ít chứađựng sắc thái tộc người và cũng biến đổi nhanh hơn Áo nam giới có hai loại,
áo cánh ngắn và áo dài Áo ngắn may bằng vải chàm, kiểu xẻ ngực, tay dàihoặc ngắn, cổ tròn, không cầu vai Khuy áo làm bằng đồng hay tết thành nútvải Áo không có trang trí hoa văn chỉ trong dịp trang trọng người ta mới thấy
Trang 26nam giới Thái mặc tấm áo cánh ngắn mới, lấp ló đôi quả chì (Mak May) ởđầu đường xẻ tà hai bên hông áo Quần ống rộng, cạp quần hơi loe, khi mặc
Trang 27gấp lại một bên và thắt bằng sợi gai có khuy nút để giữ chắc quần Quầnnhuộm màu xanh chàm hoặc nâu (từ sợi một loại bông tự nhiên).
Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, xã hội, nhữngbiến đổi trong văn hóa làm cho đời sống đồng bào Thái có nhiều thay đổi.Bên cạnh những xu hướng biến đổi tích cực còn có những xu hướng biến đổitiêu cực là điều không thể tránh khỏi Việc trồng bông, nuôi tằm, dệt vải, tựcắt may trang phục của đồng bào Thái, đặc biệt trang phục nữ giới trongtruyền thống không còn được duy trì đầy đủ các công đoạn Trang phục củangười phụ nữ Thái hiện nay, không còn phải tự cắt may như trước kia mà thayvào đó có các nhà may trang phục dân tộc, thiết kế theo kiểu dáng của trangphục truyền thống trên các loại vải có sẵn trên thị trường Việc giữ gìn, kếthừa nét hoa văn, họa tiết độc đáo trên cạp váy truyền thống được đôi bàn taykhéo léo và tài hoa của người phụ nữ Thái duy trì
Điều dễ thấy hiện nay, bản sắc văn hóa dân tộc Thái trong trang phụcdân tộc đang có những biểu hiện phôi phai, mai một Trừ những ngày lễ tết, lễhội, một bộ phận đáng kể đồng bào dân tộc Thái ngày thường ít khi mặc trangphục truyền thống Đặc biệt, thế hệ trẻ hiện nay không thích mặc những trangphục của dân tộc mình, vì thời trang hiện đại phát triển mạnh trên thị trường,
du nhập nhanh vào giới trẻ, hơn thế nó len lỏi vào tận thôn bản, gây sự hấpdẫn giới trẻ bằng những kiểu dáng thời trang, chất liệu vải phù hợp với hoạtđộng, công việc… Do đó việc giáo dục cho các thế hệ trẻ nhận thức được bảnsắc truyền thống của dân tộc mình, để gìn giữ, bảo tồn, phát huy và phát triểnbản sắc văn hóa dân tộc Thái ở Mộc Châu, Sơn La là việc làm có ý nghĩa
Trang sức: Nói đến trang phục người Thái thì không thể không nhắc tới
các đồ trang sức đeo trên người Giống như nhiều dân tộc khác, phụ nữ Tháiđeo trang sức để làm đẹp và thể hiện những thông điệp liên quan đến cuộcsống riêng tư Trang sức của họ thường được tạo ra từ các chất liệu: kim loại
Trang 28bạc, đồng, nhôm, thiếc, xương, ngà… như vòng cổ, vòng tay, hoa tai, trâm càitóc trên đầu, xà tích và cả cúc bạc… Xà tích là một loại trang sức đi kèm vớidây thắt lưng Xà tích được làm từ bạc trắng và có nhiều loại khác nhau.Thông thường dùng loại xà tích năm dây, có loại vòng qua bụng được mộtvòng, có loại vòng qua bụng được hai vòng Còn có loại chỉ dùng để treo ởthắt lưng, chiều dài khoảng 20 cm, nhưng chân dưới có gắn móng chân taygấu, hổ, có nẹp bạc để giữ.
Đi đôi với chức năng thẩm mỹ, trang sức luôn thể hiện sự giàu sangcủa chủ nhân đeo nó hông chỉ thế, đôi khi trang sức còn là một thứ vũkhí phòng thân rất hiệu quả Đối với người Thái trang sức cổ truyền thường làbạc trắng, có tác dụng ngăn chặn tà ma, gió độc
Ẩm thực: Một trong những đặc trưng nổi bật của dân tộc Thái là văn
hóa ẩm thực Món ăn của dân tộc Thái thể hiện sự kết hợp hài hoà, sự giaolưu, cùng linh khí của núi, của sông, của rừng, của những tấm lòng chân quêgiản dị Văn hóa ẩm thực dân tộc Thái có một cội nguồn triết lí riêng để mãitrường tồn với thời gian Đối với người Thái, ẩm thực là một nghệ thuật đãtrở thành nét văn hóa cổ truyền, sâu sắc
Tất cả món ăn của người Thái đều được chế biến từ nguồn nguyên liệuhoàn toàn tự nhiên Thịt trâu, thịt bò, cá, gà được người Thái tẩm, ướp gia vịrất cầu kỳ và cẩn thận Gia vị để ướp là hạt "Mắc Khén" (một dạng hạt tiêurừng), ớt, tỏi, gừng, muối Một nét độc đáo trong các món ăn của dân tộcThái là khi chế biến những món ăn, người Thái hoàn toàn không dùng dầu mỡ
và rất chú trọng tới việc điều phối các vị đắng - cay - mặn - chát Những vịnày được phối hợp hài hòa khiến thực khách cảm thấy vừa miệng, không cócảm giác ngấy, ngán khi ăn những món nướng, luộc, hấp, hun khói… Bìnhthường, các món ăn của người Thái chia làm 5 phần lớn khác nhau như: Căm
Trang 29Chẳm (đồ chấm, đặt đầu tiên); Căm Nặm (đồ uống, đặt thứ hai); Căm Cắp(đồ
Trang 30ghém, đặt thứ ba); Căm in (phần về thức ăn, đặt thứ tư); Căm hẩu (phần vềcơm, đặt cuối cùng) Trong sự phân loại, tự nó đã bao quát cả âm dương, ngũhành một cách tổng thể Xét riêng từng phần, sự hài hoà cũng lại là một nétriêng tạo nên một tác phẩm vô cùng quyến rũ.
Đối với người Thái, trong một mâm cơm, các món ăn bao giờ cũngphải đảm bảo đủ 2 yếu tố âm, dương Chẳng hạn như món cá mang tính âm(hàn) nên khi ăn, người Thái dùng với một số gia vị mang tính dương như: ớt,
sả, gừng, tiêu để cân bằng Những vị cay này cũng lại được điều hoà bằng vịchua của khế, của chanh Một số món ăn độc đáo của người Thái như: PàPỉng Tộp (cá nướng), Khảu Lam (cơm lam), Nhứa Mù Khủa (thịt lợn hấp),Nhứa Giảng (thịt trâu hun khói), Nậm Pịa được làm rất công phu khiếnngười ăn nhớ mãi không quên Từng món ăn như chứa đựng cả tấm lòng củangười Thái gửi gắm vào đó Mùa nào thức nấy, người Thái đãi khách bằngsản vật được miền đất Tây Bắc hoang sơ và hào phóng ban phát cho như:nhộng ong, cá suối, măng lay, măng đắng, măng ngọt, cải ngồng…
Những phương pháp chế biến món ăn của người Thái hoàn toàn dựavào kinh nghiệm từ ngàn xưa để lại và được lưu giữ từ đời này qua đời khác
đã khiến cho những món ăn của người Thái không thể lẫn với bất kỳ dân tộcnào khác Do nhu cầu giao lưu văn hóa ẩm thực giữa các dân tộc khác nên cácmón ăn của đồng bào Thái (Sơn La) cũng có phần đa dạng hơn inh tế pháttriển, thị trường cung cấp thực phẩm phong phú hơn, do vậy cách chế biếncác món ăn của người Thái cũng đa dạng phong phú hơn và được bổ sung
1.3 Giới thiệu chung về tết Xíp Xí của dân tộc Thái
Trong quá trình xây dựng và phát triển, vùng đất Mộc Châu này đãdiễn ra sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc anh em kéo dài hàng ngàn nămnay Sự hòa trộn văn hóa giữa các dân tộc tạo nên tính đa dạng nhưng thốngnhất về văn hóa chung của cộng đồng anh em Dẫu vậy, mỗi dân tộc vùng
Trang 31miền lại giữ riêng cho mình những bản sắc không hòa trộn, không bị lẫnvới bất cứ
Trang 32dân tộc anh em nào Nó làm nên tính độc đáo của văn hóa tinh thần, văn hóa
cổ truyền
1.3.1 Khái niệm tết Xíp Xí
Tết Xíp Xí là một trong những lễ hội truyền thống ở Mộc Châu cònlưu giữ được đến ngày nay của người Thái trắng Cũng giống như ngườiKinh, vào dịp lễ tết, người Thái cũng làm lễ cúng tổ tiên, trời đất để cầumong ông bà phù hộ Và người Thái Trắng ở miền núi Tây Bắc có một ngàytết với cái tên rất lạ với nhiều những phong tục và nghi thức riêng chỉ cótrong ngày tết ấy: Tết Xíp Xí
Theo tiếng Thái, “Xíp Xí” nghĩa là 14, vì tết được tổ chức đúng vàongày 14/7 âm lịch nên người dân Thái đã lấy luôn cái tên “Xíp Xí” để đặt têncho cái tết của họ Ở nhiều nơi còn gọi tết Xíp Xí là tết trẻ con vì vào ngàynày trẻ em được chăm sóc đặc biệt , đứa trẻ nào cũng được ông bà, cha mẹmay cho những bộ quần áo rực rỡ sắc màu để mặc đi chơi Tết Ngoài ra, tếtcòn có ý nghĩa như dịp "sơ kết" và ăn mừng cho thành quả lao động vất vảtrong sáu tháng đầu của một năm Dịp này, trẻ con không phải chăn trâu, làmviệc nhà mà được vui chơi và thoải mái, ăn những gì chúng thích
1.3.2 Truyền thuyết tết Xíp Xí
Tết Xíp Xí bắt nguồn từ đồng bào dân tộc Thái trắng Các cụ già làng,trưởng thôn cũng không xác định được Xíp Xí bắt đầu từ khi nào, nhưng từbao đời nay, Xíp Xí là ngày tết, ngày lễ hội quan trọng của cả đồng bàongười Thái Qua quá trình di cư và giao thoa văn hóa, Tết Xíp Xí ngày nay
đã dần trở nên phổ biến ở nhiều dân tộc vùng cao Tây Bắc Tuy nhiên, giá trịlịch sử và văn hóa của loại hình sinh hoạt mang tính bản địa cao Thường vàokhoảng thời gian kết thúc vụ thu hoạch, công việc cấy cày cho vụ mùa mớivừa xong, người nông dân thực hiện "quai khẩu púng" (thả trâu vào rừng).Thời gian này khá rảnh rang
Trang 33Tết Xíp Xí được xuất xứ từ một truyền thuyết lâu đời của người Tháitrắng Chuyện kể rằng: Vào ngày Tết Nguyên đán, trẻ con không được ở nhà,chúng bị người lớn "lùa đi" chăn trâu, chăn ngựa đến tối mờ mới được về nhà.
Họ quan niệm tết dành riêng cho người lớn và như thế, trẻ con không hềđược biết đến ngày tết cổ truyền dân tộc Những ngày gần tết, trẻ nghe thấyngười lớn bàn nhiều đến món ăn ngon đã đánh thức sự háo hức, mong chờcủa trẻ thơ Nhưng đến ngày tết, chúng chỉ biết thèm thuồng theo đuôi đàntrâu, đàn ngựa vào trong rừng Với cuộc sống nghèo khó, vô hình trung chúng
bị mất đi quyền được chăm sóc yêu thương của người lớn Văn hóa ngàytết xưa của người Thái chủ yếu được tổ chức quanh bầu rượu Bởi khinhập tiệc, người lớn say sưa ồn ào mà quên lũ trẻ chăn trâu ngoài rừng vàcũng quên không phần cỗ chúng
Ba ngày tết, trẻ con đều phải đi chăn trâu đến tối mịt Khi cúng về đếnnhà thì cũng là lúc bữa tiệc tết kết thúc Trẻ còn chỉ còn biết đứng khép népdưới nhà ngóng trông sự “ban phát” từ bữa tiệc tết của người lớn Nhưng sựngóng trông đó trở nên vô vọng khi bữa cơm đưa đến chỉ là một bát cơm raunhư thường nhật Bàn tiệc còn dư thừa rất nhiều món ngon vật lạ bên hũ rượunồng nhưng trẻ con chỉ biết đó là của người lớn và mình không được phép
Món ăn duy nhất mà trẻ con được thưởng thức vào ngày tết Nguyênđán là món cơm nếp nhiều màu Một món không thể thiếu trong các ngày lễ,tết, cúng bái của người Thái Món cơm nếp này không chỉ tượng trưng chonét văn hóa đặc trưng của đồng bào mà nó còn thể hiện sự đủ đầy cho vụ mùasau của người dân tộc Con trẻ được hưởng đặc sản của vùng miền mình thì sẽthừa hưởng được những đức tính truyền thống tốt đẹp Sự cần cù, chịuthương chịu khó làm ra hạt gạo, sự thông minh trong việc kết hợp cây lárừng để làm ra món cơm nếp màu cho dân tộc và sự khéo léo trong việc đồ
Trang 34xôi để có gói cơm thơm dẻo… Lũ trẻ tủi thân đã buộc mõm tất cả trâu, ngựalại, không cho
Trang 35ăn cỏ Từ đó, để sửa sai, người Thái lấy ngày 14 tháng 7 âm lịch làm Tếtriêng cho trẻ em, nên tết Xíp Xí còn được gọi là Tết trẻ con Sự thèm thuồngmón ngon ngày tết đã trở thành mơ ước của con trẻ Chúng mong ước nhanhchóng được trở thành người lớn để được nếm các món ngon mà chúngchưa từng biết mùi vị Và trên tất cả chúng mong trở thành người lớn để cóquyền được hưởng mọi thứ chúng thích, không bị kìm hãm bởi bất cứ
“quyền lực” nào Chính những ước muốn quá giản dị đó đã ra đời tết Xíp Xí– tết dành riêng cho trẻ con Từ tích xưa, người Thái chọn dịp này để quantâm, chăm sóc đặc biệt cho trẻ em Gần tết, trẻ em sẽ được ông bà, cha mẹchuẩn bị cho những bộ quần áo mới thật đẹp (có thể may hoặc mua) để chuẩn
bị đi chơi tết
Vì thế theo quan niệm của người Thái trắng, tết Xíp Xí không chỉ làngày con cháu hướng về tổ tiên mà đồng thời, là dịp người lớn dành sự quantâm, chăm sóc đặc biệt đến thế hệ trẻ Theo như kể lại, qua kinh nghiệm trongcuộc sống, người Thái cho rằng ngày giữa tháng 7 có trăng tròn, đẹp và sángnhất Không chỉ có con người mà ngay các loài như hổ, gấu, sư tử… đềumuốn lấy cho được ông trăng ngày rằm (thực tế đây là hiện tượng nguyệt thựchay “gấu ăn trăng”) Chính vì vậy ngay từ đêm 14, họ tổ chức ăn tết, cúngrằm trước Điều này thể hiện ước nguyện chinh phục tự nhiên, chinh phục vũtrụ của con người Từ đó, cứ đến ngày 14/7 hàng năm, dân tộc Thái trắng lạiđón Tết Xíp Xí trong không khí rộn ràng Cũng có một số nơi, đồng bào Tháitrắng gọi tết Xíp Xí với 1 tên gọi khác - Tết xá tội Nhưng ở đây là xá tội chongười sống, khác với lễ xá tội vong nhân của người Kinh vào rằm tháng 7hàng năm Dịp này, người ta tổ chức cúng, dâng lễ vật ở các miếu thờ đầulàng cuối xóm nhằm tạ ơn ông chủ miếu đã cho họ mạnh khỏe, may mắn, cầucác thần bỏ qua cho họ những tội lỗi đã phạm phải
Tiểu kết chương 1: Mộc Châu là một khu vực có vị thế rất đắc địa để