tư tưởng, quan niệm có ý nghĩa đối với đời sống hiện thực vừa chạm đếnchiều sâu cảm xúc của con người… Ký là nơi gặp gỡ của nhiều nhân tố: trítuệ và cảm xúc, sự thật cuộc sống và giá trị
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN -
LÊ THỊ MAI HIÊN
“THƯỢNG KINH KÝ SỰ”
(LÊ HỮU TRÁC) DƯỚI GÓC NHÌN THỂ LOẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận Văn học
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp: Thượng kinh ký sự
(Lê Hữu Trác) dưới góc nhìn thể loại, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô
giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy suốt thời gian học tập, nghiên cứu vàrèn luyện ở khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp: “Thượng kinh ký sự”
(Lê Hữu Trác) dưới góc nhìn thể loại, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô
giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy suốt thời gian học tập và rèn luyện ởkhoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin đặc biệt tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Mai Thị Hồng Tuyết,người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để giúp đỡ tôi hoàn thành khóaluận này
Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn gia đình, bạn bè những người luôn độngviên, khích lệ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 9 tháng 5 năm 2016
Người viết
Lê Thị Mai Hiên
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình của TS Mai Thị Hồng Tuyết,sau một thời gian cố gắng tôi đã hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp:
Thượng kinh ký sự (Lê Hữu Trác) dưới góc nhìn thể loại Tôi xin cam đoan
các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực, không trùnglặp với các đề tài khác Trong khóa luận có sử dụng những nhận xét, đánh giácũng như các số liệu của các tác giả khác đều có những thông tin trích dẫn vàđược ghi nguồn trích rõ ràng
Hà Nội, Ngày 9 tháng 5 năm 2016
Người viết
Lê Thị Mai Hiên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của khóa luận 6
7 Bố cục của khóa luận 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỂ LOẠI KÝ VÀ KÝ SỰ 7
1.1 Khái quát chung về thể ký 7
1.1.1 Sự xuất hiện và phát triển của thể ký ở Việt Nam 7
1.1.2 Một số đặc điểm của thể ký 14
1.1.2.1 Ký ghi chép sự thật khách quan và tôn trọng tính xác thực của đối tượng miêu tả 14
1.1.2.2 Những vấn đề mới đặt ra xung quanh vấn đề sự thực trong ký 17 1.1.2.3 Hình thức đa dạng của các thể ký văn học 21
1.2 Khái quát chung về thể loại ký sự 22
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của ký sự trong văn học Việt Nam 22
1.2.2 Một số đặc điểm của thể loại ký sự 23
CHƯƠNG 2: THƯỢNG KINH KÝ SỰ DƯỚI GÓC NHÌN THỂ LOẠI 27
2.1 Vấn đề sự kiện trong Thượng kinh ký sự 27
2.1.1 Sự kiện “thượng kinh” 27
2.1.1.1 Hình tượng bức tranh thế giới qua sự kiện “thượng kinh” 31
2.1.1.2 Sự thật và huyền thoại trong Thượng kinh kí sự 41
2.2 Hình tượng tác giả trong Thượng kinh kí sự 46
Trang 52.2.2 Một số đặc điểm của hình tượng tác giả qua Thượng kinh ký sự 52
2.2.2.1 Nhân cách cao cả của Hải Thượng Lãn Ông 522.2.2.2 Vấn đề “tính tự mê” ở cái “tôi” tác giả 57KẾT LUẬN 62TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6tư tưởng, quan niệm có ý nghĩa đối với đời sống hiện thực vừa chạm đếnchiều sâu cảm xúc của con người… Ký là nơi gặp gỡ của nhiều nhân tố: trítuệ và cảm xúc, sự thật cuộc sống và giá trị nghệ thuật đích thực…
Ký sự là một thể loại của ký, thường ghi chép về những sự kiện, nhữngcâu chuyện Ký sự ra đời từ rất sớm, nó không chỉ là những ghi chép thôngthường mà còn phản ánh những vấn đề mang tầm vóc rộng lớn Với ký sựngười viết có thể bộc lộ một cách trực diện, rõ ràng về bản thân, cũng như ghilại các sự kiện diễn ra trong thực tế Tiếp cận ký sự dưới góc nhìn thể loại cóthể nói là một hướng đi phù hợp với nghiên cứu văn học hiện nay Một mặt
nó giúp ta tìm hiểu đặc trưng của thể ký dưới một góc nhìn mới; mặt khác dựatrên lí thuyết của đặc trưng thể loại ta có thể lí giải những hiện tượng văn học
ký tưởng chừng đã quá quen thuộc với độc giả từ lâu Với ý nghĩa ấy, có thểnói hướng tiếp cận này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều khám phá mới trong nghiêncứu thể loại ký
Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác là một tác phẩm văn học đặc sắc.
Tác phẩm được đánh giá là đỉnh cao của thể ký trung đại Việt Nam và đánh
dấu bước phát triển mới trong văn xuôi tự sự trung đại Thượng kinh ký sự
được coi là “Tác phẩm ký nghệ thuật đích thực, đầu tiên của Việt Nam” [32;
tr.435] Tác phẩm mang một tầm vóc lớn, không chỉ ở góc độ giá trị văn học,
lịch sử, bảo lưu văn hóa dân tộc mà còn có giá trị giáo dục to lớn vì vậy mà
nó được đưa vào giảng dạy trong nhà trường Việc nghiên cứu tác phẩm dưới
Trang 7góc nhìn thể loại sẽ giúp độc giả có cái nhìn mới về những nét độc đáo trong
Thượng kinh ký sự; sẽ góp phần khẳng định giá trị của tác phẩm cũng như vị
trí của Lê Hữu Trác – một danh y lỗi lạc, một nhà thơ, nhà văn tài hoa trongnền văn học trung đại Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
Thượng kinh ký sự - Lê Hữu Trác được nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng
Na đánh giá là “Một thiên tùy bút hiếm có, một đỉnh cao của thể ký trung đại,
là tác phẩm ký nghệ thuật đích thực, đầu tiên của Việt Nam” [32;tr.435] Ra
đời vào cuối thế kỉ XVIII, Thượng kinh ký sự là một bức tranh sinh động về
xã hội phong kiến đương thời Tác phẩm không chỉ ghi chép về sự kiện
“thượng kinh” mà còn thể hiện được cái nhìn thế sự, cảm xúc của chính tác
giả Lê Hữu Trác Nghiên cứu Thượng kinh ký sự là một đề tài nhận được sự
quan tâm chú ý từ giữa thế kỉ XX Vì vậy mà đã có một số công trình nghiên
cứu về tác giả, tác phẩm này: Một số bài báo nghiên cứu về tác phẩm Thượng
kinh ký sự xuất hiện trên những tạp chí khoa học chuyên ngành như:
+ “Mấy suy nghĩ về thơ văn Lê Hữu Trác” (1964) của Nguyễn Huệ Chi,
Tạp chí Văn học số 9
+ “Lê Hữu Trác và con đường của một người tri thức trong cơn phong
ba dữ dội nửa cuối thế kỉ XVII” (1970) của Nguễn Huệ Chi, Tạp chí Văn học
số 6
+ “Mấy đoạn văn hay của Lê Hữu Trác” (1971) của Nguyễn Huệ Chi,
Tạp chí Văn học số 2
Nhà phê bình Nguyễn Huệ Chi đã đưa ra những nhận định, đánh giá về
tác phẩm Thượng kinh ký sự trên tạp chí Văn học Tác phẩm là cuốn ký sự về
chuyến đi thăm kinh đô năm 1782 của Lê Hữu Trác, theo lệnh của chúaTrịnh Con đường dẫn danh y ra Thăng Long chữa bệnh cho cha con chúaTrịnh Sâm cũng là con đường dẫn ông trở lại quá khứ, trở lại xã hội “trâm anh
Trang 8thế phiệt”, thậm chí ông còn có thể trở lại địa vị bề tôi của thiên tử mà ông
từng rời bỏ xưa kia Cho nên, Thượng kinh ký sự trước hết là câu chuyện của
một tâm trạng: bàng hoàng, thao thức, đấu tranh với chính mình chống lại mọicám dỗ, tìm mọi cách để được trở về
Về nội dung tư tưởng của tác phẩm, trongViệt Nam Văn học sử giản
ước tân biên, Phạm Thế Ngũ đã có cái nhìn khá đầy đủ về thể loại ký, cũng
như tác phẩm Thượng kinh ký sự Ông cho rằng, nó là “Một tác phẩm hiếm có
và đặc sắc trên nhiều phương diện trong văn học sử chữ Hán nước ta xưa”
[35;tr.122] Bên cạnh đó ông còn thấy được Thượng kinh ký sự, cùng với một
số tác phẩm tiêu biểu khác đã góp phần phản ánh bộ mặt xã hội phong kiếnViệt Nam: “Duy chỉ ở mấy trang ký, nhất là tập ký độc nhất vô nhị này, ngườiđọc mừng rỡ bắt mạnh thấy một chút gì xác thực, linh hoạt về nếp sống xưa,
về con người xưa” [34; tr.126] Ông chú ý nhiều đến giá trị phản ánh hiệnthực mà tác phẩm mang lại: “Tác giả dẫn chúng ta đi dự một cuốn phim xaxưa của một giai đoạn lịch sử với sân khấu là đất Thăng Long cổ kính”[35;tr.216] Tuy nhiên công trình chưa đề cập nhiều đến vấn đề về thể loại củatác phẩm
Về hình thức ký sự, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức trong công trình Lí
luận văn học (1989) cho rằng: “Hình thức ký sự đã có từ lâu trong văn học
Việt Nam như Thượng kinh ký sự - Lê Hữu Trác, một số bài ký trong Vũ
trung tùy bút – Phạm Đình Hổ…” [17; tr.288].
Năm 2001, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na cho ra đời công trình Văn
xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 2: Ký Tác giả đã bàn đến một số đặc
điểm của thể loại ký, ông cho rằng: “Ký là loại hình văn học phức tạp nhấttrong văn xuôi tự sự thời trung đại bởi bản thân khái niệm ký hàm chứa một
nội diên có biên độ hết sức co dãn” [35; tr.9] Trong các công trình: Con
đường giải mã văn học trung đại Việt Nam (2007), Văn xuôi tự sự Việt Nam
Trang 9thời trung đại (2001) Nguyễn Đăng Na đã có cái nhìn khá đầy đủ về thể loại
ký: quá trình hình thành và phát triển, đặc trưng thể loại và những lời đánh
giá, nhận xét khá độc đáo về tác phẩm Thượng kinh ký sự Ông cho rằng:
“Thượng kinh ký sự là tác phẩm ký nghệ thuật đích thực đầu tiên của Việt
Nam Nó không chỉ là đỉnh cao, là sự hoàn thiện thể ký Việt Nam thời trungđại, mà còn là mực thước cho lối viết ký sau này” [32;tr.435] Theo ông:
“Thượng kinh ký sự là tác phẩm ký nghệ thuật đích thực, đầu tiên của văn học
trung đại” Bởi lẽ tác phẩm được xây dựng bằng một hệ thống sự kiện đơngiản, được ghi chép theothời gian diễn ra đè nặng lên tâm trạng Lê Hữu Trác.Đằng sau những sự kiện đơn giản ấy, là tâm trạng, nỗi lòng của một thầythuốc, một nhà thơ, nhà văn tài hoa Chính vì lẽ đó, tác phẩm không chỉ mangtính chất của một ký sự mà còn có thể xem là một nhật ký, du ký, một bài ký
phong cảnh Mặt khác ông cũng thấy được cái tôi cá nhân trong Thượng kinh
ký sự: “Chưa bao giờ và chưa có một tác phẩm nào mà cái tôi cá nhân của tác
giả được bộc lộ một cách mạnh mẽ, rõ ràng như ở Thượng kinh ký sự”
[32;tr.438] Từ đó ông đi đến kết luận: “Đến Lê Hữu Trác, thể ký văn họcđích thực thật sự ra đời tạo đà cho hàng loạt các tác phẩm ký khác”[32;tr.439]
Những công trình nghiên cứu lớn với những nội dung phong phú đãchứng minh được sự phát triển của thể loại ký trung đại Việt Nam và vị trí
của Thượng kinh ký sự trong bước phát triển đó Nghiên cứu “Thượng kinh ký
sự (Lê Hữu Trác) dưới góc nhìn thể loại” không phải là vấn đề thực sự mới
mẻ song là điều cần thiết bởi ở mỗi đề tài đều đem lại cơ hội tiếp cận nghiêncứu sâu vấn đề cho người tham gia nghiên cứu Đây là điều kiện giúp ta đisâu, hiểu đặc trưng làm nên giá trị độc đáo cho thể ký bằng những lí luận,thống kê mang tính khoa học Việc nghiên cứu này cũng giúp chúng ta có cái
Trang 10nhìn tổng thể và toàn diện về giá tri tác phẩm Thượng kinh ký sự của Lê Hữu
Trác cũng như tìm thấy những giá trị mới trong sáng tác của ông
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này bài viết nhằm hướng tới mục đích: Cung cấp kiếnthức về những đặc điểm của ký và ký sự Đồng thời đề tài giúp người đọc
hiểu được những đặc trưng thể loại đã tạo nên giá trị độc đáo cho Thượng
kinh ký sự.
Để đạt được mục đích trên, bài viết có nhiệm vụ:
- Trình bày khái quát nhưng vấn đề chung về thể ký văn học, thể loại
ký sự và sự ra đời của tác phẩm Thượng kinh ký sự.
- Phân tích Thượng kinh ký sự dưới góc nhìn thể loại để làm sáng tỏ các
vấn đề lý thuyết thể loại Qua nghiên cứu, bài viết làm nổi bật nên giá trị vănhọc, giá trị nghệ thuật của tác phẩm Mang đến cho bạn đọc một cái nhìn mới
mẻ về Thượng kinh ký sự - một tác phẩm ký mẫu mực của văn học trung đại
Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những vấn đề liên quan đến
thể loại ký và ký sự qua tác phẩm Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Nxb
Văn học, Hà Nội (2010)
- Phạm vi nghiên cứu:
Trong khi nghiên cứu, chúng tôi tập trung vào những vấn đề cơ bảnnhất của thể loại được biểu hiện trong tác phẩm Một số vấn đề có tính giaothoa giữa ký và ký sự, nếu đã được trình bày ở phần loại thể thì sẽ không trìnhbày lại ở phần thể loại nữa
Nghiên cứu Thượng kinh ký sự dưới góc nhìn thể loại, chúng tôi không
đặt ra mục riêng về hình thức tác phẩm mà xen lồng vào trong các mục trìnhbày về sự kiện và hình tượng tác giả Vì suy cho cùng, hình thức luôn mang
Trang 11tính nội dung và nội dung phải được thể hiện qua hình thức sao cho khóa luậnđược chặt chẽ.
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh – hệ thống
- Phương pháp tổng hợp
6 Đóng góp của khóa luận
- Làm rõ hơn đặc trưng thể loại ký và ký sự Trình bày một cách hệthống các vấn đề liên quan đến thể loại ký và ký sự
- Thấy được những giá trị của tác phẩm Thượng kinh ký sự ở góc độ thể
loại Đây sẽ là tài liệu hữu ích cho những người muốn tham khảo về thể loạinói chung và về tác phẩm nói riêng
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chínhcủa Khóa luận được triển khai qua hai chương:
Chương 1: Khái quát chung về thể loại ký và ký sự
Chương 2: Thượng kinh ký sự dưới góc nhìn thể loại
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỂ LOẠI KÝ VÀ KÝ SỰ 1.1 Khái quát chung về thể ký
1.1.1 Sự xuất hiện và phát triển của thể ký ở Việt Nam
So với các thể loại văn học thì ký là một thể loại ra đời sớm trong lịch
sử văn học nhân loại, bởi nó có sự năng động, linh hoạt, nhạy bén trong việcphản ánh hiện thực một cách trực tiếp nhất, sinh động nhất Tác phẩm ký vừa
có khả năng đáp ứng nhu cầu bức thiết của thời đại, đồng thời vẫn thể hiệnđược tiếng nói sâu sắc của nghệ thuật Thể ký xuất hiện rất sớm trong lịch sửvăn học và phát triển qua nhiều thời kì Ở mỗi giai đoạn ký lại có những đặcđiểm khác nhau với sự góp mặt của các tên tuổi lớn cùng với những tác phẩmđặc sắc
* Ký thời trung đại ở Việt Nam
Ký là loại hình văn học phức tạp nhất trong văn xuôi tự sự Việt Namthời trung đại, bởi khái niệm ký hàm chứa một nội diên có biên độ hết sức codãn Thoạt tiên, ký có nghĩa là ghi chép sự việc gì đó để khỏi quên và từ kýthường được dùng để chỉ công văn giấy tờ mang tính hành chính Cùng với sự
ra đời của văn học trung đại Việt Nam vào thế kỷ X, dần dần ký cùng vớitruyện ngắn và tiểu thuyết chương hồi hợp thành văn xuôi tự sự trung đại.Tuy nhiên, bản thân ký có các bước phát triển riêng biệt được chia làm ba giaiđoạn
Giai đoạn đầu tiên từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, đây là giai đoạn đặt nềnmóng cho dòng tự sự viết dưới dạng ký Đặc điểm của giai đoạn này là vănxuôi tự sự chưa tách khỏi văn học dân gian và văn học chức năng.Thời kì này,loại hình truyện ngắn đã đạt được những thành tựu đáng kể với các tác phẩm:
Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên, Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế
Pháp, Ngoại sử ký của Đỗ Thiện Còn ký thì chưa đạt được thành tựu như
Trang 13vậy vì nó vẫn dựa hoàn toàn vào văn học chức năng Mặt khác, nếu truyệnđược phép đi tìm thời gian đã mất, được tưởng tượng thì đề tài của ký bị hạnchế trong khuôn khổ viết về hiện tại, viết về những điều mắt thấy tai nghe.Thêm vào đó, cuộc sống lúc đó không có nhu cầu về ký và phương tiện inkhắc cũng chưa nhiều nên loại ký viết thành tập chưa có điều kiện ra đời Kýgiai đoạn này chủ yếu ở dưới dạng văn khắc và tự bạt Nội dung của văn khắckhông nổi bật nhưng văn phong khá đa dạng Mỗi bài thường kết hợp giữa tảcảnh, tả tình, kể việc, kể người với việc phát biểu trực tiếp cảm nghĩ cá nhân
khiến chúng mang đậm chất ký Một số văn bia tiêu biểu như: Bảo Ninh Sùng
Phúc tự bi, Càn Ni Sơn Hương Nghiêm tự bi minh (khuyết danh), Thiên phúc
tự hồng chung minh văn của Thích Hưng Huệ… Tự (đặt đầu tác phẩm) và bạt
(đặt sau tác phẩm) viết ra nhằm mục đích giới thiệu, bình tác phẩm của ngườikhác hoặc bản thân tác giả để bày tỏ quan điểm của mình đối với văn chương,
học thuật Một số bài tự nổi tiếng như: Thiền Tông chỉ nam tự của Trần Thái Tông, Vạn Kiếp tông bí truyền thư tự của Trần Khánh Dư, Việt Điện u linh
tập tự của Lý Tế Xuyên…
Giai đoạn thứ hai từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, xảy ra nhiều biến cốlịch sử Sau khi giành được độc lập, vua Lê đặt ngay cho đình thần nhiệm vụsưu tầm, sao chép, khôi phục các thư tịch đã mất hoặc còn sót lại trong dângian Sự bùng nổ về tác phẩm sưu tầm, san định cũng như sáng tác trên nhiềulĩnh vực làm cho thể văn tự bạt cũng phát triển theo Tác giả của những tự bạt
đã trình bày trực tiếp và thẳng thắn quan điểm của mình trên nhiều lĩnh vực,bởi vậy, vai trò của người sưu tầm, biên soạn phải ra sức biện bạch đúng sai
Ký dưới dạng tự bạt đến hậu kì trung đại tách dần ra thành phê điểm văn học
và tách khỏi văn xuôi tự sự Song, nó đã đặt nền móng cho loại ký nghệ thuật:
Tự bạt là tiếng nói cá nhân người viết, khi chưa có vai trò cá nhân thì ký đíchthực chưa thể ra đời
Trang 14Ở giai đoạn này, ký chưa thành một thể riêng, nó chỉ là một phần nhỏnằm trong tác phẩm tự sự nhiều thiên Ranh giới giữa truyện và ký hết sức mờnhạt, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na: “Điều làm nên sự phân biệt giữatruyện và ký về bản chất là thái độ người cầm bút Nếu người cầm bút táchmình khỏi các sự kiện, các nhân vật đang được miêu tả như người ngoài cuộcthì đấy là truyện, ngược lại, tác giả hòa mình vào sự kiện, các nhân vật với tưcách là người trong cuộc thì đấy là ký” [35; tr.37] Hồ Nguyên Trừng với tác
phẩm Nam Ông mộng lục, Lê Thánh Tông với Thánh Tông di thảo và Nguyễn
Dữ với Truyền kì mạn lục là những người đặt nên móng cho ký trung đại với
việc “ghép” đoạn suy tư và bình giá đối tượng đang phản ánh vào cuối mỗithiên tự sự
Ký chỉ thực sự ra đời ở giai đoạn thứ ba từ thế kỷ XVIII đến giữa thế
kỷ XIX với sự ra đời của Thượng kinh ký sự (1783) của Lê Hữu Trác Tác
phẩm là đỉnh cao, hoàn thiện thể ký trung đại và là mẫu mực cho lối viết ký
với tác phẩm sau đó như: Bắc hành tùng ký – Lê Quýnh, Vũ trung tùy bút – Phạm Đình Hổ, Tang thương ngẫu lục – Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án, Tây
hành kiến văn kỷ lược – Lý Văn Phức… Nửa cuối thế kỷ XIX là giai đoạn đời
sống xã hội và văn học nghệ thuật bị đảo lộn dưới những chiến dịch xâm lượccủa thực dân Pháp.Cũng như truyện ngắn và tiểu thuyết chương hồi, sau khiđạt đỉnh cao ở giai đoạn thứ ba, ký rơi vào bế tắc Song ở giai đoạn này vẫn
có một tác phẩm ký đáng chú ý là Giá Viên biệt lục của nhóm tác giả Phạm
Phú Thứ, Phan Thanh Giản và Ngụy Khắc Đản Nội dung của tác phẩm là kể
về 9 tháng ở Tây Âu của phái bộ Đại Nam Tuy có hạn chế là tác phẩm dành
cho vua đọc (tức trở thành một biên bản) nhưng Giá Viên biệt lục vẫn đánh
dấu bước phát triển mới về quy mô phản ánh và đối tượng phản ánh củaký.Những nỗ lực cuối cùng này không thể cứu vãn được sự bế tắc của kýtrung đại Cũng như truyện ngắn và tiểu thuyết chương hồi, đến đây ký trung
Trang 15đại kết thúc sứ mệnh lịch sử nhường bước cho ký hiện đại với những tên tuổinhư Phạm Quỳnh, Nguyễn Tuân…
* Ký những năm đầu thế kỉ XX
Bước sang thế kỷ XX, cùng với sự phát triển vượt bậc của chữ Quốcngữ và việc ra đời các loại báo, tạp chí, các nhà xuất bản khắp trong cả nướcthì thể tài ký cũng xuất hiện và mau chóng giữ một vị trí quan trọng trong đờisống văn học Đầu tiên, chúng ta phải ghi nhận những sáng tác có ý nghĩa đặtnền móng của Tản Đà (1889-1939) - người đã có công khai sinh cho nhiều thể
văn trong văn học Việt Nam buổi đầu thế kỷ Ông khai bút cho mục “Việt
Nam nhị thập kỷ - Xã hội ba đào ký” trên An Nam tạp chí Tản Đà viết nhiều
bài phiếm luận có tính cách bút ký, vì ông đã căn cứ vào cuộc đời để phát
biểu tư tưởng của mình như: Luận về ăn ngon, Thằng người ngây cưỡi con
ngựa hay… Thời kì này cùng với sự phát triển của báo chí thì các tác phẩm
du ký – du hành, ghi chép, tùy bút được chú ý in ấn, với những tên tuổi củaPhạm Quỳnh, Thiện Đình, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Tiến Lãng, Đông
Hồ, Mộng Tuyết Trên tạp chí Nam Phong xuất hiện những tác phẩm tiêu
biểu như : Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác, Lại tới Thần kinh của Nguyễn Tiến Lãng, Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam kỳ và nhất là Pháp du hành
Ở chặng 1930-1939, thể loại ký về cơ bản đã định hình phong cáchnghệ thuật với các thể văn như: phóng sự, hồi ký, nhật ký, bút ký, du ký… Sự
xuất hiện của phóng sự Tôi kéo xe (1932) của Tam Lang có ý nghĩa đặc biệt
Trang 16quan trọng Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại đã viết: “Tôi kéo xe là
một quyển phóng sự giá trị, nó lại là một quyển phóng sự trước nhất ở nước
ta, người ta có thể coi nó là một quyển mở đầu cho lối văn phóng sự trong vănchương Việt Nam” [6; tr 512] Trước hết, tác phẩm vừa xác lập dòng chủ lưucủa thể ký, nghĩa là chính thức đưa thể văn phóng sự lên ngôi, đồng thời mởđầu cho một kiểu loại văn học mới Như đã nói trên, Tam Lang được vinhdanh là người mở đầu cho thể loại phóng sự ở Việt Nam Những tác phẩm củaông đã đạt đến giá trị nghệ thuật chuẩn mực của thể phóng sự Qua các phóng
sự, Tam Lang đã nhập thân vào cuộc sống hàng ngày của người phu xe (Tôi
kéo xe), kiếp sống long đong của gái làm tiền nơi sông nước (Đêm Sông Hương) và tiếng nói châm biếm sâu cay bọn quan lại, nghị gật (Lọng cụt cán) Những tác phẩm của ông là sự trải nghiệm của người trong cuộc về
người thật, việc thật, kể lại những điều mắt thấy tai nghe Phóng sự nào cũngmang trong mình tư tưởng bác ái, luôn bênh vực người nghèo khổ vì lẽ phải,
vì tinh thần nhân đạo
Người đưa phóng sự Việt Nam đến đỉnh cao là Vũ Trọng Phụng Với
những tác phẩm như: Cạm bẫy người (1933), Kỹ nghệ lấy Tây(1934), Cơm
thầy, cơm cô, Lục xì (1937), Một huyện ăn tết (1938) ông được mệnh danh
là “ông vua phóng sự đất Bắc” Các phóng sự của Vũ Trọng Phụng thể hiện rõ
sự đa dạng về đề tài, về khả năng phân tích sự kiện và tâm lý nhân vật, về tầmbao quát nội dung xã hội cũng như nghệ thuật dẫn truyện Những tác phẩmcủa ông đã lột trần được những cái hạ đẳng của xã hội
Ngô Tất Tố được tôn vinh là “nhà báo có biệt tài” người tạo nên độ sâucho thể loại phóng sự.Ngô Tất Tố viết khá nhiều phóng sự, ghi chép, tiểuphẩm báo chí Ông là nhà phóng sự xuất sắc viết về đề tài nông dân và làng
cảnh thôn quê trước Cách mạng, đặc biệt với các tác phẩm Tập án cái
đình (1939), Việc làng (1940)… Là người có vốn văn hoá sâu rộng và thông
Trang 17thuộc nhiều mặt đời sống dân quê, Ngô Tất Tố đã phản ánh được bức tranh xãhội rộng lớn, bao gồm từ phong tục tập quán đến cuộc sống thường ngày, từnỗi khổ cùng cực của người dân đen đến muôn mặt tệ lậu đám chức dịch NgôTất Tố xứng đáng được coi là nhà xã hội học nghệ thuật ngôn từ xuất sắc bậcnhất về nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.
Với Nguyễn Tuân, tác phẩm của ông có khi được gọi là du ký như: Một
chuyến đi (1938), có khi là phóng sự như Ngọn đèn dầu lạc (1939), Tàn đèn dầu lạc (1941), tuỳ bút như Chiếc lư đồng mắt cua (1941) Những bài tùy bút,
bút ký của ông có những lối hành văn đặc biệt Bằng ngòi bút nghệ thuật tàihoa của mình ông đã vẽ lên bức tranh sống động về cuộc sống Ngoài ra, thể
ký còn có sự đóng góp của những cây bút như: Trọng Lang, Phùng Tất Đắc,Nhất Linh, Thanh Tịnh… Những tên tuổi này góp phần làm phong phú và tạonên dòng chảy chung của thể ký Việt Nam, tạo tiền đề cho cả một quá trìnhphát triển tiếp theo
Ở chặng 1940-1945, cùng với sự góp mặt của những cây bút giai đoạntrước như Ngô Tất Tố, Trọng Lang… thì giai đoạn này xuất hiện nhiều câybút mới như: Nguyễn Đình Lạp, Thạch Lam, Vũ Bằng… Một mặt các tácphẩm ký vẫn tiếp tục khai thác hiện thực đời sống muôn màu muôn vẻ dướichế độ thực dân nửa phong kiến; mặt khác đã quan tâm nhiều hơn đến các vấn
đề dân tộc, từng bước ý thức sâu sắc hơn về tính dân tộc và ý thức về yêu cầugiải phóng dân tộc đang ngày càng trở nên rõ nét hơn Các tác phẩm tiêu biểu
như: Lều chõng (1941) của Ngô Tất Tố, Làm tiền (1942) của Trọng Lang,
Ngoại ô của Vũ Đình Lạp, Hà Nội băm sáu phố phường (1943) của Thạch
Lam, Cai (1944) của Vũ Bằng…
Ký Việt Nam từ đầu thế kỉ XIX đến năm 1945 có bước phát triển vượtbậc Nó không chỉ phong phú về đề tài, nội dung mà còn đặc sắc về nghệ
Trang 18thuật Sự lớn mạnh về đội ngũ sáng tác của thể loại này cho thấy được vị trí
và nhu cầu phát triển của thể loại này trong nền văn học Việt Nam
* Ký những năm 1945-1986
Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến trước thời kì đổi mới 1986 là mộtgiai đoạn văn học đặc thù Nó hình thành và phát triển trong điều kiện đấtnước có chiến tranh và những năm hậu chiến Các thể loại văn học viết ranhằm phục vụ kháng chiến, cổ vũ tinh thần đấu tranh của quần chúng nhândân, thể ký không nằm ngoài sứ mệnh như vậy Giai đoạn 1945-1986, là giaiđoạn xác lập hệ thống lí thuyết về ký Lần đầu tiên các thể loại có chức năng
và hình thức ghi chép sự thật như: ký sự, tùy bút, phóng sự, nhật ký, du ký,truyện ký, bút ký được tập hợp thành một loại hình văn học có tên là ký Nếunhư trước 1945 phóng sự chiếm ưu thế thì sau 1945 ta thấy phóng sự gần nhưvắng bóng nhường chỗ cho sự phát triển mạnh mẽ của các thể loại ký sự, tùybút và truyện ký Trong giai đoạn đầu của nền văn học thời kì này, ký sự pháttriển mạnh mẽ, càng về sau các thể loại như tùy bút, bút ký, truyện ký chiếm
vị thế ưu trội Thể ký giai đoạn này có khối lượng tác phẩm khá đồ sộ, đó là
những ký sự ở giai đoạn đầu kháng chiến chống Pháp như: Nhật kí ở rừng của Nam Cao, Ký sự của Trần Đăng, Ký sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng,
Thu Đông năm nay của Nguyễn Đình Thi, Vượt Tây Côn Lĩnh của Tô Hoài…
Hay là những bút ký: Người chiến sĩ khai hoang của Tô Hoài, Đường chúng
ta đi của Nguyên Ngọc, Những ngày nổi giận của Chế Lan Viên, Đại hội anh hùng của Nguyễn Thi, Con hồ Thủ đô của Nguyễn Tuân, Rất nhiều ánh lửa
của Hoàng Phủ Ngọc Tường,… Giai đoạn này còn có những tùy bút và bút ký
xuất sắc như: Người lái đò sông Đà, Tùy bút kháng chiến của Nguyễn Tuân,
Một chuyện chép ở bệnh viện, Bức thư Cà Mau của Anh Đức… Các tập
truyện ký nổi tiếng như: Sống như anh của Trần Đình Vân, Người mẹ cầm
súng của Nguyễn Thi, Bất khuất của Nguyễn Đức Thuận Những tác phẩm
Trang 19này đã gây được tiếng vang lớn trong dư luận và được coi là những tác phẩmtiêu biểu của văn học sau những năm 1960.
Ký 1945-1986, là đại diện cho tiếng nói của cộng đồng, của quốc gia,dân tộc, tiếng nói của những người chiến thắng Trong các tác phẩm ký thời kìnày vang lên một giọng điệu tràn đầy niềm tự hào, lạc quan của người chiếnthắng Nó đã thực sự trở thành một mũi nhọn xông xáo khắp các chiến trườngkhói lửa, các nẻo đường mưa tuôn nắng dội, len lỏi vào những ngóc ngách tậncùng của đời sống Ký giai đoạn này là bản anh hùng ca về những tấm gươngsáng chói trong kháng chiến hay là cảm hứng hồi sinh của đất nước trongcông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Những tác phẩm ký là tiền
đề, là bước đệm cho sự phát triển của truyện ngắn và tiểu thuyết sau này
1.1.2 Một số đặc điểm của thể ký
1.1.2.1 Ký ghi chép sự thật khách quan và tôn trọng tính xác thực của đối tượng miêu tả.
Tác phẩm ký ra đời gắn liền với những biến cố lịch sử mang tính thời
sự, những vấn đề nóng bỏng của đời sống Vì thế, các nhà viết ký trước hếtphải hướng đến tìm tòi, nghiên cứu, phát hiện và ghi lại những người thật,việc thật của cuộc sống Chính điều này làm cho thể ký văn học gần với kýbáo chí, phát triển cùng với sự phát triển của ký báo chí, đáp ứng nhu cầu thời
sự của con người trong một xã hội mới Sự thật là hạt nhân quan trọng nhấtlàm nên đặc trưng của thể ký Khi tiếp nhận một tác phẩm ký, bao giờ ta cũngthấy nổi lên trên bề mặt của nó là một lớp thông tin, sự kiện, nhân vật, thờigian, không gian cụ thể đơn nhất.Viết về cái có thật trong cuộc sống, ký vănhọc có khả năng mạnh mẽ trong việc tạo ra niềm tin, sức thuyết phục đối với
bạn đọc Chẳng hạn, đọc tác phẩm ký Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi
chúng ta ngưỡng mộ, cảm phục đối với người anh hùng có thực đã sống vàđánh giặc ở mảnh đất Trà Vinh Nhiều tác phẩm ký văn học có giá trị như
Trang 20những tư liệu lịch sử quý giá, có ý nghĩa to lớn với nhận thức của người đọc.
Vì thế, sự bịa đặt, thêm thắt sẽ làm mất đi sức thuyết phục và xúc cảm thẩm
mĩ đối với độc giả Do trần thuật người thật, việc thật tác phẩm ký văn học cógiá trị như những tư liệu lịch sử quý giá, có ý nghĩa và tác dụng rất lớn ngayđối với sự sáng tạo nghệ thuật về sau
Sự thật khách quan được các tác phẩm ký biểu hiện qua những yếu tốsau: Thứ nhất, người trần thuật xưng tôi với tư cách là người chứng kiến, ghichép, luận bàn hay là một chủ thể nói thực sự Trong tác phẩm, người trầnthuật như là một nhân chứng mắt thấy, tai nghe những sự việc vừa diễn ra Họcũng có thể là người đã được trải nghiệm, tham dự vào các sự kiện đó Vì vậytrong ký các tác giả thường tô đậm hành trạng, lai lịch của người kể chuyện
Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ miêu tả chi tiết lai lịch, thân thế của
người kể chuyện: “Ta sinh năm Mậu Tý, niên hiệu Cảnh Hưng… Đến năm talên sáu tuổi, đấng tiên phu ta mới được thăng làm Tuần phủ Sơn Tây… Khi tamới lên chín tuổi đã đọc sách Hán thư, được ba mươi bốn năm thì đấn Tiênđại phu ta mất…” [21;tr.9] Vai trò của người kể chuyện được đặc biệt nhấnmạnh làm nổi bật tính chất đáng tin cậy của câu chuyện được kể Các tácphẩm ký bao giờ cũng hấp dẫn vì đó là câu chuyện của người trong cuộc.Người trần thuật với vị trí là người tham gia và trải nghiệm nên tất cả mọingóc ngách, bí mật của cuộc sống được chia sẻ đều là chân thực Chính vìđiều này mà cuốn nhật ký của Đặng Thùy Trâm hay tự truyện của Lê Vân lạiđược độc giả đón nhận rất nồng nhiệt Qua đây họ muốn hiểu được cuộc sốngcũng như tâm tư tình cảm của những người trong cuộc, những trang viết ấy sẽđem lại cho người đọc những cảm xúc thực nhất và những ai đã từng trải quathì như được sống lại trong những khoảnh khác xưa kia Người kể chuyệnxưng tôi với tư cách là một nhân chứng trong ký, thể hiện được cái nhìn, lập
Trang 21trường, sự đánh giá của chủ thể, đó chính là một hình thức biểu đạt sự thậttrong ký.
Thứ hai, nhân vật, sự kiện, thời gian, địa điểm trong ký cụ thể, đơnnhất Nhân vật trong tác phẩm ký thường được cụ thể hóa bằng các chi tiết về
tên tuổi, quê quán, tiểu sử Trong Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, nhân
vật được giới thiệu: “Tại xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh có mộtngười đàn bà đã sáu con tên là Nguyễn Thị Út” [7; tr.209] Bằng việc giớithiệu nhân vật một cách cụ thể như vậy tác phẩm ký đã xác định được yếu tốxác thực về đối tượng miêu tả của mình Người đọc nếu còn băn khoăn cũng
có thể kiểm chứng lại thông tin này Các sự kiện trong ký được cụ thể hóabằng các địa danh, ngày tháng và số liệu cụ thể Vì ký là một thể loại ghi chép
sự thật cho nên những thông tin về sự kiện là một phần không thể thiếu Các
sự kiện trong ký thường tuân theo trật tự tuyến tính của thời gian và ở đó ta cóthể bắt gặp những tên riêng, tên địa danh, số liệu để tăng tính xác thực, độ tin
cậy cho câu chuyện được kể Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác là một ví dụ
như vậy, các sự kiện trong tác phẩm được xâu chuỗi theo hành trình lên kinh
và hành trình trở về của nhân vật tôi Mở đầu Thượng kinh ký sự, Lê Hữu
Trác viết về sự kiện “Tháng Giêng, năm Nhân Dần, niên hiệu Cảnh Hưng thứ43…” khi mà tác giả nhận được chiếu chỉ rời quê lên kinh đô chữa bệnh chothế tử Trong hành trình ấy Lê Hữu Trác đã ghi chép lại thời gian chính xác vàchi tiết đến từng ngày: “Ngày 17(tháng Giêng), tôi chỉnh đốn hành lý, nhổ neo
ra đi Ngày 18, tôi rời thuyền lên bờ, yết kiến quan Thự trấn Ngày 20, quanVăn thư sửa sang hành lý lên đường Ngày 21 chúng tôi ra đi từ sáng sớm.Ngày 22 đến núi Long Sơn Ngày 23 đến cầu Kim Lan, đền Cờn Ngày 24tiếp tục lên đường, ngày 25 cũng vậy Ngày 26 qua đò Đài Liên, ngày 27 đếnđèo Ba Dội…” [9;tr.11].Thời gian chính xác đến từng ngày thể hiện được đặctrưng ghi chép người thật, sự thật của thể ký
Trang 22Tóm lại, đặc trưng của thể ký là ghi chép lại sự thật khách quan và tôntrọng tối đa tính xác thực của của đối tượng miêu tả Sự thật luôn là hạt nhâncấu trúc của ký văn học Đọc tác phẩm ký mỗi một giai đoạn lại có nhữngđiểm riêng biệt Ký trung đại đưa chúng ta đi theo những tháng ngày lịch sử,các sự kiện của quá khứ; ký 1930-1945 lại đem đến những trải nghiệm khichúng ta được thâm nhập vào đời sống của những hạng người khác nhautrong xã hội; ký 1945-1975 là hình ảnh những tháng ngày kháng chiến trường
kì của cả dân tộc Qua cách lựa chọn người trần thuật xưng tôi, nhân vật, thờigian, địa điểm cụ thể đơn nhất các tác giả ký đã đem lại hiệu quả về tính xácthực và đáng tin cho tác phẩm của mình
1.1.2.2 Những vấn đề mới đặt ra xung quanh vấn đề sự thực trong ký
* Hiện thực và huyền thoại trong ký
Ký văn học chủ yếu là hình thức ghi chép linh hoạt về những sự kiện vàcon người có thật trong đời sống với nguyên tắc tôn trọng tính xác thực vàchú ý đến tính thời sự của đối tượng được miêu tả Qua những sự thật mắtthấy tai nghe thì ta có thể hình dung ra được bức tranh về một thời đại vớinhững sự kiện lớn lao hay là chân dung của những bậc hiền tài… Trong tácphẩm ký ngoài sự thật thì nó còn đan xem cả yếu tố huyền thoại, mà ta còngọi là hư cấu nghệ thuật.Hư cấu nghệ thuật là sự vận dụng năng lực tưởngtượng để tổ chức tái tạo lại hiện thực được miêu tả nhầm xây dựng nhữnghình tượng có yếu tố khái quát rộng rãi Qua đó người nghệ sĩ nhào nặn, tổchức chất liệu được rút ra từ cuộc sống để tạo ra những tính cách số phận,những hình tượng mới có giá trị điển hình, vừa biểu hiện tập trung chân lýcuộc sống vừa thể hiện được cá tính sáng tạo của nhà văn
Trong những tác phẩm ký trung đại ta thấy vẫn còn hiện diện rất nhiềuyếu tố huyền thoại Các mô típ sinh đẻ thần kì, âm dương phù trợ, hiển linh xuất hiện nhiều trong các tác phẩm ký Thế giới được miêu tả lúc này là thế
Trang 23giới của cái thiêng liêng, huyền diệu vì vậy mà người trần thuật chỉ được ghi
chép không được luận bàn Trong Vũ trung tùy bút, Phạm Đình Hổ đã ghi lại
những sự việc bí ẩn, hoang đường như: nước trong một cái giếng tự nhiên sôi
ở huyện Thanh Oai; mặt trời tách làm hai ở phố Hà Khẩu, … những điều màtác giả tin là có thật thì đến ngày nay người ta coi là không thực Hay trong
Công dư tiệp ký (Vũ Phương Đề) tác giả cũng ghi chép lại những câu chuyện
kì lạ về thần, quỷ như: Truyện Thủy thần sông Kim Dung, truyện Ngôi đềnThượng ở xã Bộ Đầu… Tất cả những câu chuyện đều mang đậm yếu tố kì ảohoang đường và xây dựng một thế giới huyền thoại
Ký giai đoạn 1930-1945, tiêu biểu là thể loại phóng sự cũng có những
hư cấu nghệ thuật nhằm phơi bày những góc khuất, bộ mặt đen tối của xã hộiđương thời Các tác giả đã mô phỏng câu chuyện của mình theo một cốttruyện trinh thám hấp dẫn và li kì dẫn dắt bạn đọc vào cuộc điều tra những
vấn nạn của xã hội Trong Cạm bẫy người của Vũ Trọng Phụng, viết về nạn
cờ bạc bịp ở Hà Nội Để thấy cái nạn cờ bạc rộng lớn và tai hại đến đâu, VũTrọng Phụng đã đi điều tra cái làng bịp, vạch ra tổ chức của nó, phác họachân dung, mô tả chân tướng của dân làng bịp, tường thuật cách hành nghề
của bọn họ rõ ràng, sinh động… Viết Cạm bẫy người là để tố cáo tệ nạn của
xã hội và nêu lên những bi kịch do những tên săn mòng gây ra cho những giađình của tín đồ “tôn giáo đỏ đen”.Trong các tác phẩm ký sự đan xen, thêmthắt của những yếu tố huyền thoại đều có ý nghĩa Nó tạo ra sức hấp dẫn chotác phẩm và chính sự đan xen giữa sự thật và huyền thoại đã đem lại chochúng ta cái nhìn sâu xa về hình tượng con người và bức tranh thế giới đượctác giả dụng công miêu tả
Nhìn lại lịch sử chúng ta thấy: trong ký trung đại, sự thật được miêu tảmang đầy màu sắc hoang đường; trong phóng sự 1930 – 1945, chỉ có sự thậtxấu xa, bẩn thỉu của tệ nạn xã hội; trong ký 1945 – 1975, lại chỉ có sự thật tốt
Trang 24đẹp, đáng biểu dương… Vậy thì liệu có phải ký là thể loại ghi chép sự thực vàtôn trọng tính xác thực tối đa của đối tượng miêu tả? Rõ ràng, vấn đề huyềnthoại hóa sự thực theo một khung giá trị, một nhãn quan nào đó là có Nókhiến những nghiên cứu về ký còn được tiếp tục.
*Hình tượng con người và bức tranh thế giới trong tác phẩm ký
Nằm ở vị trí trung tâm trong các tác phẩm ký là người trần thuật xưngtôi với tư cách là nhân chứng Họ là những người thay tác giả nói lên sự thật,không chỉ kể hay miêu tả lại câu chuyện mà họ còn bộc lộ thái độ, cảm xúc,đánh giá của mình trước câu chuyện mình vừa kể Điều này khiến cho câuchuyện về sự thật lúc nào cũng có một giọng điệu, những sắc thái cảm xúc
nào đó Trong phóng sự Cái đêm hôm ấy đêm gì của Phùng Gia Lộc, ta bắt
gặp một giọng điệu kêu oan, điều trần, chất vấn thống thiết trước nhữngngang trái của thực tại Đó là những tiếng nói bất bình cho những thân phậnnhỏ bé đầy nhẫn nhục, lời vạch trần những sự thật đã bị che dấu
Khi nghiên cứu những tác phẩm ký chúng ta đặc biệt quan tâm về bứctranh thế giới mà tác phẩm vẽ ra Tuy nó biểu đạt những sự thật trong đờisống có khi là sử học khô khan nhưng các tác giả đã thêm vào đó những chitiết, những đoạn văn miêu tả, những biểu tượng làm nên sự tươi tắn,sinh độngtrong các sáng tác ký Và đặc biệt nó còn tạo ra được những lớp nghĩa bề sâu,
bề xa chìm bên trong hình ảnh, biểu tượng ấy Trong tác phẩm Thương nhớ
mười hai của Vũ Bằng tác giả đã sử dụng rất nhiều những đoạn miêu tả như:
“Thì ra, đèn nến trên bàn thờ để suốt đêm không tắt, nhang vòng vẫn cháyđưa ra một mùi thơm ngào ngạt hòa với hương hoa, hòa với gió đàn củanhững cánh đồng bao la lùa qua cửa sổ, hòa với tiếng của mùa xuân về trong
ý nhạc lời thơ…” [11; tr.282] Đoạn văn của Vũ Bằng khiến cho người ta nhưđược xen vào không khí ấm áp, nồng nàn, trong trẻo của buổi sáng mùa xuân:mùi hương của vòng nhang thơm, làn gió từ cánh đồng thổi vào không khí
Trang 25ấy như đang vây diết lấy ta, làm lòng ta xao động Bên cạnh lớp ngôn ngữ sựthực dày đặc trong các tác phẩm ký, ta còn nhìn thấy rất nhiều hình ảnh mangmàu sắc biểu tượng Nó là sự lắng đọng của lớp đời sống đa dạng và sự kết
tinh của tư tưởng, cảm xúc.Trong Miếng ngon Hà Nội, Vũ Bằng đem đến cho
bạn đọc mười bảy món ăn đặc sản của Hà Nội như: phở bò, phở gà, bánhcuốn, bánh đúc, cốm Vòng, quà bún… ngoài ý nghĩa của những thứ ẩm thựcthân quen thì qua đó ông còn gợi nhắc về hình ảnh thiên nhiên đất nước, cátính dân tộc và tinh hoa văn hóa Chúng ta hãy xem xét những tác phẩm của
Vũ Trọng Phụng khi mà ông miêu tả không gian của đô thị vào những năm1930- 1940, tác giả miêu tả những đô thị được coi là biểu tượng của văn minhphương Tây, của những gì hiện đại nhất Thế nhưng nó như là một thế giớithu nhỏ nuốt chửng mọi giá trị văn hóa truyền thống, làm biến đổi nhân cáchcon người Từ việc miêu tả mô hình thế giới này ta thấy được cái nhìn đầy kìthị của cả dân tộc trước sự bành trướng văn hóa của những kẻ xâm lăng vànêu ra được ý thức bảo vệ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Ở mỗi một thời đại thì bức tranh sự thực làm nên mô hình thế giới đượccác tác giả vẽ ra không giống nhau Các tác phẩm ký trung đại thường tái hiệnmột thế giới thực tại tuyệt đối trật tự, quy củ và thiêng liêng Còn nhữngphóng sự 1930-1945 lại tạo ra một bức tranh thế giới hỗn loạn, con ngườitrong thế giới ấy bị tha hóa và đang chìm dần vào bóng tối Các tác phẩm ký1945-1975 lại có xu hướng kiến tạo nên một thế giới của những người chiếnthắng, con người làm chủ được thời cơ, tất cả như được hồi sinh và hướng tớimột kết cục tốt đẹp Ở mỗi một không gian văn hóa khác nhau thì các tác giảlại xây dựng cho mình một mô hình thế giới phù hợp Thế giới ấy hiện lênkhông chỉ là miêu tả sự thật mà nó còn mang một lớp nghĩa sâu xa hơn thế
Trang 261.1.2.3 Hình thức đa dạng của các thể ký văn học
Ký văn học là thể loại cơ động, linh hoạt, nhạy bén trong việc phản ánhhiện thực một cách trực tiếp Tác phẩm ký vừa có khả năng đáp ứng đượcnhững nhu cầu bức thiết của thời đại, đồng thời vẫn giữ được tiếng nói vang
xa sâu sắc của nghệ thuật Bao gồm nhiều thể khác nhau như: ký sự, phóng
sự, tùy bút, bút ký, nhật ký… nên hình thức thể hiện của ký rất đa dạng Vì kýghi chép sự thật khách quan nên hình thức của nó luôn được mở rộng, sángtạo sao cho phù hợp với tính chất của đối tượng miêu tả Mỗi một thể ký lạimang một đặc điểm hình thức riêng: Ký sự ghi chép tỉ mỉ về các sự kiệnphong phú của đời sống; Phóng sự cũng mang đặc tính của một thiên ký sự,nhưng nó đòi hỏi tính thời sự trực tiếp; Hồi ký ghi lại những câu chuyện củanhân vật thông qua dòng hồi tưởng; Điều quan trọng nhất trong nhật ký là tínhchân thực, chân thực với cuộc sống và với chính bản thân mình…
Ký giàu chất văn học ở chỗ, người viết có ý thức khai thác các hìnhthức ngôn từ giàu hình tượng, hình ảnh thông qua các phương thức tu từ,chuyển nghĩa từ vựng nhằm tạo dựng những câu văn có hồn, gây ấn tượngmạnh đối với người đọc Ký qua tay những chủ thể sáng tạo còn có thể tạo rađược giọng điệu, chạm khắc được những nhân vật sống động, điển hình, khaithác các thủ pháp sáng tạo và hư cấu tài tình, khéo léo và hợp lý, kết cấu linhhoạt… đem đến cho người đọc những thụ cảm thẩm mỹ đặc biệt Ký không
gò bó người viết trong một phương thức biểu hiện và một phong cách duynhất mà có rất nhiều hình thức và phong cách sáng tạo khác nhau: “Có lối viếtchân thực, tình cảm như nhật ký của Nam Cao, tài hoa và giàu cảm xúc thơnhư bút ký của Xuân Diệu, duyên dáng và tinh tường trong quan sát và cảmnhận của Tô Hoài, sắc sảo và độc đáo trong cách ngắm nhìn cuộc đời, trongngôn từ biểu hiện như ký của Nguyễn Tuân…” [29; tr 210] Ký không phải
là một thể loại thuần nhất, nó bao gồm nhiều hình thức ghi chép, miêu tả và
Trang 27biểu hiện về cuộc sống theo những cách khác nhau Với tính chất đa dạng vàbiến hóa linh hoạt ở những thể ký văn học, chúng ta không tránh khỏi những
nhầm lẫn về đặc điểm của các thể ký Trong cuốn Lí luận văn học đã xác định
đặc điểm bao quát cho các thể ký như sau: “Các thể ký văn học chủ yếu lànhững hình thức ghi chép linh hoạt trong văn xuôi với nhiều dạng: tườngthuật, miêu tả, biểu hiện, bình luận về những sự kiện và con người có thậttrong cuộc sống, với nguyên tắc phải tôn trọng tính xác thực và chú ý đến tínhthời sự của đối tượng miêu tả” [19; tr.216]
1.2 Khái quát chung về thể loại ký sự
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của ký sự trong văn học Việt Nam
Trong lịch sử văn học Việt Nam, ký sự xuất hiện từ rất sớm Ngay ở
thời trung đại, ký sự đã khẳng định được vị trí của mình với Thượng kinh ký
sự của Lê Hữu Trác Qua câu chuyện mắt thấy, tai nghe của Hải Thượng Lãn
Ông nhân một chuyến đi lên kinh thành chữa bệnh, người đọc bắt gặp ở đómột phần hiện thực nơi phủ chúa và cái nhìn về nhân tình thế thái của tác giả
về thời bấy giờ Ký sự tiếp tục phát triển và đạt được nhiều thành tựu ở nhữnggiai đoạn sau này Nó ảnh hưởng từ thực tế đời sống cách mạng và khángchiến của dân tộc ta đã tạo chất liệu cho thể loại này phát triển Hàng loạt các
ký sự đã xuất hiện ghi lại khá đầy đủ diện mạo cũng như tiến trình các giaiđoạn lịch sử với những sự kiện trọng đại của đất nước trong những năm tháng
chiến tranh Những tác phẩm như: Trong rừng Yên Thế, Trận phố Ràng của Trần Đăng, Ký sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng… đã ghi chép rất chân
thật những diễn biến phức tạp của những trận đánh giữa quân ta với kẻ thù
trong kháng chiến chống Pháp Tiếp đến là những ký sự như: Ngôi sao trên
đỉnh Phu Văn Lâu (Hoàng Phủ Ngọc Tường), Ký sự miền đất lửa (Nguyễn
Sinh và Vũ Kỳ Lân), Tháng ba ở Tây Nguyên (Nguyễn Khải)… đã ghi lại một
cách trung thực đầy xúc động về những diễn biến của những sự kiện vĩ đại
Trang 28bậc nhất trong lịch sử chống xâm lược của dân tộc ta, giành lại độc lập vàthống nhất nước nhà trong kháng chiến chống Mỹ Hay sau này là những tác
phẩm ký sự như: Họ sống và chiến đấu (Nguyễn Khải), Chúng tôi ở Cồn Cỏ (Hồ Phương), Đường lớn (Bùi Hiển)… đây là những thiên ký sự khỏe khoắn
sau những chuyến đi thực tế Dòng ký sự ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt củadân tộc mang đậm cảm hứng lịch sử và dân tộc, với âm điệu hùng tráng vàlãng mạn đã khẳng định vị trí của ký sự trong nền văn học thời bấy giờ
1.2.2 Một số đặc điểm của thể loại ký sự
Theo tác giả Trần Đình Sử: “Ký sự là một thể của ký, thiên về tự sự
Ký thường ghi chép các sự kiện, hay kể lại một câu chuyện tương đối hoànchỉnh khi nó vừa xảy ra Nó dựa vào cái xác thực, cụ thể, đơn nhất để xâydựng hình tượng nghệ thuật Nó vẫn có thể sử dụng liên tưởng, nghị luận, trữtình nhưng chủ yếu là tái hiện sự kiện” [19; tr.376] Theo quan niệm này tathấy ký sự là một thể loại ghi chép về một sự kiện tương đối hoàn chỉnh, nóchú trọng đến phản ánh sự kiện hơn là con người Nó luôn luôn chú trọng đếnbản thân sự kiện của đời sống khách quan đang vận động và phát triển Ký sự
là một thể loại của ký, cùng với nhật ký, hồi ký, phóng sự, tùy bút… Vì thế nócũng mang những đặc điểm chung của loại thể văn học này Đồng thời, so vớinhững thể loại khác ký sự cũng xác lập cho mình những đặc điểm nhận dạngriêng:
Nếu tùy bút hay nhật ký nghiêng về phần ghi nhận những cảm xúc vàsuy nghĩ chủ quan của nhà văn trước những sự kiện của đời sống khách quanthì ký sự nghiêng hẳn về miêu tả sự kiện và con người trong đời sống Có thểngười viết ghi chép hoặc kể về một nhân vật, một phong trào, một chiến dịch,một chuyến đi thành một câu chuyện tương đối hoàn chỉnh Hệ thống sự kiện
sẽ làm cơ sở dẫn dắt, làm nền cho nhân vật hoạt động Người viết ký sự chọnlọc và làm nổi lên những điển hình xã hội tiêu biểu, những con người và
Trang 29những sự việc có ý nghĩa khái quát.Ký sự khác với hồi ký ở chỗ sự việc được
kể ở thời hiện tại Nhưng so với phóng sự thì ký sự lại ít chất thời sự
hơn.Trong Ký sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng, xuyên suốt tác phẩm là
những ghi chép về những sự kiện xảy ra trong chiến dịch Cao Lạng NguyễnHuy Tưởng bắt đầu thiên ký sự từ những ngày đêm âm thầm chuẩn bị chochiến dịch Ông theo chân những đoàn dân công tải lương thực, vũ khí ra mặttrận, gặp gỡ những chiến sĩ pháo binh…Tác giả dẫn dắt bạn đọc đến vớinhững diễn biến lớn nhỏ của chiến dịch, từ những sự kiện có tính bước ngoặtnhư trận mở màn Đông Khê, trận tiêu diệt các binh đoàn Lơ Pa-giơ, Sác-tông cho đến "cận cảnh" những trận đánh giành giật từng mỏm đồi, từng lôcốt ở Khâu Luông, Nà Pá, Cốc Xá Từng trang thiên ký sự mở ra trước mắtngười đọc những khung cảnh lớn lao, những câu chuyện phi thường, nhữngtấm gương chịu đựng gian khổ, hy sinh anh dũng đến tột cùng của bộ đội, dân
công Mỗi một sự kiện cụ thể được phản ánh trong Ký sự Cao Lạng là kết quả
của sự quan sát trực diện của tác giả khi thâm nhập đời sống chiến đấu của bộđội, dân công, mà trước hết là kết quả của sự ghi chép tỉ mỉ những điều mắtthấy, tai nghe với tất cả tính khách quan của một nhà văn đi chiến dịch: “Bộbinh chạy Người vắt trên vai bao gạo kẹp trong hai nẹp tre như bó lợn, cái cabên hông kêu coong coong Người vác súng chập một, dây thừng quang vaiđeo một hồ lô, nước óc ách, thắt lưng mang một chùm lựu đạn Người gánhsáu ba lô da, một tay ve vẩy chiếc đồng hồ báo thức Dân công áo chàm mới,nón vành to sau lưng Anh dắt con chó đen ức trắng Anh gánh hai bồ lớn cắmcành cây như chậu cảnh Những chị dân công lớn nhỏ, cúi đầu bên chânnúi…” [tr.30]
Có những thiên ký sự còn ghi lại cả một chuyến đi thực tế của các nhà
văn, trong đó có rất nhiều điều có giá trị như Họ sống và chiến đấu của
Nguyễn Khải Tháng 7 năm 1965, tạp chí Văn nghệ quân đội cử nhà văn
Trang 30Nguyễn Khải đi viết về đảo Cồn Cỏ, một địa danh thường cháy bỏng tin tứcchiến sự trên các phương tiện truyền thông Ở đây ông đã quan sát và viết về
“Họ” những người chiến sĩ nơi hải đảo Họ là những chiến sĩ cao xạ như Nghị
- làm ca dao thật tài, hát cũng hay; đó là Khang và Đắc, hai cá tính trái ngượcnhưng lại bổ sung cho nhau, làm thành một bản lĩnh có đủ sự thông minh tỉnhtáo lẫn sự quyết đoán mạo hiểm để tháo ngòi của những trái bom nổ chậm.Hoặc như Đinh Kinh, chỉ là anh nuôi mà tinh thần phục vụ và phẩm chấtchiến đấu nổi tiếng xa gần Còn có rất nhiều người khác nữa như bác sĩ Lê, côHuệ, cô Cảnh… Trong khoảng thời gian này, Nguyễn Khải đã đi sâu vào tìmhiểu công việc, cách sống, tâm tư tình cảm của các cán bộ chiến sĩ Ông đãghi lại được rất nhiều điều mà khi ta đọc ký sự này sẽ nhận ra được ý nghĩacủa cuộc sống hôm qua và cái giá phải trả cho cuộc sống hôm nay
Trong loại ký trữ tình như tùy bút, sự kiện không được trình bày liêntục do sự phát biểu xen kẽ của những cảm xúc chủ quan từ người viết hoặcnhững sự kiện đó được khai thác từ những điểm nhìn khác nhau để phục vụcho dòng suy tưởng của tác giả Còn đối với ký sự lại chủ yếu ghi lại nhữngdiễn biến khách quan của cuộc sống và con người thông qua những sự kiện.Các sự kiện được viết ra liên tục theo trật tự tuyến tính Trong ký phải tôntrọng tiếng nói khách quan của sự kiện Người viết ký có quyền bình luận,phân tích nhưng chủ yếu vẫn là tiếng nói của bản thân sự kiện đang vận động
và phát triển Ví dụ, Thượng kinh ký sự được viết ra trên một hành trình lên
kinh của Lê Hữu Trác.Ký sự của Nguyễn Huy Tưởng lại phản ánh cuộc sốngchiến đấu qua một chiến dịch Qua những sự kiện, các tác giả phải chọn lọc
để làm nổi lên những điển hình xã hội tiêu biểu, những con người và sự việcgiàu ý nghĩa xã hội và sức khái quát
Tác phẩm ký sự cũng cấu tạo theo phương thức thông thường của mộttác phẩm nghệ thuật: có phần mở đầu, phần phát triển sự kiện, sự kiện phát
Trang 31triển đến cao độ và cuối cùng là phần kết thúc Ta có thể thấy các ký sự giaiđoạn đầu kháng chiến chống Pháp thường có dung lượng ngắn, kết cấu đơngiản, chủ yếu bám sát theo tiến trình của sự kiện: “Quân Lơ Pa Giơ chưa kịplàm công sự Ngày bốn, ta chiếm 760.Giặc ném bom lửa cháy khoảng giữahai đồi Ngày năm, ta chiếm 765…Ngày sau, Lơ Pa giơ đánh điện yêu cầumáy bay bắn phá chặn đường tiến của ta Binh đoàn Sác tông về tới đỉnh QuíChân, Đờ La Bôm ở Thất Khê tiến lên chiếm các đồn 515, 608 để đón Sác
tông, Lơ Pa Giơ” (Ký sự Cao Lạng) Các ký sự thời kì này có lối ghi chép
theo kiểu nhật ký, cách thức kết cấu ấy khiến cho tác phẩm ký giống như mộtbản biên niên sử về các sự kiện, tái hiện một dòng chảy lịch sử còn đang ngổnngang, bề bộn Trong tác phẩm ký sự còn sử dụng những chi tiết giàu sức kháiquát và có ý nghĩa xã hội Tuy viết về sự thực song những tác phẩm ký cũngkhông quên lồng ghép vào đó những hình ảnh mang tính chất biểu tượng,mang một ý nghĩa nhất định, làm cho tác phẩm có một bề sâu cần chúng tatìm hiểu
Ký sự là một thể của ký, nó mang đầy đủ những đặc điểm của thể loại ởviệc ghi chép sự thực một cách chân xác, khách quan Ký sự mang đến chobạn đọc cái nhìn toàn cảnh, chi tiết về những sự kiện mà nó miêu tả Nhữngcâu chuyện trong các tác phẩm ký sự đều mang được tính thời sự, hấp dẫn bạnđọc không chỉ ở giá trị hiện thực mà còn gửi gắm trong đó những cái nhìn thế
sự của các tác giả Mang đậm tính chất ghi chép sự việc nhưng ký sự có lúclại mang đậm cảm hứng trữ tình, ký sự đa dạng và hấp dẫn người đọc là ởđiểm đó
Trang 32CHƯƠNG 2: THƯỢNG KINH KÝ SỰ DƯỚI GÓC NHÌN THỂ LOẠI 2.1 Vấn đề sự kiện trong Thượng kinh ký sự
2.1.1 Sự kiện “thượng kinh”
Thượng kinh ký sự là tập ký sự bằng chữ Hán của danh y Lê Hữu Trác.
Tác phẩm được viết vào thập niên 80 của thế kỉ XVIII, đó là một thời kì rốiren của triều đình phong kiến Lê - Trịnh, là giai đoạn chính trị khủng hoảngtrầm trọng trước khi vua Quang Trung tiến quân ra Bắc Tập ký này kể lạicuộc hành trình từ quê nhà Nghệ Tĩnh của ông về kinh thành Thăng Long đểchữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán - con của chúa Trịnh Sâm Lê Hữu Tráckhông tự thuật về cuộc đời mình, mà chỉ ghi lại chuyến đi kinh đô trong 9tháng 20 ngày Tác phẩm mang nặng cảm xúc của tác giả với các sự kiện dồndập, qua đó thể hiện được cảm xúc của Lê Hữu Trác đối với thời cuộc Chưabao giờ có một tác phẩm mà cái tôi cá nhân của tác giả bộc lộ rõ ràng: tôithấy, tôi nghĩ, tôi chỉnh đốn hành lý… Tác phẩm còn là sự kết hợp tài tìnhnhiều bút pháp nghệ thuật: du ký, nhật ký, hồi ký… Tác phẩm đã trở thành
đỉnh cao của thể ký trung đại Việt Nam.Thượng kinh ký sự được Lê Hữu Trác xếp vào cuối bộ (quyển 65) Hải Thượng y tông tâm lĩnh (Những lĩnh hội tâm
huyết về ngành y của Hải Thượng) Đây được coi là tác phẩm ký nghệ thuậtđích thực của văn học trung đại Việt Nam Bằng tài năng văn chương củamình, Lê Hữu Trác đã thuật lại sự kiện “thượng kinh” sinh động, chân thực vàđầy sức hấp dẫn đến với bạn đọc
Trong giáo trình Lí luận văn học, tập 2, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử
cho rằng: “Sự kiện nói chung là những hành vi (việc làm) của nhân vật hay sựviệc xảy ra đối với nhân vật dẫn đến một hậu quả, làm biến đổi hay bộc lộmột ý nghĩa nào đó đối với mục đích người kể” [25; tr.89] Sự kiện là mộtbước định hình chính xác trong không gian và thời gian của tiến trình lịch sử(có nghĩa là nó được xác định, có sự khởi đầu và kết thúc rõ ràng) Các sự
Trang 33kiện quan trọng đều phản ánh những hoạt động của con người với những mụctiêu và kết quả xác định, ảnh hưởng đến những quá trình xã hội này khác hoặc
là những sự kiện nằm trong quá trình đó Những sự kiện như vậy chúng tabiết thường nảy sinh từ các tình huống chính trị xã hội, các trạng thái kinh tế,
đạo đức và những trạng thái khác của xã hội Ta có thể thấy Thượng kinh ký
sự được ra đời trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt.
Đầu thế kỉ XVI, xã hội Đại Việt mất dần cảnh thịnh trị Kinh tế sa sút,nhân dân đói khổ, các thế lực phong kiến tranh chấp lẫn nhau mở đầu cho mộtgiai đoạn mới của chế độ phong kiến Đó là sự suy sụp của nhà Lê và tìnhtrạng chia cắt đất nước Một cuộc chiến tranh mới lại bùng nổ trong khi tìnhtrạng Nam triều – Bắc triều chấm dứt chưa lâu thì lại xảy ra việc phân tranhgiữa Đàng Trong – Đàng Ngoài, thực hiện chế độ vua Lê – chúa Trịnh ỞĐàng Ngoài mọi quyền hành đều nằm trong tay chúa Trịnh, họ Trịnh muốnnắm mọi quyền hành nhằm hạn chế uy quyền của nhà Lê Có thể nói đây làthời kì khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến đương thời Với chínhsách cai tri không hợp lòng dân, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân đã nổ rachống lại triều đình phong kiến nhưng đều bị dập tắt Cuộc sống của ngườinông dân hết sức khổ cực, họ đói khổ do chiến tranh, thiên tai hay phải chịuchế độ bóc lột, tham nhũng của bọn địa chủ, quan lại và đám cường hào.Chúng ra sức vơ vét tiền bạc của nhân dân, đúng như cảnh ta bắt gặp trong cadao xưa:
Con ơi mẹ bảo con này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.
Trong tình hình xã hội khủng hoảng như vậy thì nội bộ chính quyền Lê– Trịnh ngày càng mâu thuẫn Năm 1767, Trịnh Doanh chết, con là TrịnhSâm lên thay Trịnh Sâm chuyên quyền, tàn bạo, không coi trọng dòng họ Lênữa Chúa Trịnh không màng triều chính mà say mê Đặng Thị Huệ Y phế
Trang 34truất thế tử Trịnh Khải để con của Đặng Thị Huệ là Trịnh Cán lên thay TrịnhCán còn nhỏ tuổi nên Thị Huệ lộng quyền, em trai của bà cậy thế cũng ra sứclàm càn khiến cho kinh thành náo loạn.Sự đàn áp, trấn lột, giết hại của giaicấp thống trị khiến nhân dân phải chịu trăm đắng nghìn cay Người dân khôngchỉ chịu thiệt hại về vật chất mà trên hết họ phải chịu sự áp bức về mặt tinhthần.Không chỉ đối phó với nạn “người bóc lột” ở trong nước mà nhân dâncòn phải chịu cảnh “thù trong giặc ngoài”.
Trong hoàn cảnh đất nước đầy phức tạp và nhiều biến động như vậy,vào tháng Giêng, năm Nhâm Dần, hiệu Cảnh Hưng thứ 43 (1781), Lê HữuTrác nhận được lệnh của Trịnh Sâm triệu về kinh khi đang ở quê mẹ HươngSơn Lúc đó, ông đã 62 tuổi, sức yếu lại quyết chí lánh xa công danh nên việc
bị triệu vào kinh làm cho ông vô cùng lo sợ “người cứ như ngẩn như ngơ mấtnửa giờ” Lê Hữu Trác đã nhiều năm sống ở quê hương bốc thuốc, chữa bệnhcứu người, làm bạn với thiên nhiên không còn màng đến nơi đô hội phồn hoa.Ông tự trách mình rằng: “sao mình đã đi ở ẩn mà còn ẩn chưa kín” [15; tr.9].Nhưng bây giờ lệnh chúa đã ban ông không thể chối từ, đành phải lên đường
Lê Hữu Trác lên kinh mà trong lòng nhiều lo ngại Ông tâm sự: “cây kia cóhoa nên bị người ta hái, người ta có cái hư danh nên phải lụy về chữ danh.Vốn bằng trốn cái danh đó đi có thú hơn không” [1;tr.10] Rồi ông lại tự an ủikhi nghĩ về nghiệp y mà mình đã theo đuổi: “Mình lao tâm, tiều tứ về đường
y học đã ba mươi năm nay mới viết được bộ Tâm Lĩnh Mình không dám
truyền thụ cho riêng ai, chỉ muốn đem ra công bố cho mọi người cùng biết,nhưng việc thì nặng sức lại mỏng, khó mà làm được” [14; tr.10] Vì vậy ông
hy vọng lần này ra kinh đô có thể thực hiện được việc in bộ sách Lê HữuTrác nhận chiếu chỉ của chúa Trịnh rời Hương Sơn lên đường Trên từngchặng đường ông ghi lại những điều mắt thấy tai nghe khi đến trốn kinh thànhThăng Long, vào phủ chúa chữa bệnh, kể lại những cuộc tiếp xúc với các
Trang 35công khanh, nho sĩ nơi đế đô kinh kì và cả những cuộc gặp gỡ với bạn bè thânthiết Tác giả vừa miêu tả phong cảnh trên đường lại vừa bộc lộ tâm trạng củamình Điều này được thể hiện rất rõ qua việc ghi chép thời gian trong Thượngkinh ký sự Thời gian được ghi chép lại chính xác đến từng ngày Khi tác giảghi lại việc giã nhà lên kinh ta cảm thấy chính tâm trạng không hào hứng củangười trong cuộc đã làm cho thời gian một ngày mà như kéo dài ra và tâmtrạng con người sao nặng nề quá Ông ghi lại: Ngày 17 nhổ neo ra đi, ngày 18lên bờ yết kiến quan Thự trấn, ngày 20 quan văn thư đi theo, ngày 21 khởihành từ sáng sớm,… ngày 30 đến cầu Thịnh Liệt, coi như đã tới kinhthành.Tác giả mô tả lại tiến trình lên kinh của mình bị làm chậm lại bởi nhữngcuộc gặp gỡ, thù tạc, thể hiện cảm giác dùng dằng, ngần ngại của nhân vậtxưng tôi khi về chốn phồn hoa Trong khi đó đoạn miêu tả tiến trình quay vềlối cũ lại lướt nhanh như con thuyền xuôi gió, thể hiện tâm trạng nhẹ nhõm,phấn chấn của nhân vật khi được trở về quê hương.Trở về quê cũ với tâm thếhân hoan vui sướng “lòng về như mũi tên, cứ muốn đi nhanh” nên thời gianông ghi lại cũng lướt nhanh như gió: “Ngày 12 tháng 10, từ sáng tinh mơchúng tôi đi bộ ra Đình Ngang… Tôi đi bộ đến Tràng Tín rồi xuống thuyềnxuôi Ngồi trong thuyền trông ra, nhìn cảnh vật bốn bề, vừa uống trà vừa nóichuyện thoải mái chẳng khác gì chim sổ lồng, cá thoát lưới… Ngày 16 tôi vềlàng Nguyễn Xá huyện Hoài An… Ngày 19 tôi từ biệt lên đường… Ngàymồng 2 tháng 11 đã về đến nhà Vợ con mừng rỡ, kể lể tâm tình”.
Không chỉ ghi chép tỉ mỉ về thời gian mà các sự kiện trong chuyến đicòn được Lê Hữu Trác thuật lại rất sinh động.Tác giả miêu tả cảnh nhữngngười hầu nơi phủ chúa đến đón mình đi chữa bệnh Đi đón một bậc danh yđến chữa bệnh cho vua chúa, họ “gõ cửa rất gấp”, “vừa nói vừa thở hổn hển”
mà lại là “buổi sáng tinh mơ” Thời gian ấy, cách gọi cửa ấy khiến người tangỡ rằng tình trạng người bệnh đã nguy kịch lắm.đấy là chưa nhắc đến cách