1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính chất đạo lý trong thơ nguyễn bỉnh khiêm (2016)

64 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠNTrong quá trình nghiên cứu đề tài: Tính chất đạo lý trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô trong tổ bộ môn Văn học Việt Nam Trường ĐHSP Hà Nội

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

LƯƠNG THỊ MAI

TÍNH CHẤT ĐẠO LÝ TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

LƯƠNG THỊ MAI

TÍNH CHẤT ĐẠO LÝ TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN THỊ TÍNH

HÀ NỘI – 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu đề tài: Tính chất đạo lý trong thơ Nguyễn

Bỉnh Khiêm, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô trong tổ bộ môn

Văn học Việt Nam Trường ĐHSP Hà Nội 2 Tác giả Khóa luận xin gửi tới cácthầy cô lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất, đặc biệt là cô giáo, TS.Nguyễn Thị Tính, đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Hà Nội, tháng 05 năm 2016Tác giả khóa luận

Lương Thị Mai

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi trình bày trong khóa luận này

là kết quả của quá trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn củacác thầy cô trong Tổ bộ môn Văn học Việt Nam và sự hướng dẫn trực tiếp,nhiệt tình của cô giáo, TS Nguyễn Thị Tính Những nội dung này chưa đượccông bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, tháng 05 năm 2016

Tác giả khóa luận

Lương Thị Mai

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Đóng góp của khóa luận 5

8 Bố cục của khóa luận 5

CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT VỀ CẢM HỨNG ĐẠO LÝ VÀ TIỀN ĐỀ CỦA CẢM HỨNG ĐẠO LÝ TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM 6

1.1 Giới thuyết về cảm hứng đạo lý 6

1.2 Tiền đề của cảm hứng đạo lý trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm 8

1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử thế kỷ XVI 8

1.2.1.1 Tình hình xã hội 8

1.2.1.2 Tình hình kinh tế 9

1.2.1.3 Tình hình văn hóa tưởng 10

1.2.2 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm 11

1.2.2.1 Cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm 11

1.2.2.2 Sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm 14

CHƯƠNG 2 ĐẠO LÝ TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM 16

2.1 Sự suy đồi đạo lý 16

Trang 6

2.1.1 Sự suy loạn của đạo lý theo tư tưởng Nho giáo 16

2.1.2 Sự suy loạn của đạo lý theo truyền thống dân tộc 25

2.2 Khát vọng giới thuyết và răn dạy đạo lý 29

2.3 Lý tưởng sống nhàn để giữ gìn phẩm giá 34

KẾT LUẬN 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là một nhà thơ lớn của văn học trungđại Việt Nam Tài năng và nhân cách của ông có ảnh hưởng mạnh mẽ đến gầnsuốt thế kỷ XVI- thế kỷ có nhiều biến động chính trị lớn Ông là một chínhkhách có uy tín, một bậc hiền triết, một nhà tiên tri, một người thầy, người màcác vua chúa đương thời kính nể tôn làm bậc phu tử

Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn được các bậc thức giả, các nhà khoahọc tôn vinh và đánh giá cao Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là sự kết hợp từ chiềusâu chất trí tuệ và thơ ca Những kiến thức sâu sắc về triết lý phương Đông từtrong ngọn nguồn của Kinh sách kết hợp với triết lý của cuộc đời nhiều trảinghiệm của một thi nhân, một người hành đạo đã đem lại cho Nguyễn BỉnhKhiêm tầm vóc của một nhà thơ lớn của thời đại

Chọn đề tài Tính chất đạo lý trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm chúng tôi

mong muốn được tìm hiểu, được học hỏi tài năng văn chương và nhân cáchlịch sử của nhà thơ lớn thế kỷ XVI Đồng thời hy vọng đề tài sẽ góp phần soisáng phương diện đạo lý trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm có một vị trí quan trọng trong chươngtrình phổ thông, cao đẳng, đại học Do đó đề tài này còn góp phần đem đếnnhững hiểu biết về tính chất đạo lý trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm giúp choviệc học tập, giảng dạy các sáng tác của ông có hiệu quả hơn

2 Lịch sử vấn đề

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ lớn của văn học dân tộc thế kỷ XVI.Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy những thành công trong nội dung vànghệ thuật thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trang 8

Về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm, việc tìm hiểu, nghiên cứu cuộc đời vàthơ văn của ông đã được các môn sinh của ông thực hiện ở ngay thế kỉ XVI,thế kỷ XVIII thì có Vũ Khâm Lân, Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích Đến thế kỷXIX, Phan Huy Chú đã ghi chép và chú giải công phu trong các công trìnhkhảo cứu của ông Trải qua hàng trăm năm, công việc này vẫn được các thế

hệ đi sau tiếp tục và có những thành tựu nhất định Qua tìm hiểu tôi thấy cómột số bài viết liên quan đến đề tài Nguyễn Bỉnh Khiêm nói chung và tínhchất đạo lý trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng:

Năm 1945, Chu Thiên đã cho ra đời quyển cuốn sách Tuyết Giang phu

tử, đây được coi là tác phẩm đầu tiên nghiên cứu một cách công phu và khá tỉ

mỉ mọi mặt trong cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm như: hoàncảnh, xã hội, thân thế và đời sống của Trạng Trình, giá trị nội dung và nghệthuật trong sáng tác của ông, cũng như những giai thoại của nhà thơ

Năm 1957, Lê Trọng Khánh và Lê Anh Trà đã cho ra đời 1 tập chuyênluận có chiều sâu: Nguyễn Bỉnh Khiêm- Nhà thơ triết lý (nhà xuất bản Vănhóa), đây là một công trình nghiên cứu dài hơi và có nhiều ý tưởng mới Cuốnsách đã đề cập một cách sâu sắc đến nhiều vấn đề cốt yếu trong tư tưởng vànghệ thuật của Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng một cái nhìn toàn diện và không bịràng buộc trong những quan điểm cứng nhắc mà các công trình khác thườngvấp phải

Và một trong những chuyên gia hàng đầu về Nguyễn Bỉnh Khiêm, phải

kể đến Bùi Văn Nguyên ông là tác giả của những chương viết về NguyễnBỉnh Khiêm trong các bộ giáo trình lịch sử văn học Việt Nam trung đại, bêncạnh đó ông cũng công bố nhiều công trình riêng về tác giả này Đặc biệt làcông trình: văn chương Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó có thể xem là sự kết tinh củangười viết trong nhiều năm nghiền ngẫm về Nguyễn Bỉnh Khiêm- nhà thơ lớn của dân tộc

Trang 9

Bài viết: Nguyễn Bỉnh Khiêm- cây đại thụ văn hóa dân tộc thế kỷ XVI

PGS_TS Nguyễn Hữu Sơn Bài viết đã cho chúng ta thấy một Nguyễn BỉnhKhiêm một tấm lòng lo cho nước cho dân Tác giả đã phân tích những bài thơtiêu biểu của Nguyễn Bỉnh Khiêm Từ đó đưa ra sự đánh giá về sự đảo điênđạo lý, xã hội loạn lạc, nhân dân đói khổ trong khi giai cấp phong kiến thiếutrách nhiệm chỉ nghĩ đến quyền lợi của riêng mình Không chỉ vậy tác giảNguyễn Hữu Sơn cũng đã nêu khái quát hoàn cảnh mà Nguyễn Bỉnh Khiêmsống đó là tiền đề của vấn đề đạo lý trong thơ ông Nhưng tác giả chưa nêu ra

cụ thể các khía cạnh đạo lý trong thơ ông

Cuốn sách Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và tác phẩm của Trần Thị

Băng Thanh và Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu, cuốn sách gẩn 700 trang

là tập hợp các bài viết nghiên cứu chuyên sâu về Nguyễn bỉnh Khiêm ở cả baphần: tác giả, thơ chữ Hán, thơ chữ Nôm Trong đó các tác giả đã ít nhiều đềcập đến vấn đề Đạo lý trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm Tuy nhiên, các tác giảchưa đi sâu phân tích một cách cụ thể nội dung đạo lý trong thơ Nguyễn BỉnhKhiêm để thấy được ảnh hưởng của ông với xã hội đương thời

Đề tài nghiên cứu Học thuyết chính trị- xã hội của Nho giáo và sự thể

hiện của nó ở Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX của Nguyễn

Thanh Bình đã đề cập đến chuẩn mực đạo đức, đạo lý nhưng khai thác dướigóc độ chính trị, xã hội của con người Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế

kỷ XIX

Qua đó ta có thể thấy rằng đề tài về Nguyễn Bỉnh Khiêm và sự nghiệpthơ ca của ông đã được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu, phân tích một cách sâu

sắc Nhưng đề tài Tính chất đạo lý trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã có

người nghiên cứu nhưng tôi thấy rằng chưa có công trình khoa học lớn nàophân tích kĩ lưỡng về đề tài đó Đó chính là lí do tôi chọn đề tài Đạo lý trongthơ Nguyễn Bỉnh Khiêm để làm khóa luận tốt nghiệp

Trang 10

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, khóa luận phải giải quyết một số nhiệm vụ

- Phân tích được các tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong nhà trường phổthông trên tinh thần đạo lý

5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là các bài thơ ( cả chữ Nôm và chữ Hán) củaNguyễn Bỉnh Khiêm đã được in đăng và thừa nhận có liên quan đến đề tài

Phạm vi nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu một mặt nội dung thơ văn NguyễnBỉnh Khiêm đó là tính chất đạo lý (bao gồm nỗi đau về sự suy đồi đạo lý, khátvọng giới thuyết răn dạy đạo lý và lý tưởng sống nhàn để giữ gìn phẩm giá)

6 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp tiếp cận hệ thống

- Phương pháp so sánh

- Phân tích, đánh giá, tổng hợp

Trang 11

7 Đóng góp của khóa luận

Từ góc độ đạo lý, khóa luận đã làm sáng tỏ được con người, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm- một con người giàu lòng nhân ái, sống hết mình vìnước vì dân, một con người coi thường danh lợi, tiền tài, con người luôn coiđạo lý làm người làm chuẩn mực, làm lý tưởng cho bản thân

8 Bố cục của khóa luận

MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

Chương 1: Giới thuyết về cảm hứng đạo lý và tiền đề của cảm hứng đạo lý

trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Chương 2: Đạo lý trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 12

CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT VỀ CẢM HỨNG ĐẠO LÝ VÀ TIỀN ĐỀ CỦA CẢM HỨNG ĐẠO LÝ TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM

1.1 Giới thuyết về cảm hứng đạo lý

Theo Từ điển Tiếng Việt nhà xuất bản Khoa học Xã hội, năm 1988:

“Cảm hứng là trạng thái tâm lý đặc biệt khi sức chú ý được tập trungcao độ kết hợp với cảm xúc mãnh liệt tạo điều kiện để óc tưởng tượng sáng tạo,hoạt động có hiệu quả” [tr 123]

Nói cách khác, cảm hứng là tâm trạng, là cảm xúc đặc biệt của ngườinghệ sĩ

Trong Lí luận văn học, Phương Lựu có trích dẫn ý kiến của Nguyễn

Quýnh rất tiêu biểu: “người làm thơ không thể không có hứng, cũng giốngnhư tạo hóa không thể không có gió vậy… tâm người ta như chuông nhưtrống, hứng như chày và dùi Hai thứ đó gõ, đánh vào chuông trống khiếnchúng phát ra tiếng ; hứng đến khiến người ta bật ra thơ cũng tương tự nhưvậy”, [16;210]

Theo Dẫn luận nghiên cứu văn học của Pespelov:

Cảm hứng (nói chung) là sự lý giải đánh giá sâu sắc và chân thực- lịch

sử đối với các vấn đề được miêu tả được nảy sinh từ ý nghĩa khách quan củacác tính cách, vấn đề của cuộc sống (Pespelov)

Pospelov cũng chỉ rõ: Từ cảm hứng được dùng để chỉ trạng thái cao độcủa nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả.Tác giả còn chia cảm hứng ra thành nhiều loại: anh hùng, kịch tính, bi kịch,châm biếm, hài hước, thương cảm, lãng mạn Song ông còn nói thêm: cảmhứng trong tác phẩm văn học cũng bộc lộ một số biến thể Điều đó có nghĩa là

Trang 13

trong tác phẩm văn học có sự giao thoa và đan xen của một vài hoặc nhiềucảm hứng khác nhau tạo nên giọng điệu riêng phong phú cho tác phẩm.

Như vậy cả hai quan niệm trên đều thống nhất ở chỗ: Cảm hứng làtrạng thái tâm lý đặc biệt của người nghệ sĩ khi sức chú ý được tập trung cao

độ để đánh giá sâu sắc và chân thực- lịch sử đối với các vấn đề hiện thực củakhách quan được miêu tả

Cảm hứng là cái quan trọng quy định nhà văn trong việc tạo ra tácphẩm Hiện thực khách quan chỉ đi vào tác phẩm khi người nghệ sĩ nắm bắtchính xác sâu sắc hiện thực và cảm hứng sáng tạo Cảm hứng ở mỗi nhà vănkhác nhau Ở cùng một tác phẩm loại cảm hứng này cũng bộc lộ sự khônggiống nhau Đó là những biến thể của cảm hứng chung này

Cảm hứng có thể chia ra làm nhiều loại: cảm hứng yêu nước, cảm hứngnhân đạo… Mỗi thời đại có một cảm hứng riêng Nhưng có thể nói cảm hứngđạo lý là cảm hứng mà thời đại lịch sử nào cũng có, nền văn học nào cũng có

từ văn học dân gian, văn học trung đại cho đến văn học hiện đại

Đạo lý (ở đây chúng ta tìm hiểu về đạo làm người) được hiểu là nguyêntắc chính trị, là quy phạm đạo đức và luân lý là đạo lý trị quốc và xử thế củacon người Nói cách khác đạo lý được hiểu là nguyên tắc đạo đức mà conngười có bổn phận gìn giữ và tuân theo trong đời sống Đó là nhân sinh quan,quan niệm sống trong sạch, thuận theo lẽ phải

Một người sống có đạo lý là cơ sở để thực hiện tốt quan hệ trong quan

hệ với tự nhiên, trong ứng xử xã hội và ứng xử với chính bản thân mình theodanh phận

Đạo lý làm người được thể hiện qua các mối quan hệ: quan hệ của conngười với chính bản thân mình và quan hệ của con người với người khác (với

xã hội)

Trang 14

1.2 Tiền đề của cảm hứng đạo lý trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử thế kỷ XVI

1.2.1.1 Tình hình xã hội

Xã hội Việt Nam nửa sau thế kỷ XV và thế kỷ XVI có những biếnđộng về chính trị, về xã hội cũng như về kinh tế đã ảnh hưởng sâu sắc đếntình cảm, đến tư tưởng và thái độ xuất xử của Nguyễn Bỉnh khiêm

Đầu thế kỷ XVI, nhà nước tập quyền phong kiến Lê Sơ bước vào thời

kỳ suy thoái Trong triều đình, các phe phái tranh giành quyền lực, các đờivua nối tiếp nhau trụy lạc, không để ý đến chính sự, bỏ mặc cho hoạn quanngoại thích Người ngay thẳng, trung thực bỏ trốn, thuế má tăng lên bạongược hoành hành, đối đãi với công thần thì như chó ngựa, coi dân chúng thìnhư cỏ rác… Thêm vào đó bộ máy nhà nước Lê Sơ cồng kềnh, nặng về mặthành chính, lúc thịnh nó góp phần ổn định xã hội, khi xã hội suy thoái nó tạo

ra sự đối lập giữa nhà nước và xã hội vì vậy đã nổi lên rất nhiều cuộc đấutranh khởi nghĩa của nông dân Mặc dù bị thất bại nhưng nó cũng làm cho nhànước Lê Sơ ngày càng suy yếu và đi đến tan rã

Nhân cơ hội triều đình đang rối ren đối phó với các cuộc khởi nghĩa,Mạc Đăng Dung – một võ quan nhà Lê lợi dụng leo lên chức tể tướng, đưadòng họ Mạc nắm giữ những chức vụ quan trọng Cuối cùng, giết Lê ChiêuTông (1526), bắt hoàng đế nhường ngôi cho mình vào năm 1527, kết thúc 100năm thống trị của nhà nước Lê Sơ

Dưới thời nhà Mạc thống trị, các công thần của triều Lê Sơ khôngủng hộ Nhiều nhà nho, sĩ phu khoa bảng cho rằng tôi trung không thờ haichúa (trung thần bất sự nhị quân) Họ phản đối nhà Mạc trong một thế chêngvênh nên tìm cách hòa hoãn với nhà Minh bên Trung Quốc Tuy nhiên, nhàMạc vẫn tiếp tục mở những khoa thi để đào tạo ra lớp quan lại cho mình MạcĐăng Dung lên ngôi không được bao lâu, một tập đoàn phong kiến khác lấy

Trang 15

danh nghĩa là “phù Lê diệt Mạc” tập hợp lực lượng nổi dậy ở Thanh Hóa, lập nên triều đình mới gọi là Lê Trung Hưng.

Một cuộc xung đột giữa các phe phái phong kiến xảy ra và hệ quả của

nó là đất nước nảy sinh hai chính quyền là “Bắc triều – chính quyền họ Mạc”

và “Nam triều – chính quyền họ Trịnh” Trong khoảng gần 50 năm 1592), hai bên Nam – Bắc triều đánh nhau 38 trận chiến lớn nhỏ Cuối cùngNam triều đã thắng Bắc triều vào năm 1592

(1546-Ngay khi cục diện Nam Bắc triều chưa chấm dứt thì một cục diện khác quyết liệt hơn, lâu dài hơn đã xuất hiện ngay trong lòng Nam triều - Bắc triều:cục diện Trịnh – Nguyễn phân tranh Tuy nhiên, hai tập đoàn phong kiến Trịnh, Nguyễn không thôn tính được nhau, phải đình chiến lấy sông Gianh làm giới tuyến, phía bắc thuộc họ Trịnh gọi là Đàng Ngoài, phía nam thuộc họ Nguyễn gọi là Đàng Trong

Sự đứt gãy của các chính quyền phong kiến và sự phân chia phạm vithống trị của các tập đoàn Mạc, Trịnh, Nguyễn là nét nổi bật trong tình hìnhchính trị Nhưng các nhà nước phong kiến Đàng Ngoài và Đàng Trong đềutheo mô hình cũ từ thời Lê Sơ, càng về sau các nước đó càng trở thành lựccản cho sự phát triển xã hội

1.2.1.2 Tình hình kinh tế

Mạc Đăng Dung đưa ra một số quy chế về ruộng đất bao gồm: binhđiền, lộc điền, quân điền, dựa trên các quy chế đã có từ thời Hồng Đức ( LêThánh Tông) hay việc cho đúc tiền Thông Bảo

Thời kỳ Mạc Đăng Doanh trị vì có thể coi là thời kỳ đỉnh cao của nhàMạc Lúc đó nhà Lê chưa trung hưng, toàn cõi do nhà Mạc cai quản, cảnh

thịnh trị được các sử gia nhà Lê ghi nhận: đêm ngủ không đóng cửa, ngoài

đường không ai nhặt của rơi Nhưng từ khi Nguyễn Kim nổi dậy, chiến tranh

Trang 16

nổ ra, đất nước bị tàn phá, kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng làm cho đờisống của nhân dân trở nên đói nghèo hơn.

Tuy nhiên, nhìn tổng thể, nhà Mạc có tư duy kinh tế rất cởi mở, sớmnhìn thấy xu thế tiến bộ của thủ công nghiệp, thương mại và kinh tế hàng hóa;điều đó khác hẳn với chính sách bảo thủ của nhà Lê Nhà Mạc cai trị trongvòng 65 năm đã đưa vùng đông bắc giàu lên mạnh mẽ, về ngoại thương đãvươn tới thị trường các nước châu Á Mặt khác, kinh tế vẫn chủ yếu dựa vàonông nghiệp theo phương thức tiểu nông, tàn dư của phương thức sản xuất ÁĐông cùng chế độ gia trưởng của nền kinh tế manh mún, khiến mầm mống tưbản chủ nghĩa chớm nảy sinh đã không phát triển được

Nhà Mạc khi mới lên chiếm cứ được miền đồng bằng Bắc bộ khá sầmuất rất thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp và thươngnghiệp Nhà Mạc bằng chính sách của mình đã khuyến khích ruộng đất tưphát triển, Mạc Đăng Doanh "giữ pháp độ, cấm hà khắc tàn bạo, ít việc tạpdịch, nhẹ thuế khóa " đã tạo ra một thập kỷ "trị bình" tạo điều kiện cho nôngnghiệp phát triển Thủ công nghiệp rất phát triển với nghề gốm sứ

1.2.1.3 Tình hình văn hóa tưởng

Nho giáo vẫn là công cụ chính của các tập đoàn phong kiến sử dụng đểxây dựng chính quyền và củng cố trật tự xã hội Các triều đại phong kiến nốitiếp nhau liên tục mở những khoa thi nhằm tuyển mộ người tài phục vụ chocuộc chiến tranh giành quyền lực Mặc dù càng về sau giai đoạn này, thi cửcàng trở nên hình thức Nhưng trong số Nho sĩ vẫn có những người thực sự cótài như: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, Lê Hữu Trác,Ngô Thì Nhậm… với mong muốn dùng học vấn đưa xã hội thoát khỏi khủnghoảng, mang đến cho nhân dân cuộc sống ấm no hạnh phúc Đây là điều kiện

để cho các tính chất đạo lý trong Nho giáo phát triển và có những bước tiếnmới tiến bộ hơn

Trang 17

Các nhà Nho thế kỷ XVI-XVII phải đối diện với một đất nước triềnmiên trong loạn lạc, trong các cuộc đấu tranh huynh đệ tương tàn sự chia cắtcủa non sông Cục diện đó đã khiến cho suy tư của họ tập trung vào vấn đềlàm sao cho đất nước trở về một mối, làm sao cho xã hội được hòa bình, nhândân được an vui Từ đó họ để tâm đi tìm cách giải thích nguồn gốc của loạnlạc và đưa ra những chủ trương những đường lối trị nước của mình Nhưngtrong hoàn cảnh triều đình đương thời vẫn củng cố quyền lực của họ bằng bất

cứ biện pháp nào nên chủ trương trị nước bằng nhân nghĩa của nhà Nho chỉdừng lại là những dự định, những tâm tư nguyện vọng và mong muốn chủquan của mỗi nhà Nho chứ không được thực hiện để trị nước

1.2.2 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm

1.2.2.1 Cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), ngoài tên Nguyễn Bỉnh Khiêm còn

có tên là Nguyễn Văn Đạt, tên tự là Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân cư sĩ, ngườilàng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương (nay là xã Lý Học, huyện VĩnhBảo, tỉnh Hải Phòng) Nguyễn Bỉnh Khiêm được các môn sinh tôn là TuyếtGiang phu tử, là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất trong lịch sửcũng như văn hóa Việt Nam trong thế kỷ XVI Ông được biết đến nhiều vì tưcách đạo đức tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ Nam - Bắc triều(Lê – Mạc phân tranh) cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử Việt Nam.Sau khi đậu Trạng nguyên năm Ất Mùi (1535) và làm quan dưới triều Mạc,ông được phong tước Trình Tuyền Hầu rồi thăng tới Trình Quốc Công màdân gian quen gọi ông là Trạng Trình Đạo Cao Đài sau này đã phong thánhcho ông và suy tôn ông là Thanh Sơn Đạo sĩ hay Thanh Sơn Chơn nhơn.Người đời coi ông là nhà tiên tri số một trong lịch sử Việt Nam đồng thời lưutruyền nhiều câu sấm ký được cho là bắt nguồn từ ông và gọi chung là sấmTrạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng được coi là người đầu tiên trong lịch

Trang 18

sử nhắc đến hai chữ Việt Nam một cách có ý thức nhất thông qua các văn tựcủa ông còn lưu lại đến ngày nay.

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ 22dưới triều Lê Thánh Tông (1491), ở thời kỳ này được coi là thịnh trị nhất củanhà Lê Sơ Ông nội của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Nguyễn Văn Tĩnh, được ấmphong Thiếu bảo, tước Tư Quận Công; bà nội là Phạm Thị Trinh Huệ, được

ấm phong Chính phu nhân Cha là Nguyễn Văn Định, được tặng Thái bảo,tước Nghiêm Quận công, đạo hiệu là Cù Xuyên tiên sinh, là người có học vấn

và đức hạnh, được sung Thái học sinh Mẹ là Từ Thục phu nhân, con gáiThượng thư bộ Hộ Nhữ Văn Lan Từ Thục phu nhân tư chất thông minh, họcrộng văn hay, thạo đường thuật số, lại có chí hướng phò vua giúp nước củađấng trượng phu bà đã dạy kinh truyện, dạy thơ Quốc âm cho Nguyễn BỉnhKhiêm từ năm mới bốn tuổi Bà chính là điểm nhấn đặc biệt về gia đình trongtiểu sử Nguyễn Bỉnh Khiêm Dường như ảnh hưởng của bà tới Trạng Trìnhrất quan trọng và chí lớn của ông sớm được hình thành từ sự khơi gợi bồi đắpcủa mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm sớm đã hấp thụ truyền thống gia giáo của cảdòng họ nội và dòng họ ngoại

Đến tuổi trưởng thành ông theo học bảng nhãn Lương Đắc Bằng và nổitiếng học giỏi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cất công vào tận xứ Thanh để tầm sưhọc đạo Lương Đắc Bằng từng là một đại thần giữ chức Thượng dưới triều

Lê Sơ nhưng sau khi những kế hoạch của ông đưa ra nhằm ổn định triều chínhkhông được vua Lê Sơ cho thi hành, Lương Đắc Bằng đã cáo quan về quêsống đời dạy học (1509) Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn sáng dạ thông minh lạichăm chỉ học hành nên chẳng bao lâu trở thành học trò xuất sắc nhất củaLương Đắc Bằng Bởi vậy mà trước khi qua đời, Bảng nhãn Lương Đắc Bằng

đã trao lại cho Nguyễn Bỉnh Khiêm bộ sách quý về Dịch học (Chu Dịch) là

Trang 19

Thái Ất thần kinh đồng thời ủy thác người con trai Lương Hữu Khánh của mình cho Nguyễn Bỉnh Khiêm dạy dỗ.

Có thể căn cứ vào các mốc lịch sử và những hoạt động, có thể chiacuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm ra thành ba chặng:

Chặng thứ nhất, tính từ thời niên thiếu đến năm 1534 Thời thơ ấu,Nguyễn Bỉnh Khiêm được mẹ nuôi dạy, chăm sóc cẩn thận Đến tuổi trưởngthành, ông được học với quan hưu trí Hộ bộ Thượng thư Dương Đức Nhan vàtrở thành con rể của ông Đây là khoảng thời gian mà từ trong triều đến ngoài

xã hội có nhiều biến động: Nội chiến phi nghĩa làm cho hao người, tốn của,sưu cao thuế nặng, cướp bóc, giết người…

Trong khoảng thời gian 1523 và 1526, triều đình Lê Tương Dực có mởkhoa thi nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn mai danh ẩn tích, không ra ứng thí.Khi Mạc Đăng Dung đoạt ngôi nhà Lê, nhà Mạc đã có một số chính sách mớinhằm ổn định trật tự xã hội và nhằm thúc đẩy phát triển đất nước về mọi mặt

Do đó uy tín nhà Mạc chẳng những được củng cố dần dần mà còn được một

số quan lại nhà Lê cũ phò trợ đắc lực Và tuy nhà Mạc có tổ chức các khoa thiHội (1529), thi Hương để kén chọn nhân tài, các tài tử hưởng ứng rất đôngnhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn ẩn cư, dạy học

Chặng thứ hai, tính từ lúc ra đi thi và làm quan (1535 – 1542), NguyễnBỉnh Khiêm quyết định nhập thế Mặc dù đã 44 tuổi, ông vẫn đi thi Hương vàđạt giải nguyên khoa Giáp ngọ dưới triều Mạc Đăng Doanh (1534) Năm

1535, dự thi hội 4 kỳ đều đỗ đạt nhất, đỗ Hội nguyên; dự thi Đình, đỗ Trạngnguyên

Chặng thứ ba, tính từ năm 1543 đến năm 1585 trong thời gian ở ẩnNguyễn Bỉnh Khiêm dựng am Bạch Vân, bắc hai chiếc cầu Nghinh Phong vàTràng xuân, tu bổ chùa chiền, xây dựng một ngôi quán gọi là Trung Tân trênbến Tuyết Giang, được học trò xưng tôn là Tuyết Giang phu tử Tuy Nguyễn

Trang 20

Bỉnh Khiêm ẩn cư dạy học nhưng với tài đức cao vời vợi của ông, vua Mạcvẫn lấy “sư lễ” đãi ông Những khi nhà nước có gì quan trọng triều đình đềusai sứ giả đến hỏi, có khi triệu ông về kinh Bên cạnh đó, cả những người phù

Lê cũng luôn tôn trọng, vị nể Nguyễn Bỉnh Khiêm Sau hai năm, Mạc PhúcHải gia phong cho ông tước Trình Tuyền hầu

Ngay từ thời niên thiếu cho đến lúc trưởng thành, Nguyễn Bỉnh Khiêmnhận được sự giáo huấn trong một gia đình giàu truyền thống đạo lý và truyềnthống văn chương Thế nên thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm giàu tính chất đạo lý là

lẽ tất nhiên Và trong đó ông chịu ảnh hưởng mạnh nhất là đạo lý trong Nhogiáo Tinh thần Khổng giáo đã thấm nhuần trong ông khi ông được tiếp nhậnnhững bài học từ danh Nho Lương Đắc bằng

1.2.2.2 Sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm được nhìn nhận

là một trong những nhà văn hóa lớn của dân tộc Ông là một chính khách có

uy tín, bậc hiền triết, nhà tiên tri…nhưng ông cũng đồng thời là một tác giavăn học lớn có những đóng góp quan trọng trong sự phát triển của văn họcdân tộc Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm phong phú gồm cả chữ Hán và chữNôm

Nguyễn Bỉnh khiêm là một nhà thơ lớn, không chỉ của thế kỉ XVI Tácphẩm của ông có ảnh hưởng sâu rộng, tác động tích cực vào đời sống tinhthần của nhân dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của tiến trình văn học

dân tộc Về thơ chữ Hán, ông có tập Bạch Vân am thi tập, theo ông cho biết

có khoảng một nghìn bài, nay còn lại khoảng 800 bài Về thơ chữ Nôm, ông

có Bạch Vân quốc ngữ thi tập (còn gọi là Trình quốc công Bạch Vân quốc

ngữ thi tập), chính ông ghi rõ sáng tác từ khi về nghỉ ở quê nhà nhưng không

cho biết có bao nhiêu bài, hiện còn lại khoảng 180 bài Thơ Nôm NguyễnBỉnh Khiêm làm theo thể Đường luật và Đường luật xen lục ngôn nhưng ông

Trang 21

thường không đặt tiêu đề cụ thể cho từng bài và việc đó được thực hiện bởi

những nhà biên soạn sau này Theo Phả ký (Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn Công

Văn Đạt phả ký) của Vũ Khâm Lân Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có bài phú

nhưng nay đã bị thất lạc

Theo như PGS.TS Trần Thị Băng Thanh đã đánh giá, Nguyễn BỉnhKhiêm là nhà thơ viết nhiều nhất trong năm thế kỷ của nền văn học viết ViệtNam Về số lượng mà xét thì Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là một nhà quánquân Tuy nhiên vấn đề không chỉ là số lượng Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi

là một người tiếp nối cho sự phát triển và hoàn thiện của nền thơ ca dân tộc kể

từ sau Nguyễn trãi, đồng thời bổ sung vào đó đậm đặc hơn chất triết lý, suytưởng và giáo huấn để thơ trở thành một công cụ hữu ích phục vụ con người,phản ánh hiện thực đời sống và hiện thực tâm trạng một cách sâu sắc, với cáinhìn khái quát của một triết gia trong đó có những chiêm nghiệm từng trải của

cá nhân ông

Ngoài di sản văn học với hơn 800 bài thơ (cả chữ Hán và chữ Nôm) cònlưu lại đến ngày nay, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng để lại nhiều văn bia nổi tiếng

như: Trung Tân quán bi ký, Thạch khánh ký, Tam giáo tượng bi minh… hầu

hết bia đá ông cho khắc lúc sinh thời đã bị thất lạc hay hư hỏng qua hàng thế

kỷ nhưng nhiều bài văn bia do được người đương thời chép lại mà còn lưuđến ngày nay

Trên đây là những yếu tố đã làm nảy sinh tính chất đạo lý trong thơNguyễn Bỉnh Khiêm Khách quan lịch sử cộng với bản thân nhà thơ đã hợpnên một vị thế, một nhân cách lịch sử đáng kính trọng của văn học thế kỷ XVInày

Trang 22

CHƯƠNG 2 ĐẠO LÝ TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM

2.1 Sự suy đồi đạo lý

Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn nhận đạo lý dưới hai góc độ là tư tưởng Nhogiáo và truyền thống của dân tộc Ông sống trong một xã hội loạn lạc, cươngthường đảo điên thơ ông luôn thể hiện sự suy đồi đạo lý của con người

2.1.1 Sự suy loạn của đạo lý theo tư tưởng Nho giáo

Thế kỷ XVI là một giai đoạn đầy biến động, đất nước sống trong cảnhloạn lạc kéo dài Tình hình chính trị rối ren, các phe phái tranh giành quyềnlực đến một mất một còn Bản thân những người đứng đầu vương triều – cáchoàng đế nhà Lê đều bất tài vô hạnh Thời trước ông, chiến tranh là chínhnghĩa nên văn thơ thường mang giọng sang sảng, hào hùng Đến thời đạiNguyễn Bỉnh Khiêm chiến tranh là phi nghĩa Có sự xuất hiện của chiến tranh

là do sự suy loạn của tư tưởng trung quân theo quan niệm Nho giáo Nó làcuộc chiến tranh phe phái nồi da nấu thịt, là cuộc chiến của anh em cùng mộtnhà Nguyễn Bỉnh Khiêm đau cho tình cảnh đất nước bị vùi trong chiến trậnđẫm máu, đau cho những con người bị đẩy vào trong hoàn cảnh phải chémgiết nhau, chém giết những người vốn là họ hàng thân thích của mình Ôngluôn tự đặt ra câu hỏi về nguyên nhân dẫn tới chiến tranh Lý do cốt lõi là ởđâu? Phải chăng tư tưởng trung quân không còn nữa, cương thường lỏng lẻo,trật tự xã hội đảo điên

Vì Vậy đọc thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm ta thấy thực tế làm tâm hồn nhàthơ rung động nhiều nhất là cảnh loạn ly, chiến tranh tàn phá:

Sở quán sinh kinh cứ,

Cư ốc chiết vi tân.

Canh ngưu đồ nhi thực,

Trang 23

Nhương đoạt phi kỷ hóa, Hiếp dụ phi kỷ sắc.

Kiến hãm trọng đồ thán, (…)Tiều tụy tư vi thậm,

Ai tố mạc năng đắc.

(Thương loạn)

(Nhà ở đem bẻ làm củi,Trâu cày đem mổ làm thịt ăn

Cướp đoạt tài sản không phải là của mình, Hiếp dỗ người không phải là vợ mình

Mắt thấy nơi nơi đều lầm than,

Đi qua khắp chốn đều là sinh gai góc

Tiều tụy đến như thế là khó lắm, Thương xót van kêu đâu có được.)Cảnh “chiến tranh liền năm, quân nhà vua mệt mỏi; bao đời xâu xé, của

nước kiệt quệ (Cảm hứng thi, bài 6) một vùng từ đông chí nam, ruộng lúa

không cấy hái (Thương loạn) làm cho người dân khốn đốn:

Lạc lạc can qua mãn mục tiền, Nhân dân bôn thoán dục cầu tuyền.

Điên liên huề bão ta vô địa,

Ái hộ căng linh bản hữu thiên.

Trang 24

Trong bài Cảm hứng dài đến 300 câu, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói đến

Đó là những cảnh điên đảo trong luân thường, lễ nghĩa, dẫn đến conngười thành tham lam, xảo trá và xã hội dẫn đến loạn ly:

Dân khốn tặc đạo phồn, Thế loạn anh hùng khỉ

Xứ xứ quần lợp ô, Tập tập mao tập vị.

Nguyên dã tác chiến trường, Tỉnh ấp biến tặc lũy.

(dân khốn quẫn, trộm cướp đầy rẫy,Đời loạn lạc anh hùng nổi dậy

Chốn chốn quạ hợp bầy,Chi chit nhím lông trổ

Đồng ruộng làm chiến trường,Làng xóm thành lũy giặc.)

Xử sự thì lấy chuyện nhà Hán, nhà Đường bên Trung Quốc nhưng nó cũng chính là hoàn cảnh của nước ta đầu thế kỷ XVI Nguyễn Bỉnh Khiêm tintưởng ở cương thường làm người tức là đạo vua tôi, cha con, anh em, vợchồng, bạn bè là do thánh nhân bắt chước Trời mà đặt ra cho muôn đời Xãhội mà nhà thơ sống là một xã hội loạn lạc, chiến tranh xảy ra liên miên, xung

Trang 25

bạo” một cách căm giận Nổi bật trong các bài thơ Tòng chinh và Cảm hứng

thể hiện lòng thương dân, mong mỏi thái bình, mong mỏi người cầm quân,người cầm quyền có đạo lý nhân nghĩa giữa con người với con người

Trong một xã hội điên đảo luôn luôn có sự đối lập giữa hai tầng lớpthống trị và bị trị Cương thường điên đảo như thế mà các nhà quyền quý sốngrất xa hoa, thức ăn là những thức lạ của hiếm, nhà ở, thức dùng sang trọngđến phí phạm Nhà cửa vẽ tranh chạm ngọc Sự xa xỉ ở nơi bếp núc thì lấy sápthay củi, bùi béo ngọt ngon Say rượu nồng, no chất tươi, mặc áo nhẹ, cưỡingựa béo

Viên trích ngọc thiềm thừ, Khoái hưng kim tức lý.

Vu tiến hoàng tước canh, Chở đăng giá cô xị.

Vạn tiền vô hạ trợ, Bát trân yến hậu vị.

Trang 26

Khốn đốn dìu dắt nhau, thở than không có đất, Thương xót che chở cho may ra chỉ có trời.

(Cảm hứng, bài 4) Bất thí điểu phần xào,

Đãi đồng phường trinh vĩ.

Thử thời tư vi cực, Sinh dân thậm tiều lụy

(Cảm hứng)

(Chẳng khác gì chim bị mất tổ,Giống hệt cá bị máu dồn xuống đuôi

Lúc ấy như thế là cùng cực, Sinh dân quá ư tiều tụy.)

Để sống một cách xa hoa, giai cấp thống trị phải bóc lột nhân dân mộtcách tàn tệ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã lớn tiếng phê phán sự bóc lột ấy Trong

đó đáng chú ý nhất là bài Tăng thử (Ghét chuột) ông muốn mượn lời của bài

thơ để ám dụ bọn bóc lột, ăn bám:

Dân mệnh vi chí trọng, Thạc thử hồ bất nhân

Thảo thiết tứ âm độc, Nguyên dã hữu cảo miêu.

Lẫm dữu vô dư túc, Lao phí nông phu thán.

Trang 27

Đồng nội có mạ khô,Kho đụn không thóc thừa.

Vất vả nghèo khổ, người nông dân than vãn,Đói và gầy, trên ruộng đồng kêu khóc

………

Sinh mệnh của dân chũng ất là trọng,Tàn hại sao mà quá thảm khốc.)Loài chuột và loài cáo làm tổ ở tường thành và dưới đàn xã, đàn tắcthường không bị người ta bắt vì không ai dám đào phá tường thành là nơi cầnphải củng cố hoặc đàn xã, đàn tắc là nơi thờ cúng uy nghiêm Bọn quan lạibóc lột tàn tệ mà nhân dân không chống lại được vì chúng dựa vào uy thế và

sự bao che của nhà nước cũng giống như loài chuột loài cáo dựa vào tính bấtkhả xâm phạm của tường thành hoặc đàn xã, đàn tắc:

Thành xã ỷ vi gian, Thần dân oán mãn phúc.

(Tăng thử)

(Chốn thành, xã dựa vào mà làm điều gian,

Cả thành và người đều oán chứa đầy bụng.)Nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn có niềm tin vào quy luật nhân-quảtrong đạo Phật Ông tin chắc rằng cuối cùng thì tội ác sẽ bị trừng trị

Ký thất thiên hạ tâm, Tất thụ thiên hạ lục

Triều thị tứ nhĩ thi,

Ô diên khiết nhĩ nhục.

(Tăng thử)

(Mi đã làm mất lòng thiên hạ,Tất sẽ bị thiên hạ giết chết

Trang 28

Phơi xác mi ở chốn triều thị,Quạ và diều rỉa thịt mi.)

Thế gian biến cải vũng nên đồi, Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi.

Còn bạc còn tiền còn đệ tử, Hết cơm hết rượu hết ông tôi.

Xưa nay đều trọng người chân thật,

Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi.

Ở thế mới hay người bạc ác, Giàu thì tìm đến khó thì lui.

(Thơ Nôm, bài 71) Đời này nhân nghĩa tựa vàng mười,

Có của thì hơn hết mọi lời.

Rõ ràng là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phê phán một cách gay gắt những

tệ lậu của chế độ phong kiến - chế độ phong kiến đang trượt trên cái dốc suyđốn không thể nào cứu vãn được Vua chúa cũng lên voi xuống chó, nay làvua, mai là giặc Đó chính là nguyên nhân gây ra chiến tranh giữa các tậpđoàn phong kiến gây ra cảnh loạn ly, cảnh núi xương, sông máu cho nhân dân.Qua đó có thể thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm đau nỗi đau của nhân dân Ông cũngđau vì giai cấp thống trị không lấy đạo lý làm nền tảng để trị nước mà chỉquan tâm đến danh lợi quyền lực của giai cấp mình để đạt được điều đó họsẵng sàng đẩy nhân dân vào cái chết dường như đạo lý không còn vai trò gìđối với việc trị nước trong xã hội này

Trước cảnh loạn lạc cùng khốn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đặt ra câu hỏi:

“ Bởi trời ư? Hay bởi người ư?” và rồi ông tự trả lời cho câu hỏi do chínhmình đặt ra “là lý đây mà cũng là số đấy Không phải chỉ có đạo lý phải suy

Trang 29

nghiệm mà có cả vận hội có thể tính toán; có thể xem bằng tượng mà cũng cóthể tính bằng số.

Đề cao lý tưởng Nho giáo, Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn nhấn mạnh cươngthường đạo lý, hướng về các giá trị tinh thần khuôn mẫu, những vua sáng tôihiền, những nghĩa tình bạn bè, thôn xóm và trên hết là trách nhiệm của kẻ sĩtrong cõi đời Sống giữa thời loạn lạc, ông không chỉ gắn với vương triều màcòn bày tỏ ý nguyện xây dựng đất nước thanh bình, chúng dân no đủ :

Tằng phù công thất lý nguy gian, Chung hiệu trì khu lực cánh nan

Thâm mẫn tiểu dân ly đống nỗi, Thùy dương đại nghĩa thủ hung tàn.

Lễ nghĩa than ôi ngang trái,

Mũ lọng theo đó đảo ngược

Thờ vua tôi chẳng ra tôi,Thờ cha con chẳng ra con)

Trang 30

Chỉ bằng mấy câu thơ ngắn gọn, xúc tích Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cho

ta thấy một sự biến đổi lớn của thời đại đó là sự đảo điên của trật tự xã hội.Không còn nữa cái gọi là Tam cương Ngũ thường Đáng phải thờ vua thì bềtôi làm điều ngược lại (tôi chẳng ra tôi) – quan hệ vua tôi bị phá vỡ Đángphải thờ cha thì con cái lại bất hiếu (con chẳng ra con) – quan hệ cha con bịđảo lộn Rồi quan hệ anh em „như thể chân tay‟ giờ cũng thành :

Bất hữu huynh phi huynh, Bất cung đệ phi đệ.

Tính hậu độc nhân luân, Đồng tịch tiện lăng quí

Thất tự nghiệt đại tông, Quá á thiếp ngụy vĩ.

Trang 31

người không sống theo lễ nghĩa, không tuân theo đạo lý con người Chuẩnmực đạo đức của con người đang trên đà tan vỡ Sự sàm sỡ nhân luân, viphạm đạo đức diễn ra ngay trong tộc gia đình : chung nhau phi hậu, kẻ hènlấn người sang Những mối quan hệ gia đình : đạo lý cha con, vợ chồng, anh

em cũng bị vi phạm : con vợ lẽ trở nên thắng thế, con vợ cả lại là kẻ thất thế.Rồi vì quá yêu thương đến mù quáng nên vợ lẽ giả làm vợ cả… Nguyễn BỉnhKhiêm đã nhìn thấy sự suy đồi đạo đức trên mộ phạm vi rộng Đầu tiên là giađình, sau đó đến triều đình rồi toàn xã hội Đây là sự đổ vỡ của Tam cươngNgũ thường hay cũng chính là sự đổ vỡ của trật tự xã hội Lý tưởng Nho giáo– chuẩn mực đạo đức của toàn xã hội thời bấy giờ đã bị vi phạm Nền tảngvững chắc cho sự tồn tại của một chế độ xã hội – cụ thể là chế độ phong kiếnkhông còn nữa Giờ đây, chứng kiến thực tại, Nguyễn Bỉnh Khiêm không thểkhông đau đớn xót xa Càng đối diện với hiện thực, trái tim nhà thơ càng quặnthắt

Nguyễn Bỉnh Khiêm có khoảng ba chục bài thơ cả Hán và Nôm bàn vềnhững điều chính yếu nhất trong cương thường, xoay quanh các mối quan hệ:vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, thầy trò, bè bạn, họ hàng và xóm giềng.Trong mảng thơ chữ Hán, Nguyễn Bỉnh Khiêm nói nhiều đến mối quan hệ

vua tôi: Quân đạo, Thần tiết đó là bổn phận từng người, nhưng Quân thần thi,

Quân thần lưỡng toàn thi thì đó là trách nhiệm của mỗi người đặt trong mối

quan hệ cụ thể, đòi hỏi một sự ràng buộc chung; ngoài ra Quân đắc hiền

tướng thi, Quốc trọng lão thần thi lại là lời chỉ dẫn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

cho vua chúa cách đối xử với nhân tài của đất nước

2.1.2 Sự suy loạn của đạo lý theo truyền thống dân tộc

Trên thế giới có hai loại hình văn hóa, loại hình văn hóa trọng động(gốc du mục) và văn hóa trọng tĩnh (gốc nông nghiệp), văn minh phương Tây

và phương Đông Điều mà chúng ta dễ dàng nhận thấy là người phương Đông

Trang 32

nặng tính trọng tình, như trong sách Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của GS-TSKH Trần Ngọc Thêm đã khẳng định Một bồ cái lý không bằng một chí

cái tình cho thấy người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng

thường thể hiện tính trọng tình một cách rõ rệt qua một số câu tục ngữ, ca dao:

Bán anh em xa mua láng giềng gần.

Hay:

Một giọt máu đào hơn ao nước lã.

Bên cạnh đó dân tộc Việt Nam ta luôn đề cao, coi trọng giá trị con

người, được thể hiện qua một số câu tục ngữ như: người ta là hoa đất, một

con người có giá trị là người có phẩm chất tốt đẹp từ trong ra ngoài Nó mangmột nghĩa sâu rộng là một hương hoa tỏa bóng mát cho đời, con người có thểlàm ra tất cả, làm cho mọi vật được tươi tốt hơn

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước dân tộc ta đã đoàn kếtđấu tranh bỏ qua hạnh phúc, niềm vui của cá nhân để quyết tâm giữ vững lãnhthổ, chủ quyền đất nước, xây dựng một đất nước giàu mạnh

Thế nhưng vào thế kỷ XVI, các triều đình phong kiến đấu tranh liênmiên, truyền thống dân tộc bị suy thoái, con người trở nên xấu xa, vị kỷ, conngười cũng như cả xã hội trọng tiền hơn tình, trọng của hơn người ThơNguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện sự suy đồi của đạo lý theo truyền thống dântộc, xã hội, cương thường đảo điên

Một thực tế đã làm khuấy động tâm hồn nhà thơ, ông đau đớn cùngcực sự đen bạc của cảnh đời Con người tham lam, hám tiền, trọng lợi hơnnghĩa, coi rẻ tình nghĩa, kể cả tình cha con, anh em, vợ chồng, bà con:

Giàu sang người trọng, khó ai nhìn, Mấy dạ yêu vì kẻ lỡ hèn.

Thuở khó dẫu chào, chào cũng lặng,

Ngày đăng: 01/01/2020, 21:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đỗ Huy (2005), “Nguyễn Bỉnh Khiêm và những tư tưởng đạo đức của ông”, Triết học, tr.22-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bỉnh Khiêm và những tư tưởng đạo đức củaông”, "Triết học
Tác giả: Đỗ Huy
Năm: 2005
[2] Đinh Gia Khánh (1997), Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb. Hà Nội
Năm: 1997
[3] Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương (1997), Văn học Việt Nam từ thế kỷ X Đến hết thế kỷ XVIII, Nxb. Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học ViệtNam từ thế kỷ X Đến hết thế kỷ XVIII
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Hà Nội
Năm: 1997
[4] Bùi Văn Nguyên (1986), Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb. Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tác giả: Bùi Văn Nguyên
Nhà XB: Nxb. Hải Phòng
Năm: 1986
[5] Bùi Văn Nguyên (1994), Truyện danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb.Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tác giả: Bùi Văn Nguyên
Nhà XB: Nxb.Hải Phòng
Năm: 1994
[6] Vũ Đức Phúc (1986), “Tư tưởng chính trị và xã hội của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua thơ văn ông”, Tạp chí Văn học số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng chính trị và xã hội của Nguyễn BỉnhKhiêm qua thơ văn ông
Tác giả: Vũ Đức Phúc
Năm: 1986
[7] Nguyễn Hữu Sơn (1990), “Khảo sát cái nhìn đạo lý trong Văn học cổ điển dân tộc”, Tạp chí Văn học số 6, tr.60-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát cái nhìn đạo lý trong Văn học cổđiển dân tộc
Tác giả: Nguyễn Hữu Sơn
Năm: 1990
[8] Trần Thị Băng Thanh Và Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu (2001), Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia tác phẩm, Nxb. Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia tác phẩm
Tác giả: Trần Thị Băng Thanh Và Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Hà Nội
Năm: 2001
[9] Lã Nhâm Thìn (1997), Thơ Nôm Đường luật, Nxb. Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Nôm Đường luật
Tác giả: Lã Nhâm Thìn
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Hà Nội
Năm: 1997
[10] Trần Nho Thìn (2012), Văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX, Nxb.Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX
Tác giả: Trần Nho Thìn
Nhà XB: Nxb.Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
[11] Trần Nguyên Việt (2000), “Vấn đề con người trong tư tưởng triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm”, Triết học, tr. 50-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong tư tưởng triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm”, "Triết học
Tác giả: Trần Nguyên Việt
Năm: 2000
[12] Trần Ngọc Vương (Chủ biên) (2007), Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX, Nxb. Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đếnhết thế kỷ XIX
Tác giả: Trần Ngọc Vương (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w