Chương 2: Thiết kế hoạt động dạy học bài "Nghĩa của câu" trong SGK Ngữ văn 11 bộ chuẩn theo mô hình trường học mới VNEN.. Nguyên tắc tổ chức các hoạt động trong mô hình trường học VNEN M
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
===o0o===
VŨ THỊ HẢI YẾN
VẬN DỤNG MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI VNEN VÀO THIẾT KẾ DẠY HỌC
BÀI “NGHĨA CỦA CÂU” (NGỮ VĂN 11)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI, 2016
LỜI CẢM ƠN
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn, các thầy côtrong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn đã quan tâm, giúp đỡ và kiện cho tôitrong quá trình làm khóa luận Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đếnTS.Phạm Kiều Anh - người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình chu đáo
để tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 04 năm 2016
Sinh viên
Vũ Thị Hải Yến
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗi lực của bản thân, tôi đã nhậnđược sự hướng dẫn của các thầy cô trong khoa Ngữ văn và sự hướng dẫn trựctiếp của cô giáo – TS.Phạm Kiều Anh
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Kết quả nghiêncứu là trung thực và không trùng khớp với kết quả của các tác giả khác
Hà Nội, ngày 22 tháng 04 năm 2016
Tác giả
Vũ Thị Hải Yến
Trang 4SGV : Sách giáo viên
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Bố cục khóa luận 8
NỘI DUNG 9
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC VNEN VÀO DẠY HỌC BÀI NGHĨA CỦA CÂU 9
1.1 Giới thiệu chung về Mô hình trường học VNEN 9
1.1.1 Khái niệm mô hình trường học VNEN 9
1.1.2 Nguyên tắc tổ chức các hoạt động trong mô hình trường học VNEN 9
1.1.3 Tổ chức và quản lí lớp học của mô hình trường học VNEN 12
1.1.4 Mục đích của việc sử dụng mô hình trường học VNEN trong giáo dục 16
1.2 Những vấn đề chung về “Nghĩa của câu” 17
1.2.1 Khái niệm nghĩa của câu 17
1.2.2 Các thành phần ý nghĩa trong câu 19
1.3 Cơ sở thực tiễn 21
1.3.1 Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học bài “Nghĩa của câu” ở trường THPT Tây Tiền Hải 21
1.3.2 Đánh giá chung 26
Trang 6Chương 2 THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC BÀI “NGHĨA CỦA
CÂU” SỬ DỤNG MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC VNEN 27
2.1 Mục đích của việc dạy học bài “Nghĩa của câu” 27
2.2 Các nguyên tắc thiết kế hoạt động dạy học bài “Nghĩa của câu” theo mô hình trường học VNEN 27
2.2.1 Nguyên tắc phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS 27
2.2.2 Nguyên tắc dạy học gắn liền với thực tiễn 29
2.2.3 Nguyên tắc trực quan 31
2.3 Bài “Nghĩa của câu” trong SGK Ngữ văn 11 32
2.4 Những hoạt động dạy học bài “Nghĩa của câu” theo mô hình trường học VNEN 34
2.4.1 Hoạt động khởi động 34
2.4.2 Hoạt động hình thành kiến thức 35
2.4.3 Hoạt động luyện tập 38
2.4.4 Hoạt động vận dụng 39
2.4.5 Hoạt động mở rộng 39
Chương 3 THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 40
3.1 Mục đích và yêu cầu thử nghiệm 40
3.1.1 Mục đích 40
3.1.2 Yêu cầu thử nghiệm 40
3.2 Đối tượng thử nghiệm 40
3.3 Kế hoạch thử nghiệm 41
3.4 Nội dung thử nghiệm 41
KẾT LUẬN 48
C Ô N G T R Ì N H Đ Ã C Ô N G B Ố
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7GV tăng cường tổ chức các hoạt động nhận thức cho HS, hướng dẫn phươngpháp tự học cho các em Đổi mới PPDH luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầutrong giáo dục Nhưng trên thực tế, vấn đề này chưa được quan tâm đúngmức GV tuy được tham dự các lớp tập huấn về phương pháp song khi ápdụng trong quá trình dạy học chỉ mang tính "hình thức", chưa đạt hiệu quảcao, do GV chưa nắm chắc lí thuyết và điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế
và thiếu thốn
Bên cạnh đó, mặc dù đã có nhiều cải tiến trong nhiều hoạt động của quátrình giáo dục nhưng nhìn chung PPDH của GV và đổi mới hình thức học củahọc sinh (HS) vẫn chưa có bước đột phá lớn, chủ yếu vẫn là những đổi mớinhỏ lẻ, mang tính thao tác Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạngtrên là thiếu một mô hình (MH) dạy học mới, có thể hiện thực hóa một cáchhiệu quả tư tưởng đổi mới DH Để giải quyết vấn đề này, một hướng đi mới
đã và đang được nghiên cứu, vận dụng là cách thức tổ chức hoạt động dạy họctheo MH trường học mới VNEN
Việc đổi mới PPDH nói chung và PPDH môn Ngữ văn nói riêng là việc
vô cùng cần thiết Bởi lẽ Ngữ văn là một môn học có vị trí quan trọng Nó vừa
là môn học mang tính công cụ, vừa là môn học mang tính nghệ thuật, lại làmôn học mang tính nhân văn cao.Tuy nhiên, một thực trạng đáng lưu ý ở đây,
Trang 8đó là HS đang ngày càng quay lưng lại với môn Ngữ văn, không còn coi trọng
và hứng thú với môn học này Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạngnày, trong đó bao gồm cả những nguyên nhân khách quan về thực trạng của
xã hội và những nguyên nhân chủ quan nảy sinh trong thực tế dạy học mônhọc này ở nhà trường phổ thông Lối dạy học truyền thống; cách tạo khôngkhí học tập và cả cách kiểm tra đánh giá theo lối áp đặt, không xác định HS làchủ thể của hoạt động dạy học nên nhiều giờ học trở nên nhàm chán, căngthẳng; không có ấn tượng với các em Bởi vậy, để HS học tốt môn Ngữ văncần áp dụng những hình thức, biện pháp dạy học mới, hiện đại nhằm kíchthích hứng thú học tập cho HS
"Nghĩa của câu" là một bài học tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn
THPT Đây là một nội dung kiến thức hoàn toàn mới so với các chương trình
trước đây Các nội dung kiến thức của bài "Nghĩa của câu" cũng chưa được trình bày ở lớp dưới Muốn đạt được hiệu quả cao trong việc bài "Nghĩa của
câu" nói riêng và dạy học tiếng Việt nói chung cần có PPDH phù hợp kích
thích được hứng thú, sự say mê tìm tòi của HS
Nhận thấy MH trường học mới VNEN đã áp dụng thử nghiệm và đạtđược thành công đáng ghi nhận ở cấp học Tiểu học và THCS ở nhiều mônhọc trong đó có Ngữ văn Hơn nữa, gần đây ở bậc THPT cũng đã có nhiềunghiên cứu đưa vào ứng dụng thử nghiệm mô hình trường học VNEN ở nhiềuphân môn Với Ngữ văn, cũng đã có nhiều bài nghiên cứu thử nghiệm trongdạy đọc hiểu văn học, nhưng nghiên cứu về giờ dạy tiếng Việt ở chương trìnhTHPT vẫn còn là hướng đi khá mới
Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: Vận dụng
mô hình trường học mới VNEN vào thiết kế dạy học bài “Nghĩa của câu” (Ngữ văn 11).
Trang 92 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu về Nghĩa của câu
Nghĩa của câu là một bình diện khá quan trọng của câu Tuy nhiên,nghĩa của câu không phải là đối tượng được chú trọng nghiên cứu ngay từđầu, các công trình nghiên cứu về nó còn hạn chế và còn tồn tại nhiều ý kiềnkhác nhau
Trong ngữ pháp truyền thống, câu được coi là đơn vị cấu trúc lớn nhấttrong tổ chức nội bộ của một ngôn ngữ Quan niệm này xuất pháp từ nhậnthức câu là một đơn vị ngôn ngữ lớn, có nội dung thông báo và có cấu trúc cụthể Việc nghiên cứu câu theo quan niệm này quan tâm nhiều đến cấu trúc màxem nhẹ và chưa đi sâu vào mặt nghĩa và mặt sử dụng của câu Theo quan
niệm trên, các tác giả trong cuốn "Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt" tập
trung xem xét câu chủ yếu ở cấu trúc ngữ pháp Do đó, câu được phân loạidựa trên ba căn cứ: phân loại theo mục đích nói (câu tường thuật, câu nghivấn, câu mệnh lệnh, câu cảm thán); căn cứ vào mối quan hệ với hiện thực(câu khẳng định, câu phủ định); phân loại câu theo cấu tạo (câu đơn, câughép) [11]
Ngày nay, cùng với sự phát triển của hàng loạt lí thuyết mới, câu đượcxem xét trên nhiều phương diện Chẳng hạn, một học giả người Nga cho rằngcâu có ba phạm trù cú pháp hiện thực hóa bản chất ngữ pháp Đó là tính thôngbáo, tính tình thái và tính ngữ vị Trong đó, phạm trù tính thông báo truyềnđạt ý đồ thông báo của người nói về một cái gì đó cho người khác biết để chongười đó có thể phản ứng lại Tiêu chí tình thái là phạm trù ngữ điệu, nhờ ngữđiệu này mà chúng ta biết được câu được cấu thành không và ý đồ thông báocủa người nói có được thực hiện không Còn phạm trù tính vị ngữ truyền đạtmối liên hệ giữa vị ngữ với chủ ngữ của câu Như vậy, mỗi phạm trù này đều
Trang 10có các mặt bên trong (ý nghĩa) và mặt bên ngoài (các tiêu chí hình thức) [3,Tr.44]
Trong ngôn ngữ học hiện đại, câu được khảo sát ở ba bình diện màCh.Moriss đã khởi xướng Trong lí thuyết kí hiệu học, ba lĩnh vực cần đượcxem xét là:
Nghĩa học (Semantics): đó là lĩnh vực của các mối quan hệ giữa kí hiệu
với các sự vật ở bên ngoài hệ thống kí hiệu
Kết học (Syntatics): là lĩnh vực nghiên cứu kí hiệu các mối quan hệ kết
sự khác biệt lớn so với quan niệm ngữ pháp truyền thống vốn chỉ xem xét câu
ở bình diện cú pháp mà không coi trọng bình diện nghĩa và bình diện sử dụngcủa câu
Theo tác giả Diệp Quang Ban trong sách "Ngữ pháp tiếng Việt"
[1, tr.105], ông cho rằng câu ngày nay người ta thường nêu ra các yếu tố sauđây:
Yếu tố hình thức: Câu có cấu tạo ngữ pháp bên trong và bên ngoài có
tính chất tự lập và có một ngữ điệu kết thúc
Yếu tố nội dung: Câu có nội dung là một sự tưởng tượng đối trọn vẹn và
có thể kèm thái độ của người nói hay nội dung làm thái độ, tình cảm củangười nói
Yếu tố chức năng: Câu có chức năng hình thành và biểu hiện truyền đạt
tư tưởng, tình cảm Nó là đơn vị thông báo nhỏ nhất
Lĩnh vực nghiên cứu: Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ.
Trang 11Như vậy, một định nghĩa về câu sẽ như sau: "Câu là đơn vị của nghiên
cứu có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩ tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nó hoặc có kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ" [1, tr.106]
Định nghĩa trên tương đối đầy đủ Nó đề cập đến hai thành phần nghĩa
cơ bản của câu là sự việc và nghĩa tình thái Đây cũng là hai thành phần nghĩa
được giảng dạy trong bài "Nghĩa của câu" trong SGK Ngữ văn 11 (tập 2).
Trong khi đó, tác giả Cao Xuân Hạo khi bàn về nghĩa của câu lại cho
rằng: "Nghĩa của câu là cấu trúc nhiều tầng Các tầng nghĩa trong câu phối
hợp với nhau tạo ra cái nghĩa hành chức ấy và được như vậy thì mới là hiểu nhau Nghĩa của câu nhiều khi ở trên bề mặt của nó nhưng nhiều khi chỉ thấy được trong bề sâu của nó." [6, tr.103].
“Nghĩa của câu” là một nội dung kiến thức quan trọng trong chương
trình Ngữ văn THPT Cho đến nay, việc dạy học nội dung này đã được nhiềunhà nghiên cứu và cả GV phổ thông quan tâm nhằm tìm ra những hình thức tổchức hướng dẫn HS tiếp cận những tri thức này đạt kết quả cao Tuy nhiên,trong khóa luận này, chúng tôi tập trung vào tìm hiểu và bước đầu vận dụng
một hình thức tổ chức hướng dẫn HS tiếp cận với “Nghĩa của câu” trong
SGK Ngữ văn 11 - THPT Đó là sử dụng mô hình (MH) trường học VNENhướng tới mục đích tạo ra hiệu quả cho việc tổ chức dạy học bài học và tạohứng thú, và sự say mê học Tiếng Việt cho chủ thể học tập - HS
2.2 Lịch sử nghiên cứu về mô hình trường học mới VNEN
Ở Việt Nam, MH trường học mới VNEN đã và đang được chú trọngnghiên cứu cũng như đưa vào thử nghiệm tại một số cấp học ở nhiều trườngtrên phạm vi cả nước Có thể kể đến một số công trình bàn luận và đánh giá
Trang 12về MH như:
1 Đặng Tự Ân - Mô hình trường học mới Việt Nam Hỏi - Đáp NXB Giáo dục Việt Nam, 2014.
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo - Vụ Giáo dục Tiểu học - Dự án Mô hình
trường học mới Việt Nam, Hướng dẫn tổ chức sinh hoạt chuyên môn tại các
trường thực hiện mô hình trường học mới Việt Nam, NXB Giáo dục ViệtNam, 2013
Từ năm 2011-2012, MH trường học mới VNEN được tiến hành thửnghiệm ở cấp Tiểu học Qua ba năm triển khai ở cấp Tiểu học đã khẳng định
mô hình trường học mới VNEN là mô hình trường học hiện đại, tiên tiến, phùhợp với mục tiêu đổi mới và đặc điểm của giáo dục của Việt Nam Do vậy,
mô hình tiếp tục được nhân rộng quy mô, năm 2014-2015 trên cả nước có
1447 trường Tiểu học có HS học hết lớp 5 theo MH trường học VNEN, Bộcũng chỉ đạo 6 tỉnh triển khai thử nghiệm MH trường học mới này tại bậcTHCS Đã có 46 lớp 6, trong 24 trường THCS triển khai và thực nghiệmthành công Tiếp đó, năm 2015-2016, trên cả nước đã có 3700 trường tiểu học
và 1600 trường THCS tham gia triển khai MH trường học mới
Từ những thành công và khả năng ứng dụng của MH này đem lại hiệuquả cao trong học tập của HS, nên hướng nghiên cứu về việc thiết kế và tổchức dạy học theo MH VNEN ở bậc THPT đang hứa hẹn sẽ đem lại bước tiếntoàn diện hơn cho PPDH ở nhà trường Việt Nam Đối với chương trình Ngữvăn ở bậc THPT, nghiên cứu áp dụng MH trường học mới VNEN vào dạyhọc giờ tiếng Việt còn là một hướng mới, hứa hẹn sẽ đem lại nhiều kì vọngđem vào ứng dụng trong thời gian gần nhất Nhận thấy rõ tính tích cực và khảnăng có thể ứng dụng cao đó của MH trường học mới VNEN, cùng với nội
dung bài Nghĩa của câu có nhiều điểm thích hợp đưa vào ứng dụng thử
nghiệm MH trường học mới, chúng tôi tiến hành bài nghiên cứu với đề tài:
Trang 13Vận dụng mô hình trường học mới VNEN vào thiết kế dạy học bài
“Nghĩa của câu” (Ngữ văn 11).
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu đề tài nhằm tìm ra một phương hướng dạy học bài "Nghĩa
của câu", tạo ra sự sáng tạo và kích thích nhu cầu học tập cho HS trong dạy
học tiếng Việt
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp các vấn đề lý thuyết về MH trường học mới VNEN và nghĩacủa câu
- Đề xuất cách vận dụng MH trường học mới VNEN khi dạy học bài
"Nghĩa của câu" trong SGK Ngữ văn 11 (bộ chuẩn).
- Thử nghiệm nhằm bước đầu đánh giá kết quả đề xuất
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- MH trường học mới VNEN trong giáo dục
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Bài "Nghĩa của câu" trong SGK Ngữ văn 11 (bộ chuẩn).
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp chính sau:
5.1 Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Phương pháp này sử dụng khi đi phân tích các ngữ liệu trong bài học vàphần luyện tập
5.2 Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp này sử dụng khi tiến hành so sánh các ngữ liệu trong bàihọc nhằm làm nổi bật vấn đề nghiên cứu trong đề tài
Trang 14Khóa luận được triển khai làm 3 phần: mở đầu, nội dung, kết luận.
Phần nội dung được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng mô hình trường
học mới VNEN vào dạy học bài “Nghĩa của câu”.
Chương 2: Thiết kế hoạt động dạy học bài "Nghĩa của câu" trong SGK
Ngữ văn 11 (bộ chuẩn) theo mô hình trường học mới VNEN
Chương 3: Thử nghiệm sư phạm
Trang 15NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC VNEN VÀO DẠY HỌC
BÀI NGHĨA CỦA CÂU
1.1 Giới thiệu chung về Mô hình trường học VNEN
1.1.1 Khái niệm mô hình trường học VNEN
MH trường học mới tại Việt Nam VNEN (Việt Nam Escuela Nueva VNEN) là một kiểu MH nhà trường hiện đại, tiên tiến, phù hợp với mục tiêuđổi mới và đặc điểm của giáo dục Việt Nam VNEN là cụm từ viết tắt củaViệt Nam Escuela Nueva tức là MH trường học mới tại Việt Nam Đó là sựvận dụng MH nhà trường đã được thí điểm thành công ở Cô-lôm-bi-a và một
-số nước Châu Mĩ la tinh (Escuela Nueva) MH này được đề xuất từ MH EN(đó là MH nhà trường kiểu mới được thực hiện tại nước Cộng hòa Côlômbia)
MH EN đã đưa ra được một giải pháp giáo dục cụ thể để thay đổi nhà trường,phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục hiện đại
Ở Việt Nam, theo báo cáo nhanh của Dự án MH trường học mới, tính
từ năm 2011, VNEN đã được triển khai thí điểm và nhân rộng ở bậc Tiểu họctại 63 tỉnh, thành phố, với gần 2000 trườngvà gần 70.000 HS tham gia Đây là
MH dạy học không những đổi mới về tổ chức lớp học, về trang trí lớp mà quátrình dạy học cũng được đổi mới từ dạy - học cả lớp sang dạy học theo nhóm
1.1.2 Nguyên tắc tổ chức các hoạt động trong mô hình trường học VNEN
Mô hình trường học mới VNEN được triển khai dựa trên nguyên tắcphối hợp các hoạt động học tập cá thể với sự tương tác của HS - HS và HS -GV; hướng HS đến sự phát triển toàn diện, không chỉ hoạt động lĩnh hội kiếnthức mà còn rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế sinh động,năng lực tự học, kỹ năng sống, tự phục vụ bản thân, tự quản tập thể, bồidưỡng hứng thú học tập để học tập suốt đời MH trường học mới chú trọng
Trang 16phát huy năng lực riêng của từng HS, không ứng xử một cách đồng loạt bằngcách quan tâm đến từng học sinh ngay trong quá trình học tập, kịp thời độngviên kết quả đạt được, phát hiện những điểm mạnh để khuyến khích, nhữngkhó khăn để hướng dẫn; đánh giá tiến bộ của HS theo yêu cầu giáo dục,không so sánh HS này với HS khác Để đạt được những mục tiêu giáo dụcnhư trên, MH trường học mới xác định nguyên tắc hoạt động như sau:
Quan điểm chỉ đạo các hoạt động của MH trường học mới được xây
dựng dựa trên hai trụ cột lý thuyết giáo dục là Thuyết kiến tạo và Thuyết hoạt
động, trong đó:
Thuyết kiến tạo có vai trò là tiền đề xây dựng những định hướng cho
việc triển khai các nhiệm vụ giáo dục cụ thể Quan điểm chỉ đạo của thuyết
này là: Mỗi người học là một chủ thể kiến tạo tích cực, tự phản ánh, khám
phá, cải tạo thế giới từ kinh nghiệm, hiểu biết riêng của mình Người ta không thể dạy một người nào đó, mà chỉ có thể giúp đỡ, hỗ trợ để người đó tự mình khám phá, phát triển Gắn với chủ trương trên, người ta xác định rõ mọi khâu,
mọi hoạt động của quá trình giáo dục đều phải xuất phát từ chủ thể HS Vàchính chủ thể HS cũng là một nhân tố quan trọng của hoạt động giáo dục
Còn thuyết hoạt động nhấn mạnh: Con người tự sinh ra bản thân mình
bằng hoạt động của chính mình Mỗi cá nhân bằng hoạt động của mình hình
thành nên nhân cách và tạo ra sự phát triển của bản thân Theo Vưgôtxki, yếu
tố quyết định sự hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách con người “là hoạt
động của chính con người” Với quan điểm chỉ đạo của thuyết này, MH
trường học mới xác định mọi khâu của quá trình giáo dục đều lấy hoạt độnglàm căn cứ Hoạt động ở đây là những hành động cụ thể của chủ thể học tập –
HS Và thông qua quá trình hoạt động của các em, người ta đánh giá chấtlượng giáo dục Trên nền tảng của các lý thuyết nêu trên, VNEN xác định cácnguyên tắc vận hành của mô hình dạy học theo bốn định hướng lớn:
- Định hướng về người học: HS là trung tâm của quá trình dạy học HS
Trang 17được hướng dẫn để tự thực hiện quá trình học tập với một chương trình tự họctheo từng bước HS được phát huy tính tích cực để tìm tòi, khám phá tri thức
và vận dụng kiến thức, kĩ năng vào cuộc sống HS được giao quyền tự quản
và tăng cường hợp tác trong quá trình học tập
- Định hướng về người dạy: GV là người tổ chức, hướng dẫn HS học
theo từng bước dựa trên tài liệu học GV phải góp phần kiến tạo, duy trì vàthúc đẩy một môi trường học tập tích cực, cởi mở, chú trọng tính hợp tác vàcạnh tranh giữa các cá nhân HS
- Định hướng cho nhà trường: Nhà trường thiết lập mối liên hệ chặt chẽ
với cha mẹ HS và cộng đồng để cùng tham gia vào quá trình giáo dục và các
dự án giáo dục tại cộng đồng
-Định hướng về chương trình, nội dung và hoạt động dạy học:
Chương trình, nội dung và hoạt động dạy học phải gắn bó chặt chẽ với thựctiễn cuộc sống
Đi sâu vào việc tổ chức các họat động dạy học trong mỗi giờ học,VNEN xác định có 5 hoạt động:
Khởi động: Tổ chức HS huy động vốn kiến thức, kĩ năng của bản thân
để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức, kĩ năng mới, để giải quyết những vấn đề liênquan đến bài học, tạo hứng thú, động cơ học tập, từ đó bước đầu đánh giá khảnăng, nhu cầu của HS
Hình thành kiến thức mới: HS tự chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kĩ
năng mới thông qua việc trực tiếp tiến hành hệ thống các bài tập/ nhiệm vụdưới sự hướng dẫn của GV
Luyện tập: HS vận dụng kiến thức, kĩ năng vừa học để giải quyết nhiệm
vụ cụ thể, tương tự do sách giáo khoa hoặc GV đưa ra
Vận dụng: HS sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các vấn
đề, nhiệm vụ thực tiễn trong cuộc sống GV định hướng, gợi ý HS tự đặt ra
Trang 18trên cơ sở bài học, đây là hoạt động ở nhà, cộng đồng, giúp HS gắn với giađình, địa phương.
Mở rộng (tìm tòi mở rộng): Khuyến khích HS tiếp tục tìm hiểu, mở
rộng kiến thức, kĩ năng từ các nguồn/kênh thông tin khác như sách, báo, mạngInternet…; tự đặt ra các tình huống có vấn đề nảy sinh từ nội dung bài học, từthực tiễn cuộc sống, vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyếtbằng những cách khác nhau Hoạt động này được chủ yếu giao cho HS thựchiện ở nhà nhằm mục đích hình thành thói quen tự học cho các em
1.1.3 Tổ chức và quản lí lớp học của mô hình trường học VNEN
1.1.3.1 Sắp xếp bàn ghế học tập
Thay vì bàn ghế được sắp xếp theo hàng ngang như trước đây, các lớphọc của mô hình VNEN yêu cầu sắp xếp lại bàn ghế theo nhóm HS: nhóm 4hoặc nhóm 6 Vị trí chỗ ngồi của HS có sự thay đổi về tâm thế học tập vàquan hệ tương tác giữa các HS Với cách ngồi theo hàng ngang, HS khôngcần tương tác với nhau, chỉ có quan hệ tương tác: GV và HS trong lớp học
Do đó, nảy sinh tâm lí lấy GV làm trung tâm của quá trình học tập; hoạt độnghọc tập chủ yếu từ nghe giảng - ghi nhớ - vận dụng và tái hiện Cách học nàychỉ tạo nên những bộ óc biết ghi nhớ và tái hiện mà không tạo nên được conngười có các năng lực mà xã hội đang cần - năng lực tự chủ, năng lực phốihợp nhóm, năng lực tư duy, năng lực sáng tạo, …
Với vị trí ngồi học theo nhóm, cùng với cách tổ chức dạy học mới của
GV, bên cạnh việc được tiếp nhận, mở rộng kiến thức các môn học, HS còn
có điều kiện hình thành nhiều năng lực cần thiết của con người phù hợp với
xã hội đang phát triển Nhờ quan hệ tương tác được mở rộng, đa chiều: tươngtác giữa HS (với tư cách là chủ thể của quá trình học tập) với tài liệu (với tưcách là đối tượng của quá trình học tập, được viết lại chủ yếu dành cho ngườihọc với các hướng dẫn sư phạm) dưới sự điều hành của nhóm trưởng và vai
Trang 19trò cố vấn của GV; tương tác giữa HS với dụng cụ học tập (tranh ảnh, đồdung, vật thật,…); tương tác giữa HS với HS (hai chủ thể với nhau) thông quavai trò của nhóm trưởng, của GV; tương tác giữa HS và GV và ngược lại.Trong các quan hệ tương tác trên, HS thực sự được sống với tư cách là chủthể của quá trình học tập Với vị thế của mình trong quá trình học tập nhưvậy, các hoạt động tương có tác dụng kích thích các hoạt động của bộ nãonhằm bồi dưỡng cho các em những năng lực cần thiết Không chỉ có vậy, các
em còn từng bước hình thành và phát triển tác phong tự tin, tự chủ và độc lậptrước những thử thách của cuộc sống
Tuy nhiên, muốn làm được điều đó, GV phải tạo được bầu không khíthân thiện trong các hoạt động của mỗi giờ học Tránh rủi ro do không quánxuyến được các hoạt động của mỗi HS trong giờ học Muốn vậy, GV phải cókhả năng quan sát, khả năng điều chỉnh hành vi tốt hơn là khả năng quan sát,khả năng thuyết trình tốt như các giờ dạy trước đây
1.1.3.2 Xây dựng hội đồng tự quản học sinh
Hội đồng tự quản HS là một biện pháp giáo dục nhằm thúc đẩy sự giáodục về đạo đức, tình cảm xã hội của HS thông qua những kinh nghiệm hoạtđộng thực tế của các em trong nhà trường và mối quan hệ với những ngườixung quanh Hội đồng tự quản của HS được thành lập vì chủ thể học tập vàbởi chính các em nhằm đảm bảo cho các em tham gia một cách toàn diện vàocác hoạt động của nhà trường và phát triển lòng khoan dung, sự tôn trọng,bình đẳng, tinh thần hợp tác đoàn kết cho HS Hội đồng tự quản của HS pháttriển kĩ năng ra quyết định, kĩ năng hợp tác và kĩ năng lãnh đạo Đồng thờicũng chuẩn bị cho các em ý thức trách nhiệm khi thực hiện những quyền vàbổn phận của mình Với sự hướng dẫn của GV, HS sẽ tổ chức Hội đồng tựquản và thành lập các ban để lập kế hoạch và thực thi các hoạt động, các dự
án Nhà trường nên khuyến khích sự tham gia của phụ huynh HS và các hoạt
Trang 20Banquyền lợicủa hstrong họctập
Ban sứckhỏe, vệsinh
Ban thểdục thểthao
Sơ đồ: xây dựng hội đồng tự quản học sinh của mô hình VNEN
Xây dựng mô hình tự quản có ý nghĩa rất lớn trong việc bồi dưỡng, pháttriển kĩ năng tự ý thức, lòng tự trọng, tính tự tin và cách hành xử bình đẳng,tôn trọng lẫn nhau của HS Điều được quan tâm nhất ở Hội đồng tự quản đó là
ý nghĩa của việc thúc đẩy quá trình tự học của mô hình này Thực tế thửnghiệm ở bậc học dưới cho thấy, trong lớp học của VNEN, Hội đồng tự quản
hỗ trợ GV rất nhiều trong quá trình tổ chức các hoạt động học Hội đồng tựquản có các ban với các vai trò cụ thể thúc đẩy hoạt động học diễn ra hiệu quảhơn như: Ban học tập - thường xuyên giúp GV tổ chức hoạt động kiểm tra bàitập và khởi động cho giờ học; Hội đồng tự quản điều khiển các nhóm tronglớp thực hiện các hoạt động cơ bản của tiết học; ghi tiến độ, nhắc thời gian;điều khiển các trao đổi giữa HS với HS, hỗ trợ các bạn yếu trong các tiết học
Trang 21và bằng cả các kế hoạch dài hơi được xây dựng môt cách bài bản Như vậy,Hội đồng tự quản trong VNEN khi được tập huấn rèn luyện có khả năng tổchức hoạt động tự học của lớp rất tốt và hiệu quả.
1.1.3.3 Xây dựng góc học tập
Trong MH VNEN, mỗi lớp học đều có góc học tập Góc học tập do GV,
HS và cộng đồng cùng xây dựng Góc học tập chia theo các môn học và cócác vật liệu phục vụ cuộc sống, các dụng cụ hỗ trợ học tập,… Góc học tập có
ý nghĩa rất lớn và không thể thiết trong quá trình học tập của HS, nhất là quátrình tự học Việc quan sát và sử dụng các đồ vật ở góc đồ vật ở góc học tậpgiúp các em tăng cường khả năng thực hành thao tác và phát triển kiến thứccủa chính bản thân mình HS có thể tự nghiên cứu và sử dụng thời gian rảnhrỗi của mình vào những chủ đề mà các em yêu thích ở góc học tập Chínhđiều này tạo nên khả năng tự tìm tòi, khám phá và nghiên cứu cho các emngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường Thông qua quan sát cách HS làm việc,quá trình HS làm việc ở góc học tập GV có thể phát hiện tính cách, thiênhướng nghề nghiệp cho mỗi em để giúp các em phát triển tốt hơn Góc họctập với nhiều đồ dùng, tài liệu học tập giúp các em có đủ phương tiện phục vụcho việc giúp các em cập nhật, củng cố hoặc mở rộng hiểu biết cho bản thân
Từ đó, các em sẽ có hứng thú học tập hơn
1.1.3.4 Xây dựng góc thư viện
Thư viện là một công cụ quan trọng tạo cơ hội cho HS học tập một cáchtích cực, chủ động, đồng thời cũng cấp các nguồn tài liệu khác nhau để HShọc tập và nghiên cứu
Thư viện đóng vai trò là nguồn tài liệu phong phú cho một môn học, mộtchủ đề mà sách hướng dẫn không thể đáp ứng nổi Chính vì vậy, sách thư viện
là công cụ hữu ích giúp HS tự học Không những vậy, thư viện còn là nhân tốđóng góp vào công việc khơi dậy sự tò mò muốn tìm hiểu về thế giới xung
Trang 22quang, về các chủ đề học tập cho HS Ngoài việc cung cấp thông tin cho HS,thư viện còn góp phần hình thành thói quen đọc sách và tìm hiểu cho các em
từ những năm học còn ngồi trên ghế nhà trường góp phần dần hoàn thiện trithức và nhân cách sống cho các em Trong VNEN, HS và GV cùng xây dựngthư viện lớp mình, cùng nhau xây dựng nội quy thư viện và cùng nhau quản líthư viện
Từ những đặc điểm này, có thể thấy VNEN đã thể hiện được những tưtưởng giáo dục tiến tiến của thời đại
1.1.4 Mục đích của việc sử dụng mô hình trường học VNEN trong giáo dục
Mô hình trường học VNEN tạo ra sự tương tác giữa HS với HS, giữa HSvới GV, tăng thêm nhu cầu và yêu cầu HS cần tự học, giúp các em chủ động,sáng tạo hơn trong quá trình học tập Mô hình VNEN thúc đẩy sự phối hợp,tạo ra sự gắn kết và tăng cường sự tham gia, tương tác giữa các đối tượngchính của nhà trường Do đó, góp phần làm thay đổi PPDH, tiến tới đổi mớigiáo dục một cách toàn diện đáp ứng được nhu cầu của xã hội hiện nay Mụcđích của mô hình trường học mới VNEN sẽ tác động tích cực tới các nhân tốtham gia trực tiếp quá trình dạy - học và các nhân tố khác chi phối quá trìnhdạy - học
Mục đích hướng tới của mô hình trường học mới VNEN là:
Giúp cho HS:
- Tự tin, biết cách suy nghĩ;
- Biết cộng tác, hợp tác với mọi người;
- Có kĩ năng làm việc nhóm;
- Biết quan tâm, có trách nhiệm trong các hoạt động;
- Biết phấn đấu làm chủ quá trình học tập của mình;
- Có nhiều kĩ năng trong giao tiếp và kĩ năng sống;
Trang 23- Hiểu biết nhiều hơn.
Giúp cho GV có cơ hội để:
- Nghiệp vụ sư phạm được nâng cao;
- Có kĩ năng điều hành các hoạt động dạy học;
- Biết cộng tác theo xu hướng tích cực trong giáo dục;
- Biết quan tâm và hỗ trợ cho đồng nghiệp;
- Có cơ hội lãnh đạo trong phạm vị nhà trường và cộng đồng
Đối với cha mẹ HS và cộng đồng:
- Có trách nhiệm và tham gia với nhà trường nhiều hơn;
- Hỗ trợ các hoạt động cụ thể của nhà trường;
- Được tiếp nhận, bổ sung tri thức từ nhà trường thông qua HS;
- Có liên quan trực tiếp và tích cực tới các hoạt động của nhà trường.Như vậy, nội dung dạy học tuy không thay đổi nhưng đưa vào MH dạyhọc mới VNEN thì hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học và đánhgiá HS được thay đổi cơ bản để phù hợp với xu thế đổi mới sư phạm chungcủa nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới
1.2 Những vấn đề chung về “Nghĩa của câu”
1.2.1 Khái niệm nghĩa của câu
Trong thời gian gần đây, việc nghiên cứu nghĩa của câu được quan tâm thích
đáng trong ngôn ngữ học hiện đại, đặc biệt là trong ngữ pháp học chức năng
Ngôn ngữ được xem là một dạng tín hiệu với hai mặt cái biểu hiện và
cái được biểu hiện Cái biểu hiện là hình thức của tín hiệu, là hình thức của
các biểu thức ngôn ngữ Cái được biểu hiện là nghĩa của hình thức tín hiệu,
nghĩa của các biểu thức ngôn ngữ.Trong ngôn ngữ, cái biểu hiện tồn tại ởnhiều cấp độ khác nhau và ứng với mỗi cấp độ đó ta có một dạng ngữ nghĩa.Ngữ nghĩa của câu chính là lĩnh vực ngữ nghĩa nghiên cứu nghĩa ở cấp độ câu.Khi bàn về câu, trong ngữ pháp truyền thống, có hai cách hiểu khác
Trang 24nhau về đơn vị ngôn ngữ này Cách hiểu thứ nhất cho rằng câu là loại đơn vịlớn nhất của ngôn ngữ và là giới hạn cuối cùng của đối tượng ngữ pháp Vớicách hiểu này, câu thuộc bình diện ngôn ngữ, tách ra khỏi ngữ cảnh Khinghiên cứu câu trong quan điểm này người ta chỉ chú ý đến cấu trúc của câuchưa chú ý tới nghĩa của câu.
Còn cách hiểu thứ hai cho câu là đơn vị nhỏ nhất có chức năng mang nộidung thông báo Cách hiểu này gắn với chức năng, phù hợp với việc xem xétnghĩa Hiểu câu theo cách thứ hai, trong ngôn ngữ học truyền thống và hiệnđại, có rất nhiều quan điểm về nghĩa khác nhau:
Ngữ pháp học truyền thống chịu ảnh hưởng nhiều của logic cho rằngnghĩa của câu biểu thị 1 phán đoán (như từ biểu thị một khái niệm)
Ngữ pháp phân đoạn thực tại cho nghĩa của câu là phần báo,phần thuyết (phân biệt với phần nêu, phần đề)
Ngữ pháp tạo sinh - cải biến của trường phái N Chomsky cho nghĩacủa câu là nội dung cấu trúc sâu, cấu trúc chìm của câu phân biệt với cấu trúcnổi, cấu trúc bề mặt của câu
Ngữ pháp chức năng, M.A.K Halliday cho câu phân biệt với cú và cúthì có 3 nét nghĩa “cú như là 1 thông điệp”, “cú như là một sự trao đổi”, “cúnhư là sự thể hiện” Những kiểu loại nghĩa cụ thể này nằm trong khung hệthống nghĩa bao trùm hơn mà Halliday gọi là các siêu chức năng, các nguồnlực tạo nghĩa của ngôn ngữ Đó là: (1) siêu chức năng tư tưởng hay biểu ý haycòn gọi là siêu chức năng phản ánh; (2) siêu chức năng liên nhân; (3) siêuchức năng ngôn bản Như vậy cũng có thể hiểu nghĩa của câu, nghĩa của cú(theo Halliday) bao hàm những phạm vi và kiểu loại vừa dẫn trên Đó cũng làcách hiểu nghĩa của câu nói chung, câu không phân biệt với lời
Nhưng nói đến nghĩa của câu thì không thể không nói đến các thànhphần cấu tạo nghĩa cho câu Trong ngữ nghĩa học hiện đại, nghĩa của câu
Trang 25được quan niệm không chỉ được cấu tạo từ thành phần chức năng mà từ thành
tố nghĩa với các tên gọi: vị tố, chủ tố, tham tố, diễn tố Như vậy việc đi sâuvào thành tố nghĩa là 1 bước tiến Nó cụ thể hóa thêm một bước nội dungnghĩa của thành phần chức năng của câu
1.2.2 Các thành phần ý nghĩa trong câu
Nghĩa của câu thường được quan niệm gồm hai thành phần cơ bản lànghĩa sự việc và nghĩa tình thái
Bộ quần áo này vừa mới mua xong.
Ví dụ trên thông báo cho người ta biết bộ quần áo này (sự vật trong đờisống khác quan) vừa mới mua xong (chứ không phải đã mặc lâu rồi hay làquần áo cũ)
Sự việc trong hiện thực là vô cùng phong phú và đa dạng Bởi vậy nghĩa
sự việc được biểu hiện trong câu cũng khá đa dạng và phong phú tùy thuộcvào mục đính phản ánh của người sử dụng Các yếu tố ngôn ngữ diễn đạtnghĩa biểu hiện trong câu kết hợp với nhau làm thành cấu trúc biểu hiện Cấutrúc ấy là vị tố - tham thế và tham thể - cảnh huống (tham thể mở rộng) Vị tố(VT) là cái lõi của mệnh đề, đóng vai trò trung tâm của vị ngữ Tham thể (TT)
là cái thực thể xung quanh vị tố Mỗi tham thể sẽ đảm nhiệm những vai nghĩa
Trang 26nhất định Còn cảnh huống chính là yếu tố xuất hiện trong việc do tình huống,hoàn cảnh mách bảo chứ không phải do ý kiến của vị tố quy định Tuy vậy,cảnh huống cũng được ý nghĩa ở vị tố chấp nhận chứ không phải có thể ghépcảnh huống vào sự việc một cách tùy tiện.Ví dụ:
N g o à i vư ờ n , chị và e m h á i r a u (1 vị tố - 3 tham
thể) Cảnh huống TT1 TT2 VT TT3
Câu trên được phân tích theo cấu trúc vị tố - tham thể và cảnh huống
Cảnh huống ở đây chính là thời gian vào"ngoài vườn", vị tố trung tâm là động
từ "hái" Còn tham thể 1 "chị" và tham thể 2 "em" (chủ thể hành động), tham thể 3 "rau" (đối thể của hành động).
Như vậy, nghĩa sự việc là hiểu nghĩa cơ bản và thường gặp nhất trongcâu giúp người đọc, người nghe nắm bắt được về các sự vật, hiện tượng, nộidung thông báo một cách rõ ràng, cụ thể nhất Bên cạnh nghĩa sự việc, chúng
ta còn bắt gặp cả sự đánh giá, nhận xét, thái độ của người nói, người viết đốivới sự việc được nói đến trong câu và đối với đối tượng giao tiếp Đó chính lànghĩa tình thái trong câu - một trong hai thành phần cơ bản của câu
1.2.2.2 Nghĩa tình thái
Đây là một lĩnh vực khác phức tạp trong bình diện nghĩa của câu Nghĩatình thái là thành phần nghĩa phản ánh thái độ của người nói vào trong câu.Hay đó chính là thông tin đi kèm sự việc (sự tình), là sự áp đặt nhận thức củangười nói lên các nhân tố của sự việc Nghĩa tình thái được biểu hiện chủ yếu
ở hai khía cạnh Đó là:
+ Sự nhìn nhận, đánh giá và thái độ của người đối với sự việc được đềcập đến trong câu.Ví dụ:
Hôm nay, chắc chắn trời sẽ nắng to.
Câu trên đã thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá của người nói đối với sựviệc được nói đến trong câu Đó là sự phán đoán ở mức độ tin cậy cao là hôm
Trang 27nay trời sẽ nắng to.
+ Tình cảm, thái độ của người nói đối với người nghe Ví dụ:
Chị cho em đi chơi với.
Ví dụ trên cho ta thấy thái độ thân mật của người em đang mong muốn,
đề nghị chị cho đi chơi cùng qua từ tình thái "với" ở cuối câu
Nghĩa tình thái có thể biểu đạt bằng từ tình thái ở cuối câu (à, ư, nhỉ,nhé ), động từ (cần, phải, nên, ), phó từ (cũng, vẫn, ), liên từ (vì, nên, ),kiểu câu (trần thuật, cầu khiến, cảm thán, )
VD: Cùng một nội dung sự việc là: Anh về quê Nếu thêm các phươngtiện biểu đạt tình thái khác nhau thì nghĩa tình thái của câu sẽ thay đổi
1 Anh về quê (Thông báo sự việc anh về quê).
2 Có phải anh về quê không? (Sự hoài nghi, chưa chắc chắn về
việc anh có về quê hay không)
3 Anh về quê đi! (Thể hiện sự cầu khiến, thúc giục anh hãy về
quê)
4 Anh về quê đó à? (Đây có thể là một câu hỏi nhưng với mục đích
là lời chào thân mật theo thói quen sử dụng ngôn người Việt Nam)
Như vậy, qua nghĩa tình thái của câu, chúng ta thấy được bóng dáng củangười nói với những đặc điểm tâm lí, tính cách, thái độ khác nhau được thểhiện qua thành phần nghĩa này
Hai thành phần nghĩa trên hòa quyện vào nhau khó tách bạch rạch ròi
Đây là hai thành phần nghĩa cơ bản sẽ được đề cập đến trong bài “Nghĩa
Trang 28Để đánh giá đúng thực tế dạy học bài Nghĩa của câu, chúng tôi tiến
hành thăm dò, điều tra, dự giờ GV qua hoạt động giảng dạy Ngữ văn Cụ thể:
Phát phiếu thăm dò ý kiến GV
Trước hết, chúng tôi tiến hành thăm dò ý kiến của GV thông qua cácphiếu thăm dò Phiếu điều tra gồm 15 phiếu, được phát cho GV tổ Văn,trường THPT Tây Tiền Hải – Tiền Hải – Thái Bình (Nội dung phiếu theo phụlục) Sau khi tiếp nhận ý kiến của đội ngũ GV, chúng tôi nhận thấy:
Câu 1 Chúng tôi nhận được rất nhiều câu trả lời khác nhau về tầm quan
trọng của bài Nghĩa của câu nói riêng và dạy học tiếng Việt nói chung, bài
học giúp cho HS nhận biết về các thành phần ý nghĩa của câu, hiểu khi nói(viết) một câu ngoài cần đúng về ngữ pháp còn cần chú ý về mặt ý nghĩa củacâu Từ đó, HS sẽ thiết lập được câu đúng trong yêu cầu sử dụng tiếng Việt về
cả hình thức và nội dung
Câu 2 Ở câu hỏi thứ 2, đa số các ý kiến đều cho rằng: Mặc dù GVnhận thức được tầm quan trọng về kiến thức của bài, song trong quá trình dạyhọc gặp không ít khó khăn bởi kiến thức bài học mới và có nhiều khía cạnhkiến thức khô khan do đó đại đa số các em đều tỏ ra không hứng thú với giờ
học tiếng Việt nói chung và khi học bài Nghĩa của câu nói riêng Không chỉ
thế, quá trình dạy học GV còn ngại đổi mới phương pháp dạy học do đã quenvới cách dạy truyền thống, thay đổi làm họ cần phải chuẩn bị nhiều hơn Tuyvậy, một số GV đã chủ động thay đổi phương pháp dạy học trong một vài tiếtdạy để giúp cho giờ dạy hấp dẫn và đạt hiệu quả cao hơn Nhưng trong quátrình dạy học ứng dụng một số phương pháp mới đó vẫn chưa đạt được hiệuquả cao nhất, chưa thu được hiệu quả hơn nhiều so với sử dụng phương phápthông thường của mô hình trường học truyền thống Điều đó dẫn tới thực tế làsức hút trong giờ học với HS còn hạn chế, kết quả thu được chưa cao
Trang 29Câu 3 Đa số GV đều nhận thấy VNEN là một mô hình trường học mớihiện đại và có nhiều điểm phù hợp, khả thi khi đưa vào áp dụng ở bậc THPT
mà cụ thể là trong môn Ngữ Văn Đối với giờ học tiếng Việt nói chung và cụ
thể là dạy bài Nghĩa của câu ,khi đưa vào thử nghiệm áp dụng dạy học theo
mô hình này các GV bày tỏ hy vọng và kì vọng lớn của họ là mô hình trườngmới sẽ đem lại hứng thú cho HS trong giờ học và hiệu quả học tập tốt hơn Từ
đó, họ bày tỏ hy vọng trong tương lại sẽ có thể ứng dụng nhiều phương phápdạy học tích cực vào từng bài giảng để HS càng ngày càng yêu thích và họctập thật tốt bộ môn Ngữ văn Bên cạnh đó, các GV cũng đều đưa ra được
những thuận lợi và khó khăn khi soạn giáo án bài Nghĩa của câu theo mô hình
+ HS hứng thú với những hình thức học mới, nội dung đa dạng
+ HS nắm vai trò chủ động trong mọi hoạt động của giờ học Các em sẽchủ động chuẩn bị bài ở nhà, chủ động và có trách nhiệm trước mọi yêu cầu trong giờ học, phát huy cao độ tính tích cực của HS, áp dụng bài học vào thực tiễn cuộc sống dễ dàng hơn
+ HS có kĩ năng thuyết trình, kĩ năng giao tiếp và kĩ năng sống tốt hơn.+ Ngoài ra, HS sẽ đủ tự tin và sẵn sàng kịp thời chỉ ra lỗi sai trong cáchnói (viết) câu của cha mẹ HS và mọi người xung quanh, làm cho cha mẹ vàcộng đồng cùng có trách nhiệm hơn trong hỗ trợ các hoạt động giáo dục trongnhà trường
Trang 30trường học mới còn thiếu.
+ Hiện nay, bản thân HS có ý thức tự học chưa cao Các em chưa ýthức rõ về vai trò và trách nhiệm của bản thân đối với từng hoạt động và cách
tổ chức lớp học của mô hình trường học mới học tập nên bài học gặp nhiềukhó khăn để đạt hiệu quả học tập cao nhất
+ Một số HS chưa thực sự tự tin, kĩ năng thuyết trình, kĩ năng tổ chứchoạt động học tập
Qua việc khảo sát trên, chúng tôi nhận thấy đa số GV đã có nhận thứcđúng đắn về thực trang dạy – học Ngữ văn hiện nay nói chung và dạy học
tiếng Việt nội dung và tầm quan trọng về nội dung của bài Nghĩa của câu Hơn nữa, nhận thức rất đúng về bản chất của việc dạy học theo mô hình
trường học mới VNEN, và đưa ra ý kiến của mình về thuận lợi và chia sẻnhững khó khăn gặp phải khi áp dụng thử nghiệm mô hình trường học mới
này vào dạy học bài Nghĩa của câu nói riêng và dạy học Ngữ văn nói chung.
1.3.1.2 Điều tra, khảo sát đối tượng HS
Bên cạnh việc thăm dò, khảo sát ý kiến của GV, chúng tôi cũng tiếnhành thăm dò thái độ, ý kiến của HS - chủ thể trung tâm của quá trình dạyhọc Đối tượng được điều tra, khảo sát là HS lớp 11, trường THPT Tây TiềnHải (Tiền Hải – Thái Bình) Chúng tôi tiến hành điều tra về thái độ, không khí
học tập, kết quả học tập trước và trong quá trình GV dạy bài Nghĩa của câu
để có cơ sở đối chiếu Phiếu điều tra gồm 45 phiếu, được phát cho HS trườngTHPT Tây Tiền Hải – Tiền Hải – Thái Bình (Nội dung phiếu ở phụ lục) Vớicác câu hỏi trong phiếu, chúng tôi nhận thấy: