1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) và vai trò của chúng ở vùng đồng bằng sông hồng, phía bắc việt nam tt

27 128 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 198,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI LẠI THU HIỀN CẤU TRÚC QUẦN XÃ VE GIÁP ACARI: ORIBATIDA VÀ VAI TRÒ CỦA CHÚNG Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG, PHÍA BẮC VIỆT NAM Chuyên ngàn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LẠI THU HIỀN

CẤU TRÚC QUẦN XÃ VE GIÁP (ACARI: ORIBATIDA) VÀ VAI TRÒ CỦA CHÚNG Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG, PHÍA BẮC VIỆT NAM

Chuyên ngành: Động vật học

Mã số: 9420103

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Hà Nôi – 2019

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Khoa Sinh học, trường Đại học Sư Phạm Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Vũ Quang Mạnh

Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Văn Vịnh

Trưường ĐHKHTN – ĐHQG Hà Nội

Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên

Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

Phản biện 3: PGS.TS Vũ Văn Liên

Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Vào hồi … giờ … ngày … tháng… năm…

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

Thư viện Quốc Gia, Hà Nội

Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Cơ sở khoa học và tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu

Trong hệ động vật đất, ve giáp luôn chiếm ưu thế, khoảng hơn 90% tổng số lượng ve bét ở đất Ve giáp cónhiều vai trò quan trọng, chúng tham gia vào quá trình hình thành đất, tham gia tích cực trong sự phân hủy hợpchất hữu cơ, chu trình luân chuyển và tạo đất Với khả năng và tập tính di cư tích cực theo bề ngang và theochiều sâu thẳng đứng trong đất, ve giáp đồng thời là vecto mang truyền và phát tán nhiều vi khuẩn, nấm và giunsán ký sinh Do có vị trí và vai trò quan trọng như vậy trong hệ sinh thái đất nên ve giáp đã trở thành đối tượngnghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới từ rất sớm Đứng trước vấn đề ô nhiễm môi trường và biến đổi khíhậu ngày càng gia tăng, việc nghiên cứu ứng dụng vai trò chỉ thị của ve giáp vào vấn đề khai thác và phát triểnmôi trường bền vững càng được quan tâm nghiên cứu

Tại Việt Nam, đặc điểm đa dạng của khí hậu, địa hình, loại đất và thảm phủ thực vật đã tác động đến sựhình thành khu hệ ve giáp đa dạng và chuyên biệt theo tính chất vùng miền Do đó việc nghiên cứu ve giáp tạicác vùng miền địa phương để bổ sung dẫn liệu cho khu hệ ve giáp Việt Nam vẫn rất cần thiết

Đồng bằng sông Hồng là một khu vực rộng lớn, chiếm khoảng 7,1% diện tích cả nước Ở đây đã có một

số nghiên cứu về quần xã động vật đất nói chung và quần xã ve giáp nói riêng, tuy nhiên các nghiên cứu ở đâycòn chưa đầy đủ

Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và yêu cầu thực tiễn và khả năng thực hiện, chúng tôi đề xuất đề tài nghiêncứu:

“Cấu trúc quần xã ve giáp (Acari: Oribatida) và vai trò của chúng ở vùng đồng bằng sông Hồng, phía Bắc Việt Nam”.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu thành phần loài và biến đổi của cấu trúc quần xã ve giáp (Acari: Oribatida) ở vùng đồng bằngsông Hồng, liên quan đến các yếu tố tự nhiên và nhân tác bao gồm loại đất, loại sinh cảnh và bón phân, làm cơ

sở khoa học cho việc quản lý bền vững hệ sinh thái đất canh tác nông nghiệp ở Việt Nam

3 Nội dung nghiên cứu

 Điều tra đa dạng thành phần loài của quần xã ve giáp ở hệ sinh thái đất vùng đồng bằng sông Hồng

 Phân tích cấu trúc phân loại học của quần xã ve giáp vùng nghiên cứu và sự liên quan của chúng với một

số vùng liên quan

 Nghiên cứucấu trúc quần xã ve giáp và sự biến đổi của chúng liên quan đến loại sinh cảnh

 Nghiên cứu cấu trúc quần xã ve giáp và sự biến đổi của chúng liên quan đến loại đất và đặc điểm bónphân

 Bước đầu đánh giá vai trò của quần xã ve giáp ở vùng nghiên cứu

4 Đóng góp mới của luận án

1 Luận án đã đưa ra một danh sách đầy đủ hiện biết của khu hệ ve giáp ở vùng đồng bằng sông Hồng,miền Bắc Việt Nam; bao gồm 283 loài, thuộc 129 giống, 57 họ (có 49 loài chưa được định danh, ở dạng “sp.”).Các loài ve giáp ghi nhận được đều được giới thiệu về phân bố theo các loại sinh cảnh và loại đất

Trang 4

2 Danh sách bao gồm 106 loài, thuộc 39 giống và 12 họ lần đầu tiên ghi nhận được cho khu hệ ve giáp

ở vùng đồng bằng sông Hồng; trong đó có 64 loài lần đầu tiên ghi nhận được cho Việt Nam

3 Đã xây dựng cấu trúc phân loại học của quần xã ve giáp đồng bằng sông Hồng, trong đó, họ Oppiidae

là họ lớn nhất, chiếm 13,95% tổng số giống và 12,72% tổng số loài của vùng nghiên cứu Giống Scheloribates

và Protoribates là 2 giống lớn nhất, tương ứng chiếm 10,60% và 7,42% tổng số loài Loài Scheloribates laevigatus là loài phổ biến nhất ở vùng nghiên cứu.

4 Nghiên cứu đã phân tích sự biến đổi của cấu trúc quần xã ve giáp về thành phần loài, mật độ cá thể,mức độ đồng đều và đa dạng theo loại sinh cảnh và loại đất Kết quả thu được đã cho thấy sự biến đổi linh hoạt,của cấu trúc quần xã ve giáp tương ứng với sự biến đổi điều kiện môi trường sống Từ đó có thể đề xuất việckhảo sát quần xã ve giáp như một chỉ thị sinh học, góp phần quản lý sự phát triển bền vững hệ sinh thái đất

5 Bố cục luận án

Luận án gồm 147 trang, 3 trang mở đầu, 16 trang tổng quan, 10 trang thời gian, địa điểm và phương phápnghiên cứu, 91 trang kết quả và thảo luận, 2 trang kết luận Luận án có 17 bảng và 20 hình Có 23 trang tài liệutham khảo với 57 tài liệu tiếng Việt, 144 tài liệu tiếng Anh và 13 tài liệu tiếng nước ngoài khác

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Khái quát về nghiên cứu ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới

Trên thế giới các nghiên cứu về ve giáp được bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ XIX Các nghiên cứu banđầu tập trung vào nghiên cứu phân loại học Cho đến nay, các nghiên cứu về khu hệ ngày càng được mở rộng vàphát triển ở nhiều khu vực và các điều kiện sinh thái khác nhau Về phân loại học, trên thế giới khu hệ ve giáphiện biết 10.342 loài và phân loài, thuộc 1.249 giống và 163 họ Các nghiên cứu về sinh thái và vai trò của quần

xã ve giáp cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể Sự biến đổi cấu trúc quần xã ve giáp đã được nghiên cứutrên các loại sinh cảnh khác nhau, các đai độ cao khác nhau, vùng khí hậu khác nhau với các điều kiện nhiệt độ,

độ ẩm khác nhau Từ các kết quả thu được đã cho thấy tính chất nhạy bén đối với các biển đổi của môi trường,tạo cơ sở đề xuất ve giáp như một chỉ thị sinh học cho môi trường sống, đóng góp quan trọng cho nghiên cứubảo tồn đa dạng sinh học

1.2 Nghiên cứu về ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu đầu tiên về ve giáp được tiến hành vào năm 1967 Đến năm 2013, khu hệ vegiáp Việt Nam đã xác định được 320 loài và phân loài, chiếm khoảng 3.09% tổng số loài đã biết trên thế giới Sốlượng các nghiên cứu ve giáp tại Việt Nam không ngừng gia tăng với sự góp sức của các chuyên gia trong nước

và nước ngoài Số lượng loài của khu hệ ve giáp Việt Nam không ngừng tăng lên Đặc biệt trong giai đoạn từnăm 2007 đến năm 2015, số lượng loài ve giáp gia tăng nhanh nhất với 355 loài trong 8 năm Các nghiên cứu tậptrung phần lớn ở phía Bắc Số lượng các nghiên cứu được thực hiện tại khu vực miền Trung và miền Nam cònrất ít Theo thống kê của Vũ Quang Mạnh năm 2013, tổng số điểm nghiên cứu khu hệ động vật ve giáp ViệtNam là 50 điểm, được chia thành 9 vùng, trong đó chỉ có 6 điểm nghiên cứu thuộc khu vực miền Trung và miềnNam Việt Nam

Trong các nghiên cứu về khu hệ, các tác giả thường kết hợp nghiên cứu sinh học và vai trò của quần xã vegiáp trong môi trường sinh thái Quần xã ve giáp đã được nghiên cứu trên các điều kiện sinh thái khác nhau Về

Trang 5

yếu tố loại đất, quần xã ve giáp đã được nghiên cứu trên 6 nhóm đất bao gồm: đất chua mặn ven biển, đất phù sachua, đất phù sa trung tính, đất feralit nâu đỏ, đất feralit nâu trên nền núi đá vôi, đất nâu đỏ trên nền đá mắcma.Về yếu tố mùa, quần xã ve giáp được nghiên cứu qua 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông.Về yếu tố tác động của conngười và suy giảm rừng, quần xã ve giáp được nghiên cứu trên 6 loại sinh cảnh: rừng tự nhiên, rừng nhân tác,đất trảng cỏ và cây bụi, đất trảng cỏ, đất canh tác trồng cây lâu năm, đất canh tác nông nghiệp trồng cây ngắnngày.

1.3 Tình hình nghiên cứu ve giáp ở vùng Đồng Bằng sông Hồng

Nghiên cứu đầu tiên về nhóm chân khớp bé nói chung ở vùng đồng bằng sông Hồng được bắt đầu vàonăm 1982 Từ đó đến năm 2004, số lượng nghiên cứu còn rất ít Trong vòng 10 năm trở lại đây, số lượng nghiêncứu gia tăng ngày càng nhanh, tuy nhiên đa số các nghiên cứu tập trung ở các khu bảo tồn và vườn quốc gia vàchưa tập trung vào hệ sinh thái nông nghiệp của vùng Đã có 8 trong tổng số 11 tỉnh và thành phố thuộc khu vựcđồng bằng sông Hồng đã có nghiên cứu về ve giáp và có 4 trong tổng số 5 vườn quốc gia đã có nghiên cứu Cácnghiên cứu được tiến hành trên các yếu tố tác động: loại đất, tầng nghiên cứu, mức độ nhân tác Khu hệ ve giápvùng đồng bằng sông Hồng đã được ghi nhận gồm 147 loài, thuộc 86 giống, 40 họ Tuy nhiên phần lớn cácnghiên cứu mới chỉ tập trung vào nghiên cứu khu hệ

1.4 Tổng quan điều kiện tự nhiên và xã hội của vùng nghiên cứu

1.4.1 Vị trí địa lý và địa hình

Đồng bằng sông Hồng nằm quanh khu vực hạ lưu sông Hồng thuộc miền Bắc Việt Nam, trải rộng từ vĩ độ21°34´B (huyện Lập Thạch) tới vùng bãi bồi khoảng 19°5´B (huyện Kim Sơn), từ 105°17´Đ (huyện Ba Vì) đến107°7´Đ (trên đảo Cát Bà) Địa hình tương đối bằng phẳng với hệ thống sông ngòi dày đặc Đồng bằng thấp dần

từ Tây Bắc xuống Đông Nam

1.4.2 Khí hậu và thuỷ văn

Khí hậu cận nhiệt đới ẩm, nhưng mùa đông phi nhiệt đới lạnh và khô, làm cho cơ cấu cây trồng đa dạng.Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23 – 24°C Lượng mưa trung bình năm là 1600 – 1800 mm

1.4.3 Thổ nhưỡng và đất đai

Theo bản đồ phân bố của các nhóm và loại đất chính ở Việt Nam, đất phù sa là nhóm đất chủ yếu chiếmphần lớn diện tích và phân bố nhiều ở hầu hết các tỉnh thuộc khu vực Đất mặn phân bố ở vùng ven biển của cáctỉnh Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình Đất phèn phân bố nhiều nhất ở vùng ven biển Hải Phòng Ngoài ra còn

có đất xám trên phù sa cổ, các loại đất khác và núi đá phân bố ở một số vùng trong khu vực

1.4.4 Đặc điểm canh tác nông nghiệp và xã hội nhân văn

Đồng bằng sông Hồng là vùng dân cư đông đúc nhất cả nước Sự phân bố dân cư quá đông liên quan tớinhiều yếu tố như nền nông nghiệp thâm canh cao với nghề trồng lúa nước là chủ yếu đòi hỏi phải có nhiều laođộng Hầu hết các tỉnh đồng bằng sông Hồng đều phát triển một số cây ưa lạnh đem lại hiệu quả kinh tế cao nhưcây ngô đông, khoai tây, su hào, bắp cải, cà chua và trồng xen canh

Trang 6

CHƯƠNG 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu thực địa được thực hiện ở 11 tỉnh và thành phố bao gồm: Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh, BắcGiang, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình

Thời gian thực địa thu mẫu chủ yếu trong các năm từ 2014 – 2016 Ngoài ra mẫu nghiên cứu còn đượcthu bổ sung trong năm 2017

2.2 Phương pháp nghiên cứu và xử lý mẫu vật

2.2.1 Phương pháp thu mẫu nghiên cứu

Phương pháp thu mẫu đất và tách lọc, phân tích, xử lý mẫu ve giáp được sử dụng theo phương pháp chuẩnchuyên ngành đã được áp dụng đồng bộ ở Việt Nam (Krivolutsky, 1975; Schinner et al, 1996 và Vũ QuangMạnh, 2003) Mẫu định tính được thu từ tất cả các tỉnh và thành phố thuộc khu vực nghiên cứu Mẫu định lượngđược thu từ 4 tỉnh bao gồm: Nam Định (đất chua mặn ven biển), Hà Nam (đất phù sa trung tính), Ba Vì (Hà Nội)(đất mùn vàng đỏ trên núi), Bắc Giang (đất xám bạc màu) Tại mỗi điểm thu mẫu định lượng, đất được thu theo

3 hoặc 4 sinh cảnh sau: rừng trồng, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cây ngắn ngày

Bảng 1: Số lượng mẫu định lượng được thu tại các sinh cảnh, loại đất và chế độ bón phân

Tổng số mẫu định lượng

Số mẫu thu

60(4 lần x 15mẫu/lần)

85(4 lần x 20mẫu/lần+ 5mẫu bổ sung)

85(4 lần x 20mẫu/lần+ 5mẫu bổsung)

85(4 lần x 20mẫu/lần+ 5mẫu bổsung)

315

Số mẫu thu

755lần x 15mẫu/lần

80

4 lần x 20mẫu/lần

80

4 lần x 20mẫu/lần

80

4 lần x 20mẫu/lần

20(2 lần x 10mẫu/lần)

20(2 lần x 10mẫu/lần)

20(2 lần x 10mẫu/lần)

20(2 lần x 10mẫu/lần)

Loại đất: (i): đất phù sa chua mặn ven biển, (ii): đất phù sa trung tính, (iii): đất feralit mùn vàng đỏ trên

núi, (iv): đất xám bạc màu

Chế độ bón phân: ĐC: đất không bón phân (đối chứng), CT1: đất bón phân hóa học, CT2: đất bón phân

hữu cơ, CT3: đất bón hân vi sinh, CT4: đất bón hỗn hợp phân hóa học và phân hữu cơ.

Trang 7

Mẫu thu cho thí nghiệm bón phân được thực hiện ở hệ sinh thái đất canh tác nông nghiệp trồng khoailang, bao gồm: đất không bón phân (ĐC), đất bón phân hóa học (CT1), đất bón phân hữu cơ (CT2) (phân chuồng

ủ mục), đất bón phân vi sinh (CT3) và đất bón hỗn hợp phân hóa học và phân hữu cơ (CT4)

2.2.2 Phương pháp tách lọc và xử lý mẫu ve giáp

Tách lọc, phân tích và xử lý làm trong mẫu ve giáp theo phương pháp chuyên ngành thường quy, được sửdụng rộng rãi trên thế giới và áp dụng đồng bộ ở Việt Nam Tách lọc mẫu ve giáp theo phương pháp phễu lọcBerlese –Tullgren Thời gian lọc là 7 ngày đêm liên tục ở điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm 27 - 30ºC Lớp

vỏ kitin dày và cứng bao quanh cơ thể ve giáp được tẩy màu và làm trong bằng cách ngâm vào dung dịch axitlactic trong một vài ngày

2.2.3 Phương pháp phân tích, định loại ve giáp

Phân tích định loại, đo kích thước và chụp ảnh ve giáp được thực hiện trực tiếp qua kính lúp 2 mắt LabscEuromex Arthem phóng đại 20 – 40 lần và kính hiển vi Correct – Tokyo Seiwa Optical phóng đại 40 – 100 lần.Định loại ve giáp và sắp xếp theo hệ thống phân loại của Krivolutsky (1975), Balogh (1992, 2002), VũQuang Mạnh (2007, 2015), Norton và Behan – Pelletier (2009), Schatz (2011), Subias (2013) và Ermilov (2015).Ngoài ra còn sử dụng một số tài liệu liên quan khác

Mẫu được lưu giữ và bảo quản trong ống nghiệm thủy tinh kích thước (Φ~0,5) x (h=5,0) cm chứa dungdịch định hình gồm cồn tuyệt đối pha bổ sung 3 – 5 giọt axit lactic và glicerin Sau đó tất cả các ống nghiệmđược bảo quản trong lọ thủy tinh lớn chứa cồn nguyên chất để bảo quản lâu dài

2.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Số liệu về thành phần loài và đặc điểm phân bố của quần xã ve giáp được thu thập và tổng hợp theophương pháp thống kê toán học, sau đó chúng được phân tích và xử lý theo các hệ số sinh thái sau: độ ưu thế, chỉ

số Shannon – Weiner (H’), Chỉ số đồng đều Peilou (J’) và phân tích mức độ tương đồng của quần xã qua hệ sốtương đồng Bray – Curtis

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thành phần loài ve giáp (Acari: Oribatida) ở đồng bằng sông Hồng, Bắc Việt Nam

3.1.1 Thành phần loài ve giáp và đặc điểm phân bố của chúng ở vùng nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đã xác định được 283 loài ve giáp, thuộc 129 giống, 57 họ, trong đó có 49 loài chưađược định danh (ở dạng sp.) Có 64 loài lần đầu tiên xác định cho khu hệ ve giáp Việt Nam và 106 loài lần đầutiên xác định cho khu hệ ve giáp vùng nghiên cứu (so sánh với Vũ Quang Mạnh, 2015 và Ermilov, 2015)

Bảng 2: Đa dạng thành phần loài ve giáp (Acari: Oribatida) và đặc điểm phân bố của chúng ở vùng đồng

bằng sông Hồng, Bắc Việt Nam

Thành phần loài (i) (ii)Loại đất(iii) (iv) (v) RT Sinh cảnh

N RT TC CLN

CN N

1 Acaronychidae Grandjean, 1932

2 Acaridae Leach, 1816

Trang 8

3 Mycetoglyphus fungivorus Oudemans, 1952 (**) x x

15 Epilohmannia cylindrica cylindrica (Berlese,1904) x x x x x x x x x x

34 Papillacarus pavlovskii (Bulanova - Zachvatkina,

36 Papillacarus gueyeae (Perez - Inigo, 1989) (*) x x x x

8 Mesoplophoridae Ewing, 1917

38 Mesoplophora michaeliana Berlese, 1904 (**) x x

9 Oribotritiidae Grandjean, 1954

10 Euphthiracaridae Jacot, 1930

41 Acrotritia duplicata (Grandjean, 1953) x x x

44 Acrotriti reticulata (Mahunka, 1988) (**) x x

11 Phthiracaridae Perty, 1841

45 Hoplophorella collaris (Balogh, 1958) (**) x x

Trang 9

48 Hoplophorella schauenbergi (Mahunka, 1978)

12 Trhypochthoniidae Willmann, 1931

53 Trhypochthoniellus setosus Willman, kuriki et

67 Hermanniasimilis Balogh et Mahunka, 1967 x x x x

75 Furcoppia parva Balogh et Mahunka, 1967 x x x x

76 Furcoppia imitans (Balogh et Mahunka, 1966)

Trang 10

82 Fosseremus laciniatus (Berlese, 1905) (*) x x x

28 Eremobelbidae Balogh, 1961

83 Eremobelba bellicosa Balogh et Mahunka, 1967 x x

29 Basilobelbidae Balogh , 1961

86 Basilobelba africana Wallwork, 1961 (**) x x x x

30 Eremellidae Balogh, 1961

31 Oppiidae Sellnick, 1937

91 Neoamerioppia vietnamica (Mahunka, 1988) x x x x

92 Taiwanoppia hungarorum (Mahunka, 1988) x x

106 Arcoppia arcualis arcualis (Berlese, 1913) x x x x x x x

107 Arcoppia arcualis novaeguineae J et P Balogh,

108 Arcoppia hammerea Rodriguez et Subias, 1984 x x x x

109 Arcoppia waterhousei (J.Balogh et P.Balogh,

118 Congoppia deboissezoni Balogh et Mahunka,

121 Striatoppia papillata Balogh et Mahunka, 1966 x x x x x x x x x

123 Striatoppia opuntiseta Balogh et Mahunka, 1968 x x x x x x x

Trang 11

127 Suctobelbella subtrigona (Oudemans, 1900) x x

33 Tetracondylidae Aoki, 1961

131 Dolicheremaeus aoki, Balogh et Mahunka, 1967 x x x x x x x

132 Dolicheremaeu bartkei Rajski et Szudrowice,

133 Dolicheremaeus inaequalis Balogh et Mahunka,

135 Dolicheremaeus hammerae Corpuz-Raros, 2000 x x x x x

136 Dolicheremaeus nasalis (Hammer, 1981) (**) x x x

137 Dolicheremaeus ornatus Balogh et Mahunaka,

147 Gibbicepheus baccanensis Jeleva et Vu, 1987 x x x

148 Odontocepheus florens (Balogh et Mahunka,

36 Tectocepheidae Grandjean, 1954

154 Tegeozetes tunicatus breviclava Aoki, 1970 (*) x x x x x x

37 Microtegeidae Balogh, 1972

159 Austrochipteria grandis (Hammer, 1967) (**) x x

160 Paralamellobates misella (Berlese, 1910) x x x x x x

162 Lamellobates ocularis Jeleva et Vu, 1987 x x x x x x x x

41 Microzetidae Grandjean, 1936

163 Berlesezetes auxiliaris (Grandjean, 1936) x x x x x x x x

42 Achipteridae Thor, 1929

Trang 12

165 Campachipteria distincta (Aoki, 1959) x x

167 Plakoribates neotropicus Balogh et Mahunka,

43 Oribatellidae Jacot, 1925

44 Heterozetidae Kunst, 1971

170 Farchacarus calcaratus (Wallwork, 1965) (**) x

171 Farchacarus philippinensis (Corpuz-Raros,

45 Ceratozetidae Jacot, 1925

172 Ceratozetella cuspidodenticulatus Kuliev, 1962

173 Ceratozetes mediocris Berlese, 1908 (*) x

174 Fuscozetes fuscipes (Koch, 1844) (*) x

178 Uracrobates magniporosus Balogh et Mahunka,

49 Oribatulidae Thor, 1929

183 Oribatula prima (Ermilov et Anichkin, 2011) (*) x x x x

50 Liebstadiidae J et P Balogh, 1984

51 Scheloribatidae Grandjean, 1933

185 Hammerabates minusculus (Aoki, 1987) (**) x x

186 Euscheloribates samsinaki Kunst, 1958 x x x x

187 Trischeloribates clavatus (Mahunka, 1988) x x x x x x x

188 Perscheloribates albialatus (Hammer, 1961) (**) x x x

190 Perscheloribates lanceolatus (Aoki, 1984) (*) x x x x x x

191 Perscheloribates luminosus (Hammer, 1961) (*) x

196 Scheloribates elegans Hammer, 1958 (**) x x x x x x x x

197 Scheloribates fimbriatus fimbriatus Thor, 1930 x x x x x x x x

198 Scheloribates fimbriatus africanus Wallwork,

199 Scheloribates kraepelini (Berlese, 1908) (*) x x

200 Scheloribates laevigatus (Koch, 1835) x x x x x x x x x x

201 Scheloribates latipes (C.L.Koch, 1841) x x x x x x x x x

202 Scheloribates matulisus Corpuz-Raros, 1980 (**) x x

203 Scheloribates obtusus Petzen, 1963 (**) x x x x x x

Trang 13

206 Scheloribates praeincisus (Berlese, 1910) x x x x x x x x x

213 Bischeloribates praeincisus (Berlese, 1916) (**) x x x x x x x x

214 Topobates coronopubes (Lee et Pajak, 1990) (**) x x

52 Oripodidae Jacot, 1925

215 Cosmopirnodus tridactylus Mahunka, 1988 x x

53 Protoribatidae J.Balogh et P.Balogh, 1984

220 Perxylobates crassisetosus Ermilov et Anichkin,

223 Perxylobates thanhhoaensis Ermilov, Vu, Trinh

227 Protoribates capucinus (Berlese, 1908) x x x x x x x x x

229 Protoribates lophothrichus (Berlese, 1904) x x x x x x x x x x

230 Protoribates monodactylus (Haller, 1804) x x x x x x x x x x

231 Protoribates paracapucinus Mahunka, 1988 (*) x x x x x x x x

233 Protoribates bipilis (Hammer, 1972) (**) x x x x x x x

236 Protoribates maximus (Mahunka, 1988) x x x x x x x x x

242 Trachyoribates punctulifer Balogh et Mahunka,

244 Trachyoribates trimorphus Balogh et Mahunka,

Ngày đăng: 01/01/2020, 06:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w