1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản trị văn hóa doanh nghiệp của công ty cổ phần gạch cẩm lý

119 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 2,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đáng tiếc là vẫn có nhiều lãnh đạo doanh nghiệp còn quan niệm VHDN chỉ như là lĩnh vực đời sống văn nghệ, giải trí để hỗ trợ hoạt động kinh doanh hoặc là công việc xây dựng một lần xong

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

DƯƠNG VĂN TÂN

QUẢN TRỊ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GẠCH CẨM LÝ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Hà Nội – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

DƯƠNG VĂN TÂN

QUẢN TRỊ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GẠCH CẨM LÝ

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Quản trị văn hóa doanh nghiệp của Công ty

Cổ Phần Gạch Cẩm Lý” là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS

Đỗ Minh Cương thuộc Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Các thông tin và số liệu sử dụng trong Luận văn được trích dẫn đầy đủ nguồn tài liệu Luận văn không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Học viên

Dương Văn Tân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo ở Trường Đại học Kinh

tế - Đại học Quốc gia Hà nội đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong thời gian tôi học tập, nghiên cứu tại trường Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm

ơn sâu sắc đến PGS.TS Đỗ Minh Cương, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo cùng các anh, chị đang làm việc tại Công ty Cổ Phần Gạch Cẩm Lý; các bạn đã giúp đỡ, cung cấp cho tôi những tham khảo quý giá liên quan đến lĩnh vực văn hóa của Công ty trong suốt quá trình nhằm giúp tôi thực hiện luận văn này

Mặc dù luận văn này đã được hoàn thành với tất cả sự cố gắng của bản thân, nhưng luận văn không thể tránh khỏi những sai sót, hạn chế Kính mong nhận được sự nhận xét, góp ý của các thầy cô giáo và các bạn để tôi có thể khắc phục những thiếu sót của mình

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC HÌNH iii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản trị văn hóa doanh nghiệp 5

1.1.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 5

1.1.2 Công trình nghiên cứu trong nước 7

1.2 Cơ sở lý luận về VHDN 12

1.2.1 Các khái niệm cơ sở của luận văn 12

1.2.2 Các nội dung quản trị văn hóa doanh nghiệp 18

1.2.3 Một số mô hình và cách nhận dạng văn hóa doanh nghiệp 44

1.2.4 Lựa chọn mô hình để nghiên cứu cho Luận văn 50

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 51

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ 52

NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN 52

2.1 Phương pháp nghiên cứu luận văn 52

2.2 Thiết kế quy trình nghiên cứu luận văn 53

2.2.1 Quy trình nghiên cứu luận văn 53

2.2.2 Mô hình nghiên cứu 54

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GẠCH CẨM LÝ 61

3.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Gạch Cẩm Lý 61

Trang 6

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Gạch

Cẩm Lý 61

3.1.2 Mô hình tổ chức và hoạt động của Công ty Cổ phần Gạch Cẩm Lý 63

3.2 Thực trạng công tác quản trị văn hóa tại Công ty Cổ phần Gạch Cẩm Lý 66

3.2.1 Văn hóa doanh nghiệp thông qua các giá trị hữu hình: 66

3.2.2 Niềm tin và các giá trị tuyên bố 78

3.2.3 Nhận thức tầm quan trọng của VHDN của lãnh đạo và nhân viên công ty 83

3.2.4 Môi trường làm việc 87

3.2.5 Văn hoá Công ty trong tuyển dụng và đào tạo nhân sự 88

3.2.6 Vai trò của lãnh đạo trong quản tri và triển khai văn hoá doanh nghiệp 88

3.3 Đánh giá công tác quản trị VHDN tại công ty CP Gạch Cẩm Lý 89

3.3.1 Ưu điểm 89

3.3.2 Hạn chế 89

3.3.3 Nguyên nhân 90

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NHẰM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VHDN TẠI CÔNG TY CP GẠCH CẨM LÝ 91

4.1 Xây dựng và phát triển VHDN tại Công ty CP Gạch Cẩm Lý trong giai đoạn hiện nay ( 2018- 2020) 91

4.1.1 Tình hình kinh tế xã hội hiện nay 91

4.1.2 Đối thủ cạnh tranh 92

4.1.3 Các nhiệm vụ giải quyết để Công ty CP Gạch Cẩm Lý thoát khỏi khủng hoảng và phát triển bền vững: 93

4.2 Giải pháp hoàn thiện VHDN Tại Công ty CP Gạch Cẩm Lý 94

Trang 7

4.2.1 Quản trị chiến lược phát triển theo các giá trị cốt lõi và sự định

hướng của VHDN 96

4.2.2 Giải quyết các khó khăn về tài chính trong doanh nghiệp, tái cấu trúc bộ máy nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế: 98

4.2.3 Nâng cao vai trò của nhà lãnh đạo trong công cuộc quản trị VHDN 98

Công tác kiểm tra, kiểm soát quản trị văn hóa doanh nghiệp: 101

4.2.4 Tạo dựng lòng tin cho nhân viên Công ty CP Gạch Cẩm Lý 103

KẾT LUẬN 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC

Trang 8

7 VHDN Văn hóa doanh nghiệp

8 VHKD Văn hóa kinh doanh

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 2.1 Bảng hỏi theo mô hình OCAI 57

3 Bảng 3.1

Kết quả khảo sát của nhân viên về đặc trƣng biểu hiện của văn hoá doanh nghiệp Công ty cổ phần gạch Cẩm Lý

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

1 Hình 1.1 Sơ đồ các cấp độ quản trị văn hóa doanh nghiệp 44

2 Hình 1.2 Bốn loại hình văn hóa doanh nghiệp theo

3 Hình 1.3 Mô hình Denison trong văn hóa doanh nghiệp 48

4 Hình 2.1 Quy trình nghiên cứu của đề tài 54

5 Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức Công ty Cổ phần Gạch Cẩm Lý 53

6 Hình 3.2 Khu vực làm việc của khối văn phòng 57

7 Hình 3.3 Không gian phòng họp tại công ty 59

8 Hình 3.4 Logo thương hiệu của Công ty cổ phần gạch

9 Hình 3.5 Tổ chức vui trung thu cho các gia đình có con

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình hội nhập, cùng với việc cạnh tranh về khoa học công nghiệp, dịch vụ… thì VHDN là tài sản vô hình để mỗi doanh nghiệp phát triển năng lực kinh doanh, cạnh tranh và hoàn thiện thương hiệu của mình Đáng tiếc là vẫn có nhiều lãnh đạo doanh nghiệp còn quan niệm VHDN chỉ như là lĩnh vực đời sống văn nghệ, giải trí để hỗ trợ hoạt động kinh doanh hoặc là công việc xây dựng một lần xong thôi mà chưa chú trọng nó như là một công việc quản trị một nguồn lực quan trọng, cần được duy trì, hoàn thiện không ngừng trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của DN

Va n hoá doanh nghiẹ p có vai trò và vị trí rất quan trọng trong sự phát triển của mỗi doanh nghiẹ p, bởi bất kỳ mọ t doanh nghiẹ p nào nếu thiếu đi yếu

tố va n hoá thì doanh nghiẹ p đó khó có thể đứng vững và tồn tại bền vững được Trong khuynh hướng xã họ i ngày nay thì các nguồn lực của mọ t doanh nghiẹ p là con người mà va n hoá doanh nghiẹ p là cái liên kết và nhân lên nhiều lần giá trị của các nguồn lực riêng l Do vạ y, có thể kh ng định va n hoá doanh nghiẹ p là nền tảng tinh thần và động lực phát triển của các doanh nghiệp có nền văn hóa mạnh Tuy nhiên, vẫn còn nhiều doanh nghiệp xây dựng VHDN một cách hình thức, chiếu lệ hoặc theo kiểu phong trào nhất thời Trong điều kiện kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập quốc tế thì viẹ c xây dựng va n hoá doanh nghiẹ p là mọ t viẹ c làm hết sức cần thiết nhưng cũng không ít khó kha n, nhất là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Công ty CP Gạch Cẩm Lý là một DN có quy mô vừa và nhỏ chủ yếu sản xuất, kinh doanh mặt hàng gạch ngói phục vụ địa bàn nông thôn thuộc địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Người sáng lập DN vốn sinh ra từ địa phương, trong gia đình có truyền thống làm nông nghiệp, gắn bó lâu dài với

Trang 12

quê hương và bà con nông dân Khi thành lập và quản trị DN tại quê hương mình, ông có tư tưởng thực hiện kinh doanh có văn hóa, đề cao yếu tố nghĩa tình và trách nhiệm với địa phương mình Tuy nhiên, do chưa được đào tạo bài bản về VHDN nên hiểu biết về quản trị vấn đề này của ông còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp tới mức độ hoàn thiện và vai trò của VHDN đối với hoạt động kinh doanh và sự phát triển của Công ty Tác giả đã chọn đề tài

“Quản trị văn hóa doanh nghiệp của Công ty Cổ phần Gạch Cẩm Lý” làm đề

tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh của mình, có mục tiêu trước hết giúp cho người sáng lập- lãnh đạo DN hoàn thiện công tác quản trị VHDN của mình để VHDN thực sự đóng vai trò là nền tảng tinh thần và động lực mạnh để phát triển DN bền vững

2 Câu hỏi nghiên cứu

- Văn hóa doanh nghiệp tại Công ty Cổ phần Gạch Cẩm Lý trong thời gian qua như thế nào?

- Công việc quản trị quá trình xây dựng và triển khai văn hóa doanh nghiệp tại Công ty Cổ phần Gạch Cẩm Lý đã được thực hiện ra sao?

- Quản trị công việc này thế nào để hoàn thiện và phát triển văn hóa doanh nghiệp của Công ty Cổ phần Gạch Cẩm Lý trong giai đoạn hiện nay?

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá hiện trạng và tìm ra được các giải pháp quản trị nhằm xây dựng và hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp tại Công ty Cổ Phần Gạch Cẩm Lý

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng hợp và chọn lọc lý thuyết về VHDN để xây dựng cơ sở lý luận

- Nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng về công tác quản trị văn hóa doanh nghiệp của Công ty Cổ Phần Gạch Cẩm Lý

Trang 13

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản trị và hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp của Công ty Cổ Phần Gạch Cẩm Lý

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản trị xây dựng và triển khai văn hóa doanh nghiệp của Công ty Cổ phần Gạch Cẩm Lý

5 Dự kiến đóng góp của Luận văn

- Phân tích, đánh giá được các điểm đã làm được và chưa làm được còn yếu kém trong VHDN tại Công ty Cổ Phần Gạch Cẩm Lý

- Cung cấp nhận thức khoa học, hệ thống lý luận về VHDN nhằm giúp nhà lãnh đạo nâng cao nhận thức, có năng lực quản trị VHDN hiệu quả hơn

- Đề xuất giải pháp về quản trị VHDN từ các bước lên kế hoạch đến thực hiện

6 Kết cấu luận văn

Trang 14

Chương 3 : Thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại Công ty Cổ Phần Gạch Cẩm Lý

Chương 4 : Một số giải pháp nhằm phát triển văn hóa doanh nghiệp tại Công ty Cổ Phần Gạch Cẩm Lý

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ

LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản trị văn hóa doanh nghiệp

1.1.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu VHDN trên thế giới có 2 hướng nghiên cứu khác nhau Hướng nghiên cứu thứ nhất là cách tiếp cận vi mô như mô hình Tháp VHDN

3 lớp của Edgar Shein và hướng nghiên cứu thứ hai là cách tiếp cận vĩ mô: So sánh sự khác biệt về phong cách, đặc điểm quản trị DN và VHDN của các nước qua các công trình của Geert Hofstede, Wiliam Ouchi (Thuyết Z) Dưới đây là quan điểm nền móng cơ bản cho quản trị VHDN

* Nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp của Edgar H.Schein

Edgar Schein đã có những nghiên cứu trong việc phát triển tổ chức trong một số lĩnh vực, bao gồm phát triển văn hóa doanh nghiệp Năm 2004 ông đưa ra mô hình lý luận về ba cấp độ văn hóa doanh nghiệp là:

Cấp độ một: các yếu tố hữu hình và các ứng xử Các yếu tố hữu hình bao

gồm: kiến trúc nội thất, trang phục, giai thoại, câu chuyên

Cấp độ hai: các giá trị được chấp nhận gồm các yếu tố văn hóa được

mong muốn của tổ chức

Cấp độ ba: những thói quen, ngầm định nền tảng của văn hóa doanh

nghiệp gồm niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm có tính vô thức, mặc

nhiên được công ty chấp nhận (H.Schein,2010)

Để quản trị VHDN của công ty cần xây dựng theo trình tự ba cấp độ trên; Tuy nhiên cách tiếp cận này còn hạn chế như quản trị VHDN chưa tiếp cận theo giai đoạn như: hoạch định, tổ chức thực hiện, triển khai, kiểm tra và đánh giá

Trang 16

* Nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp của Herb Kelleher

Herb Kelleher đã đưa ra nhiều quan điểm hữu ích và thực hành thành công VHDN, ông cho rằng VHDN là tài sản không thể thay thế được, nếu do-anh nghiệp thiếu vốn thì có thể đi vay, thiếu nhân viên thì có thể tuyển dụng thêm, thiếu thị trường có thể từng bước mở rộng, các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp có thể bắt trước nhưng không thể bắt trước hay đi mua lòng tận tụy và trung thành của nhân viên Đồng thời ông đưa ra các bảy bước tuyển dụng nhân viên theo VHDN, và mười một lời khuyên về quản lý nhân viên có liên quan đến VHDN, và mười bốn điểm cần lưu ý khi xây dựng VHDN Tác giả thừa nhận VHDN là tài sản, chưa đưa ra cách thức quản trị tài sản văn hóa đó một cách toàn diện và cụ thể, quản trị VHDN mới chỉ thực hiện được một bước đó là hoạch định, xây dựng VHDN, còn hoạt động khác như tổ chức thực hiện, triển khai, kiểm tra chưa đề cập tới

* Nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp của Cameron và Quinn:

Tác giả phân loại doanh nghiệp vào bốn loại văn hóa chính dựa trên bốn tiêu chí khác nhau:

- Văn hóa hợp tác: đó là văn hóa cởi mở, môi trường làm việc thân thiện dễ

chia s , trung thành và mang tính đồng đội, lấy yếu tố con người làm trung tâm

- Văn hóa sáng tạo: nền văn hóa sáng tạo, năng động và môi trường làm

việc chủ động, thúc đẩy sự sáng tạo, chấp nhận thử thách, tập trung vào kết quả lâu dài, dẫn đầu thị trường là giá trị cốt lõi

- Văn hóa kiểm soát: nền văn hóa nghiêm túc và môi trường làm việc có

tổ chức, có ý thức kỷ luật cao, tuân thủ các nguyên tắc và quy trình, duy trì kết quả trong dài hạn, sự đảm bảo và ăn chắc mặc bền là giá trị cốt lõi

- Văn hóa cạnh tranh: hướng tới kết quả, ý thức cao về tính cạnh tranh

và đạt mục tiêu đề ra bằng mọi giá, tập trung đo lường kết quả, đạt vị thế dẫn

đầu thị trường là quan trọng

Trang 17

Ưu điêm mô hình này, quản trị VHDN trước hết xác định nền văn hóa hiện tại doanh nghiệp thuộc loại hình nào, đồng thời xác định loại hình VHDN mong muốn trong tương lai, trên cơ sở đó đưa ra cách thức để quản trị phù hợp với thực tế; nhận dạng được điểm mạnh điểm yếu phục vụ cho việc lên kế hoạch thay đổi

Hạn chế của nghiên cứu là quản trị VHDN nào chỉ tập trung và một loại hình duy nhất, và sử dụng công cụ đánh giá VHDN OCAI bao gồm một khung văn hóa tập trung chính và một khung văn hóa phụ, dựa vào các qua sát sự khác biệt giữa mô hình hiện tại và mô hình mong muốn để có những điều chình đạt được mô hình mong muốn Tuy nhiên nghiên cứu nàychưa đề cập đến khi nào cần tiến hành điều chỉnh, tác giả chưa tiếp cập theo bốn bước bước để thực hiện quản trị VHDN này

Qua các nghiên cứu trên ta thấy Thứ nhất: thừa nhận VHDN là một tài

sản quý không thể thay thế, do vậy cần phải quản trị nó một cách hiệu quả

nhất, Thứ hai:quản trị VHDN là tương lai quản trị, phương pháp quản lý mới

với nhiều biểu hiện đặc thù Tuy nhiên chưa xây dựng lý thuyết quản trị hoàn chỉnh để quản lý nó, đây là khoảng trống trong nghiên cứu về VHDN

1.1.2 Công trình nghiên cứu trong nước

Trong cuốn sách “Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh”, Nxb Chính trị quốc gia 2001, tác giả Đỗ Minh Cương đã sớm đưa ra được các định nghĩa của “ Văn hóa kinh doanh”, VHDN và bước đầu trình bày về hệ thống vấn đề này với mục đích áp dụng vào quản trị các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, Tác giả chưa đưa ra được các lý thuyết và mô hình về mô hình VHDN cụ thể của thế giới và việc ứng dụng nó trong công việc quản trị VHDN ở Việt Nam

Năm 2008, tác giả Dương Thị Liễu có trình bày trong” Bài giảng văn hoá kinh doanh” với 3 tầng nghiên cứu là văn hoá, văn hoá kinh doanh, văn hoá doanh nghiệp Trải qua các quá trình khoa học được kiểm định trên thế

Trang 18

giới, nghiên cứu đã chỉ ra vai trò tác động của VH kinh doanh trong mọi hoạt động của DN Đặc biệt là gần gũi để ứng dụng và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam

Theo nghiên cứu của Ths Nguyễn Anh Tuấn và Ths Nguyễn Phương Mai Thì mục tiêu và nội dung nghiên cứu: Phân tích sự tác động qua lại giữa môi trường VHDN đối với việc lựa chọn và thực thi chiến lược của các DN Việt nam trong giai đoạn kinh tế có nhiều thay đổi lớn Đưa ra cái khuyến nghị cho DN Viêt Nam để xây dựng VHDN theo định hướng chiến lược và thích nghi với chiến lược DN

Kết quả đào tạo của đề tài: Tài liệu tham khảo môn Quản trị chiến lược

và Văn hoá doanh nghiệp ( Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Phương Mai, 2011)

Luận văn thạc sỹ( 2006)” Xây dựng VHDN cho các DN Việt Nam!” tác giả Đỗ Thị Thanh Tâm bảo vệ tại Đại học kinh tế Hồ Chí Minh Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các DNVN do người Việt Nam! Quản lý và hình thành trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm DN có yếu tố nước ngoài, các hợp tác xã, hộ kinh tế

cá thể Luận văn đưa ra 1 số đề xuất để xây dựng văn hoá DN cho các DNVN

Trong cuốn sách “ đạo đức kinh doanh và văn hoá công ty “(2004, tái bản 2011) của PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân cho rằng:” VH Công ty với cấu trúc bao gồm các biểu trưng trục quan và phi trực quan có mối quan hệ mật thiết với trách nhiệm xã hội của DN” Cách tiếp cận Theo hệ thống được PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân sử dụng để giải thích mối quan hệ này thông qua phương pháp phân tích mỗi quan hệ những người hữu quan

Chúng ta phải quản trị VHDN vì:thứ nhất:VHDN là tài sản quý,nguồn

lực để phát triển bền vững, vậy doanh nghiệp phải quản lý hay quản trị một

cách hệ thống, bài bản Thứ hai:tiếp cận VHDN góc độ quản trị đối với công

việc, nhiệm vụ thì cách thực hiện nó đầy đủ, cơ bản cần trải qua bốn bước: (i) hoạch đinh, (ii) tổ chức thực hiện, (iii) lãnh đạo, điều hành, (iv) kiểm tra, điều

Trang 19

chỉnh Thứ ba: dưới góc độ quản trị doanh nghiệp và quan điểm nhà lãnh đạo,

VHDN là một phương pháp, công cụ quản trị tổ chức

Cách tiếp cận này rõ ràng, mang tính hệ thống và gắn liền thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp ở các doanh nghiệp, giúp cho công việc này đạt hiệu quả hơn, muốn có chất lượng cao hơn thì phải hoạch định,

tổ chức thực hiện, lãnh đạo và kiểm tra – kiểm soát, đánh giá Đây là quan điểm mới trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đề cao tính mục đích và trách nhiệm của chủ thể, giúp nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng, phát triển cao hơn và có cơ sở khoa học để khái quát nó Luận văn sử dụng theo cách tiếp cận này đểnghiên cứu

* Luận án tiến sĩ Nguyễn Hải Minh – “Văn hóa doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế - Phân tích trường hợp Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam”,tác giả chỉ rõ vai trò

VHDN, phân loại VHDN, các nhân tố tác động VHDN, các mô hình và phương pháp đo lường VHDN, nghiên cứu tiếp cận VHDN dưới góc độ mới

đó là quan sát và phân tích sự thay đổi các cấp độ VHDN, cách tiếp cận mới này đánh giá các khía cạnh quan trọng trong các cấp độ VHDN, tác giả chỉ rõ

để có nền văn hóa doanh nghiệp phát triển đúng hướng trước tiên cần lựa chọn mô hình văn hóa doanh nghiệp muốn xây dựng; tiến hành hoạch định, chỉ rõ lý giải nguyên nhân thay đổi các cấp độ VHDN, đề ra các giải pháp đối với củng cố các cấp độ VHDN, định hình nền VHDN phù hợp, cách tiếp cận xuất phát thực tiễn chỉ ra rằng VHDN là một nguồn lực để phát triển bền vững, đồng thời tiến hành kiểm tra kiểm soát văn hóa doanh nghiệp này kịp thời phát hiện thiếu sót, điều chỉnh Nhưng chưa tiếp cận dưới góc độ: cách thức, phương pháp quản lý, quản trị nó một cách hiệu quả nhất; tác giả chưa phân rõ thành các giai đoạn, các bước để quản trị nó một cách hiệu quả nhất

Trang 20

* Luận văn thạc sĩ “Xây dựng văn hóa doanh nghiệp cho các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tê”, tác giả Đỗ Thị Thanh

Xuân, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Trong phần cơ sở lý luận tác giả đưa ra các lý thuyết về xây dựng văn hóa doanh nghiệp cũng như duy trì

và phát huy văn hóa doanh nghiệp Tác giả tập trung vào sự phát triển của anh nghiệp Việt Nam sau khi hội nhập WTO Tác giả chỉ rõ sự khác biệt của doanh nghiệp cụ thể, từ đó góp phần sáng tỏ thêm vấn đề văn hóa doanh nghiệp, vai trò của văn hóa doanh nghiệp đối với sự phát triển của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế Chỉ rõ đặc trưng của văn hóa doanh nghiệp Việt Nam hiện nay và đề xuất mô hình văn hóa doanh nghiệp phù hợp vơi nhu cầu phát triển của doanh nghiệp, tác giả đề xuất 5 định hướng cho các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế:

do Xác định tầm nhìn, mục tiêu chiên lược

- Xây dựng văn hóa lãnh đạo

- Xây dựng văn hóa tổ chức

- Xây dựng văn hóa kinh doanh

- Quảng bá hình tượng, quan hệ công chúng của doanh nghiệp

Trong nghiên cứu này tác giả nghiên cứu bước đầu tiên trong quá trình quản trị VHDN là hoạch định, tập trung xây dựng nền VHDN phù hợp với thực tế, chưa đề cập đến việc tổ thức thực hiện triển khai nền văn hóa, kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện

* Luận văn thạc sĩ, “Hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp tại ngân hàng phát triển Việt Nam”, tác giả Vương Văn Lợi, Đại học Kinh tế Quốc dân

(2012) Trong nghiên cứu này tác giả đưa ra quy trình nhằm xây dựng và hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp, quy trình gồm có 3 bước là: định hình văn hóa doanh nghiệp, triển khai xây dựng và ổn định, phát triển văn hóa Bước

Trang 21

định hình văn hóa doanh nghiệp là xây dựng triết lý kinh doanh cho mình; bước triển khai xây dựng văn hóa doanh nghiệp tác giả đưa ra các bước sau:

- Phổ biến kiến thức chung

- Xác định các giá trị văn hóa phù hợp vơi doanh nghiệp

- Xây dựng sổ tay văn hóa

- Triển khai văn hóa doanh nghiệp

- Kiểm tra các giá trị văn hóa

Trong bước ổn định và phát triển văn hóa doanh nghiệp, tác giả nhấn mạnh vào các biện pháp: tuyển nhân sự, khuyến khích việc tiếp nhận giá trị, huấn luyện thành viên mới, củng cố các giá trị, đánh giá khen thưởng công bằng Nghiên cứu thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại ngân hàng, tác giả khảo sát các biểu hiện dựa trên yếu tố vô hình và hữu hình, trong phần giải pháp hoàn thiện văn hóa của ngân hàng tác giả đề xuất hoàn thiện các tiền đề cần thiết cho văn hóa doanh nghiệp, tác giả còn đề cập 4 nhóm giải pháp chính cho việc hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp bao gồm: Giải pháp đào tạo tuyển dụng, giải pháp truyền thông,

tổ chức các nghi lễ, xây dựng chế độ khen thưởng

Trong nghiên cứu này tác giả thừa nhận nền văn hóa mà doanh nghiệp hiện có đã được hoạch định phù hợp với doanh nghiệp, lãnh đạo, tổ chức thực hiện tốt, thông qua công tác kiểm tra phát hiện những nội dung cần hoàn thiện

bổ xung để phù hợp với thực tế Tuy nhiên tác giả mới đề cập một bước trong quá trình quản trị văn hóa doanh nghiệp

Như vậy, các công trình nghiên cứu này tập trung hai vấn đề: Thứ nhất:

nghiên cứu VHDN các công ty tập đoàn lớn, tiêu biểu, có nền văn hóa mạnh, thực hiện một trong các bước trong quản trị VHDN như: xây dựng, duy trì, phát triển, hoàn thiện…; vấn đề đặt ra cần khái quát quản trị VHDN từ khâu hoạch định ngay từ giai đoạn mới hình thành còn non tr , lãnh đạo, tổ chức thực hiện và kiểm tra vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu đầy đủ, hệ thống

Trang 22

Thứ hai: Coi VHDN là nguồn lực, tài sản quý, thay chỗ cho các nguồn lực

truyền thống là đất đai, vốn, nhân lực chưa đưa ra một phương pháp cụ thể để

quản lý hiệu quả nhất Thứ ba: Các nghiên cứu này chỉ tiếp cận một hoặc hai

bước trong quản trị văn hóa doanh nghiệp chưa tiếp quản trị theo quy trình thành các bước cụ thể

Để phát huy được hết vai trò của nó đòi hỏi chúng ta phải quản trị VHDN một cách hiệu quả, yêu cầu thực hiện đủ bốn chức năng, nhiệm vụ cơ bản của quản trị là: hoạch định, tổ chức thực hiện, lãnh đạo, điều hành và kiểm soát, điều chỉnh; vậy chưa có công trình nghiên cứu nào tiếp cận về văn hóa doanh nghiệp theo khía cạnh này Đây là khoảng trống chưa được nghiên cứu hệ thống chuyên sâu, do vậy tôi chọn làm đề tài nghiên cứu, đây cũng là đối tượng và mục đích nghiên cứu của luận văn

1.2 Cơ sở lý luận về VHDN

1.2.1 Các khái niệm cơ sở của luận văn

1.2.1.1 Khái niệm về văn hóa

Khái niệm về văn hóa có nhiều cái khác nhau Theo Chủ tịch Hồ Chí

Minh: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [1,tr.19]

Năm 2002, UNESCO phát triển định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và

nó chứa đựng, ngoài văn học nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”

Văn hóa doanh nghiệp là tiêu chí đánh giá doanh nghiệp, được nhiều người quan tâm trong thời gian gần đây, nhưng vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau, nguyên nhân chính là cách thức tiếp cận khác nhau như: ảnh hưởng các

Trang 23

yếu tố ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, điều kiện địa lý, lịch sử hình thành

và phát triển công ty, mối quan hệ giữa phổ biến giữa cán bộ công nhân viên

và tổ chức, hệ thống phân cấp về quyền lực xác định cấp trên và cấp dưới, quan điểm chung của nhân viên vê số phận, mục đích của, mục tiêu và vị trí của họ trong doanh nghiệp Từ đó hình thành lên những quan điểm khác nhau

về văn hóa doanh nghiệp, hệ thống khái niệm về VHDN cũng rất đa dạng và phong phú;dưới đây là một số cách giải thích về VHDN:

Theo định nghĩa Schneider là học giả đầu tiên nghiên cứu về VHDN, ông cho rằng: “VHDN là chất keo dính toàn bộ tổ chức lại với nhau bằng cách cung cấp sự cố kết và liên kết mạch lạc giữa từng bộ phận nhỏ của do-anh nghiệp”

Theo Đỗ Minh Cương (2001) “VHDN là một dạng văn hóa tổ chức bao gồm những giá trị, những nhân tố văn hóa doanh nghiệp làm ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của doanh nghiệp và tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên của nó”

Một số nhà nghiên cứu tiếp cận VHDN dưới góc độ các giá trị vô hình của doanh nghiệp Các yếu tố vô hình bao gồm: thái độ, thói quen, truyền thống, triết lý, giá trị cốt lõi tồn tại phổ biến trong doanh nghiệp, được các thành viên sử dụng, chia s , thừa nhận

Theo Georges de Saite marie, chuyên gia VHDN nhỏ và vừa đưa ra định nghĩa VHDN như sau: “Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các hiểu tượng, huyền thoại, nghi thức, điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”

TheoRavasi & Schultz (2006): VHDN là tập hợp các giả định tinh thần được chia s , cái sẽ định hướng hoạt động của doanh nghiệp bằng cách xác định các phản ứng thích hợp của doanh nghiệp trong những tình huống kinh doanh khác nhau Ở cùng một thời điểm, một công ty có thể vừa có văn hóa đặc

Trang 24

trưng tổng thể, vừa có những tiểu văn hóa đa dạng và thậm chí mâu thuẫn với nhau Theo ông, VHDN có cả những điểm ảnh hưởng tích cực và tiêu cực tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Tuy nhiên định nghĩa được chấp nhận phổ biến hơn là định nghĩa văn hóa doanh nghiệp của Edgar Schein: “Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong doanh nghiệp học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh” (Edgar h Schein, 2012)

Thực tế VHDN tồn tại khách quan và doanh nghiệp nào cũng có một văn hóa riêng, đặc thù của mình, chỉ có điều văn hóa đó được thể hiện như thế nào và doanh nghiệp có phát hiện ra các giá trị tốt để phát huy và những giá trị chưa phù hợp để thay đổi không

Giáo trình văn hóa kinh doanh – Dương Thị Liễu (2012) định nghĩa:

“Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi của doanh nghiệp, chi phối hoạt động của mọi thành viên trong doanh nghiệp và tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp” Trong định nghĩa này tác giả tiếp cận văn hóa doanh nghiệp gồm các yếu tố hữu hình và vô hình, luận văn sử dụng cách tiếp cận này định nghĩa này làm cơ sở cho định nghĩa văn hóa doanh nghiệp

1.2.1.2 Khái niệm quản trị văn hóa doanh nghiệp

Theo Đỗ Minh Cương (2016): “Quản trị văn hóa doanh nghiệp là quy trình nghiên cứu về VHD bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo

và kiếm soát việc thực hiện nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra”

Quản trị VHDN là một dạng đặc thù, cực kỳ khó khăn và phức tạp; đặc biệt trong môi trường kinh doanh luôn vận động và ngày càng đa dạng tạp, phức tạp, khó dự báo Dưới sự tác động xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, đặc biệt sự phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ, làm cho hoạt động kinh

Trang 25

doanh thay đổi chiểu rộng và chiều sâu Xuất hiện phương thức kinh doanh mới làm cho cách tiếp cận,chiến lược, quản trị chiến lươc, VHDN cũng phải điều chỉnh cho phù hợp Việc thực hiện tốt công tác quản trị VHDN mang lại cho các doanh nghiệp nhiều vị thế và lợi ích mới, quan trọng hơn đó là duy trì hình ảnh doanh nghiệp và bản sắc dân tộc

* Tại sao cần lý thuyết mới quản trị dựa trên quản trị văn hóa doanh nghiệp

Trong bài báo khoa học của Đỗ Minh Cương – “Quản trị văn hóa doanh nghiệp để phát triển bền vững”, 2016, tác giả chỉ rõ nên dùng khái niệm quản

trị văn hóa doanh nghiệp; bởi vì ba lý do sau: Thứ nhất: VHDN là tài sản quý

của doanh nghiệp, không chỉ gồm cấu trúc vật thể hữu hình như: kiến trúc nội ngoại thất, cơ cấu tổ chứ, nguyên tắc, lễ nghi mà còn yếu tố vô hình như: những giá trị được công cố là các chiến lược, triết lý kinh doanh và những quan niệm chung, những niềm tin khi đã nhận thức được VHDN là tài sản quý và nguồn lực lớn và cách thức phát triển bền vững thì đương nhiên cần phải quản trị một cách có hệ thống và bài bản để phát huy được vai trò tác dụng của VHDN Tại sao chúng ta quản trị chất lượng, quản trị marketing, quản trị thương hiệu, quản trị sáng tạo mà lại không làm quản trị VHDN?

Thứ hai: nếu tiếp cận VHDN từ góc độ quản trị đối với công việc, nhiệm vụ

hay dự án quan trọng, thì các thức thực hiện nó cũng cần một hệ thống và quy trình cụ thể, đòi hỏi chúng ta cần thực hiện đầy đủ bốn chức năng quản trị là (i) hoạch định, (ii) tổ chức thực hiện, (iii) lãnh đạo, điều hành, (iv) kiểm soát,

điều chỉnh Thứ ba: Trên góc độ quản trị doanh nghiệp và quan điểm người

lãnh đạo tổ chức, VHDN là một phương pháp và một công cụ quản trị tổ chức – quản trị doanh nghiệp cơ bản Nó được bổ sung và giới thiệu ở phương tây muộn hơn so với hai hình thức và công cụ quản trị theo mục tiêu và quản trị theo quá trình, quản trị bằng văn hóa có nghĩa tương đương với quản trị hay lãnh đạo dựa trên giá trị, có đặc điểm coi các giá trị cốt lõi người lãnh đạo và

Trang 26

tổ chức là những triết lý và nguyên tắc lãnh đạo cơ bản mà các cấp lãnh đạo, quản lý phải tuân thủ và gương mẫu thực hành Vậy lãnh đạo dựa vào văn hóa

tổ chức hay dựa vào hệ giá trị là một phương pháp công cụ lãnh đạo, quản trị

tổ chức mới (Đỗ Minh Cương, 2016)

Có nhiều quan điểm cho rằng quản trị bằng văn hóa là không khả thi do: văn hóa phụ thuộc vào nhà lãnh đao, truyền thống lịch sử hình thành công ty, hình thức kinh doanh, hình thức sở hữu nó liên quan đến tính chủ quan, tính quá trình, thực hành, tính thẩm mỹ, sáng tạo của quản lý văn hóa doanh nghiệp, các phương pháp quản trị thông thường có xu hướng tránh những yếu

tố này trong quản lý, loại bỏ yếu tố chủ quan, nỗ lực tìm kiếm yếu tố khách quan và các quy luật phổ quát chi phối cách liên kết các yếu tố trên Chưa quan tâm đến yếu tố tình cảm, cảm xúc, bối cảnh trong quá trình quản lý Trước hết ta kh ng định rằng “quản trị bằng văn hóa là tương lai của quản trị” vì các nguồn lực truyền thống như: đất đai, vốn, nhân lực được các doanh nghiệp quản trị, khai thác tới giới hạn cận biên lớn nhất; cần có phương pháp quản trị mới, đó là quản trị bằng văn hóa, tuy nghiên các doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong việc hiểu biết về quản trị nguồn lực VHDN và thiếu một cái nhìn tổng quan, cách tiếp cận đầy đủ các giai đoạn quá trình trong quản trị VHDN trong hoạt động của mình Mặt khác ta đã có các loại quản trị như: quản trị marketing, quản trị bán hàng, quản trị nhân lực, quản trị thương hiêu, văn hóa doanh nghiệp là nguồn lực quý hiếm, quan trong lại không được quản trị; vậy quản trị VHDN là một vấn đề cấp thiết, cần được tiếp cận một cách đúng đắn để phát huy hết vai trò của nó

VHDN sử dụng như một nguồn lực mang lại thu nhập, nguồn lực này quản lý rất khác với bản chất các nguồn lực vật chất khác như: VHDN không

bị mất giá trị khi được chia s , sử dụng bởi nhiều người, nó là nguồn lực tăng thu nhập, vượt qua thời gian và không gian dù là ở hình thức hữu hình hay vô

Trang 27

hình, được truyền qua nhiều thế hệ, vì vậy VHDN là nguồn lực vô hạn, được sáng tạo và trải nghiệm cùng một lúc Nguồn lực vật chất như vốn, nguyên vật liêu, công cụ, thiết bị chỉ có thể sở hữu bởi chủ thể sở hữu và bị hao mòn trong quá trình sử dụng, VHDN không hề bị suy giảm giá trị, có thể chia s và tái sử dụng, sản xuất bởi nhiều người, và có thể gia tăng giá trị khi kết hợp với các nguồn lực khác do vậy quản trị VHDN là điều cần thiết, và cấp bách với doanh nghiệp nói chung đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì đây là con đường duy nhất trở thành DN lớn, vươn tầm khu vực và quốc tế

Phân biệt tránh nhầm lẫn giữa quản trị VHDN với quản lý bằng văn hóa doanh nghiệp, theoNguyến Mạnh Quân: "Quản lý bằng VHDN là sử dụng các nội dung của VHDN trong việc quản lý và điều hành các hoạt động doanh nghiệp, trong đó các nội dung VHDN đặc trưng của một tổ chức được lồng ghép vào trong phương pháp quản lý và điều hành truyền thống"

* Vai trò quyền hạn và trách nhiệm của lãnh đạo trong quản trị văn hóa doanh nghiệp

Chúng ta đã chỉ ra nguyên nhân khiến một hệ thống văn hóa doanh nghiệp không phát huy được vai trò, hiệu quả quản trị của nó trong thực tế vì sự hạn chế, yếu kém của người sáng lập và lãnh đạo cao nhất có vai trò quyết định tới sự thành bại quá trình xây dựng và phát huy VHDN trong tổ chức của họ Thực tế cho thấy công ty lớn được lãnh đạo bởi những nhà lãnh đạo có tâm, có tầm, có kiến thức VHDN như Vinamilk, Viettel tạo nên tài sản vô giá là nền VHDN, làm nên tảng cho sự nghiệp phát triển bền vững của doanh nghiệp

Trong tác phẩm văn hóa tổ chức và sự lãnh đạo(Eger H Schein 2012) đã chỉ ra rằng trong giai đoạn mới thành lập các công ty đều có nhu cầu rất cao

về xác lập niềm tin, giá trị và cơ chế vận hành chung của tổ chức, chống lại những gì mơ hồ gây bất đồng, xung đột và chia rẽ Người sáng lập có khả

Trang 28

năng giải quyết các yêu cầu sống còn này của tổ chức để trở thành người lãnh đạo, nếu không họ mất vai trò lãnh đạo

1.2.2 Các nội dung quản trị văn hóa doanh nghiệp

1.2.2.1 Quá trình hoạch định chiến lược văn hóa doanh nghiệp

Hoạch định VHDN là quá trình thiết lập mục tiêu cần đạt được, định ra chương trình, bước đi cụ thể và triển khai nguồn lực nhằm đạt mục tiêu đề ra của xây dựng văn hóa doanh nghiệp Xác lập các chuẩn mực, giá trị, khía cạnh của VHDN là rất cần thiết vì đây là những nhân tố tác động trực tiếp đến hành vi, nhận thức từng cán bộ nhân viên; đồng thời việc hình thành thói quen, tư duy, nhận thức là có một thời gian dài, để thay đổi thói quen đó càng khó khăn hơn, vậy việc hoạch định rõ các giá trị chuẩn mực rất quan trọng, tránh tình trạng sai đâu sửa đấy, vừa làm vừa sửa

Trong các doanh nghiệp lớn như Viettel, Fpt, Vinamilk họ có chiến lược VHDN bài bản, công tác hoạch định VHDN được thực hiện bởi chuyên gia, họ xây dựng tầm nhìn, mục tiêu, xác định giá trị cốt lõi, cấu trúc hữu hình, những giá trị được tuyên bố và những quan niệm chung dựa trên phân tích điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp và dựa trên ý chí, khát vọng của nhà lãnh đạo cao nhất Do vậy VHDN của doanh nghiệp lớn ổn định và phát huy được vai trò tác dụng trong hoạt động kinh doanh, do vậy công tác hoạch định VHDN rất ít được đề câp quan tâm và nghiên cứu Ngược lại trong doanh nghiệp vừa và nhỏ thời gian tồn tại ít, và chưa nhận rõ vai trò VHDN, chưa đủ kinh phí thực hiện xây dựng VHDN bài bản, hoàn chỉnh và nhân thức về VHDN còn hạn chế VHDN trong các doanh nghiệp này ngầm định mặc nhiên tồn tại được thành viên trong tổ chức coi đó là chân lý, hoặc do nhà sáng lập, nhà lãnh đạo sáng tạo

ra theo ý muốn chủ quan và khát vọng nhà sáng lập

Trang 29

Hoạch định VHDN xuất phát từ nhà lãnh đạo, nhà sáng lập nhận thức vai trò VHDN, trực tiếp thực hiện xây dựng VHDN hoặc giao cho nhóm thực hiện công việc hoạch định Hoạch định VHDN thực hiện công việc sau:

- Sứ mệnh doanh nghiệp là gì: Xuất phát từ ước vọng của nhà lãnh đạo

của công ty,sứ mệnh này có thể thay đổi trong quá trình kinh doanh,xác định

sứ mệnh có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản trị, sứ mệnh lớn hình thành mục tiêu lớn.Sứ mệnh trả lời cho câu hỏi lý do tồn tại của doanh nghiệp, doanh nghiệp làm gì và phục vụ ai, những nguyên tắc và giá trị nào là kim chỉ nam cho các hoạt động của tổ chức Bản tuyên bố sứ mệnh phải rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn và cô đọng, sứ mệnh tạo niềm tin tưởng, thu hút và hấp dẫn các thành viên của công ty Bản tuyên bố sứ mệnh phải khả thi, mang tính hiện thực, mở ra cơ hội mới, không dẫn dắt doanh nghiệp vào cuộc phiêu lưu, không thể thực hiện được do vượt quá nguồn lực

- Mục tiêu của doanh nghiệp: Sứ mệnh doanh nghiệp được cụ thể hóa

thành các mục tiêu, các mục tiêu này coi như một cam kết của nhà lãnh đạo doanh nghiệp phải hoàn thành công việc trong một thời gian xác định, mục tiêu doanh nghiệp trả lời cho ba câu hỏi sau: doanh nghiệp phải đạt những kết quả gì,vào thời điểm xác định nào đó, số lượng là bao nhiêu (lượng hóa các kết thành con số cụ thể)và ai là người phải chịu trách nhiệm thực hiện VHDN

là mục tiêu dài hạn, do vậy cần thấy rõ được vai trò của VHDN, gắn kết sức mạnh của những mục tiêu ngắn hạn vào việc đạt mục tiêu dài hạn, việc đạt được mục tiêu dài hạn yêu cầu nhà lãnh đạo phải hiện thực hóa thành các hành động ngay hôm nay thì mới đạt được mục tiêu dài hạn

-Triết lý kinh doanh của doanh nghiệp là gì: Doanh nghiệp xây dựng

triết lý kinh doanh cho riêng mình, định hướng cho hoạt động kinh doanh đạt được kết quả doanh nghiệp đã đề ra, triết lý kinh doanh có thể được xây dựng ngay từ khi thành lập doanh nghiệp theo kế hoạch của nhà lãnh đạo và cán bộ

Trang 30

nhân viên trong doanh nghiệp, do họ sớm nhận thức được vai trò triết lý kinh doanh, chủ động trong việc xây dựng để phục vụ cho kinh doanh; triết lý kinh doanh có thể hình thành dần dần từ thực tiễn kinh doanh của doanh nghiệp Đúc rút kinh nghiệm thực tiễn sau một thời gian dài tự mình trải nghiệm, hình thành nên tri thức kinh nghiệm, thực hiện truyền bá rộng rãi doanh nghiệp

- Giá trị cốt lõi: Là niềm tin ngầm định của cán bộ công nhân viên trong

doanh nghiệp, quyết định thái độ của nhà lãnh đạo, quản lý, cán bộ công nhân viên và khách hàng của doanh nghiệp

- Mô hình văn hóa doanh nghiệp theo đuổi xây dựng là gì: Chọn mô

hình VHDN mà công ty theo đuổi thực hiện, giúp doanh nghiệp định hình các công việc và phương pháp làm việc để đạt được mô hình đó Mô hình VHDN tiêu biểu như: mô hình ba cấp độ của Edgar Shien, mô hình văn hóa đa chiều của Geert Hofstede, mô hình của Trompennaars…hoặc sử dụng kết hợp giữa các mô hình này Văn hóa của bất kỳ doanh nghiệp nào có thể được nghiên cứu ở ba cấp độ: cấp độ thực thể hữu hình, cấp độ các niềm tin và giá trị được tuyên bố hay cấp độ các ngầm định nền tảng Nếu chúng ta không nhận diện được các ngầm định nền tảng, ta sẽ không biết làm thế nào để giải thích các hiện tượng văn hóa doanh nghiệp một cách chính xác

- Xây dựng được lực lượng lòng cốt: Trả lời cho câu hỏi ai là người tiên

phong trong thực hiện văn hóa doanh nghiệp, đây là nhóm người có tiếng nói, có ảnh hưởng, tác động tới những thành viên khác, họ có thể là người lãnh đạo, trưởng phòng, công nhân ưu tú Họ không chỉ là người thực hiện tốt VHDN mà còn là nhân tố tích cực lan tỏa niềm tin, giá trị cốt lõi VHDN tới thành viên khác,

là tấm gương để học tập và noi gương theo, tăng cường đào tạo, phát triển và mở rộng lực lượng lòng cốt dựa trên các giá trị và quy chuẩn VHDN

- Xây dựng, phát triển kênh truyền thông VHDN trong doanh nghiệp:

Thực hiện truyền thông văn hóa doanh nghiệp gắn liền với các giá trị hữu

Trang 31

hình, niềm tin, quan niệm chung được tuyên bố Truyền thông nội bộ tốt giúp doanh nghiệp vận hành tốt, vượt qua được khó khăn, duy trì củng cố mối liên

hệ giữa các thành viên, duy trì mối liên hệ nhà lãnh đạo và nhân viên Kênh truyền thông nội bộ được doanh nghiệp sử dụng như: họp nhóm, họp toàn bộ nhân viên, tổ chức các sự kiện, cuộc thi tìm hiểu về VHDN… mục đích để từng thành viên hiểu được mục tiêu, giá trị VHDN công ty đang theo đuổi

1.2.2.2 Quá trình tổ chức thực hiện văn hóa doanh nghiệp

Mục đích của công tác tổ chức thực hiện VHDN là thiết lập một cơ cấu hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trong hoạch định VHDN đã đưa ra Thiết lập một hệ thống các vị trí cho các nhân và bộ phận sao cho các nhân và bộ phân hợp tác với nhau một cách hiệu quả nhất, đồng thời xác định

và phân loại các hoạt động cần thiết để hoàn thành mục tiêu, xác đinh quyền hạn, trách nhiệm và phân bổ nguồn lực cho từng bộ phận

Dù VHDN có xuất sắc đến mấy cũng không thành công nếu không có quá trình thực hiện đúng đắn, thực hiện là quá trình biến những mục tiêu chiến lược thành hành động kèm theo những nhiệm vụ nằm thực hiện những mục tiêu

kế hoạch đề ra Sau khi hoàn thành giai đoạn xây dựng và lựa chọn chiến lược, bước tiếp theo là tổ chức thực hiện các chiến lược đề ra Tổ chức thực hiện xuyên suốt thống nhất từ lãnh đạo, xuống các phòng ban, cán bộ công vì một mục tiêu chung, hiểu được vai trò VHDN, các yếu tố cấu thành Thời gian tổ chức thực hiện ngay sau khi quyết định có hiệu lực, VHDN đòi hỏi phải có thời gian triển khai dài để các thành viên thấu hiểu và chia s các giá trị,

Vấn đề có tầm quan trọng và có tác dụng chi phối thực thi các chiến lược phát triển VHDN việc xác lập và phân bổ ngân sách cho hoạt động quản trị VHDN, nhà lãnh đạo thường nghĩ tổ chức thực hiện VHDN là không dùng tới ngân sách, coi đó là hoạt động cổ vũ tinh thần, không có kế hoạch ngân sách

cụ thể cho cho hoạt động quản trị VHDN, dù các giá trị và tác dụng VHDN

Trang 32

mang lại cho doanh nghiệp vô cùng to lớn và có ý nghĩa; vậy ấn định được những mục tiêu cho từng hoạt động quản trị VHDN, trên mục tiêu và đặc tính

để nhà quản trị xác định được ngân sách tối thiểu nhằm lôi kéo và tổ chức thực hiện VHDN Việc quyết định ngân quỹ thực hiện quản trị VHDN cấn xem xét các bước liên quan đến lập kế hoạc mục tiêu sau: tổng ngân quỹ dự định dành cho quản trị VHDN, phân bổ ngân quy cho quá trình quản trị, phân

bổ ngân quỹ cho hoạt động quản trị VHDN dựa theo các cách sau: thứ nhất:

Tùy theo khả năng, dựa vào kinh nghiệp và ngân quỹ tự có của doanh nghiệp

để đưa ra kế hoạch tương đối và điều chỉnh sau Thứ hai: Dựa theo mục tiêu

và công việc cụ thể như: mục tiêu về VHDN của công ty, công việc cần làm

để đạt được mục tiêu trên,ước tính chi phí hoàn thiện mục tiêu VHDN Thứ ba: Phương pháp ngang bằng đối thủ cạnh tranh tức là dựa theo chi phí đối

thủ cạnh tranh đầu tư vào VHDN

Thiết lập trách nhiệm rõ ràng: VHDN trở thành hơi thở của tổ chức, của

thành viên yêu cầu nhà lãnh đạo luôn trau rồi môi trường, người ta phải làm nhiều hơn là chỉ biết khoe, giữ lời hứa không chỉ với tư cách là một cá nhân

mà với tư cách một tập thể Thiếu trách nhiệm rõ ràng bào mòn hiệu quả của VHDN, nhà lãnh đạo phải nhận diện được sự thiếu trách nhiệm này như: nhân viên không nhận trách nhiệm, chậm trễ trong việc thực hiện, hiểu sai, thất hứa, bất đồng với thành viên khác Chịu trách nhiệm khác với sự trừng phạt, chịu trách nhiệm trong VHDN được thiết lập theo quy trình sau:

- Dựa vào mục tiêu rõ ràng, dễ hiểu, nhà quản lý có nhiệm vụ chia s , phân công mục tiêu cho các đội nhóm, thành viên có trách nhiệm chia s mục tiêu cho công nhân, tất cả các bên đều phải tham gia, mọi thành viên đều phải hiểu họ được gì nếu thành công và hậu quả nào đang chờ nếu thất bại

- Nhà quản lý sẽ đánh giá theo mục tiêu, dựa vào mốc quan trọng diễn ra thường xuyên, nơi mà thành viên có thể đóng góp ý kiến, khen thưởng tán dương

Trang 33

- Kết thúc chu kỳ đánh giá, nhà lãnh đạo tổng kết dựa vào đánh giá thành công của các nhân viên, các bên đóng góp ý kiến sửa chữa sai sót chân thành và th ng thắn, đây là quá trình phân trách nhiệm của lãnh đạo dựa vào VHDN và chỉ có nền VHDN mạnh mới có thể triển khai, phân công trách nhiệm một cách rõ ràng

Phân công nhiệm vụ rõ ràng nhà lãnh đạo cấp cao, cấp trung gian và cấp

cơ sở: Nhà lãnh đạo cấp cao là người đưa ra chiến lược VHDN, đồng thời là người chị trách nhiệm thành quả cuối cùng của việc triển khai VHDN đem lại đồng thời là tấm gương sáng trong việc triển khai và thực hiện VHDN Nhà quản trị cấp trung trước hết họ phải hiểu rõ ràng mục tiêu của xây dựng, triển khai VHDN và các yếu cố cấu thành, nhận diện các yếu tố tác động mạnh tới thành công hay thất bại trong việc triển khai VHDN xuống cấp dưới, đồng thời là người tư vấn, quân sư cho lãnh đạo cấp cao; có trách nhiệm chuẩn bị nhân sự phục vụ cho quá trình triển khai, có thể tuyển thêm nhân viên phục

vụ cho công tác triển khai VHDN, phân công công việc, phân chia theo nhóm, tạo động lực cho nhân viên Đòi hỏi nhà quản trị cấp trung có kỹ nhìn nhận và đánh giá nhân sự một cách nhạy bén, lựa chọn người giao việc không chỉ giỏi trong công việc, có trình độ mà có nhiều tố chất khác như thái độ lầm việc, đạo đức, khả năng hoàn thành công việc được giao đúng thời hạn Nhà lãnh đạo cấp cơ sở là người đưa ra các quyết định tác nghiệp nhằm hướng dẫn, đốc thúc và điều khiển các công nhân viên trong quá trình thực hiện công việc cụ thể hàng ngày, nhằm đạt mục tiêu chung Đây là người trực tiếp tiếp xúc và gần gũi với công nhân viên hàng ngày, họ là người ảnh hưởng tác động nhanh nhất tới thành viên trong nhóm, tổ chức, do vậy nhà lãnh đạo cấp sơ sở phải thấu hiểu và biến những triết lý, giá trị cốt lõi thành hành động cụ thể

1.2.2.3 Quá trình lãnh đạo văn hóa doanh nghiệp

Lãnh đạo là người tạo dựng ra nét đặc thù của văn hóa doanh nghiệp, là những sáng lập viên, quyết định việc hình thành văn hóa cơ bản của doanh

Trang 34

nghiệp, tố chất cơ bản của nhà lãnh đạo như: có tầm nhìn chiến lược, thuyết phục, kiên nhẫn và khả năng đánh giá cấp dưới, có phong cách của riêng mình thể hiện thông qua cách hành động và ứng xử với nhân viên cấp dưới Lãnh đạo văn hóa doanh nghiệp luôn hướng tới những thay đổi có ích,nhà lãnh đạo tập trung đến những thay đổi thuộc yếu tố bên trong công ty, tiếp đó tạo thay đổi trong chiến lược kinh doanh, các quy định giữ cho doanh nghiệp

và văn hóa doanh nghiệp phù hợp thực tế môi trường kinh doanh (Đỗ Hữu Hải, 2016)

Lãnh đạo là một quy trình, một nghệ thuật tác động gây ảnh hưởng đến

cá nhân sao cho họ tự nguyện, hăng hái thực hiện mục tiêu chung Hay nói cách khác lãnh đạo là việc định ra chủ trương đường lối, mục đích, nguyên tắc hoạt động của hệ thống trong điều kiện môi trường nhất định

Người lãnh đạo VHDN là giám đốc công ty, trực tiếp vạch ra đường lối, mục đích của nền VHDN mà công ty hướng tới xây dựng, đồng thời là người chi phối hệ thống hoạt động theo đúng mục tiêu đưa ra.Người bị lãnh đạo là các cá nhân, tập thể trong công ty, là người phải thực hiện các mục tiêu và nguyên tắc mà VHDN đã đề ra Mục đích của văn hóa doanh nghiệp là hướng tới mục tiêu dài hạn, cái đích cần hướng đến trong tương lai xa, được cụ thể hóa thành mục tiêu cụ thể và ngắn hạn, nhằm thu hút mọi nguồn lực

Lãnh đạo văn hóa doanh nghiệp trước hết phải hiểu rõ được con người trong hệ thống và đáp ứng hợp lý nhu cầu người lao động, thứ hai phải đưa ra quyết định lãnh đạo hợp lý, luôn thấu hiểu văn hóa chính là cách con người giải quyết vấn đề, sản phẩm cuối cùng lãnh đạo văn hóa doanh nghiệp là đưa

ra các quyết định có tính nhân văn cao cả, vì lợi ích doanh nghiệp và thống nhất với lợi ích từng thành viên của ổ chức, thứ ba lãnh đạo VHDN là phải xây dựng nhóm làm việc: trong quản lý phân cấp và phân công là tất yếu, là nguyên tắc của quản trị, trong hệ thống thường phân chia thành các nhóm,

Trang 35

phục trách nhiệm, chức năng cụ thể, không có nền VHDN đủ mạnh làm chất kết dính các thành viên trong tổ chức lại với nhau khó có thể đem lại hiệu quả, chỉ có VHDN là chất xúc tác không phân biệt thứ bậc, chức vụ, xóa bỏ khoảng cách quyền lực

Phương pháp lãnh đạo văn hóa doanh nghiệp là phương pháp giáo dục, vận động, tuyên truyền: tác động và nhận thức và tình cảm các thành viên trong tổ chức, nâng cao tính tự giác và lòng nhiệt huyết của người lao động, lãnh đạo bằng văn hóa giúp nhân viên phân biệt được phải trái, đúng sai, lợi hại, thiện ác từ đó nâng cao tính tự giác và gắn kết hệ thống Đồng thời sử dụng kết hợp với các phương pháp hành chính mệnh lệnh khác một cách linh hoạt uyển chuyển, vừa nhẹ nhàng và sâu sát đến từng thành viên, đây là bí quyết của lãnh đạo văn hóa doanh nghiệp

1.2.2.4 Quá trình kiểm tra, kiểm sát

Kiểm tra là một trong những chức năng của quản trị, là việc xem xét, đánh giá, kết luận đúng sai đối với cá nhân, nhóm trong việc thực hiện các nội quy, quy định của doanh nghiệp đề ra Kiểm tra, kiểm sát là sự tác động sâu sắc, có hệ thống và có định hướng của đơn vị có thẩm quyển lên từng cá nhân

và nhóm, kết luận về ưu, nhược điểm của cá nhân, nhóm Kiểm tra, kiểm sát vừa là chức năng lãnh đạo, vừa là những phương thức lãnh đạo quan trọng của ban giám đốc công ty, chủ thể quá trình kiểm tra, kiểm soát VHDN tiến hành mọi cấp, mọi chức năng

Kiểm tra của hội đồng quản trị(HĐQT): Là cơ quan quản lý cao nhất

trong doanh nghiệp, chịu trách nhiệm cao nhất về sự thành công hay thất bại việc triển khai VHDN, vấn đề của hội đồng quản trị quan tâm nhất là những kết quả việc xây dựng triển khai VHDN có phù hợp với mục tiêu tổng thể hay không, để tạo điều kiện cho thực hiện công tác kiểm tra HĐQT

có nhiệm vụ sau:

Trang 36

- Quy định thẩm quyền, trách nhiệm của HĐQT, của chủ tịch HĐQT, mối liên hệ giữa HĐQT và chủ tịch HĐQT, ban giám đốc trong việc kiểm tra

- Phê duyệt, thông qua các chế độ thưởng phạt tinh thần, vật chất đối với các bộ phận, cá nhân thực hiện kiểm tra

- Phê duyệt những nội dung kiểm tra và phạm vi kiểm tra

- Phê duyệt, thông qua các trang bị, phương tiện, công cụ kiểm tra cho các bộ phận, cá nhân trực tiếp thực hiện kiểm tra

Kiểm tra của giám đốc doanh nghiệp:

Ban giám đốc họ chịu trách nhiệm thực hiện chế độ kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch và chính sách của doanh nghiệp về VHDN trong phạm vi cơ quan và đơn vị mình Thực hiện kiểm tra toàn diện các cấp

độ văn hóa doanh nghiệp, việc vận hành các yếu tố thuộc cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp có được vận hành một cách hiệu quả không, lập các báo cáo định kỳ cho HĐQT, cần những yêu cầu gì về ngân sách cho việc kiểm tra và chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị

Người lao động trong doanh nghiệp: Là người trực tiếp chịu ảnh hưởng,

tác động của VHDN, do vậy họ có quyền kiểm tra các nội dung như: kiểm tra thực ngân sách phân bổ, trích lập và sử dụng ngân sách cho các hoạt động VHDN, thực hiện các nội quy, quy chế, quy định phải công khai của doanh nghiệp, việc hiện chế độ khen thưởng, thăng tiến, kỷ luật, và thực hiện các chính sách liên quan đến VHDN của HĐQT và ban giám đốc đưa ra

Kiểm tra đánh giá phải được thực hiện liên tục căn cứ vào mục tiêu đã đề

ra kiểm tra, kiểm soát là giảm bớt tính không chắc chắn, tăng khả năng dự đoán và đảm bảo thông suốt của các hoạt động trong các đơn vị phòng ban với nhau nhằm hoàn thành mục tiêu chung của doanh nghiệp Một hệ thống kiểm tra phù hợp cho phép các nội dung hoạt động của VHDN được triển khai đồng loạt trên cơ sở của hoàng loạt các báo cáo nhận xét và dự báo triển

Trang 37

vọng Những sự thiếu chính xác cần được cung cấp thông tin theo chế độ ngược để có những quyết định phù hợp theo mục tiêu trên cơ sở thông tin cập nhật hơn

Tiêu chí đánh giá chất lượng quản trị VHDN gồm:

- Quản trị VHDN phải được tích hợp và thông suốt từ bậc quản trị cao nhất tới các tổ chức quản trị trung gian và cấp cơ sở

- Quản trị VHDN đảm bảo tính sinh lời và giá trị gia tăng

Cái đích cuối cùng công tác quản trị VHDN là tạo chất keo dính, kết hợp muôn người như một, vững chắc như thành đồng, cùng vì một mục tiêu chung

là lợi nhuận tối ưu và lợi ích tương hỗ hợp lý, phát triển doanh nghiệp và hoàn thiện bản thân từng các nhân trong doanh nghiệp

Điều then chốt ở đây là không nhằm th ng vào cái đích lợi nhuận mà đạt đến chúng như một dẫn suất tất yếu của việc triển khai tốt các hoạt động của VHDN quản trị VHDN không có nghĩa là những nhà lãnh đạo không quan tâm tới lợi nhuận, mà ngược lại họ gắn liền với lợi nhuận, khát khao lợi nhuận

ở cấp độ cao đó là lợi nhuận bền vững và dựa vào phân tích tiềm năng sinh lời của thời cơ khác nhau, triển khai chiến lược với chi phí tối thiểu và hiệu năng đầu ra cao nhất

- Quản trị VHDN không chỉ đơn thuần hướng tới phát triển đội ngũ cán

bộ công nhân viên trong nội bộ doah nghiệp mà còn mang định hướng khách hàng và định hướng thị trường Định hướng khách hàng được thể hiện cái văn hóa doanh nghiệp đang hướng tới, đang xây dựng có mang tới sự hài lòng cho khách không? và mức độ hài lòng đó ở cấp độ nào Nhà lãnh đạo luôn ghi nhớ chỉ số sự thõa mãn và hài lòng khách hàng là thước đo tăng trưởng lợi nhuận và

vị thế của doanh nghiệp tương lai.Với cách tiếp cận quá trình quản trị VHDN được xem xét như một chu trình liên tục theo những quy tắc xác định, Chỉ trên

cơ sở đó quản trị VHDN mới thực sự phát huy được vai trò của mình

Trang 38

Thời điểm tiến hành công tác kiểm tra ngay sau khi VHDN được triển khai, tránh tình trạng chỉ kiểm tra khi phát sự việc, tình huống không thể khắc phục được rồi mới kiểm tra, phạm vi kiểm tra tất cả các phòng ban, từ lãnh đạo cao nhất tới nhân viên sản xuất nhằm phát hiện biểu hiện bất cập việc tổ chức triển khai VHDN, như việc bắt nhân viên nhớ các nội dung như triết lý kinh doanh, khẩu hiệu có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực thế nào tới hoạt động hàng ngày, có là rào cản hay là bước đệm về mặt tinh thần cho nhân viên trong hoạt động hàng ngày

Hạn chế khi nghiên cứu VHDN trong hệ thống DNVVN không vận dụng đầy đủ các chức năng của quản trị doanh nghiệp, mà chỉ thực hiện một số khâu, một số giai đoạn trong thực hiện chức năng quản trị, đây là khoảng cách từ lý thu-yết tới hành động, giữa nghiên cứu trên sách vở với thực trạng đang xảy ra tại các doanh nghiệp Nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn, đi lên từ thực tiễn, khái quát và chỉ ra xu thế, phân tích, tổng hợp và tiến tới sáng tạo và đúc rút thành bài học, không đơn giản vận dụng máy móc đầy đủ các bước của quá trình quản trị Tại một thời điểm nào đó doanh nghiệp có thể chưa thực hiện một bước trong quá trình quản trị VHDN, đó là sự ngắt quãng tạm thời để thực thực hiện chức năng duy trì sự sống sót của doanh nghiệp, khi vượt qua giai đoạn sống sót, nhà lãnh đạo thực hiện bổ sung các bước còn thiếu, đòi hỏi nhà lãnh đạo doanh nghiệp hiểu được quy trình, các bước thực hiện quản trị VHDN Các bước trong quá trình quản trị quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời nhau, nhưng bước hoạch định VHDN luôn được thực hiện trước, nó là kim chỉ nam vạch con đường đi cho doanh nghiệp, định hướng nhân viên, để hiện thực hóa chiến lược đòi hỏi phải thực hiện đầy đủ các bước tổ chức thực hiện, lãnh đạo và kiểm tra

1.2.1.5 Quản trị Văn hóa doanh nghiệp trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ

* Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ

-Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ gắn với lợi thế:

Trang 39

Quy mô không lớn về mặt bằng sản xuất, số lao động, vốn, máy móc thiết bị nên số DNVVN thành lập dễ dàng hơn, đặc biệt sự phát triển khoa học kỹ thuật như hiện nay công nghệ máy móc lạc hậu rất nhanh, chu kỳ công nghệ biến đổi hàng năm, do vậy việc đầu tư lớn vào máy móc thiết bị đồng nghĩa chịu rủi ro cao Lĩnh vự hoạt động chủ yếu của DNVVN hoạt động trong lĩnh vực: thương mại dịch vụ, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ và vận chuyển hành khách Trong đó các doanh nghiệp này thường tập trung vùng ven đô thị, đông dân cư, các vùng nông thôn nơi có khả năng duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống hoặc có thị trường tiêu thụ rộng lớn

Thứ hai: Chi phí trong hoạt động của DNVVN thấp, cơ cấu gọn nhẹ,

linh hoạt, giảm chi phí hoạt động, đặc biệt các chi phí gián tiếp, chi phí đại điện tạo lợi thế cạnh tranh về giá các sản phẩm của doanh nghiệp Quy mô nhỏ, số lượng công nhân viên ít, người chủ doanh nghiệp có điều kiện quan tâm, gần gũi với người lao động, nắm bắt được khó khăn, vướng mắc trong công việc, hiểu được tâm tư nguyện vọng anh chị em công nhân viên, giải quyết nhanh chóng các vấn đề này, giúp tăng năng suất lao động, giảm được chi phí tạo sự cạnh tranh của hàng hóa, tạo dựng chỗ đứng trên thị trường

Thứ ba: Nhạy cảm, thích ứng nhanh với sự biến động môi trường

Dễ dang thay đổi thích nghi với những biến đối của thị trường, tiếp cận thị trường ngách, đáp ứng yêu cầu nhỏ, l mang tính cục bộ địa phương Công

Trang 40

việc được cảm nhận theo dạng đa năng, dễ thay đổi phù hợp với điều kiện mới, nhanh chóng chuyển sang sản xuất các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu thị trường khi các dòng sản phẩm cũ đang sản xuất không phù hợp, chi phí chuyển đổi sản xuất ít tốn kém hơn, tránh được tồn đọng sản phẩm, đây là lợi thế mà các doanh nghiệp lớn khó có thể thực hiện được Doanh nghiệp vừa và nhỏ thúc đẩy phân công chuyên môn hóa lao động vì các DNVVN có thể đảm nhận sản xuất chi tiết, công đoạn trong quy trình sản xuất, tạo thành hệ thống doanh nghiệp vệ tinh của các doanh nghiệp lớn,

- Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ gây bất lợi:

Thứ nhất: Thiếu đội ngũ cán bộ công nhân viên giỏi

Trong các doanh nghiệp lớn được tổ chức tốt, có đội ngũ nhân viên giỏi

và năng lực quản lý tốt, am hiểu nghiệp vụ, hiểu biết về pháp luật, nắm bắt,

dự báo được xu thế thị trường; ngược lại trong DNVVN không có đội ngũ hỗ trợ, chủ doanh nghiệp phải tự giải quyết và chịu trách nhiệm trước trước những vấn đề điều hành doanh nghiệp, do vậy lãnh đạo DNVVN có thể mắc sai lầm trong lãnh đạo và quản lý do bỏ qua thông tin, thiếu đội ngũ nhân viên

tư vấn trước các vấn đề khó khắn, khó ra quyết định

Thứ hai: Thiếu vốn sản xuất kinh doanh

Vốn ít, không có khả năng dự trữ nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất số lượng lớn, biến động nhỏ về giá cả gây ảnh hưởng tới khả năng sản xuất, không

có hoạt động đầu tư đào tạo cán bộ công nhân viên, hậu quả là không khai thác hết được tiềm năng cán bộ công nhân viên đang có, dẫn đến hạn chế trong khả năng tiếp cận công nghệ mới, tiên tiến hiện đại, giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường dựa vào tiến bộ khoa học công nghệ Doanh nghiệp nhỏ hạn chế thông tin, đặc biệt thông tin về thị trường, xu thế khách hàng, tiến bộ khoa học kỹ thuật ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh, hàng hóa sản xuất ra có thể

bị lỗi thời, không đáp ứng thị hiếu, chi phí sản xuất cao gây bất lợi cho doanh

Ngày đăng: 31/12/2019, 14:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w