Xuất phát từ thực tế trên, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực cung cấp máy móc, thiết bị nói chung và Công ty TNHH Phát Đạt nói
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
ĐINH HẢI YẾN
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN PHÁT ĐẠT
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hà Nội – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
ĐINH HẢI YẾN
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN PHÁT ĐẠT
Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và có nguồn dẫn rõ ràng Nếu có sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tác giả luận văn
Đinh Hải Yến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài “Năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Phát Đạt” trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Viện Quản trị Kinh doanh trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia hà Nội đã giảng dạy và trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản, đồng thời hướng dẫn và định hướng cho tôi trong quá trình học tập tại trường
Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo và toàn thể công nhân viên Công ty TNHH Phát Đạt đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành tốt khóa luận này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Phan Chí Anh đã tận tình hướng dẫn
và củng cố kiến thức cho tôi trong quá trình làm khóa luận tốt nghiệp
Cuối cùng, tôi xin gửi lời tri ân đến gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ, là chỗ dựa tinh thần tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học cũng như thời gian vừa qua Trong quá trình làm khóa luận, mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, nhưng do kiến thức còn hạn chế và thiếu nhiều kinh nghiệm thực tế nên không tránh khỏi những sai sót Kính mong các thầy
cô giáo tạo điều kiện chỉ bảo thêm, giúp tôi hoàn thành và đạt kết quả tốt hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, Ngày 27 tháng 3 năm 2019
Đinh Hải Yến
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH V iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn 5
1.1.1.Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 5
1.1.2.Tình hình nghiên cứu trong nước 8
1.2 Cơ sở lý luận 12
1.2.1.Một số khái niệm 12
1.2.2.Vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp 15
1.2.3 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 16
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 22
1.2.5.Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 25
Kết luận Chương 1 31
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Quy trình nghiên cứu 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 33
2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu: 33
2.2.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 34
2.2.3 Phương pháp thống kê 37
2.2.4.Phương pháp so sánh 38
2.2.5.Phương pháp liên hệ 38
2.3 Thiết kế bảng hỏi và phiếu điều tra 38
Trang 62.3.1 Thiết kế bảng hỏi 38
2.3.2 Phiếu điều tra 39
2.4 Phương pháp chọn mẫu 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 40
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH PHÁT ĐẠT 41
3.1 Tổng quan về Công ty trách nhiệm hữu hạn Phát Đạt 41
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty trách nhiệm hữu hạn Phát Đạt 41
3.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 42
3.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý 42
3.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Phát Đạt những năm gần đây 45
3.1.5 Tổng quan về môi trường kinh doanh của Công ty TNHH Phát Đạt 46
3.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Phát Đạt 46
3.2.1 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Phát Đạt 46
3.2.2.Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Phát Đạt 65
3.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Phát Đạt 69
3.3 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Phát Đạt 74
3.3.1.Những thành công 74
3.3.2.Những vấn đề tồn tại và nguyên nhân 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 77
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH PHÁT ĐẠT 78
4.1 Các dự báo thay đổi môi trường kinh doanh và định hướng phát triển của Công ty TNHH Phát Đạt trong thời gian tới 78
4.1.1 Dự báo môi trường kinh doanh trong thời gian tới 78
4.1.2 Định hướng phát triển 79
4.2 Quan điểm giải quyết vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Phát Đạt 79
Trang 74.3 Đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH
Phát Đạt 81
4.3.1 Nâng cao năng lực Quản trị tài chính 81
4.3.2 Nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị chiến lược 81
4.3.3 Nâng cao năng lực quản trị, phát triển nguồn nhân lực 82
4.3.4 Đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm 82
4.3.5 Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh về giá 83
4.3.6 Tăng khả năng cạnh tranh bằng việc đầu tư vào hoạt động xúc tiến 84
4.3.7 Hoàn thiện hệ thống phân phối 84
4.3.8 Tăng năng lực cạnh tranh bằng giảm kết cấu giá thành dịch vụ 85
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
10 Bảng 3.10 Tỷ suất chi phí marketing của Công ty TNHH Phát Đạt
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH V
Trang 11MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hiện đại hóa, công nghiệp hóa như hiện nay, vấn đề cạnh tranh không phải là vấn đề mới, nhưng nó luôn là vấn đề mang tính thời sự, cạnh tranh khiến thương trường ngày càng trở nên nóng bỏng; các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì cần phải cạnh tranh Cạnh tranh là cơ chế vận hành chủ yếu của cơ chế thị trường, là động lực thúc đẩy phát triển nền kinh tế; cạnh tranh giúp cho các doanh nghiệp không ngừng hoàn thiện mình và cạnh tranh đào thải các doanh nghiệp yếu kém, kinh doanh không hiệu quả, từ đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường Sự cạnh tranh gay gắt trong nền kinh tế thị trường, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược cạnh tranh có hiệu quả và bền vững
Khi thực hiện chính sách mở cửa, tăng cường hội nhập quốc tế, với mục tiêu quy hoạch tổng thể và phát triển ngành cung cấp máy móc, thiết bị và các loại phụ tùng liên quan đến ngành xây dựng thành ngành kinh tế thế mạnh của đất nước, đáp ứng về số lượng, chất lượng và các chủng loại máy móc thiết bị cơ bản cho nhu cầu
các thành phần kinh tế tham gia sản xuất và kinh doanh Điều này phần nào đã tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường ở nước ta trong những năm gần đây Các doanh nghiệp Việt Nam ngoài việc cạnh tranh với nhau còn phải chịu sự cạnh tranh của các công ty, tập đoàn nước ngoài có tiềm lực kinh tế mạnh
Bên cạnh những thuận lợi mà hội nhập kinh tế quốc tế mang lại, những thách thức cũng đặt ra với các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực cung cấp máy móc, thiết bị của Việt Nam Đây chính là lý do tại sao các doanh nghiệp trong nước dù có được lợi thế về tiềm năng tài nguyên khoáng sản, thị trường, lao động…nhưng các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực này vẫn đang đứng trước những thách thức không nhỏ về khả năng bị thu hẹp thị phần và mất đi thế cạnh tranh trên sân nhà
Trang 12Công ty TNHH Phát Đạt là một doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngành nghề chủ yếu là cung cấp máy móc, thiết bị xây dựng công trình Trước khi Việt Nam gia nhập WTO, hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty khá phát triển và thịnh vượng, năng lực cạnh tranh của công ty luôn được đánh giá rất cao Tuy nhiên, sau năm 2016, năng lực cạnh tranh của công ty so với các đối thủ khác trên địa bàn gặp nhiều hạn chế Những hạn chế đó được thể hiện ở một số mặt như: Năng lực tài chính hạn hẹp, thị phần của doanh nghiệp ít tăng, tốc độ tăng trưởng của công ty kém hơn các đối thủ… Vậy nguyên nhân là do đâu? Việc nghiên cứu và đánh giá một cách khoa học thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Phát Đạt, tìm
ra những nhân tố cản trở sự phát huy năng lực cạnh tranh của công ty và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty, đáp ứng được những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc
tế của nước ta, là hết sức cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn
Xuất phát từ thực tế trên, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực cung cấp máy móc, thiết bị nói chung
và Công ty TNHH Phát Đạt nói riêng là một yêu cầu tất yếu để tồn tại và tăng trưởng, góp phần củng cố phát triển thị trường Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Phát
Đạt” là sự cần thiết cả về lý luận và thực tiễn Đề tài tập trung vào câu hỏi: Làm thế
nào để nâng cao năng lực cạnh tranh Công ty TNHH Phát Đạt năm 2018-2025?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty trong giai đoạn 2018-2025
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu tổng quan và hệ thống hóa cơ sở lí luận về năng lực cạnh tranh của công ty kinh doanh, bao gồm: các khái niệm, nội dung, các tiêu chí, yếu tố, công cụ cạnh tranh của Công ty…
- Tiến hành phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Phát Đạt
- Từ cơ sở lí luận đã được hệ thống cùng với những đánh giá khách quan về
Trang 13thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty, đề tài đưa ra các giải pháp, đề xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công ty
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu: tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của
Công ty TNHH Phát Đạt và đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty
b Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tác giả tập trung nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của Công
ty TNHH Phát Đạt Trong đó, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng và các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh từ đó tìm ra các vấn đề tồn tại, nguyên nhân và giải pháp cho các vấn đề đó
- Về không gian: tiến hành nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Công ty
TNHH Phát Đạt chủ yếu tại thị trường các tỉnh phía Bắc
- Về thời gian: Các dữ liệu, thông tin phục vụ cho nghiên cứu đề tài được thu
thập trong thời gian từ năm 2016-2018, đề tài có ý nghĩa ứng dụng đến năm 2025
4 Đóng góp của luận văn
- Ý nghĩa khoa học: bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp,
luận án đã xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh phù hợp với các đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ kinh doanh cùng với ngành nghề mà tác giả đã nghiên cứu, đồng thời đánh giá được tác động của từng nhân tố đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Ý nghĩa thực tiễn: Thông qua việc phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh và
các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Phát Đạt, luận văn đã đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN vừa và nhỏ tại Việt Nam Bên cạnh đó luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các DN kinh doanh cùng ngành nghề, cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty tại Việt Nam hiện nay
Trang 145 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Tóm tắt, Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tài nghiên cứu được chia làm 4 nội dung chính:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận cơ bản về năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Phát Đạt
Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty
TNHH Phát Đạt trong giai đoạn 2018-2025
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn
Năng lực cạnh tranh và việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh một cách hệ thống được bắt đầu khá muộn và chỉ mới từ những năm 1980 đến nay Theo kết quả tổng hợp các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các nhà kinh tế người Anh là Buckley, Pass và Prescott, đến năm 1988 có rất ít định nghĩa về năng lực cạnh tranh được chấp nhận Còn M E Porter - một chuyên gia hàng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh lại chỉ ra rằng cho đến năm 1990, năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ và chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận một cách thống nhất Năm 1996, Waheeduzzan và các cộng sự cho rằng "năng lực canh tranh vẫn là một trong những khái niệm được hiểu thiếu đầy đủ" (misunderstood concept) Cho đến năm 2004, Henricsson và các cộng sự chỉ rõ rằng khái niệm năng lực canh tranh vẫn còn nhiều tranh cãi giữa các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế, các nhà báo, các học giả Tổng thuật tài liệu nghiên cứu
về năng lực cạnh tranh, một số tác giả như Thorne (2002, 2004), Momay (2002, 2005), Flanagan và cộng sự (2007) đã chỉ ra rằng: bắt đầu từ năm 1990 đến nay lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới bước vào thời kỳ "bùng nổ" với số lượng công trình nghiên cứu được công bố rất lớn
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Lý thuyết cạnh tranh truyền thống với các trường phái nghiên cứu nổi tiếng như: Kinh tế học Chamberlin, Kinh tế học tổ chức (Industrial Organization economics - IO) Lý thuyết cạnh tranh trên cơ sở kinh tế học IO (Porter, 1980), cạnh tranh độc quyền (Chamberlin, 1933) thường dựa trên tiền đề là các DN trong cùng ngành có tính đồng nhất về nguồn lực và chiến lược kinh doanh họ sử dụng (Baney,1991) Tuy nhiên, khi môi trường kinh doanh thay đổi và có tác động đến chiến lược kinh doanh thì các thuộc tính khác biệt của DN trong cùng ngành sẽ không thể tồn tại lâu dài vì chúng thường có thể dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh
Trang 16bắt chước, hoặc mua bán trên thị trường nguồn lực (Barney, 1991; Porter, 1980) Kinh tế học tổ chức và kinh tế độc quyền phân tích NLCT trong điều kiện mất cân bằng của thị trường và nền kinh tế độc quyền với giả định DN có lợi thế tuyệt đối về các tài sản, nguồn lực Do vậy, trong môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng thì các điều kiện về chí phí, công nghệ, quy mô, đã không còn là lợi thế của DN Mặt khác, đối tượng phân tích của kinh tế học tổ chức và cạnh tranh độc quyền đều hướng tới các ngành kinh doanh với giả định là các DN trong cùng ngành có điều kiện về tài sản, nguồn lực đồng nhất Đây là hạn chế lớn nhất trong việc giải thích lợi thế cạnh tranh của các DN trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay
Theo Sanchez & Heence (1996, 2004) thì năng lực cạnh tranh của DN dựa trên khả năng kết hợp các nguồn lực của DN nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh “Năng lực cạnh tranh của một công ty là khả năng duy trì, triển khai, phối hợp các nguồn lực và khả năng theo cách giúp công ty đạt được mục tiêu của nó” (Sanchez & Heene, 1996, 2004) Như vậy, tiếp cận dựa trên nguồn lực dựa vào lợi thế nguồn lực của DN so với đối thủ cạnh tranh còn tiếp cận dựa trên năng lực thì dựa vào khả năng kết hợp các nguồn lực để tạo ra năng lực - đòi hỏi DN phải năng động, hệ thống, nhận thức và toàn diện trong quản lý chiến lược (Sanchez, 2008) Bản chất của năng lực cạnh tranh đã được chuyển hướng chú trọng vào năng lực thay vì nguồn lực (Sanchez & Heence, 1996, Sanchez, 2001; Freiling & ctg, 2008) Theo quan điểm dựa trên năng lực của DN thì năng lực là chìa khóa để duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững và đạt hiệu quả cao (Grant,1996; Jackson, Hitt & DeNisi, 2003; Teece, Pisano & Shuen, 1997; Sanchez & Heence, 1996, 2004; Sanchez, 2008)
Micheal Porter (1980) “Chiến lược cạnh tranh”: Michael Porter là một trong những người đặt nền móng đầu tiên cho nghiên cứu về cạnh tranh nói chung và chiến lược cạnh tranh nói riêng Cuốn sách này trình bày một khung lý thuyết toàn diện để giúp doanh nghiệp phân tích toàn bộ ngành của mình và dự báo sự vận động của ngành, hiểu được các đối thủ cạnh tranh và vị trí của bản thân nó để biến những phân tích này thành một chiến lược cạnh tranh cho doanh nghiệp cụ thể Đóng góp
Trang 17ấn tượng nhất của cuốn sách là mô hình “năm lực lượng cạnh tranh” và khung phân tích đối thủ cạnh tranh – là các lý thuyết đang được sử dụng phổ biến nhất trong phân tích môi trường kinh doanh
Micheal Porter (1985) “Lợi thế cạnh tranh”: Tác giả Micheal Porter tiếp tục trình bày cách thức để một doanh nghiệp có thể tạo lập và duy trì được lợi thế cạnh tranh Cuốn sách đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị (value chain) – là khung mẫu cơ
sở để tư duy một cách chiến lược về các hoạt động trong doanh nghiệp, phân loại các hoạt động thành 2 nhóm chính: các hoạt động sơ cấp và các hoạt động hỗ trợ, sau đó dựa vào chuỗi giá trị tìm hiểu các mối liên kiết nội tại giữa các hoạt động giá trị nhằm mục đích làm giảm chi phí hoặc làm ra tăng sự khác biệt hóa Tác giả cũng đưa ra cách thức lựa chọn đối thủ cạnh tranh và phân khúc ngành kinh doanh, đồng thời gợi ý về 2 loại chiến lược thực thi để duy trì lợi thế cạnh tranh là chiến lược tấn công và chiến lược phòng thủ
Nghiên cứu của các tác giả Wint.A.G (2003); Williams D A (2007), về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, nghiên cứu đã xác định được một số yếu
tố rất quan trọng tạo nên khả năng cạnh tranh bao gồm: i) đổi mới; ii) tiêu chuẩn quốc tế; iii) lãnh đạo; iv) tập trung chất lượng; v) đáp ứng cạnh tranh Ngoài những yếu tố quyết định nội bộ, các nhà nghiên cứu cũng xác định sự cần thiết cho chiến lược cạnh tranh mạnh mẽ để định vị các doanh nghiệp trên thị trường Doanh nghiệp trong nước muốn cạnh tranh trên thị trường quốc tế sẽ phải hoạt động theo tiêu chuẩn của quốc tế về chi phí, lợi nhuận, chiến lược hiệu quả và phải phù hợp với xu hướng của thị trường quốc tế
Nghiên cứu của Fred R.David (2000): “Khái luận quản trị chiến lược” Đã làm
rõ các vấn đề quản trị chiến lược và cách áp dựng chiến lược vào thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp Các doanh nghiệp hiện nay đánh giá tác động yếu tố bên ngoài và bên trong thế nào và yếu tố đó ảnh hưởng ít hay nhiều đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua các ma trận đánh giá các yếu tố doanh nghiệp
để có thể thấy được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tốt ở mặt nào và mặt nào cần khắc phục
Trang 18Quan điểm cạnh tranh dựa trên năng lực (Competence-based View - CBV) của
DN tập trung vào khả năng sử dụng, kết hợp tài sản, nguồn, năng lực nhằm đạt được tăng trưởng và hiệu quả tổng thể của tổ chức Nó được phát triển chủ đạo bởi các nghiên cứu của Barney (1991), Wernerfelt (1984), Peteraf (1993), Sanchez & Heene (1996, 2004, 2008, 2010) Đặc biệt, lý thuyết cạnh tranh dựa trên năng lực tương thích với lý thuyết tiến hóa trong việc phân tích các mối tương tác kinh tế giữa DN và môi trường tạo ra thông qua sự ảnh hưởng bởi sự thay đổi liên tục (Freiling, 2004; Freiling & ctg, 2008) Nổi bật trong quan điểm nền tảng năng lực là giả định rằng môi trường công ty là năng động và do vậy yêu cầu phải xây dựng năng lực và tận dụng năng lực liên tục để duy trì lợi thế cạnh tranh (Sanchez & Heene, 1996)
Lý thuyết dựa trên năng lực thông qua một tập hợp các khái niệm nền tảng của các thực thể nguyên thủy mà nó đại diện và sử dụng làm cơ sở cho việc phân tích
DN, thị trường và sự tương tác của chúng (cả cạnh tranh và hợp tác) Các thực thể này bao gồm: Tài sản, Khả năng, Năng lực
Ngoài ra còn rất nhiều các công trình nghiên cứu trong nước khác đề cập đến vấn đề năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Như vậy, qua phần tổng kết các nghiên cứu trên cho thấy các nghiên cứu đều có giá trị và ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Tuy nhiên do bối cảnh kinh tế luôn luôn thay đổi nên việc ứng dụng các nghiên cứu trên vào bối cảnh hiện tại sẽ không tránh khỏi một số hạn chế: các nghiên cứu này đã được thực hiện trên cơ sở các DN ở nước ngoài, so với DN Việt Nam có sự khác biệt về đặc điểm và điều kiện nghiên cứu
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu tại Việt Nam về NLCT của DN trong những năm gần đây cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu và các các học giả quan tâm Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hai hướng chính, đó là: (1) nghiên cứu về năng lực cạnh tranh
và các giải pháp nâng cao NLCT của DN trong một ngành; (2) nghiên cứu về các yếu tố nội tại tác động đến NLCT của DN
Trang 19Nghiên cứu của tác giá Trần Sửu trong cuốn sách Năng Lực Cạnh Tranh Của
Doanh Nghiệp Trong Điều Kiện Toàn Cầu Hóa năm 2006 đã chỉ ra những hạn chế
về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hóa Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra những đặc điểm về cạnh tranh trong điều kiện toàn cầu hóa, các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh và một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
Nguyễn Vĩnh Thanh (2005), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” Kết quả nghiên cứu này cho thấy năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam còn thấp, nguyên nhân là do: Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu thông tin về thị trường, ra quyết định theo kinh nghiệm và cảm tính là chủ yếu; Chưa đẩy mạnh ứng dụng chiến lược Marketing tổng thể hoặc Marketing đa dạng sản phẩm và thương hiệu; Các doanh nghiệp Việt Nam xét về tổng thể thì 90% các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa
là chủ yếu Hơn nữa, có quá nhiều doanh nghiệp cùng hoạt động kinh doanh cùng một mặt hàng trên cùng một thị trường đã dẫn đến tình trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp giảm sút Tình trạng các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh với nhau, làm giảm giá một cách không cần thiết, đặc biệt là với các mặt hàng xuất khẩu đã làm giảm đáng kể năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Mai Trang (2009) đã thực hiện việc đo lường một số nhân tố tạo thành năng lực động của các DN trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh bằng phương pháp định lượng Tác giả nghiên cứu bốn yếu tố tạo nên năng lực động DN là định hướng kinh doanh, định hướng học hỏi, năng lực marketing và năng lực sáng tạo và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đối với kết quả kinh doanh của DN [15] Hạn chế của nghiên cứu này là kết quả chỉ được kiểm định với các DN trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Hơn nữa nghiên cứu chỉ kiểm định tổng quát, không phân tích chi tiết vào từng ngành nghề kinh doanh cụ thể như sản phẩm, dịch vụ, công nghệ cao, công nghiệp, thâm dụng lao động, v.v… do đó không thể phát hiện các khác biệt nhất định về vai trò của các yếu tố năng lực động
Trang 20đối với lợi thế kinh doanh và kết quả kinh doanh Và cuối cùng là nghiên cứu chỉ xem xét một số yếu tố năng lực động chính, trong khi còn rất nhiều yếu tố DN có thể là yếu tố năng lực động cần được xem xét để tạo được mô hình tổng hợp về năng lực động tạo nên lợi thế cạnh tranh và kết quả kinh doanh của DN Các yếu tố này có thể là năng lực sản xuất, R&D, định hướng thị trường, nội hóa tri thức, v.v…
- Nguyễn Duy Hùng (2016) trong luận án Tiến sỹ "Nâng cao năng lực cạnh
tranh của các công ty chứng khoán Việt Nam", Đại học Kinh tế quốc dân [7] Tác giả đã vận dụng mô hình đánh giá các yếu tố nội bộ của Thompson và Strickland (2001) để xác định hệ thống 07 yếu tố bên trong tác động đến năng lực cạnh tranh của các công ty chứng khoán Việt Nam, bao gồm yếu tố về tiềm lực tài chính; vốn trí tuệ; chất lượng sản phẩm; trình độ công nghệ; chất lượng dịch vụ; thương hiêu,
uy tín và hoạt động xúc tiến; mạng lưới hoạt động Luận án đã lượng hóa được mức
độ ảnh hưởng của từng yếu tố bên trong tới năng lực cạnh tranh của các công ty chứng khoán Việt Nam Từ đó tác giả đưa ra giải pháp tương ứng liên quan đến nâng cao năng lực cạnh tranh cho các công ty chứng khoán Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh tự do hoá thị trường chứng khoán
Luận văn “ Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần xây
dựng công trình giao thông Bến Tre”của Nguyễn Tuấn Minh (2011), Trường Đại
học kinh tế TP.HCM Luận văn đi sâu phân tích tác động của các yếu tố bên trong
và bên ngoài đến năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông Bến Tre, đồng thời xây dựng ma trận hình ảnh cạnh tranh của công ty Một số giải pháp được đưa ra nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty bao gồm: (1) Nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành xây lắp công trình, (2) Tăng cường công tác thu hồi vốn kết hợp lựa chọn nguồn vốn phù hợp, (3) Cải tiến kỹ thuật, đầu
tư năng lực máy móc thiết bị, (4) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và (5) Xây dựng và phát triển VHDN
Luận văn “ Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cao su Bình
Long Bến Tre đến năm 2015” của Lê Xuân Hòe năm 2010 Trường Đại học kinh tế
TP.HCM Luận văn đi sâu phân tích năng lực cạnh tranh của công ty cao su Bình
Trang 21Long Bến tre thông qua tình hình kinnh doanh, phân tích các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty gồm: Các nguồn lực, chiến lược kinh doanh, hoạt động quản trị, hoạt động marketing, thương hiệu, chất lượng dịch vụ và đánh giá ma trận yếu tố bên trong, ngoài ra luận văn cũng phân tích tác động các yếu tố môi trường vĩ mô và vi mô đến hoạt động kinh doanh của công ty Thông qua phân tích ma trận SWOT, một số giải pháp đưa ra nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Bình Longg Bến Tre là: Nhóm giải pháp về hoạt động kinh doanh, giải pháp về ngườn nhân lực, vốn, thị trường và công nghệ
Luận văn “Năng lực cạnh tranh dịch vụ truyền hình cáp kỹ thuật số của Tổng
Công ty Truyền hình cáp Việt Nam (VTVcab)” của Nguyễn Công Việt năm 2015
Luận văn đã đưa ra được những lý luận chung về năng lực cạnh tranh cũng như các chỉ tiêu để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Áp dụng tại công ty Truyền hình cáp Việt Nam, tác giả đã đưa ra thực trạng về năng lực cạnh tranh của công ty dựa trên các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của công ty và từ đó đưa ra các nhóm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty Truyền hình cáp Việt Nam
Dưới góc độ lý thuyết, NLCT của DN luôn là mối quan tâm hàng đầu không chỉ của các DN mà còn là mối quan tâm rất lớn của các nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước Có khá nhiều nghiên cứu về NLCT của DN đã được thực hiện, tuy nhiên khái niệm về NLCT của DN vẫn chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu Bên cạnh đó, các nhân tố tác động, các chỉ tiêu, các yếu tố cấu thành đến NLCT của DN cũng được tiếp cận theo nhiều hướng nghiên cứu khác nhau, đặc biệt
có rất ít các nghiên cứu về NLCT của DNNVV ở cả trong và ngoài nước tiếp cận dựa trên lý thuyết về năng lực của DN
Dưới góc độ thực tiễn, tại Việt Nam theo Tổng cục thống kê, tính đến cuối năm 2014, DN nhỏ và vừa chiếm hơn 97%, sử dụng hơn 50% lao động, tạo 47% GDP và đóng góp khoảng 40% nguồn thu ngân sách Bên cạnh ưu thế về dễ khởi nghiệp, linh hoạt, phát huy được nghề truyền thống, là vườn ươm tài năng kinh doanh thì các DN nhỏ và vừa Việt Nam lại có quy mô nhỏ, trình độ lao động và
Trang 22quản lý thấp, công nghệ lạc hậu, khả năng tiếp cận vốn vay hạn chế Bên cạnh đó, Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO, là thành viên của hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương, Cộng đồng kinh tế ASEAN và đang tiếp tục thực hiện lộ trình đã cam kết hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới qua các hiệp định thương mại đã tham gia Quá trình hội nhập kinh tế vừa mang lại cho DN nhỏ và vừa những lợi ích nhưng cũng tạo những thách thức to lớn đó là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, sự thay đổi nhanh chóng và khó lường của môi trường kinh doanh, cũng như áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt ở cả thị trường trong và ngoài nước, đã tạo ra nhiều thách thức đối với các DN Việt Nam
Đứng trước các thách thức đó, để tồn tại và phát triển bền vững, cạnh tranh ngang bằng với các DN trên thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo ra các lợi thế cạnh tranh của riêng mình
Tổng quan các nghiên cứu trong nước cho thấy các đề tài nghiên cứu về NLCT đã đề cập tới đánh giá thực trạng NLCT và giải pháp NLCT của các đối tượng nghiên cứu, đây cũng là hướng nghiên cứu chủ yếu của luận văn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Một số khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là một phạm trù kinh tế cơ bản, là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có nhiều cách quan niệm dưới góc độ khác nhau: Theo từ điển Bách khoa của Việt Nam (tập 1) thì cạnh tranh (trong kinh doanh)
là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất nhà phân phối, nhà bán lẻ, thương nhân…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất , tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình
Theo Samuelson: Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng
Trang 23Theo Kac-Marx: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà
tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá
để thu được lợi nhuận siêu ngạch
Các tác giả trong cuốn: “Các vấn đề pháp lí về thể chế và chính sách cạnh tranh kiểm soát độc quyền kinh doanh”, thuộc dự án VIE/97/016, của Viện nghiên cứu kinh tế Trung Ương (2002), NXB Giao thông vận tải thì cho rằng: Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường để đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ thể, ví dụ như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần Cạnh tranh trong một môi trường như vậy đồng nghĩa với ganh đua
Từ các định nghĩa trên có thể tiếp cận cạnh tranh ở những góc độ:
Thứ nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giành lấy phần thắng
Thứ hai, mục đích cuối cùng của cạnh tranh là lợi nhuận
Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể
Thứ tư, các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác
nhau: chất lượng, giá bán sản phẩm dịch vụ, nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm…
Thứ năm, ngày nay cạnh tranh còn được xem là sự ganh đua mang tính hợp tác
Đối với xã hội, cạnh tranh là động lực quan trọng nhất để huy động nguồn lực của xã hội vào sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ còn thiếu Qua đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn xã hội Trong cạnh tranh, các doanh nghiệp yếu kém bị đào thải, doanh nghiệp mới xuất hiện Doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển, nhờ đó nguồn lực xã hội được sử dụng hợp lý, là cơ sở, tiền đề cho sự thành công trong việc tăng trưởng nền kinh tế ở mỗi quốc gia
Kết luận: “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc
giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần”
1.2.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh
Có nhiều cách quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Theo tác giá nghiên cứu thì những quan điểm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sau đây là điển hình
Trang 24Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những
năm 1980 Theo Aldington Report (1985): "DN có khả năng cạnh tranh là DN có
thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong nước và quốc tế Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của DN và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động
và chủ DN" Định nghĩa này cũng được nhắc lại trong Sách trắng về năng lực cạnh
tranh của nước Anh (1994) Năm 1998, Bộ Thương mại và Công nghiệp ( nước Anh) đưa ra định nghĩa: "Đối với DN, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các DN khác"
Một số tác giả trong nước dựa trên quan điểm của Porter (1985,1998) để đưa
ra định nghĩa trong nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của mình như: Nguyễn Minh Tuấn (2010) cho rằng, năng lực cạnh tranh của DN là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút
và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo
sự phát triển kinh tế bền vững Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, năng lực cạnh tranh của DN là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của DN Lê Công Hoa & Lê Chí Công (2006) thì năng lực cạnh tranh của DN
là thể hiện thực lực và lợi thế của DN so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn
Như vậy: Năng lực cạnh tranh của DN là việc khai thác, sử dụng các yếu tố
năng lực của DN để duy trì và tạo ra lợi thế cạnh tranh nhằm đạt được kết quả hoạt động kinh doanh cao hơn so với đối thủ và thích ứng với những thay đổi của môi trường kinh doanh
Định nghĩa này không chỉ đề cập tới các yếu tố nội lực của mỗi DN được tính bằng các nguồn lực về tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị, thông tin thị trường, … một cách riêng biệt mà còn thể hiện sự tổ chức, phối hợp sử dụng các nguồn lực, các lợi thế bên trong và bên ngoài DN nhằm tạo ra năng lực cạnh tranh và đạt mục tiêu của DN một cách bền vững trong môi trường luôn biến động, phù hợp với đặc điểm
sử dụng các yếu tố nguồn lực một cách linh hoạt của DN Việt Nam
Trang 251.2.1.3 Khái niệm lợi thế cạnh tranh
Theo Michael Porter (1985): “Lợi thế cạnh tranh (Competitive Advantage) là
giá trị mà doanh nghiệp mang đến cho khách hàng, giá trị đó vượt quá chi phí dùng
để tạo ra nó Giá trị mà khách hàng sẵn sàng để trả, và ngăn trở việc đề nghị những mức giá thấp hơn của đối thủ cho những lợi ích tương đương hay cung cấp những lợi ích độc nhất hơn là phát sinh một giá cao hơn”
Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, là nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp, một quốc gia đang có và có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vi mô (cho doanh nghiệp), vừa có tính vĩ mô (ở cấp quốc gia) Theo Michael Porter lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được
1.2.2 Vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
là yếu tố đóng vai trò quyết định sự thành bại không chỉ của doanh nghiệp, mà còn của quốc gia dân tộc Vì thế, nâng cao năng lực cạnh tranh mang một ý nghĩa cực kì
to lớn và được thể hiện rõ nét trong các vai trò sau:
a Nâng cao năng lực cạnh tranh có vai trò quan trọng với sự tồn tại của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó có thể đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực và lợi thế mà doanh nghiệp có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của nó đối với các doanh nghiệp khác trên thị trường một cách lâu
cạnh tranh tốt sẽ có khả năng đáp ứng tốt các nhu cầu của khách hàng, cung cấp cho
họ những dịch vụ thuận tiện với mức giá phù hợp.Tóm lại: nâng cao năng lực cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như của từng doanh nghiệp, có như vậy các doanh nghiệp mới có thể tồn tại lâu dài được
b Nâng cao năng lực cạnh tranh là động lực để các doanh nghiệp phát triển
Trang 26Muốn tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp phải cạnh tranh, phải tìm mọi cách nâng cao khả năng cạnh tranh của mình nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, từ đó tăng doanh thu, lợi nhuận, giúp doanh nghiệp ngày càng phát triển về cả quy mô và vị thế Mặt khác, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và sự phát triển của doanh nghiệp có sự tác động qua lại hỗ trợ lẫn nhau Việc nâng cao năng lực cạnh tranh giúp doanh nghiệp phát triển và hội nhập, thúc đẩy tiến trình phát triển của doanh nghiệp bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển của doanh nghiệp Giúp doanh nghiệp hội nhập kinh tế thuận lợi cả về chiều rộng và chiều sâu một cách chủ động Đồng thời, khi doanh nghiệp đứng vững và phát triển sẽ tạo điều kiện ngược lại để doanh nghiệp nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của mình Bởi những thành tựu của sự phát triển sẽ giúp doanh nghiệp có thêm nhiều cơ hội kinh doanh, có đủ khả năng về nguồn lực để tiếp cận những tiến bộ về kĩ thuật, công nghệ mới, về tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh Việc nâng cao năng lực cạnh tranh là một yêu cầu tất yếu trong quá trình hội nhập và phát triển bền vững của doanh nghiệp
c Nâng cao năng lực cạnh tranh giúp doanh nghiệp thực hiện những mục tiêu
Mỗi doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều đặt ra cho mình những mục tiêu nhất định Tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển mà doanh nghiệp đặt mục tiêu nào lên hàng đầu Quá trình cạnh tranh để sinh tồn và phát triển sẽ giúp doanh nghiệp có thể tự đánh giá được năng lực cạnh tranh của chính mình, của đối thủ cạnh tranh và tìm ra được những cơ hội kinh doanh, đó chính là những nấc thang đưa doanh nghiệp đạt tới mục tiêu của mình
1.2.3 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và năng lực cạnh tranh của sản phẩm nói riêng được hiểu là tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì
và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của sản phẩm
đó trong mối quan hệ với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu nhất định Theo đó, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm năng lực cạnh tranh nguồn và năng lực cạnh tranh hiển thị Cụ thể:
Trang 271.2.3.1 Năng lực cạnh tranh nguồn
Năng lực Tài chính:
Bất cứ hoạt động sản xuất và kinh doanh nào cũng phải xem xét, tính toán đến nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, năng lực Tài chính đặc biệt là vốn (một trong nhưng yếu tố quyết định năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp)
Năng lực Tài chính hay nói cách khác là nguồn vốn là một chỉ tiêu không thể thiếu đánh giá kết quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh trên thị trường của mỗi doanh nghiệp Vốn là một nguồn lực liên quan trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào, luôn đảm bảo huy động được vốn trong những điều kiện cần thiết, có nguồn vốn huy động hợp lý, có kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả để phát triển lợi nhuận và phải hạch toán các chi phí rõ ràng để xác định được hiệu quả chính xác Nếu không có nguồn vốn dồi dào thì hạn chế rất lớn tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp như hạn chế việc sử dụng công nghệ hiện đại, hạn chế việc đào tạo nâng cao trình độ cán bộ và nhân viên, hạn chế triển khai nghiên cứu, ứng dụng Trong thực tế không có doanh nghiệp nào có thể tự có đủ vốn để triển khai tất cả các mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Vì vậy, điều quan trọng nhất là doanh nghiệp có kế hoạch huy động vốn phù hợp và phải có chiến lược đa dạng hóa nguồn cung vốn
Trình độ quản lý
Tổ chức quản lý tốt trước hết là áp dụng phương pháp quản lý hiện đại đã được doanh nghiệp của nhiều nước áp dụng thành công như phương pháp quản lý theo tình huống, quản lý theo tiếp cận quá trình và tiếp cận hệ thống, quản lý theo chất lượng như ISO 9000, ISO 1400 Bản thân doanh nghiệp phải tự tìm kiếm và đào tạo cán bộ quản lý cho chính mình Muốn có được đội ngũ cán bộ quản lý tài giỏi và trung thành, ngoài yếu tố chính sách đãi ngộ, doanh nghiệp phải định hình rõ triết lý dùng người, phải trao quyền chủ động cho cán bộ và phải thiết lập được cơ cấu tổ chức đủ độ linh hoạt, thích nghi cao với sự thay đổi
Trang 28 Nguồn nhân lực của doanh nghiệp
Nhân lực là một nguồn lực rất quan trọng vì nó đảm bảo nguồn sáng tạo trong mọi tổ chức Trình độ nguồn nhân lực thể hiện ở trình độ quản lý của các cấp lãnh đạo, trình độ chuyên môn của cán bộ công nhân viên, trình độ tư tưởng văn hoá của mọi thành viên trong doanh nghiệp Trình độ nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, thể hiện trong kết cấu kĩ thuật của sản phẩm, mẫu mã, chất lượng và từ đó uy tín, danh tiếng của sản phẩm sẽ ngày càng tăng, doanh nghiệp sẽ tạo được vị trí vững chắc của mình trên thương trường và trong lòng công chúng, hướng tới sự phát triển bền vững
Năng lực lãnh đạo, quản trị chiến lược là nhân tố có tính quyết định sự tồn tại và phát triển của DN nói chung cũng như năng lực cạnh tranh của DN nói riêng Năng lực tổ chức quản trị DN được thể hiện qua các khía cạnh như sau:
- Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lí: được thể hiện bằng những kiến thức cần thiết để quản lí và điều hành, thực hiện các công việc của DN Trình độ của đội ngũ này không chỉ là trình độ học vấn mà còn thể hiện những kiến thức rộng lớn và phức tạp thuộc rất nhiều lĩnh vực liên quan tới hoạt động kinh doanh của DN, từ pháp luật trong nước và quốc tế, thị trường, ngành hàng, đến kiến thức về xã hội, nhân văn thể hiện ở tính chuyên nghiệp, ở tầm nhìn xa trông rộng, có óc quan sát, phân tích, nắm bắt cơ hội kinh doanh, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn để thực tiễn đặt ra Trình độ, năng lực của cán bộ quản lí tác động trực tiếp và toàn diện tới năng lực cạnh tranh của DN thể hiện qua việc hoạch định và thực hiện chiến lược, lựa chọn phương pháp quản lí, tạo động lực trong DN Tất cả những việc đó không chỉ tạo ra không gian sinh tồn và phát triển của sản phẩm, mà còn tác động đển năng suất, chất lượng và giá thành, uy tín của DN
Trình độ công nghệ và Cơ sở vật chất kĩ thuật:
Công nghệ là phương pháp là bí mật, là công thức tạo ra sản phẩm Để có năng lực cạnh tranh doanh nghiệp phải được trang bị bằng công nghệ hiện đại Công nghệ hiện đại là công nghệ sử dụng ít nhân lực, thời gian tạo ra sản phẩm ngắn, tiêu hao năng lượng và nguyên liệu thấp, năng suất cao, tính linh hoạt cao,
Trang 29chất lượng sản phẩm tốt, ít gây ô nhiễm môi trường Sử dụng công nghệ hiện đại giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, giảm giá thành, chất lượng sản phẩm,
do đó làm cho năng lực cạnh tranh của sản phẩm tăng
Là trình độ máy móc thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có hệ thống thiết bị máy móc, công nghệ hiện đại thì sản phẩm của doanh nghiệp nhất định sẽ được đảm bảo về chất lượng, thúc đẩy nhanh quá trình tiêu thụ hàng hóa, tăng nhanh vòng quay về vốn giảm bớt được khâu kiểm tra về chất lượng hàng hóa
1.2.3.2 Năng lực cạnh tranh hiển thị
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm:
Là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của DN Do nhiệm vụ cơ bản của DN
là sản xuất - kinh doanh nên nếu sản phẩm của DN có sức cạnh tranh thấp thì sức cạnh tranh của DN không thể cao được Năng lực cạnh tranh của sản phẩm DN dựa trên các yếu tố cơ bản như: chất lượng sản phẩm cao, giá cả hợp lí, mẫu mã hợp thời, đáp ứng nhu cầu khác hàng
Yếu tố đầu tiên phải kể đến là chất lượng sản phẩm: Chất lượng là yếu tố cốt lõi, là linh hồn của sản phẩm, là thước đo biểu thị giá trị sử dụng của sản phẩm và cũng là vũ khí cạnh tranh lợi hại trên thị trường Phần lớn các chỉ tiêu này được so sánh với tiêu chuẩn của ngành, của quốc gia và quốc tế Các chĩ tiêu kỹ thuật cụ thể rất khác nhau đối với các hàng hoá khác nhau Chẳng hạn, các tiêu chuẩn kỹ thuật của điện thoại di động là khối lượng, tốc độ xử lý, bộ nhớ, tuổi thọ của pin trong khi tiêu chuẩn này đối với máy cắt gọt kim loại là độ chính xác gia công, độ an toàn
sử dụng, độ cứng vững Một số chỉ tiêu như tiêu về thẩm mỹ, tiện dụng thường được xác định thông qua điều tra khách hàng
Tổ chức tiêu chuẩn hóa ISO đã đưa ra khái niệm: “Chất lượng sản phẩm là tổng thể những chỉ tiêu, những đặc trưng kinh tế kĩ thuật của sản phẩm, thể hiện được sự thỏa mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định phù hợp, với những công dụng sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn” Như vậy chất lượng sản phẩm được hiểu trên hai khía cạnh là chất lượng sản phẩm và sự phù hợp với
Trang 30nhu cầu thị trường Vì vậy để nâng cao chất lượng sản phẩm các doanh nghiệp không chỉ tập trung vào chất lượng sản phẩm mà xem xét đến yếu tố nhu cầu thị trường trong thời điểm hiện tại và dựa trên quy trình nhất định, đòi hỏi thời gian phù hợp, ngân sách phụ thuộc vào yếu tố nội lực của công ty
- Giá cả sản phẩm: cho đến nay, đây vẫn là yếu tố rất quan trọng cấu thành năng lực cạnh tranh của sản phẩm Nếu có cùng chất lượng như nhau thì hàng hoá
có giá cả thấp hơn sẽ có lợi thế cạnh tranh lớn hơn Điều này không chỉ có ở các nước đang phát triển mà cả ở những nước phát triển Giá cả hàng hoá là chỉ tiêu tổng hợp Để sản xuất hàng hoá ở mức giá thấp, cần có một số điều kiện như: có lợi thế về nguồn lực hoặc sử dụng nguồn lực có hiệu quả, trình độ công nghệ phù hợp,
tổ chức sản xuất tốt, tiết kiệm chi phí, khai thác tối đa thiết bị, công nghệ Chỉ tiêu này được xác định trên cơ sở so sánh giá giữa các hàng hoá cùng loại hoặc tương đương Khi có sự khác biệt về chất lượng thì giá cả luôn được đặt trong sự so sánh với ích lợi do hàng hoá mang lại, độ bền, thẩm mỹ
- Mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng: là chỉ tiêu thể hiện việc cung cấp cho khách hàng đúng chủng loại hàng hoá, đúng thời điểm với giá cả hợp lí là một chỉ tiêu định tính, phản ánh khả năng kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp Để có thể đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp phải tổ chức tốt, bảo đảm các nguồn lực (như nguyên nhiên liệu, thiết bị) ổn định, kiểm soát chất lượng tốt
- Dịch vụ đi kèm: bao gồm việc hướng dẫn sử dụng sản phẩm, theo dõi sử dụng, bảo trì, bảo hành sau mua
Chính sách giá:
Giá là thước đo tiêu chuẩn giá trị của sản phẩm Giá bán sản phẩm là vũ khí sắc bén trong cạnh tranh, vì vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm không thể bỏ qua giá bán sản phẩm
Hiện nay có nhiều chiến lược cạnh tranh về giá mà doanh nghiệp có thể áp dụng như: Cạnh tranh giá thấp, cạnh tranh ngang giá, cạnh tranh giá cao Tuy nhiên
để có thể áp dụng một chiến lược cạnh tranh về giá thì doanh nghiệp cần xem xét tình hình thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh (Chi phí sản xuất, tình hình hàng
Trang 31tồn kho, hạn sử dụng của sản phẩm và mức tiêu thụ hàng hóa trên thị trường, chính sách giá của đối thủ cạnh tranh, nhu cầu thị trường và mục tiêu của doanh nghiệp…) Để từ đó doanh nghiệp đưa ra một chính sách giá hợp lý
Một chính sách giá hợp lý là giá bán mà người tiêu dùng chấp nhận và tương xứng với độ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng bên cạnh đó đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp sản xuất
Chính sách phân phối:
Mạng lưới phân phối sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường Mạng lưới phân phối hợp lý sẽ giúp hàng hóa được cung ứng tới khách hàng nhanh nhất, kiểm soát được sức mua trên từng địa bàn giảm được chi phí vận chuyển, từ đó hạ giá thành sản phẩm Tùy theo từng đặc điểm, tính chất kĩ thuật của sản phẩm mà doanh nghiệp lựa chọn cho mình một kênh phân phối phù hợp Kênh phân phối có thể theo chiều dọc, chiều ngang với các cấp độ kênh khác nhau: Kênh trực tiếp, kênh cấp độ 1, kênh cấp độ 2, kênh cấp độ 3 hay sử dụng các kênh trung gian cho mỗi loại kênh cũng là vấn đề quan trọng Một mạng lưới phân phối tốt có thể giúp tăng thị phần sản phẩm của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện đầy đủ nghĩa vụ marketing của mình (cung cấp thông tin đến khách hàng và phản hồi thông tin của khách hàng về doanh nghiệp)
Chính sách xúc tiến:
Các hình thức xúc tiến rất đa dạng và phong phú như: Quảng cáo, khuyến mại, bán hàng cá nhân, bán hàng trực tuyến, PR… Tùy từng giai đoạn trong chu kì của sản phẩm mà doanh nghiệp áp dụng các phương thức xúc tiến phù hợp với cường
độ sử dụng khác nhau Trong quá trình sử dụng các phương tiện xúc tiến thương mại cần quan tâm đến sự nhất quán trong các thông điệp, cách thể hiện và cùng hướng mục tiêu đề ra
Một chính sách xúc tiến đúng thời điểm là một cú huých quan trọng, góp phần không nhỏ vào sự thành công của sản phẩm đó trên thị trường Hiện nay nhiều các doanh nghiệp coi đẩy mạnh các chương trình xúc tiến là biện pháp tối ưu để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong thời kỳ kinh tế suy thoái
Trang 321.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Cũng như khái niệm năng lực cạnh tranh , việc đo lường và xác định các tiêu chí năng lực cạnh tranh là những vấn đề chưa được trình bày một cách thống nhất
Có khá nhiều các nghiên cứu dưới góc độ lý thuyết để xác định phương pháp đo lường năng lực cạnh tranh
1.2.4.1 Doanh thu và thị phần
a) Doanh thu
Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp thu được khi bán hàng hoá hoặc dịch
vụ Bởi vậy mà doanh thu có thể được coi là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh Căn cứ vào chỉ tiêu doanh thu qua từng thời kỳ hoặc qua các năm ta có thể đánh giá được kết quả hoạt động kinh doanh là tăng hay giảm, theo chiều hướng tốt hay xấu Nhưng để đánh giá được hoạt động kinh doanh đó có mang lại được hiệu quả hay không ta phải xét đến những chi phí đã hình thành nên doanh thu đó Nếu doanh thu và chi phí của doanh nghiệp đều tăng lên qua các năm nhưng tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá là tốt, doanh nghiệp đã biết phân bổ và sử dụng hợp lý yếu tố chi phí, bởi một phần chi phí tăng thêm đó được doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh, đầu tư mua sắm trang thiết bị và xây dựng cơ sở hạ tầng…
b) Thị phần
Là chỉ tiêu mà các doanh nghiệp thường dùng để đánh giá mức độ chiếm lĩnh thị trường của mình so với đối thủ cạnh tranh Khi xem xét người ta đề cập đến các loại thị phần sau:
Trang 33- Thị phần của toàn bộ công ty so với thị trường: Đó chính là tỷ lệ phần trăm giữa doanh số của doanh nghiệp so với doanh số của toàn ngành
- Thị phần của công ty so với phân khúc mà nó phục vụ : Đó là tỷ lệ phần trăm giữa doanh số của công ty so với doanh số của toàn phân khúc
- Thị phần tương đối : Đó là tỷ lệ so sánh về doanh số của công ty so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất, nó cho biết vị thế của công ty cạnh tranh trên thị trường như thế nào? Thông qua sự biến động của các chỉ tiêu này, doanh nghiệp biết mình đang đứng ở vị trí nào và cần vạch ra chiến lược hành động như thế nào?
Nếu doanh nghiệp có thị phần lớn hơn các doanh nghiệp khác thì có nghĩa là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lớn hơn Tiêu chí này thường được đo bằng
tỷ lệ doanh thu hay số lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp trong một giai đoạn nhất định so với tổng số doanh thu hay sản lượng tiêu thụ trên thị trường như công thức :
Thị phần của DN = (Tổng số sản phẩm hoặc doanh thu của DN /Tổng sản phẩm hoặc tổng doanh thu trong ngành của cả nước) x 100%
Công thức này phản ánh rõ vị thế cạnh tranh tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó Tuy nhiên, chỉ tiêu này không phải khi nào cũng tính được, đặc biệt là trong trường hợp doanh nghiệp có thị phần quá bé hoặc các doanh nghiệp xuất khẩu rất khó tính toán thị phần của mình trên thị trường nước ngoài Hơn nữa, chỉ tiêu này mang tính chất "tĩnh", phản ánh năng lực cạnh tranh tại một thời điểm trong quá khứ Do vậy, để thấy được sự biến chuyển của năng lực cạnh tranh theo thời gian, người ta thường xem xét sự biến đổi chỉ số thị phần của doanh nghiệp qua một số năm, thường là 3 - 5 năm
1.2.4.2 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của DN Do nhiệm vụ cơ bản của DN
là sản xuất - kinh doanh nên nếu sản phẩm của DN có sức cạnh tranh thấp thì sức cạnh tranh của DN không thể cao được Năng lực cạnh tranh của sản phẩm DN dựa trên các yếu tố cơ bản như: chất lượng sản phẩm cao, giá cả hợp lí, mẫu mã hợp thời, đáp ứng nhu cầu khác hàng
Trang 34- Chất lượng sản phẩm: là một chỉ tiêu tổng hợp gồm các nhóm chỉ tiêu thành phần: các chỉ tiêu kinh tế (chi phí sản xuất, chi phí đảm bảo chất lượng, chi sử dụng, chi phí môi trường) và các chỉ tiêu kỹ thuật (công dụng, thẩm mỹ, an toàn - vệ sinh, tiện dụng) Phần lớn các chỉ tiêu này được so sánh với tiêu chuẩn của ngành, của quốc gia và quốc tế Các chĩ tiêu kỹ thuật cụ thể rất khác nhau đối với các hàng hoá khác nhau Chẳng hạn, các tiêu chuẩn kỹ thuật của điện thoại di động là khối lượng, tốc độ xử lý, bộ nhớ, tuổi thọ của pin trong khi tiêu chuẩn này đối với máy cắt gọt kim loại là độ chính xác gia công, độ an toàn sử dụng, độ cứng vững Một số chỉ tiêu như tiêu về thẩm mỹ, tiên dụng thường được xác định thông qua điều tra khách hàng
- Giá cả sản phẩm: cho đến nay, đây vẫn là yếu tố rất quan trọng cấu thành năng lực cạnh tranh của sản phẩm Nếu có cùng chất lượng như nhau thì hàng hoá
có giá cả thấp hơn sẽ có lợi thế cạnh tranh lớn hơn Điều này không chỉ có ở các nước đang phát triển mà cả ở những nước phát triển Giá cả hàng hoá là chỉ tiêu tổng hợp Để sản xuất hàng hoá ở mức giá thấp, cần có một số điều kiện như: có lợi thế về nguồn lực hoặc/ và sử dụng nguồn lực có hiệu quả, trình độ công nghệ phù hợp, tổ chức sản xuất tốt, tiết kiệm chi phí, khai thác tối đa thiết bị, công nghệ Chỉ tiêu này được xác định trên cơ sở so sánh giá giữa các hàng hoá cùng loại hoặc tương đương Khi có sự khác biệt về chất lượng thì giá cả luôn được đặt trong sự so sánh với ích lợi do hàng hoá mang lại, độ bền, thẩm mỹ
1.2.4.3 Tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp là một chỉ tiêu tổng hợp, được tính bằng trị số tuyệt đối (chẳng hạn, bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đơn vị đầu vào) hoặc
số tương đối (tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp so với tỷ suất lợi nhuận trung bình của ngành hoặc thị trường) Đối với doanh nghiệp, lợi nhuận không chỉ là mục tiêu chủ yếu, mà còn là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển Do vậy, đây là tiêu chí thể hiện mức độ đạt được mục tiêu hoạt động, phản ánh mặt chất lượng của năng lực cạnh tranh
Tỷ suất lợi nhuận = Lợi nhuận thuần/ Tổng doanh thu
Hoặc:
Tỷ suất lợi nhuận = ( Giá bán – Giá thành )/ Giá bán
Trang 35Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ cạnh tranh trên thị trường rất gay gắt, ngược lại Tiêu chí này càng lớn hơn đơn vị (1) thì hiệu quả của doanh nghiệp càng cao và do
đó năng lực cạnh tranh càng cao
Ngoài ra, để đánh giá đúng khả năng duy trì hiệu quả kinh doanh, người ta thường tính thêm chỉ số biến động tỷ suất lợi nhuận qua một số năm
1.2.4.4 Tỷ suất chi phí marketing
Tỷ suất chi phí = Chi phí marketing/ Tổng doanh thu
Tỷ lệ chi phí marketing/ tổng doanh thu cho phép doanh nghiệp đánh giá được liệu một đồng chi phí marketing bỏ ra thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm.Việc xác đinh được tỷ lệ này giúp cho các nhà lãnh đạo biết được những nhu cầu của thị trường, bằng các biên pháp so sánh giữa các năm có thể đưa ra được các mức chi phí marketing bỏ ra sao cho hợp lý trên cơ sở tối đa hoá lợi nhuận
Tỉ lệ chi phí marketing trên tổng doanh thu còn là biện pháp xác định cho từng loại thị trường, đối với các thị trường mới, hay với thị trường đã bão hoà thì nên sử dụng chi phí marketing như thế nào?
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.5.1 Các nhân tố môi trường vĩ mô
- Các yếu tố về mặt kinh tế :
Trong môi trường kinh doanh các yếu tố kinh tế dù ở bất kỳ cấp độ nào cũng có vai trò quan trọng và quyết định hàng đầu Các yếu tố kinh tế cần phải được nghiên cứu, phân tích và dự báo bao gồm :
+ Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cao sẽ làm cho thu nhập của dân cư tăng lên Thu nhập của dân cư có ảnh hưởng đến việc quyết định khả năng thanh toán của họ Nếu như thu nhập của họ tăng lên có nghĩa là họ có thể tiêu dùng những sản phẩm dịch vụ với chất lượng và yêu cầu cao hơn, đây là một cơ hội tốt cho các nhà doanh nghiệp có khả năng sản xuất những hàng hoá cao cấp
+ Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng nội tệ: Có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là trong nền kinh tế mở như hiện nay Nếu đồng nội tệ mà bị mất giá thì nó cũng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của công ty trên
Trang 36thị trường Đối với doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu nhập nhiều nguyên liệu nước ngoài thì đây là khó khăn vì nó làm cho giá thực tế của hàng hoá nhập khẩu tăng lên, làm ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm và khả năng cạnh ttranh của công ty
+ Lãi suất cho vay của ngân hàng: Nếu tỉ lệ lãi suất cao, chi phí của doanh nghiệp tăng lên do trả lãi tiền vay lớn, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ kém đi, nhất là so với các đối thủ có tiềm lực mạnh về vốn
- Các nhân tố về chính trị:
Các nhân tố về chính là nền tảng qui định các yếu tố khác của môi trường kinh doanh Có thể nói quan điểm đường lối chính trị nào, hệ thống pháp luật và chính sách nào sẽ có môi trường kinh doanh đó Nói cách khác không có môi trường kinh doanh thoát ly quan điểm chính trị và nền tảng pháp luật
- Các nhân tố về pháp luật:
Một hệ thống pháp luật rõ ràng, nghiêm minh sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp yên tâm tiến hành sản xuất kinh doanh Đặc biệt là các đạo luật liên quan đến doanh nghiệp như luật thuế, những quy định về nhập khẩu của nhà nước đã đảm bảo cho sự công bằng giữa các doanh nghiệp, ngăn chặn hành vi gian lận gây mất
ổn định, ví dụ như: việc chốn lậu thuế cũng làm ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
-Các nhân tố khoa học công nghệ:
Trong môi trường kinh doanh các nhân tố về khoa học công nghệ đóng vai trò ngày càng quan trọng Nhất là trong thời đại ngày nay khi mà khoa học công nghệ trên thế giới có sự phát triển mạnh mẽ Nó đóng vai trò quan trọng đến khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp Thông qua hai công cụ cạnh tranh chủ yếu của doanh nghiệp là chất lượng và giá bán sản phẩm Qua đó tạo nên khả năng cạnh tranh của mỗi loại sản phẩm, vị trí dân cư, phân bổ địa lý các tổ chức kinh doanh Các nhân tố này tạo điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn ban đầu cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi cũng tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khuyếch trương sản phẩm, mở rộng thị trường
Trang 371.2.5.2 Các nhân tố thuộc môi trường vi mô
- Khách hàng :
Là một bộ phận không thể tách rời trong môi trường cạnh tranh, sự tín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có giá trị nhất của doanh nghiệp Sự tín nhiệm đạt được do biết thoả mãn tốt hơn các nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so với đối thủ cạnh tranh Khách hàng luôn là đối tượng phục vụ của các doanh nghiệp Thông qua
sự tiêu dùng của khách hàng mà doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận Các doanh nghiệp luôn tìm những biện pháp nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng tốt nhất so với đối thủ cạnh trạnh Khách hàng có thể gây ảnh hưởng của mình tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua thị hiếu và thu nhập
- Các đối thủ cạnh tranh hiện tại và các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn:
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nhất là các doanh nghiệp có quy mô năng lực sản xuất và mức độ cạnh tranh trong ngành Mỗi đối thủ khi tham gia vào thị trường đều muốn huy động mọi khả năng của mình nhằm thoả mãn đến mức cao nhất mọi yêu cầu của người tiêu dùng Bởi vậy nếu muốn tồn tại và đứng vững thì đòi hỏi doanh nghiệp phải không ngừng củng cố, nâng cao khả năng cạnh tranh của mình để có thể theo kịp và vượt lên trên đôi thủ cạnh tranh khác
Trong thị trường cạnh tranh tự do, gần như không có rào cản gia nhập thị trường, do vậy luôn tồn tại các đối thủ tiềm ẩn, sẵn sàng tham gia thị trường bất cứ lúc nào Sự xuất hiện của đối thủ mới có thể gây ra những cú sốc mạnh cho các doanh nghiệp hiện tại bởi thông thường những người đi sau thường có nhiều căn cứ trong việc ra quyết định hơn và các chiêu bài của họ thường có tính bất ngờ Như vậy, để chống lại các đối thủ tiềm ẩn, doanh nghiệp phải thường xuyên củng cố năng lực cạnh tranh bằng cách không ngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩm, bổ sung những đặc tính mới ưu việt hơn cho sản phẩm, luôn phấn đấu giảm chi phí để sẵn sàng tham gia cuộc cạnh tranh về giá, và nhờ đó tạo cho doanh nghiệp một vị thế vững chắc trên thị trường
- Các nhà cung cấp:
Trang 38Hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp không thể thiếu được các yếu tố đầu vào, đó là vật tư, máy móc thiết bị, vốn…Vai trò của nhà cung cấp đối với doanh nghiệp thể hiện ở áp lực về giá và các yếu tố đầu vào Giữa nhà cung cấp và doanh nghiệp thường diễn ra các cuộc thương lượng về giá cả, chất lượng và thời gian giao hàng Nhà cung cấp có nhiều cách để tác động đến khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp như nâng giá, giảm chất lượng vật tư kĩ thuật mà họ cung ứng, không đảm bảo tiến độ giao hàng theo yêu cầu, hay gây ra khan hiếm giả tạo Nếu trên thị trường có nhiều nhà cung cấp thì doanh nghiệp có thể lựa chọn nhà cung cấp, điều đó tạo ra sự cạnh tranh trên thị trường yếu tố đầu vào, có tác dụng làm giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp Mặt khác, thế mạnh của nhà cung cấp sẽ tăng lên trong các trường hợp như số lượng nhà cung cấp ít, không có hàng thay thế, doanh nghiệp không phải là khách hàng quan trọng của nhà cung cấp hoặc loại vật tư được cung ứng là yếu tố đầu vào quan trọng quyết định chất lượng sản phẩm hoặc hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, nhà cung cấp nói chung có ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Các sản phẩm thay thế :
Sự ra đời của sản phẩm thay thế luôn luôn là một tất yếu nhằm đáp ứng những nhu cầu của thị trường theo hướng ngày càng đa dạng, phong phú và đòi hỏi ngày càng cao, số lượng sản phẩm thay thế gia tăng cũng làm tăng mức độ cạnh tranh và thu hẹp quymô thị trường của sản phẩm trong ngành Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ nếu như sản phẩm của doanh nghiệp thuộc loại sản phẩm bị thay thế Chẳng hạn như một hàng bếp điện sẽ bị thay thế bởi hàng bếp ga, quạt điện có thể thay thế bằng điều hoà nhiệt độ Sự ảnh hưởng này có thể do giá bán của sản phẩm quá cao khiến người tiêu dùng thay thế bằng việc mua sản phẩm khác có mức giá thấp hơn hoặc nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng và đòi hỏi cao hơn
1.2.5.3 Môi trường bên trong doanh nghiệp
- Hệ thống thiết bị, công nghệ của doanh nghiệp
Tình trạng của hệ thống máy móc, thiết bị công nghệ của doanh nghiệp có ảnh
Trang 39hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó Nó là yếu tố quan trọng thể hiện năng lực sản xuất của doanh nghiệp và tác động trực tiếp tới chất lượng sản phẩm Một doanh nghiệp có máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến thì doanh nghiệp đó có thể nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm bớt chi phí nguyên liệu, chi phí nhân công làm cho doanh nghiệp có lợi thế trong việc
sử dụng giá cả làm công cụ cạnh tranh trên thị trường
- Khả năng tài chính của doanh nghiệp
Năng lực về tài chính luôn luôn là yếu tố quyết định đối với hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung cũng như khả năng cạnh tranh nói riêng của mỗi doanh nghiệp.Một doanh nghiệp có khả năng tài chính đảm bảo sẽ có ưu thế trong việc đầu tư, đổi mới máy móc thiết bị, tiến hành các hoạt động khác nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh Doanh nghiệp có khó khăn về vốn sẽ rất khó khăn để tạo lập, duy trì và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường
- Quy mô và năng lực sản xuất
Doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ có lợi thế trong cạnh tranh so với doanh nghiệp nhỏ như :
+ Số lượng sản phẩm lớn sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp thoả mãn được nhiều hơn nhu cầu khách hàng, qua đó chiếm được thị phần lớn hơn
+ Doanh nghiệp có quy mô và năng lực sẽ có ảnh hưởng lớn hơn đối với người tiêu dùng so với các doanh nghiệp nhỏ
- Đội ngũ lao động
Con người luôn là yếu tố quan trọng và quyết định nhất đối với yếu tố hoạt động của mọi doanh nghiệp Yếu tố con người bao trùm lên trên mọi hoạt động của doanh nghiệp thể hiện qua khả năng, trình độ ý thức của đội ngũ quản lý và những người lao động.Đội ngũ lao động tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các yếu tố về năng suất lao động, ý thức của người lao động trong sản xuất, sự sáng tạo Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất
- Bộ máy quản lý
Trang 40Bộ máy quản lý của doanh nghiệp tác động một các tổng hợp tới hiệu quả hoạt động sản xuất nói chung cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng
Bộ máy quản lý doanh nghiệp cũng có tầm quan trọng như bộ óc con người, muốn chiến thắng được đối thủ trong cuộc cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải nhạy bén, chủ động trước tình huống thị trường, phải đi trước các đối thủ trong việc đáp ứng các nhu cầu mới Tất cả những hoạt động đó đều phụ thuộc vào bộ máy quản lý của doanh nghiệp
- Vị trí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Việc lựa chọn mặt bằng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là điều cần thiết quan trọng, nó có thể tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho quá trình cung ứng nguyên vật liệu đầu vào và quá trình tiêu thụ sản phẩm Vì thế nó góp phần vào việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nếu chọn được vị trí sản xuất kinh doanh hợp lý