Tên tôi là: Đỗ Thị ThờiSinh viên: Lớp K36B - GDMN trường ĐHSP Hà Nội 2 Tôi xin cam đoan đề tài “Đánh giá năng lực sử dụng phương tiện giáo dục thể chất trong tổ chức hoạt động giáo dục t
Trang 1ĐỖ THỊ THỜI
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN TRƯỜNGMẦMNONTRƯNGNHỊ-
Trang 2Tên tôi là: Đỗ Thị Thời
Sinh viên: Lớp K36B - GDMN trường ĐHSP Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan đề tài “Đánh giá năng lực sử dụng phương tiện
giáo dục thể chất trong tổ chức hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên” là kết quả quá trình
nghiên cứu, tìm tòi học hỏi của bản thân tôi dưới sự chỉ đạo của giáo viênhướng dẫn Những kết quả nghiên cứu trong khoá luận chưa từng được công
bố tại bất cứ công trình nghiên cứu nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Đỗ Thị Thời
Trang 3CBQL: Cán bộ quản lí
GDMN: Giáo dục mầm non
GDTC: Giáo dục thể chất
GDQD: Giáo dục quốc dân
GVMN: Giáo viên mầm non
Trang 4Số bảng
biểu
Bảng 1.1 Chế độ sinh hoạt của trẻ 5 - 6 tuổi trong chương
trìnhchăm sóc - giáo dục trẻ của Bộ Giáo dục và Đào tạo
19
Bảng 3.1 Thực trạng về số lượng và trình độ của giáo viên
trường mầm non Trưng Nhị (n=30)
25
Bảng 3.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về sự cần thiết
cuả GDTC cho trẻ mẫu giáo (n=30)
Bảng 3.6 Kết quả đánh giá của CBQL về năng lực truyền đạt
của giáo viên (n=7)
Bảng 3.10 Tiêu chí đánh giá năng lực kỹ năng tổ chức giờ học
của giáo viên
33
Bảng 3.11 Kết quả đánh giá của CBQL về kỹ năng tổ chức giờ
dạy học của giáo viên
34
Bảng 3.12 Kế hoạch hoạt động GDTC của trẻ 5 - 6 tuổi trường
mầm non Trưng Nhị
36
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .4
1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về Giáo dục Mầm non 4
1.2.Vị trí và vai trò của Giáo dục Mầm non 7
1.3 Vị trí, vai trò của giáo viên mầm non trong xã hội hiện đại 7
1.4 Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 8
1.4.1 Khái niệm đánh giá 8
1.4.2 Khái niệm năng lực, năng lực sư phạm 8
1.4.3 Khái niệm phương tiện, phương tiện GDTC 9
1.4.4.Khái niệm GDTC 11
1.5 Đặc điểm phát triển sinh lí vận động ở trẻ 11
1.5.1 Phát triển vận động của trẻ 5 tuổi 12
1.5.2 Phát triển vận động của trẻ 6 tuổi 12
1.6 Mục tiêu của Giáo dục Mầm non, chương trình Giáo dục Mầm non 13
1.6.1 Mục tiêu của GDMN 13
1.6.2 Chương trình GDMN 13
1.7 Nhiệm vụ của Giáo dục Thể chất cho trẻ mẫu giáo 15
1.7.1 Nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe 15
1.7.2 Nhiệm vụ giáo dưỡng 16
1.7.3 Nhiệm vụ giáo dục 17
1.8 Chế độ sinh hoạt hàng ngày cho trẻ mẫu giáo 19
CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ - PHƯƠNG PHÁP - TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU.21 2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp tài liệu 21
Trang 62.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 22
2.3.1 Thời gian nghiên cứu 22
2.3.2 Đối tượng nghiên cứu 23
2.3.3 Địa điểm nghiên cứu 23
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
3.1 Thực trạng công tác tổ chức giáo dục thể chất và năng lực sử dụng phương tiện giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non Trưng Nhị 24
3.1.1 Thực trạng về cơ sở vật chất cuả Nhà trường 24
3.1.2 Thực trạng về đội ng giáo viên của trường mầm non Trưng Nhị
25 3.1.3 Thực trạng nhận thức của giáo viên về vai trò của GDTC và sử dụng phương tiện GDTC cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non Trưng Nhị 25
3.1.4 Thực trạng năng lực giáo viên trong tổ chức dạy học môn GDTC 28
3.1.5 Thực trạng công tác dạy học lĩnh vực phát triển thể chất cho trẻ tại trường mầm non Trưng Nhị 35
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
PHỤ LỤC
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
GDMN là bộ phận trong hệ thống GDQD Bậc học này có vai trò quantrọng trong việc GDTC, tinh thần của trẻ là bước khởi đầu để các em làmquen với thế giới xung quanh và hình thành nhân cách Những năm gần đây,Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách quan tâm để phát triển cho bậchọc này Do đó, việc dạy học phát triển toàn diện các mặt giáo dục ở trẻ như:đức, trí, thể, mỹ, lao động là yêu cầu bắt buộc giúp trẻ hội nhập nhanh vớicuộc sống trong quá trình phát triển của trẻ
Trong đó GDTC cho trẻ là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu.Nhưng để thực hiện quá trình giáo dục này c ng có một số quan điểm khácnhau của các nhà giáo dục như:
- Các nhà lí luận giáo dục duy tâm cho rằng: GDTC là nhu cầu bảntính hay bản năng của con người giống như các sinh vật khác, GDTC mang
tính bẩm sinh của con người c ng tương tự như “sự giáo dục” bắt chước của
loài vật như: đi, chạy, nhảy Với lập luận này trên thực tế họ đã phủ nhận vaitrò của lao động và tư duy - một hiện tượng mới về chất đã làm cho ngườikhác biệt với các loài vật Theo họ thực tiễn của hình thức giáo dục này nhằmthỏa mãn những yêu cầu bản năng nào đó và hầu như không có liên quan đếnyêu cầu xã hội Do đó, họ đã phủ nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa xã hội vàgiáo dục và cả nội dung của giáo dục [4]
- Các nhà lí luận giáo dục duy vật cho rằng: GDTC là một hiện tượng
xã hội, là phương tiện phục vụ xã hội, chủ yếu nhằm nâng cao thể chất, đồngthời tác động mạnh mẽ đến sự phát triển tinh thần của con người Họ khẳngđịnh rằng chỉ khi nào con người tự giác tập luyện các bài tập thể chất, nhằmphát triển cơ thể của bản thân để chuẩn bị cho những hoạt động nhất định thìlúc đó mới có GDTC thực sự [4]
Trang 8Trên cơ sở nghiên cứu các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội,
C.Mác nhấn mạnh: “Giáo dục trong tương lai sẽ kết hợp lao động sản xuất
với trí dục và thể dục, đó không những là biện pháp để tăng thêm sức sản xuất của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo con người phát triển toàn diện” C.Mác coi hoạt động GDTC là một bộ phận hữu cơ của giáo
dục, là điều kiện tất yếu của sự phát triển toàn diện của một con người GDTC
là phương tiện quan trọng để phát triển thể lực của con người GDTC cho trẻmầm non là cơ sở phát triển toàn diện, rèn luyện cơ thể, hình thành nhữngthói quen cần thiết cho cuộc sống [1]
Ở lứa tuổi mẫu giáo hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi, học màchơi chơi mà học Ngoài ra, các hình thức vận động trong các hoạt động tíchhợp khác như: lao động, nặn hình, vẽ, vận động theo nhạc, đều có ảnhhưởng lớn đến quá trình phát triển thể chất của trẻ
Nhưng để tác động tới việc nâng cao thể chất cho trẻ thì việc sử dụng
đa dạng các phương tiện GDTC là yếu tố vô cùng quan trọng giúp cho trẻhoàn thiện về năng lực vận động của mình, giải quyết những nhiệm vụ GDTCcho trẻ Mỗi yếu tố của phương tiện GDTC có tác động khác nhau tới quátrình phát triển thể chất cuả trẻ như:
- Những yếu tố vệ sinh bao gồm: chế độ làm việc - chế độ sinh hoạt,dinh dưỡng, ngủ, nghỉ, vệ sinh cá nhân và những trang thiết bị thể dục đềugây cho trẻ những cảm xúc tốt, trước tiên là sự hoạt động cuả các cơ quan vàtiếp đó là tác động đến sự lớn lên và phát triển ở trẻ
- Các yếu tố thiên nhiên như: ánh sáng, không khí và nước là nhữngyếu tố vô cùng quan trọng trong cuộc sống của chúng ta Thường xuyên tậpluyện với các điều kiện khác nhau như ánh nắng và không khí, sẽ tạo cho hệthống thần kinh trung ương làm quen với sự thay đổi đột ngột của thời tiếtbên ngoài, tránh được những bệnh cảm lạnh, cảm nắng ở trẻ, mà đối với trẻthì điều đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Trang 9- Các bài tập thể chất: đối với trẻ mầm non việc tập luyện bài tập thểchất ngoài việc bảo đảm cho cơ thể trẻ được phát triển một cách mạnh mẽ vềhình thái, chức năng và hình thành các kỹ năng, kỹ xảo, vận động cơ bản củatrẻ ngoài ra nó còn góp phần hoàn thiện các phẩm chất tâm lí của trẻ, vừa cảitiến hoạt động ý thức của chúng, làm phát triển cảm xúc, ý chí của trẻ.
Do đó, bài tập thể chất là một trong những biểu hiện của sự thống nhấtgiữa hoạt động thể chất và tâm lí của trẻ Nhưng hiệu quả của quá trìnhGDTC cho trẻ chỉ đạt được kết quả mong muốn khi người giáo viên phải biết
sử dụng và kết hợp các phương tiện của GDTC một cách khoa học và hợp lí
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá năng lực sử dụng phương tiện giáo dục thể chất trong tổ chức hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên”.
* Mục đích nghiên cứu
Đánh giá năng lực sử dụng các phương tiện GDTC trong hoạt độngGDTC cho trẻ tại trường mầm non Thông qua việc nghiên cứu thực trạng vềđội ng giáo viên, năng lực của giáo viên, sử dụng phương tiện GDTC đánhgiá được năng lực sử dụng các phương tiện GDTC trong hoạt động GDTCcho trẻ tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về Giáo dục Mầm non
Giáo dục và Đào tạo đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triểncủa mỗi quốc gia là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi nước Vì vậy, ngay
từ khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “một dân tộcdốt là một dân tộc yếu” [1.tập I] Vì vậy, Giáo dục và Đào tạo là nhiệm vụquan trọng của cách mạng Việt Nam
C.Mac nói: “giáo dục tái tạo nên sức mạnh bản chất của con người chonên giáo dục được coi là phương thức sản xuất lao động và xã hội Sức laođộng đó có thể là những thành phần như kỹ sư, công nhân, hay bán thànhphẩm như học sinh” [1 tập 2] Vì vậy, có thể nói: Đầu tư cho giáo dục chính
là đầu tư cho phát triển, là thứ đầu tư khôn ngoan và có lợi nhất Đây là chiếnlược quan trọng của các nước phát triển và đang phát triển hiện nay
Khi bàn về việc xây dựng con người mới XHCN Việt Nam, Đảng Cộngsản Việt Nam c ng đã khẳng định: Con người mới vừa là sản phẩm, vừa làchủ thể có ý thức của xã hội Con người mới Việt Nam là kết quả tổng hợpcủa ba cuộc cách mạng, đặc biệt việc xây dựng cơ sở vật chất của CNXH có ýnghĩa to lớn và quyết định đối với sự hình thành con người mới Song conngười mới là chủ thể có ý thức của xã hội Phải bằng kết quả tổng kết của bacuộc cách mạng, phải thông qua hoạt động thực tiễn, thông qua lao động vàđấu tranh thì những thành viên của xã hội mới cải tạo được mình và dần dầntrở thành con người mới Trong quá trình giáo dục con người, cần gắn chặttừng bước việc học tập và giáo dục với thực tiễn cải tạo, xây dựng xã hội vàđấu tranh cách mạng Vì vậy, GDMN là điều quan trọng trong hệ thống giáodục, gốc có tốt thì cây mới phát triển nhanh [6]
Trang 11Bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu của cả dân tộc, cả cuộc đời Bác đã hết lòngchăm lo và giành tâm huyết cho công tác giáo dục, nhất là đối với trẻ em Bácgiành hết tất cả tình cảm của mình mỗi lần thăm nhà trẻ, gặp gỡ các cô nuôidạy trẻ Bác thường nhắc nhở: “Phải giữ gìn vệ sinh cho các cháu, các cô phảihọc hành tốt, nuôi dạy các cháu ngoan và khỏe” Bác đã chỉ thị cho ngànhmầm non “Muốn cho người mẹ sản xuất tốt, cần tổ chức tốt những nơi giữ trẻ.Dạy trẻ c ng như trồng cây non, trồng cây non được tốt thì sau này các cháuthành người tốt” [8].
Bác cho rằng, đứa trẻ hiền lành hay độc ác không phải là do bản chấtvốn có của trẻ mà chính là do sự giáo dục của người lớn
“Hiền dữ phải đâu là tính sẵnPhần nhiều do giáo dục mà nên”
Chăm sóc giáo dục trẻ ngay từ khi còn bé chính là sự đầu tư lâu dài vàngay từ đầu, tạo cơ sở cho sự tăng tốc trong sự phát triển kinh tế - xã hộitương lai
“Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người” [1 Tập I]
Với truyền thống 60 năm qua của GDMN trong hệ thống GDQD, có lẽkhông một ai trong số nhà giáo mầm non lại không tự hào về sự phát triển củamạng lưới cùng sự tăng trưởng về số lượng trẻ đến chất lượng của đội ng nhà giáo Nhiều người c ng đã tự hào mà nói rằng GDMN của chúng ta là nềnếp nhất, kỷ cương nhất, và cùng chịu đựng gian khổ nhất Tuy nhiên, chính trong nề nếp và kỷ cương thì dễ dẫn tới tình trạng máy móc, gia trưởng và thiếu tính phản biện Mong rằng đây là một dịp tốt để toàn ngành chúng tacùng tự hào, cùng cố gắng khắc phục những hạn chế và phấn đấu tốt hơn nữa Đội ng chúng ta vì yêu nghề và yêu trẻ, và đã chọn nghề Sư phạm nên đã tìm
ra phương pháp tốt nhất mà dẫn dắt các cháu theo mục tiêu giáo dục đào tạo
Trang 12con người Việt Nam, c ng như theo tinh thần Nghị quyết Đại hội toàn quốc,lần thứ X của Đảng Đặc biệt là đội ng GVMN sẽ phấn đấu làm theo lời dạycủa Bác Hồ kính yêu của chúng ta “Làm mẫu giáo là thay mẹ dạy trẻ Muốnlàm được thế thì trước hết phải yêu trẻ Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ,chịu khó nuôi dạy được các cháu” [10].
Nhiệm vụ các năm tới vì sự nghiệp GDMN còn rất nặng nề nhưng rất
vẻ vang Chúng ta tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trongđiều kiện mới, trong vận hội mới, phát huy truyền thống vẻ vang 60 năm qua.Toàn thể chúng ta vững tin hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và Nhànước giao cho nhằm phát triển GDMN lên một tầm cao mới, xứng đáng với
sự tin yêu của Đảng và Bác Hồ, xứng đáng với sự tin tưởng của nhân dân vàcác thế hệ đi trước
Nghị quyết của Đại hội lần thứ IV của Đảng năm 1979 đã ra quyết định số
14 - Nghị quyết trung ương về cải cách giáo dục với tư tưởng: Giáo dục đượcxem là bộ phận quan trọng của cuộc cách mạng tư tưởng, thực thi nhiệm vụchăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành, học đi đôi vớihành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội.[6]
Cơ sở pháp lý để GDMN phát triển trong thời gian sắp tới là: Tư tưởngphát triển GDMN được ghi trong các văn kiện Đại hội Đảng, Hiến pháp củaNhà nước, các luật Giáo dục, Luật Bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em; Chỉ thị18/2002/CT - TTG của Thủ Tướng Chính phủ về một số biện pháp cấp báchxây dựng đội ng nhà giáo của hệ thống GDQD, rồi Quyết định số161/2002/QĐ - TTG về một số chính sách phát triển GDMN, đặc biệt gần đâynhất Chính phủ đã dành hẳn một phiên họp chính phủ để bàn về chiến lượcphát triển GDMN và đến ngày 23/6/2006 Thủ tướng Chính Phủ đã ký Quyếtđịnh số 149/2006/QĐ - TTG phê duyệt đề án phát triển GDMN giai đoạn
2006 - 2015 [8]; Những văn bản này đã ra đời cùng thời với việc Đảng và
Trang 13Nhà nước ta chú trọng đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền thể hiện sựquan tâm sâu sắc của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện cho sự pháttriển GDMN một cách có hệ thống, lâu dài và bền vững.
Hệ thống trường lớp GDMN được mở rộng trên mọi địa bàn dân cư,đặc biệt ở những vùng dân tộc thiểu số, vùng nông thôn và miền núi
1.2 Vị trí và vai trò của Giáo dục Mầm non
Từ trước đến nay, trên thế giới nói chung c ng như ở nước ta tồn tại khánhiều ý kiến khác nhau về vấn đề nuôi dạy trẻ ngay từ những ngày tháng nămđầu tiên của cuộc sống Theo quan niệm của giáo dục học hiện đại và tiến bộcho rằng: “đối với trẻ càng nhỏ bao nhiêu thì lại càng cần phải đảm bảo sự cânđối giữa nuôi và dạy bấy nhiêu, hai yếu tố này ảnh hưởng và tác động qua lạivới nhau Nếu thiếu hụt một trong hai yếu tố trên đều có thể gây ra những ảnhhưởng tiêu cực đến sự tăng trưởng và phát triển luôn luôn mang tính tổng thểcủa trẻ”
Ngày nay, giá trị con người ngày càng được nhận thức đúng đắn vàđánh giá một cách toàn diện, sâu sắc thì công tác chăm sóc - giáo dục trẻ càngmang một ý nghĩa nhân văn cụ thể, càng trở thành một đạo lí của thế giới vănminh Để đảm bảo cho sự tăng trưởng của xã hội mai sau, việc phát triển nhân
tố con người, nguồn lực con người phải tiến hành không ngừng, ngay từ khitrẻ mới sinh, thậm chí ngay từ khi trẻ còn là bào thai trong bụng mẹ Đó là ýnghĩa cơ bản của việc chăm sóc - giáo dục trẻ
Nhìn chung, ngành GDMN ở các địa phương trong cả nước đã cónhững chuyển biến tích cực: tỷ lệ trẻ em đến lớp tăng; cơ sở trường lớp ngàycàng khang trang; đội ng GVMN được bổ sung về số lượng và từng bướcđược nâng cao trình độ nghiệp vụ
1.3 Vị trí, vai trò của giáo viên mầm non trong xã hội hiện đại
Đối với GDMN, đội ng giáo viên là lực lượng nòng cốt, biến các mụctiêu giáo dục thành hiện thực, giữ vai trò quyết định chất lượng và hiệu quảgiáo dục Xu thế đổi mới giáo dục đang đặt ra những yêu cầu mới về phẩm
Trang 14chất, năng lực của người GVMN Trước hết đó phải là một nhà giáo dục, mộtcông dân gương mẫu, có tư cách đạo đức, có lối sống lành mạnh, hăng háitham gia vào sự phát triển cộng đồng GVMN không chỉ đóng vai trò nuôi vàdạy trẻ mà còn là người tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ, giúp trẻ nhậnthức về thế giới quan, bước đầu cung cấp cho trẻ những kiến thức và kỹ năngsống đầu đời, dạy cho trẻ những KNVĐCB.
Căn cứ theo mục tiêu giáo dục của bậc học mầm non cho thấy, côngviệc của GVMN không đơn thuần là “dạy” mà còn phải “nuôi” vì vậy đây làhoạt động đặc thù GVMN có lúc là cô giáo, có lúc là mẹ hiền và có nhữnglúc là người bạn của trẻ [15]
1.4 Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.4.1 Khái niệm đánh giá
Đánh giá là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về vấn đềđược đánh giá Muốn đánh giá kết quả học tập của trẻ thì việc đầu tiên là phảikiểm tra, soát xét lại toàn bộ công việc học tập của trẻ, sau đó tiến hành đolường để thu thập những thông tin cần thiết, cuối cùng là đưa ra quyết định
1.4.2 Khái niệm năng lực, năng lực sư phạm
1.4.2.1 Khái niệm năng lực
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: Năng lực là tổng hợp cácđặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng củamột hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân nơiđóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tựnhiên mà có, phần lớn do học tập, tập luyện mà có
Tâm lí học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung
và năng lực chuyên môn
- Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khácnhau như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hóa, năng lựctưởng tượng
Trang 15- Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất địnhcủa xã hội như: năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hộihọa, toán học,…
1.4.2.2 Khái niệm năng lực sư phạm
Trên cơ sở khái niệm về năng lực, thì năng lực sư phạm là tổ hợp tâm
lí, đặc trưng của nhà giáo dục phù hợp với yêu cầu của hoạt động sư phạm vàđảm bảo thành công của các hoạt động sư phạm
1.4.3 Khái niệm phương tiện, phương tiện GDTC
1.4.3.1 Khái niệm phương tiện
Theo từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bản Đà Nẵng phương tiện là cái dùng
để làm một việc gì, để đạt một mục đích nào đó [14]
Theo định nghĩa trên, chúng ta hiểu rằng trong dạy học nói chung vàtrong dạy học GDTC nói riêng, cái mà chúng ta dùng để tác động vào đốitượng để đạt mục đích nào đó thì đều được gọi là phương tiện
1.4.3.2 Khái niệm phương tiện GDTC
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ GDTC cho trẻ mầm non, các nhàgiáo dục đã sử dụng các phương tiện GDTC tác động tới cơ thể trẻ nhằm gây
ra những biến đổi về cấu trúc và chức năng sinh học của cơ thể trẻ theo hướng
có lợi cho phát triển thể chất Trong lí luận GDTC phương tiện GDTC baogồm: yếu tố vệ sinh, yếu tố thiên nhiên và các bài tập thể chất
Như vậy, có thể hiểu phương tiện GDTC là tổng thể các yếu tố vệ sinh,yếu tố thiên nhiên và các bài tập thể chất mà người ta sử dụng chúng để tácđộng tới người tập
* Yếu tố vệ sinh
Chế độ vệ sinh trong tập luyện cho trẻ mầm non: Vệ sinh dinh dưỡng,
vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường, vệ sinh trang phục, vệ sinh dụng cụ
Trang 16- Vệ sinh dinh dưỡng: Vệ sinh dinh dưỡng tốt sẽ tác động trực tiếp đến
sự sống còn, sức khỏe và sự khôn lớn của trẻ, cần đảm bảo chế độ dinh dưỡngcho trẻ như: Đồ ăn, uống phải sạch tránh chất độc Đảm bảo đủ chất (đường,đạm, mỡ, vitamin, muối khoáng, nước, các nguyên tố vi lượng) Giờ ăn, uốngphải hợp lí
- Vệ sinh thân thể: Làm cho cơ thể hoạt động tốt, tăng cường quátrình trao đổi chất, phát triển khả năng làm việc trí óc và hoạt động chân tay,
đề phòng bệnh tật
- Vệ sinh môi trường: Những nơi có thể tiến hành cho trẻ tập luyện làtrong phòng nhóm, ngoài sân chơi và phòng thể dục Nơi tập phải được tiếnhành cho trẻ tập luyện Phòng tập phải được vệ sinh sạch sẽ, thông thoángkhí, trong quá trình tập cửa sổ phải được mở Sân tập phải sạch sẽ, bằngphẳng, thoáng mát, tránh chỗ nắng gắt và gió lùa
- Vệ sinh trang phục: Trang phục bảo vệ cơ thể khỏi những tác độngxấu của môi trường và những tác động tổn thương cơ học, giữ cho cơ thể sạch
sẽ Vì liên quan đến hoạt động vận động, cho nên trang phục của trẻ phải gọngàng, thuận tiện không gây cản trở cho cử động, phù hợp với khí hậu của từngvùng Vì vậy, trang phục phải đảm bảo tính chất thoáng khí, giữ nhiệt, thấmnước và các tính chất vật lí khác
- Vệ sinh thiết bị, dụng cụ thể dục: Phải chắc chắn, kích thước phù hợpvới độ tuổi, đáp ứng được nội dung chương trình, có tính thẩm mĩ cao Cácthiết bị, dụng cụ thể dục phải bảo quản và duy trì bảo dưỡng thường xuyên đểthiết bị, dụng cụ luôn giữ được màu giúp trẻ dễ xác định và phát triển khảnăng phân biệt màu sắc
* Yếu tố thiên nhiên
- Ánh sáng: Mặt trời là nguồn sáng giúp cho việc rèn luyện sức khỏelàm giảm một số bệnh ngoài da, bệnh đường hô hấp và có khả năng tiêu diệt
vi khuẩn
Trang 17- Không khí: Không khí cung cấp ôxy cho trẻ Không khí trong sạchchứa những hợp chất đặc biệt, tăng lượng máu nhờ hấp thụ ôxy.
- Nước: Sử dụng nước để ăn uống, tắm rửa, là phương tiện để tập luyện(bơi, lặn) Nước còn dùng để rửa sạch các vết bẩn ở da, làm giãn nở và lưuthông mạch máu, tác động cơ học nên cơ thể trẻ Tắm rửa nước sẽ có tác dụngtốt tới cơ thể trẻ, nâng cao trương lực cơ và thúc chúng hoạt động tích cựclàm hưng phấn hệ thần kinh, gây cảm giác sảng khoái
GDTC cho trẻ mầm non là quá trình tác động nhiều mặt vào cơ thể trẻ
Tổ chức cho trẻ vận động và sinh hoạt hợp lí nhằm làm cho cơ thể trẻ pháttriển đều đặn, sức khỏe được tăng cường, tạo cơ sở cho sự phát triển toàn diện
1.5 Đặc điểm phát triển sinh lí vận động ở trẻ
Dưới góc độ sinh lí học, vận động là sự chuyển động của cơ thể conngười, trong đó có sự tham gia của hệ cơ, hệ xương với sự điều khiển của hệ
thần kinh.
Trang 18Đặc trưng của trẻ sinh ra đến 6 tuổi là sự vận động tích cực của chúng Vận động là một trong những nguồn cơ bản để trẻ nhỏ nhận thức thếgiới xung quanh Trẻ càng nắm được nhiều động tác và hành vi phong phú,tiếp xúc của trẻ với thế giới càng rộng hơn.
1.5.1 Phát triển vận động của trẻ 5 tuổi
Vận động đi, chạy và phát triển các cảm giác thăng bằng: Vận động đicủa trẻ ở lứa tuổi này đã ổn định, biết phối hợp tay chân nhịp nhàng Trẻ đã cóphản xạ nhanh đối với hiệu lệnh xuất phát của vận động chạy Bước chânchạy gần giống với người lớn, chạy đúng hướng Nhịp điệu các bước chân ổnđịnh, kết hợp tay chân tốt Từ lứa tuổi này đã thấy sự khác nhau giữa trẻ trai
và trẻ gái trong thành tích chạy
Vận động nhảy: Trẻ 5 tuổi đã biết kết hợp vận động khi nhảy, tay đãgóp phần vào việc thúc đẩy lực nhảy Khi hạ xuống mặt đất nhẹ nhàng hơn vàbiết co đầu gối để giảm xóc, nhưng vẫn đặt cả bàn chân xuống sàn, chưa biếtchuyển từ m i bàn chân đến gót chân
Vận động ném, chuyền, bắt: Trẻ đã xác định được hướng ném đúng,biết dùng động tác “ngắm” để ném trúng đích, nhưng việc xác định khoảngcách vẫn còn yếu, nên bóng thường rơi xung quanh đích cách từ 15 - 20cm.Khi ném xa trẻ đã biết phối hợp lực đẩy của chân và tay, hướng ném thẳng
Vận động bò, trườn, trèo: Trẻ đã xác định được hướng vận động chínhxác, phối hợp được chân tay, thân mình linh hoạt, tránh trướng ngại vật khéoléo Tốc độ trườn và trèo nhanh hơn
1.5.2 Phát triển vận động của trẻ 6 tuổi
Vận động đi: Ở trẻ có sự phối hợp nhịp nhàng giữa tay, chân và thân.Bàn chân rời khỏi mặt đất nhẹ nhàng, mềm mại khi chân chạm đất
Vận động nhảy: Được hoàn thiện với một niềm tin lớn, nhảy nhẹnhàng, biết chạm đất bằng 2 nửa trước của bàn chân
Trang 19Vận động chạy, bò, ném: Ở lứa tuổi này trẻ được hoàn thiện rõ nhất,thể hiện sự chính xác của động tác, phát triển khả năng ước lượng bằng mắt,
có sự khéo léo khi phối hợp vận động
Dựa vào đặc điểm phát triển thể chất và vận động của trẻ ở từng độ tuổimầm non, ta sẽ lựa chọn những nội dung và phương pháp hướng dẫn vậnđộng phù hợp với trẻ, để có thể đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trìnhluyện tập cho chúng
1.6 Mục tiêu của Giáo dục Mầm non, chương trình Giáo dục Mầm non 1.6.1 Mục tiêu của GDMN
Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trítuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị chotrẻ em vào lớp một GDMN tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻđặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời
GDMN được chia thành hai giai đoạn: Nhà trẻ và mẫu giáo
Giai đoạn nhà trẻ: Thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
sở vật chất và đảm bảo các điều kiện khác để nâng cao chất lượng GDMN
Chương trình GDMN chỉ là chương trình khung, nội dung chương trìnhmang tính chất gợi ý Người GVMN phải dựa vào chương trình đó để xâydựng kế hoạch và nội dung kiến thức dạy trẻ Muốn trẻ tiếp thu tốt nội dungkiến thức, giáo viên phải biết soạn bài giảng, lựa chọn phương tiện, phươngpháp dạy học khoa học Do vậy, nội dung GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non
là căn
Trang 20cứ để xây dựng chương trình chăm sóc trẻ trong các nhà trường, đồng thời làcăn cứ để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ GVMN.
1.6.2.1 Đội hình đội ngũ đối với trẻ 5 - 6 tuổi
Cho trẻ đi theo vòng tròn, đi theo đường dích dắc
Xếp hàng dọc theo tổ, dóng hàng thẳng
Xếp hàng ngang theo tổ, dóng hàng
Chuyển 1 hàng dọc thành 2 hàng dọc
Chuyển 1 vòng tròn thành 2 vòng tròn
1.6.2.2 Bài tập phát triển chung đối với trẻ 5 - 6 tuổi
Dựa vào cấu trúc của cơ thể người ta chia bài tập phát triển chungthành 3 nhóm:
- Nhóm bài tập động tác lưng, bụng, lườn
+ Người ngửa ra sau, 2 tay giơ lên cao, chân bước sang phải, sang trái.+ Quay sang trái, sang phải kết hợp tay chống hông hoặc 2 tay dangngang, chân bước sang trái, sang phải
+ Nghiêng người sang 2 bên, kết hợp tay chống hông, chân bước sangphải, sang trái
- Nhóm bài tập động tác chân
+ Chân: Đưa ra phía trước, sang ngang, phía sau Nhảy lên, đưa 2 chânsang ngang; nhảy lên đưa 1 chân về phía trước, 1 chân về sau
1.6.2.3 Bài tập vận động cơ bản đối với trẻ 5 - 6 tuổi
Bài tập vận động cơ bản cho trẻ bao gồm:
- Đi và chạy
Trang 21- Bò, trườn, trèo.
- Tung, ném, bắt
- Bật - nhảy
1.7 Nhiệm vụ của Giáo dục Thể chất cho trẻ mẫu giáo
GDTC cho trẻ mầm non là một trong những bộ phận của giáo dục toàndiện cho trẻ, nó tạo ra những điều kiện thuận lợi trong quá trình giáo dục trẻ
Mục đích của GDTC mầm non là: “giáo dục trẻ khỏe mạnh, nhanhnhẹn, cơ thể phát triển hài hòa, cân đối” [12], đó chính là sự phát triểncấp thiết của trẻ mầm non, được nêu ra ở 3 nhiệm vụ GDTC cho trẻ mầmnon
1.7.1 Nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe
Ở lứa tuổi mầm non, cơ thể trẻ phát triển nhanh, nhưng ngược lạisức đề kháng còn yếu, các cơ quan đang phát triển nhưng chưa hoàn thiện
Vì vậy, mà trẻ dễ bị mắc nhiều bệnh khác nhau Nhiệm vụ của GDTC là bảo
vệ, tăng cường sức khoẻ cho trẻ nhằm đảm bảo sự phát triển thể lực toàndiện
Nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe bao gồm: Chăm sóc, nuôi dưỡng và rènluyện một cách khoa học như: chăm sóc trẻ khi ăn, ngủ, chơi và học Chế độsinh hoạt cho trẻ: cho trẻ ăn đủ chất, đủ lượng; rèn luyện cơ thể trẻ bằng cáctiết học thể dục, TCVĐ, dạo chơi,
Rèn luyện nâng cao sức đề kháng của cơ thể trẻ em trước tác độngcủa những điều kiện môi trường xung quanh
- Đối với trẻ việc rèn luyện cơ thể có ý nghĩa đặc biệt nó có tác dụngtốt đối với chức năng của hệ thần kinh trung ương, xúc cảm của trẻ vàsức khỏe chung
- Các yếu tố thiên nhiên có lợi cho sức khỏe như: Tắm nắng, dạo chơinơi không khí thoáng mát sẽ tốt cho sức khỏe của trẻ vì vậy ở trường mầm
Trang 22phát triển toàn diện.
Trang 23Củng cố cơ quan vận động, hình thành tư thế thân người hợp lí.
- Tác dụng của việc tích cực vận động có tác dụng rất lớn đối với sựphát triển hệ vận động của trẻ như: giúp cho việc cốt hóa xương, hình thànhcác mấu của xương sống, phát triển vòm chân, củng cố khớp, dây chằng, tạokhả năng phát triển đúng tỉ lệ giữa các bộ phận của cơ thể
- Ở trẻ mầm non là độ tuổi phát triển mạnh nhất Nên những biếndạng ở cột sống và các bộ phận khác có thể xảy ra dễ dàng nếu như trẻ vậnđộng tư thế không đúng Vì vậy, giúp trẻ uốn nắn những sai lệch của tư thếbằng cách dùng các bài tập vận động
Góp phần nâng cao chức năng của hệ thần kinh thực vật
- Thường xuyên vận động sẽ kích thích mạnh mẽ sự trao đổi chất, tăngcường năng lực co bóp, lưu thông máu, điều hòa thần kinh tim được cảithiện, bộ máy hô hấp c ng được hoàn thiện
1.7.2 Nhiệm vụ giáo dưỡng
Hình thành và phát triển những kỹ năng, kỹ xảo vận động, phát triển
tố chất thể lực, thói quen vệ sinh và kiến thức sơ đẳng về GDTC
Những thói quen vận động được hình thành trước 7 tuổi là cơ sở choviệc hoàn thiện khi bước sang tuổi học sinh và cho phép tiếp tục đạtthành tích cao trong các môn thể thao Một đứa trẻ tròn 6 tuổi, cần phảiđược hình thành những kỹ năng vận động của TDCB một cách tương đốithành thạo, đó là bài tập đội hình, bài tập phát triển chung, bài tập vận động
cơ bản và làm quen với một số môn thể thao như đi xe đạp, bơi Ngoài ra cầnphát triển cho trẻ các tố chất thể lực nhanh nhẹn, mạnh mẽ, bền bỉ,… từnhững ngày đầu tiên của cuộc sống Với mục đích phát triển sức mạnh,nhanh nhẹn, khéo léo thì tăng độ xa, độ cao của nhảy, tập ném xa
Những tố chất thể lực của trẻ sẽ giúp chúng giảm tiêu hao sức lực khivận động và có thể luyện tập trong thời gian lâu hơn Nếu không pháttriển
Trang 24các tố chất thể lực thì trẻ sẽ không thực hiện được các bài tập đơn giản, không hoàn thiện những hình thức khác nhau của vận động.
Đối với trẻ việc rèn luyện những thói quen vệ sinh cá nhân và vệ sinhcông cộng có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe của trẻ Các thói quen vệsinh đó như: vệ sinh thân thể, quần áo, đồ dùng, đồ chơi, dụng cụ thể dục,…
Cần truyền đạt một số kiến thức có liên quan đến GDTC cho trẻ tùythuộc vào từng độ tuổi của trẻ mà cần truyền đạt Các kiến thức đó nhưlà: yếu tố vệ sinh, yếu tố thiên nhiên, có biểu tượng về tư thế đúng, kỹ thuậtbài tập, luật của TCVĐ c ng như những tri thức đơn giản về vệ sinh cá nhân
và vệ sinh môi trường Những tri thức đó giúp trẻ lĩnh hội được ý thức tựgiác trong luyện tập và việc sử dụng các phương tiện GDTC ở trường, ở giađình tốt hơn
Đối với trẻ thơ, giai đoạn đầu tiên của đời người (từ lọt lòng đến 6tuổi) giáo dục nhằm phát triển các chức năng, tâm lí, hình thành những cơ sởban đầu của nhân cách con người, chuẩn bị cho những giai đoạn pháttriển sau được thuận lợi
GDTC với giáo dục trí tuệ
+ Cơ thể con người là một khối thống nhất, trí lực và thể lực đều do hệthống thần kinh trung ương điều khiển Một cơ thể khỏe mạnh là tiền đề vậtchất giúp con người phát triển trí óc của mình
Trang 25+ GDTC một cách khoa học sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sựhoạt động của hệ thần kinh, giúp cho các quá trình tâm lí như cảm giác, trigiác, trí nhớ, tư duy phát triển tốt Ngoài ra còn giúp trẻ thu nhận đượcnhững kiến thức về sự vật, hiện tượng xung quanh như: tư thế của động vật,côn trùng, những hiện tượng thiên nhiên và xã hội.
+ Đối với trẻ mầm non điều quan trọng là phải giáo dục trẻ những cảmxúc tích cực, đảm bảo sự sảng khoái, trạng thái vui chơi, phát triển khả năngvượt qua những trạng thái tâm lí tiêu cực
GDTC với giáo dục đạo đức
+ Lứa tuổi mầm non là lứa tuổi nhỏ vì vậy mà khả năng kinh nghiệmđạo đức của trẻ còn hạn chế và khả năng tự ý thức còn yếu, nên khả năng tựđánh giá hành vi bản thân và các bạn cùng tuổi còn hạn chế rất nhiều
+ Trong các tiết học thể dục, TCVĐ, thể dục sáng, được giáo viên nhậnxét Chính điều này đã tạo nên cho trẻ những hiểu biết nhất định về đạo đức.Mặt khác, do trẻ phải vận động trong tập thể, phải tuân theo những quy tắcnhất định, biết điều khiển hành vi của mình trong bài tập Vì vậy, đã giúp trẻphát triển một số thói quen, phẩm chất đạo đức như có thiện ý, hứng thúđối với hoạt động tập thể, lòng mong muốn giúp đỡ lẫn nhau, khiêm tốn,tính thẳng thắn, trung thực, d ng cảm,…
GDTC với giáo dục thẩm mỹ
+ GDTC là tiền đề tạo điều kiện cho giáo dục thẩm mỹ Trong quá trìnhthực hiện các bài tập thì các động tác cần dược thực hiện một cách khéo léo,nhịp nhàng, sẽ tác động đến nhận thức của trẻ về vẻ đẹp của thân thểcon người khi vận động, cái đẹp của động tác trong các bài tập
+ Khi giảng dạy cho trẻ những bài tập thì giáo viên cần làm mẫu chotrẻ quan sát, với trẻ giáo viên luôn là chuẩn mực Vì vậy, những động tác củagiáo viên cần đẹp và chính xác để trẻ học và làm theo cái đẹp đó
Trang 26GDTC với giáo dục lao động
+ Giáo dục lao động cho trẻ mầm non là điều không thể thiếu Có thểcho trẻ làm quen dần với các kỹ năng lao động đơn giản như trực nhật, nhặtrác,…
+ Trong các giờ học thể dục, giáo viên cho trẻ tham gia chuẩn bị và thudọn dụng cụ thể dục
1.8 Chế độ sinh hoạt hàng ngày cho trẻ mẫu giáo
Chế dộ sinh hoạt là điều kiện quan trọng để GDTC cho trẻ có kết quả.Khi chế độ sinh hoạt đã trở thành thói quen thì nó giúp trẻ tính độc lập tíchcực, sáng tạo của trẻ, giúp trẻ có những phẩm chất, thói quen đạo đức, sinhhoạt có nề nếp
Chế độ sinh hoạt cần đảm bảo những yêu cầu sau:
- Chế độ sinh hoạt ở trường mẫu giáo dựa trên những đặc điểmtâm, sinh lí của trẻ, trên những điều kiện sinh hoạt của trẻ
- Chế độ sinh hoạt cần đảm bảo thời gian cần thiết cho mỗi hoạt độngcủa các độ tuổi
- Chế độ sinh hoạt cần đảm bảo sự cân bằng giữa hoạt động và nghỉ ngơi,
giúp trẻ tiến hành dưới nhiều hoạt động khác nhau, tránh quá sức đối với trẻ
- Để đảm bảo chế độ sinh hoạt đúng ở trường mầm non, cần đảm bảocho trẻ chia trẻ thành các nhóm khác nhau phù hợp với từng lứa tuổi Mỗinhóm tuổi
1 lớp có chế độ sinh hoạt riêng nhằm đảm bảo chế độ sinh hoạt của trẻ
Chế độ sinh hoạt của trẻ 5 6 tuổi trong chương trình chăm sóc
-giáodục trẻ của Bộ Giáo dục và Đào tạo được trình bày ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Chế độ sinh hoạt của trẻ 5 - 6 tuổi trong chương trình chăm sóc - giáo dục trẻ của Bộ giáo dục và Đào tạo
TT Nội dung Thời gian (phút)
1 Đón trẻ, chơi tự do, thể dục sáng, điểm danh 70 - 80 phút
Trang 273 Chơi, hoạt động ở các góc 40 - 50 phút
Trang 284 Chơi ngoài trời 30 - 40 phút