Khu di tích lịch sử Cổ Loa là một khu du lịch đầy tiềm năng, manggiá trị lịch sử, kiến trúc quân sự và cả giá trị tinh thần qua lễ hội truyền thống.Tuy nhiên, việc bảo tồn, tôn tạo di tí
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
2 KHOA NGỮ VĂN
ĐĂNG THỊ HƯƠNG
QUỲNH
TIỀM NĂNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI KHU DU LỊCH CỔ LOA
(ĐÔNG ANH, HÀ
NỘI)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI
HỌC Chuyên ngành: Việt Nam
học
Trang 2HÀ NỘI – 2017
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
2 KHOA NGỮ VĂN
ĐĂNG THỊ HƯƠNG
QUỲNH
TIỀM NĂNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI KHU DU LỊCH CỔ LOA
(ĐÔNG ANH, HÀ
NỘI)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI
HỌC Chuyên ngành: Việt Nam
học
Người hướng dẫn khoa học
ThS Trần Hạnh Phương
Trang 4HÀ NỘI – 2017
Trang 5Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo
đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rènluyện tại khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo ThS Tr ần Hạnh Phương đã nhiệt
tình, chu đáo chỉ bảo, hướng dẫn em thực hiện khóa luận
này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnhnhất, song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cậnvới thực tế cũng như sự hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm nên không thể tránhkhỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong được sự góp ý của quý thầy, côgiáo và các bạn đồng nghiệp để khóa luận hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm
2017
Sinh viên
Đăng Thị Hương Quỳnh
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi trình bày trong khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của ThS Trần Hạnh Phương
Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của cá nhân mình trong khóa
Trang 82.1.3.Dân cư 182.2.Tiềm năng phát triển tài nguyên du lịch văn hóa Cổ Loa
19
2.2.1.Lễ hội Cổ Loa 19
2.2.2.Kho tàng di sản văn hóa CổLoa 222.2.3.Cơ sở hạ tầng du lịch tại Cổ Loa 392.3.Thực trạng khai thác phát triển du lịch ở Cổ
Loa 40
2.3.1.Thực trạng về công tác tổ chức, quản lý của các ban, ngành với hoạt
động du lịch ở Cổ Loa 40
2.3.2.Tổ chức khai thác du lịch ở làng CổLoa 41
Trang 92.3.3.Số lượng du khách tham quan du lịch tại làng Cổ
sử văn hóa khu di tích Cổ Loa phục vụ phát triển du lịch
443.2.1.Định hướng quy hoạch du lịch khu di tích Cổ Loa
Trang 10Cùng với sự phát triển của ngành du lịch trên thế giới, du lịch Việt Namcũng đang trên đà phát triển và hội nhập nhưng vẫn còn nghèo nàn, nhỏ lẻ vàmanh mún Khu di tích lịch sử Cổ Loa là một khu du lịch đầy tiềm năng, manggiá trị lịch sử, kiến trúc quân sự và cả giá trị tinh thần qua lễ hội truyền thống.Tuy nhiên, việc bảo tồn, tôn tạo di tích cũng như phát triển du lịch nơi đây vẫnchưa đồng bộ và chưa khai thác được hết giá trị của nó.
Bên cạnh đó, thời gian vừa qua tôi đã được thực tập, trải nghiệm thực tếtại Công ty Cổ phần du lịch quốc tế Hùng Vương, được đồng hành cùng tất
cả mọi người trong công ty có những chuyến tham quan thực tế, hướng dẫnkhách du lịch tại Cổ Loa, Chính những kinh nghiệm thực tế đó đã giúp tôilàm tốt khóa luận tốt nghiệp này
Hơn thế nữa, Cổ Loa -quê hương của tôi đứng trước thực trạng chínhnhững người dân nơi đây cũng đang dần quên lịch sử hào hùng của mảnh đất
này Xuất phát từ những thực tiễn đó, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Tiềm
năng và định hướng phát triển du lịch văn hóa tại khu du lịch Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội)” với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào sự
nghiệp đổi mới, phát triển, bảo tồn giá trị văn hóa của quê hương nói riêng và đ
ất nước nói chung
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về Cổ Loa đã có từ lâu, vào những năm 60 của thế kỷ XX vàliên tục cho đến những năm đầu của thế kỉ XXI Cổ Loa thân thuộc với giảngviên và sinh viên khoa lịch sử trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn(Đại học Quốc gia Hà Nội) Một trong những người nặng lòng với Cổ Loa và
có nhiều công trình nghiên cứu về vùng đất này là GS Trần Quốc Vượng
Trang 11Trước Cách mạng tháng Tám (1945) các công trình địa chí ghi chép bằngchữ Hán về Cổ Loa có giá trị như “Cổ Loa xã chí”, “Cổ Loa thành sự tích điềnthổ sắc phong hợp biên” Tiếp nối những truyền thống nghiên cứu về Cổ Loa
và biên soạn sách “Địa chí làng xã Hà Nội”.Năm 2007, văn phòng Ban chỉđạo kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội cùng Viện Việt Nam học và Khoahọc phát triển đã công bố với bạn đọc cuốn sách “Địa chí Cổ Loa” dày 670 trang
do PGS.TS.Vũ Văn Quân đồng chủ biên
Bên cạnh những cuốn sách nghiên cứu toàn diện về Cổ Loa còn có một
số cuốn sách nghiên cứu một phần nhỏ về Cổ Loa như “Non nước Việt Nam”của Vũ Thế Bình, “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của Trần Quốc Vượng…
Kế thừa và tiếp thu kết quả của những tác giả đi trước, kết hợp với nguồn
tư liệu có được, tôi mong muốn thực hiện việc tìm hiểu, nghiên cứu về khu ditích Cổ Loa góp phần lưu giữ, tổng hợp những tư liệu nghiên cứu về khu di tíchnày
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: du lịch văn hóa
Phạm vi nghiên cứu: khu di tích Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
4 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng phát triển du lịch ở Cổ Loa
- Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại Cổ Loa
- Đề xuất các giải pháp khai thác, bảo vệ và phát triển khu di tích Cổ Loa
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu nhập, phân tích và xử lý tài liệu
- Phương pháp khảo sát thực địa
- Phương pháp phỏng vấn
6 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận góp phần làm sáng tỏ thêm những hiểu biết về khu di tích lịch
sử văn hóa Cổ Loa; những giá trị, ý nghĩa mà khu di tích này mang l ại, đồngthời là những định hướng mục tiêu giải pháp cho phát triển du lịch nơi đây
Trang 12Khóa luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu, học tập
Trang 13sau này.
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài các phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận bao gồm 3
Trang 14CHƯƠNG1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Khái niệm du lịch
Ngày nay du lịch đã trở thành hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến khôngchỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển trong đó có ViệtNam Do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗingười có cách hiểu về du lịch khác nhau
Định nghĩa du lịch theo quan điểm của Pirogionic: Du lịch là một dạnghoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan đến sự di chuyển và lưu lạitạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, pháttriển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa ho ặc thể thaokèm theo việc tiêu thụ những giá trị về mặt tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội, Theo quan điểm của PGS TS Trần Đức Thanh có thể tách nội dung thuật ngữ
du lịch làm 02 phần để định nghĩa, cụ thể:
- Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của
cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng caonhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh, có hay không kèm theo việc tiêu thụmột số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệpcung ứng
- Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinhtrong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗicủa cá nhân hay tập thể ngoài nơicư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nângcao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh
Định nghĩa du lịch trong Pháp lệnh Du lịch do Ủy ban Thường vụ Quốchội ban hành ngày 8-02-1999, tại CHƯƠNG I, Điều 19, có định nghĩa “Du lịch
là họat động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên cùa mình nhằm thỏamãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhấtđịnh” [25]
Như vậy du lịch là một khái niệm rộng, một phạm trù độc lập chứ khôngmang nghĩa hẹp Du lịch theo tiếng Hán là đi chơi có lịch trình Trong đó
“du” là rong chơi, còn “lịch” là lịch trình, sự sắp xếp về thời gian Chính vì vậy
Trang 15mới có thể phân biệt du lịch với các hình thức cư trú thường xuyên khác như đi
du học, đi học xa,
Trang 16làm xa,… Người ta quy ước rằng chỉ có hoạt động rời khỏi nơi cư trú thườngxuyên và không vì mục đích kiếm tiền nhưng dưới 24 giờ thì gọi là tham quan.Trên thực tế khái niệm du lịch rộng hơn tham quan, nó bao trùm cả tham quancùng với đi lại, ăn uống, nghỉ ngơi gọi là du lịch.
Ngày nay các loại hình du lịch càng được đa dạng hóa, chuyên môn hóa
để đáp ứng một cách tốt nhất, đầy đủ nhất cho nhu cầu du lịch của du khách.Với sự phát triển về mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội, du lịch trở thành mộtnhu cầu quan trọng của người dân nhiều nước trên thế giới Muốn du lịchthực sự phát triển, khách du lịch đông hơn thì đòi hỏi sự nỗ lực từ nhiều mặtcủa nhiều bên Trước tiên là sự phát triển kinh tế của người dân vì kinh tế làmột phần thiết yếu cấu tạo nên hành trình du lịch Sau đó là sự quản lý của Nhànước về du lịch, sự tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường quảng cáo,tuyên truyền, thu hút khách của Nhà nước, của các hãnglữ hành
Đối với nước ta là một quốc gia đang phát triển, do vậy có thể nói mộtcách khách quan là điều kiện xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở đón tiếp khách vàdịch vụ bổ sung, các loại hình du lịch còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó nước ta
có những điều kiện thuận lợi là tài nguyên du lịch thiên nhiên rất phong phú, có
bề dày lịch sử văn hóa với nhiều công trình kiến trúc tuy không to lớn, đồ sộnhưng rất tinh tế và độc đáo với nhiều phong tục tập quán có giá trị nhân vănsâu sắc Đó cũng chính là điều kiện thuận lợi để phát triển thế mạnh du lịch nghỉdưỡng và du lịch văn hóa
1.2 Khái niệm văn
hóa
Ngay từ thuở lọt lòng, chúng ta đã đắm mình trong chất men văn hoá: từlời ru của mẹ, bài học của cha, trò chơi của chị… cho đến tiếng gọi đò bênsông, tiếng võng đưa kẽo kẹt lúc trưa hè, tiếng chuông khi chiều xuống… - tất
cả, tất cả những sự kiện đó, những ấn tượng đó, những âm thanh đó, nhữnghình ảnh đó đều thuộc về văn hóa Cái tinh thần như tư tưởng, ngôn ngữ… làvăn hoá; cái vật chất như ăn, ở, mặc… cũng là văn hoá Chính văn hoá đã nuôichúng ta lớn, dạy chúng ta khôn Người ta nói: văn hóa ẩm thực, văn hoá trang
Trang 17phục, văn hoá ứng xử, văn hoá tiêu dùng, văn hoá kinh doanh, văn hóa chínhtrị, văn hoá Đông Sơn, văn hoá Hoà Bình,
Trang 18văn hoá rìu vai… Từ "văn hoá" có biết bao nhiêu là nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau.
Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng,
khái niệm “văn hoá” bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính:
Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiềurộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóađược hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệthuật…) Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trịtrong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…) Giới hạn theokhông gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng(văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…) Giới hạn theo thời gian, văn hoáđược dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoáĐông Sơn…)…
Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xtôi là bao gồm tất cả những gì docon người sáng tạo ra Trong cuốn “Nhật kí trong tù”, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì
lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo vàphát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, vănhọc, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và cácphương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòihỏi của sự sinh tồn” [17, tr 431] Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO,cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vờitrong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa baogồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sảnphẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống
và lao động Cách hiểu thứ hai nà y đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tạiHội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm
1970 tại Venise” [43, tr.5]
Chính với cách hiểu rộng này, văn hoá đã trở thành đối tượng của văn hóa học
Trang 19(culturology, culture studies, science of culture) - khoa học nghiên cứu về văn
hóa
Trang 20Trong lĩnh vực này, khởi đầu từ định nghĩa của E.B.Tylor trong cuốn Vănhoá nguyên thuỷ (Primitive culture) xuất bản ở London năm 1871, đến nay
đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau Vào năm 1952, hai nhà nhân họcngười Mỹ là A Kroeber và C Kluckhohn đã viết một cuốn sách chuyên bàn
về các định nghĩa văn hóa nhan đề: Văn hóa - tổng luận phê phán các quanniệm và định nghĩa (Culture: a critical review of concepts and definitions),trong đó đã dẫn ra và phân tích 164 định nghĩa về văn hoá Trong lần xuấtbản thứ hai của cuốn sách này, số định nghĩa văn hoá đã tăng lên đến trên 200.Còn hiện nay thì số lượng định nghĩa về văn hóa khó mà biết chính xác được:
có người bảo là 400, có người nói là 500, lại có người quả quyết rằng chúng lênđến con số nghìn…
Sẽ không phải là xa sự thật, nếu nói rằng có bao nhiêu nhà nghiên cứu vănhóa thì có bấy nhiêu định nghĩa về văn hoá Song, lại cũng có một sự thật khác
là dù số lượng định nghĩa văn hoá có nhiều bao nhiêu đi nữa thì, chung qui lại,chúng vẫn chỉ xoay quanh một số khuynh hướng cơ bản
Xét theo cách thức thì ta thấy có hai loại - định nghĩa miêu tả và địnhnghĩa nêu đặc trưng
Định nghĩa miêu tả liệt kê các thành tố của văn hóa, ví dụ như theoE.B.Tylor (1871), văn hóa “là một phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệthuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác màcon người như một thành viên của xã hội đã đạt được” [44, tr 32]
Trong loại định nghĩa nêu đặc trưng thì có thể gặp ba khuynh hướng lớn: Khuynh hướng thứ nhất coi văn hóa là những kết quả (sản phẩm) nhất định
Đó có thể là những giá trị, những truyền thống, những nếp sống, những chuẩn
mực, những tư tưởng, những thiết chế xã hội, những biểu trưng, ký hiệu, những thông tin… mà một cộng đồng đã sáng tạo, kế thừa, và tích luỹ.
Khuynh hướng thứ hai xtôi văn hoá như những quá trình Đó có thể
là những hoạt động sáng tạo, những công nghệ, những qui trình, những
Trang 21phương thức tồn tại, sinh sống và phát triển, cách thức thích ứng vớimôi trường, phươngthức ứng xử của con người…
Trang 22Khuynh hướng thứ ba xtôi văn hoá như những quan hệ, những cấu trúc…giữa các giá trị, giữa con người với đồng loại và muôn loài.
Tất cả các khuynh hướng định nghĩa khác nhau ấy đều có hạt nhân hợp lý của
mình, sự khác biệt giữa chúng chủ yếu là do các tác giả đã quá nhấn mạnh vàokhía cạnh này hay khía cạnh khác của khái niệm mà thôi Dù theo khuynhhướng nào, mọi định nghĩa văn hoá đều chứa một nét nghĩa chung là “conngười”, đề u thừa nhận và khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa văn hóa với conngười
Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa nhưng nói chung ta
có thểđịnh nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giátrị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình họatđộng thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xãhội cùa mình
1.3 Khái niệm về du lịch văn
hóa
Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà khách muốn tìm hiểu và thẩm nhận
về văn hóa, lịch sử dân tộc của nước sở tại thông qua di sản văn hóa, di tích lịch
sử văn hóa, lễ hội truyền thống, những phong tục tập quán, cách tổ chứccộng đồng, lối sống của một dân tộc v.v Du lịch văn hóa sử dụng nguồn Tàinguyên du lịch văn hóa để làm nền tảng xây dựng sản phẩm của nó Về tàinguyên du lịch văn hóa, theo Khoản 1/ Điều 13/ Luật Du lịch 2005 nêu rõ:
“Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố vănhóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, cáccông trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phivật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch” [16] Trong loạihình Du lịch Văn hóa có thể được chia nhỏ thành nhiều loại du lịch khách như:
du lịch di tích lịch sử, du lịch phố cổ, du lịch lễ hội, du lịch di sản văn hóa nổitiếng v.v Ngoài ra, chúng ta còn có Du lịch Văn hóa đại trà cho nhiều đốitượng và Du lịch Văn hóa chuyên sâu cho một vài loại khách đặc biệt tìm hiểusâu về văn hóa Cũng theo Khoản 20/ Điều 4/ Luật Du lịch 2005: “Du lịch văn
Trang 23hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia củacộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống” [16].
Như vậy chúng ta thấy rằng Du lịch văn hóa trước hết là một loại hình dulịch cũng như nhiều loại hình du lịch khác Du lịch văn hóa lấy chỗ dựa là tàinguyên du
Trang 24lịch văn hóa đó là bản sắc văn hóa dân tộc (theo Luật Du lịch 2005), nhưng nóirộng ra là dựa vào văn hóa mà văn hóa là tất cả những gì con người sáng tạo
ra và tích lũy trong quá trình sống của mình [16]
Du lịch văn hóa tận dụng tất cả các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể có sức
hấp dẫn du khách và trở thành một bộ phận của tài nguyên du lịch Du lịch vănhóa còn là phương thức để đánh thức giá trị văn hóa tiềm năng của một dân tộc.Thông qua du lịch, các giá trị văn hóa phát lộ và đtôi lại lợi ích thiết thực choquốc gia, dân tộc Nhờ có du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng mànhiều quốc gia-dân tộc trên thế giới đã tiến hành trùng tu, tôn tạo các di tíchlịch sử văn hóa vật chất, phục nguyên các giá trị văn hóa tinh thần vốn lâu nay
bị lãng quên hay chìm đắm vì nhiều sự kiện khác của quốc gia-dân tộc xảy ra.Nhờ có du lịch văn hóa mà các di sản văn hoá được bảo vệ, trùng tu, tôn tạođồng thời với việc xây dựng mới các công trình văn hoá đương đạilàm phongphú thêm giá trị của văn hoá đương đại của quốc gia-dân tộc
1.4 Khái niệm về tài nguyên du lịch nhân
Trang 25Tài nguyên du lịch nhân văn gồm các loại tài nguyên nhân văn vật thểnhư: các di tích lịch sử, các di tích lịch sử văn hóa, các công trình đương đại, vật
kỉ niệm, bảo vật quốc gia Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể gồm các lễhội, nghề và làng nghề truyền thống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực,phong tục, tập quán,
Trang 26ngôn ngữ, chữ viết, tôn giáo, các nguồn thông tin và nguồn tri thức khoa học, kinh nghiệm sản xuất.
1.5 Khái niệm về lễ hội
Mỗi vùng miền, mỗi quốc gia lại có hình thức tổ chức lễ hội khác nhau.Chính vì thế mà đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hình thái sinh hoạtvăn hóa này
Ở Việt Nam, khái niệm lễ hội mới chỉ xuất hiện cách đây không lâu Trướchết chỉ có khái niệm lễ hoặc hội Cả hai khái niệm này đều là từ gốc Hán đượcdùng để gọi một số loại hình phong tục, chẳng hạn như: Lễ Thành Hoàng, LễGia tiên,… Cũng như vậy trong hội cũng có nhiều hội khác nhau như: Hội Gióng,Hội Lim, Hội chọi trâu,… Thêm chữ “Lễ” cho chữ “hội”, thời nay mong muốngắn hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng này có ít nhất hai yếu tố cũng làhai đặc trưng đi liền với nhau Trước hết là lễ bái, tế lễ thần linh, cầu phúc vàsau là thăm thú chơi vui ở chốn đông đúc, vui vẻ
Trong “Từ điển tiếng Việt” lại có định nghĩa về “lễ hội” như sau: Lễ là hệthống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đốivới tâm linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộcsống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện Hội là sinh hoạt văn hóa, tôngiáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại
và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc chotừng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc,
sự bội thu của mùa màng mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốnchữ “nhân khang, vật thịnh” [24, tr 190]
Trong cuốn “Hội hè đình đám”, tác giả cho rằng: “Hội và lễ là một sinhhoạt văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam Hội và lễ có sức hấp dẫn, lôi cuốncác tầng lớp trong xã hội cùng tham gia để trở thành một nhu cầu, một khátvọng của nhân dân trong nhiều thập kỉ [2, tr 12]
Trong cuốn “Lễ hội cổ truyền” - Phan Đăng Nhật lại cho rằng: “Lễ hội làmột pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vô số những phong tục, tín ngưỡng, văn
Trang 27hóa, nghệ thuật và cả các sự kiện xã hội - lịch sử quan trọng của dân tộc… Lễhội còn là nơi bảo tồn, tích tụ văn hóa (theo nghĩa rộng) của nhiều thời kì lịch
sử trong quá khứ dồn nén lại cho tương lai” [38, tr 25]
Trang 28Như vậy ta thấy “lễ hội” là một thể thống nhất không thể tách rời Lễ làphần đạo đức tín ngưỡng, phần tâm linh sâu xa trong mỗi con người Hội là cáctrò diễn mang tính nghi thức, gồm các trò chơi dân gian phản ánh cuộc sốngthường nhật của người dân và một phần đời sống cá nhân nhằm kỷ niệm một
sự kiện quan trọng với cả cộng đồng
Trang 29CHƯƠNG2 THỰC TRẠNG, TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN
DU LỊCH Ở CỔ LOA 2.1 Khái quát về Cổ Loa
2.1.1 Vị trí địa lý, tên gọi
“Ai về qua huyện Đông Anh Ghé thăm phong cảnh Loa Thành Thục
Vương
Cổ Loa hình ốc khác thường Trải bao năm tháng dấu thành còn
đây”
Câu ca dao xưa như nêu được toàn cảnh ngôi thành cổ này Thành CổLoa cùng các công trình tưởng niệm về thời An Dương Vương Thục Phán hiệnthuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội Vị trí của thành cáchtrung tâm thủ đô khoảng 12km về phía Bắc, tính theo đường chim bay Xã CổLoa thuộc xã miền Đông, Đông Anh; Phía Bắc giáp xã Uy Nỗ, xã Việt Hùng; PhíaĐông giáp xã Dục Tú; phía Nam giáp xã Xuân Canh, xã Mai Lâm, xã Đông Hội;Phía Tây giáp xã Xuân Nộn, xã Vĩnh Ngọc Từtrung tâm huyện Đông Anh xuốngtới Cổ Loa không xa, tính đường thẳng chỉ hơn 2km Thành Cổ Loa chủ yếunằm trên địa bàn xã Cổ Loa, có một chút thành ngoại nằm trên địa bàn xã ViệtHùng và Dục Tú
Trải qua thời gian, Cổ Loa có nhiều lần thay đổi tên gọi và địa bàn hànhchính: cổ xưa, Cổ Loa là đất Chạ Chủ, kinh đô của các quốc gia Âu Lạc, là trụ sởTây Vu thời thuộc Triệu, trụ sở Phong Khê thời thuộc Hán
Đến thời kế sau, Cổ Loa được gọi là trang Kim Lũ thuộc huyện ĐôngNgàn, đạo, xứ, lộ trấn kinh bắc đến năm 1822 đổi thành tỉnh Bắc Ninh Đầuthế kỷ 20, thành lập tỉnh Phù Lỗ, năm 1905 sáp nhập và đổi tên thành PhúcYên với hai Phủ Đa Phúc, Yên Lãng và hai huyện Đông Anh và Kim Anh CổLoa là một trong 6 tổng của huyện Đông Anh thuộc tỉnh Phúc Yên thời đó Đếntrước cách mạng tháng
Trang 308 - 1945 Cổ Loa là xã thuộc Tổng Cổ Loa, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên,sau cách mạng tháng 8 - 1945 đổi tên xã gọi là Thục Vương, sau đó sáp nhậpcùng Vĩnh Yên thành tỉnh Vĩnh Phúc năm 1950 Đến năm 1960 - 1961 ĐôngAnh sáp nhập về Hà Nội, tên xã lúc đó gọi là Quyết Tâm Đến năm 1966 tên xãđổi lại thành Cổ Loa.
Trang 31Năm 1974 cắt thôn Đài Bi về xã Uy Nỗ, xã Cổ Loa sau đó được giữ nguyên tên
và địa bàn hành chính gồm thôn Cổ Loa với nhiều xóm cùng các thôn như: ThưCưu, Mạch Tràng, Cầu Cả, Sần Giã,…
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Căn cứ trên cứ liệu các di chỉ khảo cổ học của lòng đất Cổ Loa, khẳngđịnh nơi đây sớm được người Việt cổ cư trú, sinh sống Lòng đất Cổ Loa vàcác vùng xung quanh đã phát hiện dấu vết lao động của con người từ thời kỳcách ngày nay hàng vạn năm Có nhiều di tích khảo cổ học như: Đồng Vông, BãiMèn, Xuân Kiều, Tiên Hội, Đình Chàng, Đường Mây,…đã được phát hiện vànghiên cứu Các di chỉ khảo cổ học tập trung có niên đại thuộc giai đoạn vănhóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và nhất là giai đoạn văn hóa ĐôngSơn Các di chỉ khảo cổ học được phát hiện này lưu giữ nhiều hiện vật đồ đá,
đồ đồng, đồ gốm,…trên cơ sở nghiên cứu các di chỉ khảo cổ này, các nhàkhoa học đã kết luận: Cổ Loa là một trung tâm nền văn minh Sông Hồng Vàothời kỳ lịch sử cách ngày nay 3 -4 ngàn năm, Cổ Loa là một trung tâm cư trúđông đúc của người Việt Cổ Niên đại các di chỉ khảo cổ học Cổ Loa khôngđồng nhất: cách ngày nay từ 4000 đến 2200 năm, tập trung chính vào giaiđoạn văn hóa Đông Sơn
Thời kỳ Văn Lang, Cổ Loa là một trung tâm cư trú của người Việt Cổ để sau
đó sớm trở thành thủ đô, trung tâm của nước Âu Lạc Sau thắng lợi chống quânxâm
lược nhà Tần (từ năm 218 đến năm 208 trước Công nguyên), Thục Phán đã lênngôi Vua, thay thế các Vua Hùng Thục Phán xưng hiệu là An Dương Vươngđổi tên nước thành Âu Lạc và chuyển kinh đô từ Bạch Hạc - Việt Trì xuống CổLoa Đại Việt Quốc Sử diễn ca có ghi:
“Thục từ đất nước Văn
Lang Đổi tên Âu Lạc dời sang Loa Thành”
Trang 32Nói về thân thế của Vua Thục An Dương Vương Nhiều tư liệu khác nhaucho biết về nguồn gốc cũng như việc An Dương Vương dựng nước Âu Lạc Cómột vài nguồn dữ liệu sau đây:
“…Giáp Thìn, năm thứ nhất (257 TCN) (Chu Noãn Vương năm thứ 58) Vua lấy
binh diệt nước Văn Lang Lúc đầu Vua thường đánh Hùng Vương nhưng HùngVương
Trang 33quân khỏe, tướng mạnh, nhiều lần Vua bị thua to Hùng Vương bảo: Ta có sứcmạnh của thần, nước Thục không sợ ư! Rồi bỏ việc quân, không chuẩn bị, ngàyngày chỉ ăn chơi mải chiếm lấy nước Văn Lang Âu Lạc, quân Thục kéo đến nơivẫn còn say mềm chưa tỉnh, rồi thổ huyết nhảy xuống giếng chết Quân còn lạiquay giáo xin hàng Thục Vương mới thôn tính nước ấy, đổi quốc hiệu là Âu Lạc,
“Lại nói đến nước Việt Nam thủa ấy có người bố chủ đất Ai Lao, họ Thục,tên Phán, …hiệu là An Dương Vương…khi trưởng thành thì văn tài, võ giỏikhông ai sánh kịp,…khi nghe tin Duệ Vương cao tuổi lại nhường ngôi cho con rể
là Tản Viên Sơn Thánh thì liền động binh, cầu viện các nước láng giềng,…ThụcChúa là tông phái của Hoàng Đế trước, Làm Chúa Tể một phương…cơ đồ nhàHùng đã hết, ý trời cáo chung Nhân việc cầu hóa, Triệu An Dương Vươngđến nhường ngôi của mình cho ông ta…”
(Thần tích lưu giữ tại đình Đài Bi xã Uy Nỗ, Đông Anh)
“…Người Lạc Việt và người Tây Âu vốn từ lâu đã có mối quan hệ kinh tế văn hóa gần gũi Thủ lĩnh người Tây Âu ngày càng lớn mạnh,… Trước cuộc xâmlăng của quân Tần, Vua Hùng và Thục Phán chấm dứt xung đột, cùng chiến đầuchống ngoại xâm, kháng chiến thắng lợi, Thục Phán vớt tư cách là người chỉ huychung đã được thay thế Hùng Vương lên làm vua, đặt tên nước là Âu Lạc…” [21,
-tr 48]
Trang 34Mặc dù thân thế của Vua An Dương Vương đến nay vẫn chưa rõ ràng
và thống nhất nhưng chúng ta có t hể khẳng định rằng triều đại An DươngVương là có thật trong lịch sử Nước Âu Lạc của Vua An Dương Vương trởthành một nước có
Trang 35nhiều dân tộc, có miền núi, có miền xuôi, rừng vàng, biển bạc, tạo thành mộtkhối
đoàn kết vững chắc, có khả năng xây dựng một quốc gia tự
chủ
Sau khi lên ngôi, việc trước tiên của An Dương Vương là chọn một nơithích hợp để định đô mới Theo truyền thuyết, Vua cùng các thần, tướng sỹ vàquân lính rời vùng Bạch Hạc, Việt Trì theo sống để về xuôi Vua đã dừng chân
ở vùng đất Tổ (xã Uy Nỗ ngày nay) dựng trại đóng binh Người dân Tó vẫn tựhào là vùng đ ất mà vua đã chọn đầu tiên cho việc xây dựng kinh đô cổ Họcòn lưu truyền mãi câu chuyện Vua An Dương Vương
“Khi An Dương Vương đóng binh ở Tó, ngày ngày vua cùng cận thần dắtchó đi săn Bầy chó của Vua không hiểu sao cứ chạy sang đất đai của Chạ Chủ(Cổ Loa ngày nay) Rồi một hôm, chó quý của Vua biến mất Vua sai người đitìm khắp nơi Sau một thời gian tìm kiếm, quân sỹ về tâu với vua rằng chó quý
đã sang ChạChủ và đẻ đàn con trên đỉnh một gò đất bên đó Vua sang thămchó quý và thấy trước mắt một phong cảnh nhộn nhịp thuyền bè tấp nập, trênbến dưới thuyền, người đông như hội, mạch đất cao thoải dần từ Bắc xuốngNam,… Sau khi đã xtôi xét kỹ lưỡng vùng đất mới, An Dương Vương bàn với cáctướng sỹ quyết định chọn ChạChủ (Cổ Loa) để xây dựng kinh đô Vùng đất mà
An Dương Vương đã chọn cho thấy ông quả là người dũng lược tài ba, đ ất CổLoa khi ấy quả thật là trung tâm đất nước, là nơi cao ráo, thoáng đãng, gầnnguồn nước giao thông thuận tiện…” [22, tr 64]
“Theo ý đồ của An Dương Vương, thành mới phải là pháp đài c ủa lục quânvà
là căn cứ vững chắc của thủy quân, ngoài ra nơi Vua và Hoàng gia ở nhất thiếtphải
được bảo vệ cẩn mật sau đó là nơi ở của các quan đ ại thần, dân chung ở ngoàithành nhất thiết là như vậy…” [22, tr 71]
Để lấy đất dựng thành, Vua An Dương Vương chủ động di dời dân Chạ Chủ đi
Trang 36nơi khác Theo truyền thuyết An Dương Vương “Dồn dân chiếm đất” Vua némmột hòn đá cuội về phíaĐông Bắc, dân làng men theo triền sông đi mãi và đếnlập làng ở khu đất cuối sông cho nên gọi là làng Quậy (Chữ “quậy” đọc lệch chữ
“cuội” mà ra)
Việc An Dương Vương xây đắp Loa Thành cũng có nhiều sử liệu cuối cùnglịch sử đã khẳng định một thực tế Thành Cổ Loa có thực đến nay vẫn tồn tạithách thức với thời gian nghiệt ngã
Trang 37Theo Đại Việt sử ký toàn thư “…Bấy giờ Thục Vương đ ắp thành ởViệt Thường, rộng nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc cho nên gọi là LoaThành, lại có tên là Thành Tư Long,…Thành này cứ đắp xong lại sụt, Vua lấylàm lo mới trai giới khấn trời đất và thần kỳ núi sông, rồi khởi công đắp lại,…Mùa xuân, tháng ba chợt có thần nhân đến cửa thành, trở vào thành cười mànói rằng “Đắp đến bao giờ cho xong” Vua mời vào điện hỏi, thần nhân trả lời
“Cứ đợi Giang Sứ đến” rồi cáo từ đi ngay Sáng hôm sau, Vua ra cửa thànhthấy một con Rùa vàng bơi trên sông từ phía Đông đến, xưng là Giang Sứnói được tiếng người, bàn được việc tương lai, Vua hỏi nguyên nhân thành s
ụp, Rùa vàng đáp: “Đó là tinh khí núi sông vùng này vị con vua trước phụ bào
để báo thù nước, nấp ở núi Thất Diệu, trong núi có con quỷ, đó là người congái thời trước chết chôn ở đây hóa làm quỷ, cạnh đấy có cái quán, chủ quántên là Ngộ Không, có một đứa con gái và một con gà trắng, là dư khí của tinh,phàm là người qua lại ngủ đêm ở đấy đều bị chết và bị quỷ làm hại, chúng cóthể hợp với nhau thành đàn lũ, làm cho sụp thành Nếu giết con gà trắng đểlàm trừ tinh khí ấy đi thì tự nhiên thành sẽ bền vững” Vua đtôi Rùa vàngđến quán ấy, giả làm người ngủ trọ Nói với chủ quán “Sống chết có mệnh, maquỷ làm gì nổi” rồi ngủ lại quán Đến đêm nghe tiếng tinh quỷ từ ngoài đếngọi cửa, rùa vàng liền quát mắng, quỷ không vào được, đến khi gà gáy thì lũquỷ tan, chạy hết, Rùa vàng xin Vua đuổi theo tới núi Thất Diệu thì tinh khíbiến mất Vua trở về quán, sáng sớm Chủ quán tưởng Vua đã chết rồi gọingười đến để khâm liệm đtôichôn.Thấy Vua vẫn vui vẻ, cười nói, chủ quánliền suy lại nói: “Ngài làm được như thế, tất phải là thành nhân” Vua xin con gàtrắng giết thịt để tế, gà chết, con gái chủ quán cũng chết theo Vua liền saingười đào núi thấy có nhạc khí cổ và xương người thành tro rồi thả xuốngsông, yêu khí mới mất hẳn, từ đấy đắp thành không quá nửa tháng thì xong.Rùa vàng cáo từ ra về, Vua cảm tạ hỏi rằng: “Đội ơn ngài đắp thành đãvững, nếu có giặc ngoài đến thì lấy gì mà chống giữ?” Rùa vàng bèn rút chiếcmóng đưa cho Nhà Vua và nói: “Nước nhà yên hay nguy đều do trời, nhưng
Trang 38ngươi cũng nên phòng bị, nếu có giặc đến thì dùng móng thiêng này làm bẫy
nỏ, nhằm vào giặc mà
Trang 39bắn thì chẳng phải lo gì” Vua sai bề tôi là Cao Lỗ làm Nỏ Thần, đặt tên làLinh
Quang Kim Trào Nỏ Thần
Theo truyền thuyếtkể lại, dân Âu Lạc đắp thành 18 năm ròng rã, cho đếnnay toà thành vẫn sừng sững và bên trong đó nó còn ẩn chứa nhiều truyềntích lưu truyền trong dân gian Nào việc tiên gánh đất xây thành đã để đấtlọt xảo thành những gò luỹ cùng tích các làng Tiên Hội, Đa Hội, chuyện RùaVàng trừ Bạch kê tinh, Nỏ thần,… Gạt bỏ bức màn huyền thoại ta thấy đểlàm nên Thành Cổ Loa, Vua An Dương Vương đã phải huy động sức dân khôngphải ở một huyện, một tỉnh mà của cả nước Âu Lạc lúc bấy giờ Lại để phảnánhviệc xây thành vô cùng khó khăn, sự thật lịch sử hơn 2000 năm trước dokhí hậu, thiên nhiên khắc nghiệt, lợi dụng địa hình, địa vật của vùng đất CổLoa mà Vua An Dương Vương cho nối các gò đồi sẵn có, những chỗ đắp đấttrên vùng sình lầy, không có chân móng vững chắc, thành đắp ngày càngcao, sức lún ngày càng nhiều, dễ sụt lở nhất là vào mùa mưa lũ Trải qua baonhiêu ngày thất bại, người Âu Lạc đã nhận ra rằng: “Muốn đắp thành cho vữngthì phải chắc móng, phải kê đá tảng mới chống được sụt lở, kỹ thuật đắp thànhmới được phát minh” Thành Cổ Loa được đắp lại với một quyết tâm cao hơn.Nhân dân được huy động tối đa, nhiều công trường khai thác đã được dựnglên, chuyển đá về Cổ Loa làm kè, phế phẩm các lò gốm của nhân dân trongvùng
được chuyển đến ngày đêm, thành cứ cao dần, rộng dần và cuối cùng thành
đã đắp xong vòng trong, vòng ngoài sừng sững Đến nay, thành mới có thểđương đầu với bão lũ phong ba
Nước Âu Lạc đã có một pháo đài phòng vệ khổng lồ, từ đó Vua chuyên tâm
vào luyện quân, chống giặc, kỹ thuật đúc đồng phát triển mạnh, nền kinh tếvững chắc, nhà Vua ra sức phát huy tác dụng quân sự của Thành Cổ Loa
Thành Nội trong cùng có chu vi 1.650km, thành trung dài 6.5km, thànhngo ại dài 8km Thành Cổ Loa là một công trình phòng ngự vĩ đại, luỹ thành
Trang 40được đắp phía ngoài dựng đứng, phía trong thoai thoải, lại có hào sâu baoquanh rộng vài chục mét hợp thành hệ thống giao thông thuỷ thống nhất củathủ đô Âu Lạc.
Tướng quân Cao Lỗ được cử làm trấn Tướng Phía Bắc, ông là một côngthần khai quốc của nhà Thục Sau bao ngày đêm suy nghĩ, ông đã phát minh
ra loại nỏ