Do đó, trong quá trình dạy học bên cạnhviệc cung cấp cho HS các kiến thức về lí thuyết căn bản, các phương phápgiải bài tập còn phải rèn luyện kĩ năng thực hành cho HS.. Xuất phát từ nhữ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Hóa học vô cơ
Người hướng dẫn khoa học
ThS HOÀNG QUANG BẮC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập tại khoa Hoá học trường Đại học Sư phạm HàNội 2, bằng sự nỗ lực, cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ tận tình của Thầy,
Cô và bạn bè tôi đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo: ThS Hoàng
Quang Bắc đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ, có những góp ý chuyên môn
vô cùng quý báu cũng như luôn quan tâm, động viên tôi trước những khókhăn khi thực hiện khoá luận
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô giáo khoa Hoá học trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội 2 đã đào tạo và hướng dẫn để tôi có đủ điều kiện làmkhoá luận này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, những người đã luônủng hộ, thường xuyên động viên, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành đượckhoá luận này
Trong quá trình nghiên cứu và làm khoá luận tốt nghiệp do trình độ lýluận cũng như kinh nghiệm còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếusót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy giáo, Côgiáo và các bạn để khoá luận của tôi được hoàn thiện và mang lại hiệu quảcao hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2017
Sinh viên
Vũ Thị Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Giả thuyết khoa học 3
8 Cái mới của đề tài 3
NỘI DUNG 4
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Một số tài liệu đã xuất bản 4
1.1.2 Một số luận án, luận văn thạc sĩ, khoá luận tốt nghiệp 4
1.2 Phương tiện trực quan trong dạy học hoá học 6
1.2.1 Khái niệm 6
1.2.2 Phân loại phương tiện trực quan 7
1.2.2.1 Nhóm thí nghiệm trong nhà trường 7
1.2.2.2 Nhóm đồ dùng trực quan 7
1.2.2.3 Nhóm phương tiện kỹ thuật 7
1.2.3 Vai trò của phương tiện trực quan 7
1.2.4 Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học hoá học 8
1.2.4.1 Sử dụng đúng lúc 8
1.2.4.2 Sử dụng đúng chỗ 8
1.2.4.3 Sử dụng đủ cường độ 9
1.3 Bài tập hoá học 9
Trang 51.3.1 Khái niệm về bài tập, BTHH 9
1.3.2 Tác dụng của bài tập hoá học 10
1.3.2.1 Ý nghĩa trí dục 10
1.3.2.2 Ý nghĩa phát triển 11
1.3.2.3 Ý nghĩa giáo dục 11
1.3.3 Phân loại BTHH 11
1.3.3.1 Phân loại BTHH dựa vào nội dung 11
1.3.3.2 Phân loại BTHH dựa trên hình thức 12
1.3.3.3 Phân loại BTHH theo mức độ nhận thức 12
1.3.4 Sử dụng bài tập hoá học trong dạy học hoá học 12
1.3.4.1 Lựa chọn bài tập 12
1.3.4.2 Chữa bài tập 13
1.3.5 Xây dựng BTHH mới 13
1.4 Bài tập hoá học có sử dụng hình vẽ 14
1.4.1 Khái niệm 14
1.4.2 Phân loại bài tập có sử dụng hình vẽ 14
1.4.3 Vai trò của bài tập hoá học có sử dụng hình vẽ 14
Chương 2 CƠ SỞ XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HOÁ HỌC CÓ SỬ DỤNG HÌNH VẼ BẰNG PHẦN MỀM EDRAW MAX NHÓM HALOGEN VÀ OXI – LƯU HUỲNH LỚP 10 16
2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống BTHH có sử dụng hình vẽ
16 2.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập có sử dụng hình vẽ
17 2.3 Giới thiệu về phần mềm Edraw Max 19
2.3.1 Giới thiệu chung 19
2.3.2 Phần mềm Edraw Max trong thiết kế hình vẽ thí nghiệm hoá học 19
2.3.3 Quy trình vẽ hình sử dụng phần mềm Edraw Max 20
Trang 62.4.1 Kiến thức trọng tâm chương Nhóm Halogen 22
2.4.1.1 Khái quát chung 22
2.4.1.2.Các đơn chất halogen 23
2.4.1.3 Các hợp chất của halogen 24
2.4.2 Kiến thức trọng tâm chương Oxi – Lưu huỳnh 25
2.4.2.1 Oxi 25
2.4.2.2 Lưu huỳnh 27
Chương 3: KẾT QUẢ 31
3.1 Hệ thống bài tập chương Halogen 34
3.1.1 Mức độ nhận biết 34
3.1.2 Mức độ thông hiểu 39
3.1.3 Mức độ vận dụng 45
3.2 Hệ thống bài tập về chương Oxi – Lưu huỳnh 52
3.2.1 Mức độ nhận biết 52
3.2.2 Mức độ thông hiểu 56
3.2.3 Mức độ vận dụng 63
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC
Trang 71 Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng ta đã khẳng định: “Pháttriển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốcsách hàng đầu” và đồng thời cũng nhấn mạnh: “Đổi mới căn bản toàn diệnnền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dânchủ hoá và hội nhập quốc tế hoá” Do đó, trong những năm gần đây, ngànhGiáo dục và Đào tạo nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đểhướng tới một nền giáo dục tiến bộ, hiện đại, hoà nhập với xu hướng của cácquốc gia khác trong khu vực và trên thế giới
Nói riêng về môn Hoá học – môn khoa học thực nghiệm – là môn học
mà chúng ta cần áp dụng rất nhiều vào thực tiễn đời sống Vì vậy, HS cầnphải rèn luyện kĩ năng thực hành, có vốn kiến thức về sản xuất hoá học ngay
từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường Do đó, trong quá trình dạy học bên cạnhviệc cung cấp cho HS các kiến thức về lí thuyết căn bản, các phương phápgiải bài tập còn phải rèn luyện kĩ năng thực hành cho HS Bởi lẽ, giai đoạncác em HS thực hành được coi là bước trung gian để các em có thể chuyểnhoá những kiến thức lí thuyết đã học đến gần hơn với thực tế Ngoài ra, làmthực hành còn để kiểm nghiệm lại các kiến thức lí thuyết đã được học đồngthời cũng giúp các em HS nhớ được các kiến thức lí thuyết tốt hơn
Tuy nhiên, vì lí do nào đó mà không phải lúc nào người thầy cũng dạyđược cho các em HS theo kiểu “học đi đôi với hành” Do đó, những BTHH có
sử dụng hình vẽ sẽ là ngôn ngữ diễn tả ngắn gọn nhưng rất hiệu quả bản chấtcủa thực tiễn hoá học BTHH được coi là phương tiện cơ bản để dạy học vàvận dụng kiến thức hoá học để giải quyết các nhiệm vụ học tập, các vấn đềthực tiễn sản xuất có liên quan đến hoá học Trong dạy học hoá học, bài tập
Trang 8vừa là mục đích, vừa là nội dung và cũng là phương pháp dạy học có hiệu quảcao BTHH được xây dựng từ dễ đến khó để phù hợp với mọi đối tượng HS
Trang 9Tuy nhiên, những bài tập hoá học có sử dụng hình vẽ trong chương trìnhhoá học phổ thông hiện nay còn rất ít và cũng chưa được nhiều GV sử dụng.Trong khi đó, hiện nay trong các đề thi trung học phổ thông quốc gia chung
có ra dạng bài tập có hình vẽ Vì thế, vấn đề là làm thế nào để GV và HS sửdụng ngày càng nhiều và có hiệu quả những bài tập hoá học có hình vẽ?
Xuất phát từ những lí do đó, với mong muốn góp phần nâng cao chấtlượng học tập của HS cũng như cải thiện phương pháp dạy học đặc thù của bộ
môn nên tôi đã lựa chọn đề tài: “Xây dựng hệ thống bài tập có sử dụng
hình vẽ thiết kế bằng phần mềm Edraw Max trong dạy học phần “Phi kim” SGK hoá học 10 cơ bản” làm đề tài nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng được hệ thống các bài tập có sử dụng hình vẽ bằng phần mềmEdraw Max trong dạy học phần phi kim SGK hoá học 10 cơ bản làm phongphú thêm hệ thống bài tập Góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn,phát triển tư duy nhận thức, năng lực của HS
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng và sử dụng BTHH có sử dụng hình vẽlớp 10 THPT chương trình cơ bản
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hoá học ở trường phổ thông
4 Phạm vi nghiên cứu
Xây dựng hệ thống BTHH có sử dụng hình vẽ phần phi kim lớp 10 cơbản (các chương 5, 6)
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài
- Tìm hiểu hệ thống lí luận về bài tập hoá học, phương tiện trực quan, bàitập có sử dụng hình vẽ
- Nghiên cứu cấu trúc chương trình, nội dung kiến thức về chương
“Nhóm Halogen” và “Oxi – Lưu huỳnh” lớp 10 cơ bản
Trang 10- Tuyển chọn và xây dựng hệ thống BTHH có sử dụng hình vẽ chương
“Nhóm Halogen” và “Oxi – Lưu huỳnh” bằng phần mềm Edraw Max SGKhoá học lớp 10 cơ bản
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu kĩ những cơ sở lí luận về bài tập và cấu trúc chương trình,nội dung kiến thức phần hoá vô cơ: Nhóm halogen và oxi – lưu huỳnh theochương trình hoá học 10 cơ bản để xây dựng câu hỏi, lựa chọn hệ thốngBTHH theo định hướng phát triển của BTHH phổ thông
- Thu thập tài liệu và truy cập thông tin trên internet có liên quan đến đềtài
- Phương pháp phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu đã thu thập
7 Giả thuyết khoa học
- Nếu xây dựng được hệ thống câu hỏi có sử dụng hình vẽ có chất lượngtốt, bám sát nội dung chương trình sẽ góp phần làm phong phú hệ thốngBTHH Và nếu phối hợp với phương pháp giảng phù hợp sẽ góp phần nângcao chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy và học môn Hoá học ở trường phổthông, đặc biệt là trong chương “Nhóm Halogen” và “Oxi – Lưu huỳnh” lớp
10 cơ bản
- Nếu hệ thống câu hỏi được giới thiệu trên internet để các GV và HStrong cả nước tham khảo thì sẽ làm tăng thêm tính thực tiễn của đề tài
8 Cái mới của đề tài
- Tuyển chọn và xây dựng hệ thống BTHH có sử dụng hình vẽ chương
“Nhóm halogen” và “Oxi – Lưu huỳnh” hoá học 10 cơ bản bằng phần mềmEdraw Max theo xu hướng phát triển của BTHH hiện nay, phân chia BTHHtheo mức độ từ dễ đến khó phù hợp với từng đối tượng HS
- Đề xuất phương thức sử dụng bài tập có hình vẽ để nâng cao hiệu quảdạy học của môn Hoá học nói chung và Hoá học lớp 10 nói riêng
Trang 11NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Bài tập có sử dụng hình vẽ hiện nay còn rất ít, chỉ có một số ít công trìnhnghiên cứu về loại bài tập này Tôi xin giới thiệu một vài công trình có liênquan đến đề tài như sau:
1.1.1 Một số tài liệu đã xuất bản
-“Bài tập lí thuyết và thực nghiệm hoá học – tập 1 – hoá học vô cơ ”–
của tác giả Cao Cự Giác (2009), NXB Giáo dục
Tác phẩm gồm 7 chương viết về các bài tập lí thuyết và thực nghiệmhoá học vô cơ Đặc biệt là ở chương số 7, tác giả đã viết về “Bài tập hoá họcthực nghiệm có sử dụng các hình vẽ mô phỏng thí nghiệm” Trong chươngnày, tác giả đã đưa ra 35 bài tập có sử dụng hình vẽ để giúp đọc giả thấy đượcviệc khai thác các bài tập hoá học có sử dụng hình vẽ mô phỏng thí nghiệm làviệc rất cần thiết để rèn luyện kĩ năng thực hành và tăng cường tính thực tiễncủa môn học
1.1.2 Một số luận án, luận văn thạc sĩ, khoá luận tốt nghiệp
1 Luận văn thạc sĩ giáo dục học “Một số biện pháp nâng cao chất
lượng rèn luyện kiến thức – kĩ năng thí nghiệm trong chương trình hoá học 10 nâng cao cho học sinh theo hướng dạy học tích cực” – của tác giả Đỗ Thị
Bích Ngọc (2009), trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
Trong luận văn này, tác giả đã nêu ra 5 biện pháp nâng cao chất lượng,
kĩ năng thí nghiệm cho HS, trong đó có hai biện pháp đáng chú ý là:
- Sử dụng bài tập có hình vẽ, đồ thị theo hướng phát huy tính tích cựccho HS
Trang 12- Sử dụng đề kiểm tra có hình vẽ, bài tập thực nghiệm và bài tập thựctiễn để rèn luyện kĩ năng thí nghiệm cho HS.
Với hai biện pháp đó, tác giả đã đề xuất 34 bài tập và 10 đề kiểm tra có
sử dụng hình vẽ, đồ thị thuộc chương trình hoá học 10 nâng cao
2 Luận văn thạc sĩ giáo dục học “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài
tập hoá học phần hoá phi kim lớp 10 THPT theo hướng dạy học tích cực” –
của tác giả Trương Đình Huy (2011), trường Đại học Sư phạm thành phố HồChí Minh
Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
- Chương 2: Hệ thống BTHH phi kim lớp 10 THPT và phương pháp sửdụng chúng trong dạy học theo hướng dạy học tích cực
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã:
- Nghiên cứu, tổng quan hệ thống cơ sở lí luận về hoạt động nhận thứctích cực và dạy học tích cực Phân tích những nội dung mới và khó trong phầnhoá phi kim lớp 10 làm cơ sở cho việc xây dựng lựa chọn bài tập hoá học và
đề xuất phương pháp sử dụng bài tập trong dạy học
- Xây dựng và lựa chọn hệ thống BTHH phần hoá học phần hoá phikim lớp 10 theo xu hướng phát triển của BTHH hiện nay và dạy học tích cựcnhằm tích cực hoá hoạt động của HS
- Nghiên cứu phương pháp sử dụng hệ thống bài tập này trong việc xâydựng kế hoạch bài dạy theo hướng dạy học tích cực
3 Khoá luận tốt nghiệp đại học: “Sử dụng bài tập hoá học phần phi
kim – chương trình hoá học 10 nâng cao nhằm phát triển năng lực vận dụng trí thức vào thực tiễn của học sinh trung học phổ thông” – của tác giả Lê
Quỳnh Trang (2016),
Khoá luận gồm 3 chương:
Trang 13Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài.
Chương 2: Thực trạng việc sử dụng BTHH để phát triển năng lực vậndụng trí thức vào thực tiễn của HS ở một số trường THPT tại thành phốTuyên Quang – tỉnh Tuyên Quang
Chương 3: Sử dụng BTHH phần phi kim – chương trình Hoá học 10nâng cao nhằm phát triển năng lực vận dụng trí thức vào thực tiễn của HSTHPT
Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu các công trình có cùng hướng nghiêncứu này, chúng tôi rút ra được nhiều bài học trong quá trình thực hiện khóaluận của mình Chúng tôi nhận thấy rằng việc nghiên cứu hay xây dựng lêncác bài tập hoá học có sử dụng hình vẽ trong dạy học hóa học đã và đang thuhút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhất là trong nhưng nămgần đây Với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ mônhóa học ở trường THPT, cũng như tạo ra một môi trường học tập trao đổi kiến
thức cho học sinh tôi quyết định chọn đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập có
sử dụng hình vẽ thiết kế bằng phần mềm Edraw Max trong dạy học phần
“Phi kim” SGK hoá học 10 cơ bản”.
1.2 Phương tiện trực quan trong dạy học hoá học
Trang 14chức, hướng dẫn sự tri giác các tài liệu trực quan và khái quát hoá các kết quả quan sát.
1.2.2 Phân loại phương tiện trực quan [2]
Tuỳ theo cơ sở mà có nhiều cách phân loại khác nhau, ở đây chúng tôiphân chia phương tiện trực quan trong nhà trường gồm ba nhóm:
1.2.2.1 Nhóm thí nghiệm trong nhà trường
- Các thiết bị, dụng cụ, thí nghiệm, hoá chất
1.2.2.2 Nhóm đồ dùng trực quan
Bao gồm:
- SGK và các tài liệu tham khảo: SGK (dùng cho HS và GV); sách giáoviên; sách tham khảo; sách tra cứu, các tài liệu hướng dẫn; tạp chí chuyên đề;sách báo các loại; thư viện điện tử; các thông tin trên mạng internet, …
- Các đồ dùng dạy học: Bảng các loại (bảng đen, bảng gấp, bảng diđộng, bảng nỉ, …); tranh ảnh, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, bản đồ, đồ thị; môhình; mẫu vật
1.2.2.3 Nhóm phương tiện kỹ thuật
Bao gồm các máy dạy học và phương tiện nghe nhìn: Máy chiếu hình
và bản trong; máy ghi âm; tivi; máy vi tính; máy ảnh; video cassete …
1.2.3 Vai trò của phương tiện trực quan [6]
Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học, nóthay thế cho những sự vật, hiện tượng, các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà
GV và HS không thể tiếp cận trực tiếp được Phương tiện dạy học giúp cho
HS phát huy tối đa các giác quan trong quá trình tiếp thu kiến thức, do đó HS
dễ dàng tái hiện kiến thức và vận dụng kiến thức vào thực tế
Phương tiện trực quan trong dạy học hoá học có vai trò quan trọng sauđây:
- Cung cấp cho HS các kiến thức một cách chắc chắn và chính xác giúp
HS nhớ lâu hơn
Trang 15- Giúp cho việc giảng dạy của GV trở nên cụ thể hơn, giúp HS dễ dàngtiếp thu sự vật, hiện tượng và các quá trình phức tạp mà bình thường HS khónắm vững được.
- Giúp GV tiết kiệm thời gian
- Dễ dàng gây được cảm tình và sự chú ý của HS, giúp cho bài giảnghấp dẫn, HS hứng thú học tập
- Giúp cho lớp học sinh động
- Giúp GV có thể kiểm tra một cách khách quan khả năng tiếp thu kiếnthức cũng như sự hình thành kĩ năng, kĩ xảo của HS
1.2.4 Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học hoá học [6]
Có ba nguyên tắc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học hoáhọc:
1.2.4.1 Sử dụng đúng lúc
- Trình bày phương tiện lúc cần thiết, lúc HS mong muốn nhất đượcquan sát, gợi nhớ trong trạng thái tâm sinh lí thuận lợi nhất
- Theo đúng trình tự bài giảng, đúng nội dung và phương pháp dạy học
- Phân biệt thời điểm sử dụng của từng phương tiện dạy học
- Cần cân đối và bố trí lịch sử sử dụng phương tiện hợp lí, đúng lúc,thuận lợi nhằm tăng hiệu quả sử dụng
1.2.4.2 Sử dụng đúng chỗ
- Tìm vị trí để giới thiệu phương tiện trên lớp học hợp lí nhất, giúp HS
có thể sử dụng nhiều giác quan nhất để tiếp xúc với phương tiện một cáchđồng đều ở mọi vị trí
- Tìm vị trí lắp đặt sao cho toàn lớp có thể quan sát rõ ràng
- Đảm bảo các yêu cầu về chiếu sáng, thông gió và các yêu cầu kĩ thuậtkhác
HS
- Các phương tiện phải được giới thiệu ở vị trí an toàn cho cả GV và
Trang 161.3 Bài tập hoá học
1.3.1 Khái niệm về bài tập, BTHH
Có nhiều khái niệm về bài tập đã được đề cập đến
Trong giáo dục, theo “ Từ điển Tiếng việt” do Hoàng Phê chủ biên, thuậtngữ “Bài tập” có nghĩa là “bài tập cho HS làm để vận dụng những điều đãhọc”
Theo Thái Duy Tuyên “Bài tập là một hệ thông tin xác định bao gồmnhững điều kiện và những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học, đòihỏi người học một lời giải đáp mà lời giải đáp này về toàn bộ hoặc từng phầnkhông có sẵn ở thời điểm bài tập được đặt ra” [14]
Từ những quan niệm trên có thể hiểu rằng: Bài tập là một hệ thốngthông tin được đưa ra một cách có vấn đề, đòi hỏi HS phải sử dụng nhữngkiến thức đã có bằng cách lập luận hay tính toán để giải quyết vấn đề
BTHH là phương tiện chính và hết sức quan trọng dùng để rèn luyệnkhả năng vận dụng kiến thức cho HS Là nhiệm vụ học tập mà GV đặt ra chongười học, buộc người học phải vận dụng các kiến thức, năng lực của mình để
Trang 17giải quyết các nhiệm vụ đó nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng một cách tíchcực, hứng thú và sáng tạo Về mặt lí luận dạy học hoá học, bài tập bao gồm cả
Trang 18câu hỏi và bài toán mà khi hoàn thành chúng HS nắm được hay hoàn thiệnmột tri thức hay một kĩ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng hay trả lời viếtkèm theo thực nghiệm [12]
Để giải quyết được những vấn đề này, HS phải biết suy luận logic dựavào những kiến thức đã học, phải sử dụng những hiện tượng hóa học, nhữngkhái niệm, định luật, học thuyết, phép toán, cách tư duy sáng tạo và phươngpháp nhận thức khoa học Bài tập và lời giải là nguồn tri thức mới cho HStrong hoạt động nhận thức
1.3.2 Tác dụng của bài tập hoá học [11]
Việc dạy học không thể thiếu bài tập Sử dụng bài tập để luyện tập làmột biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học, nó làphương tiện giúp người thầy hoàn thành các chức năng: giáo dưỡng, giáo dục
và phát triển dạy học
Bài tập hoá học có những ý nghĩa, tác dụng to lớn về nhiều mặt Cụ thểlà:
1.3.2.1 Ý nghĩa trí dục
Thông qua việc giải bài tập hoá học giúp HS:
- Hình thành các khái niệm hoá học
- Làm chính xác hoá, hiểu đúng, hiểu sâu các khái niệm hoá học
- Củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú,hấp dẫn Chỉ khi vận dụng được các kiến thức vào việc giải bài tập, HS mớinắm được kiến thức một cách sâu sắc
- Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất
- Rèn luyện các kĩ năng hoá học như cân bằng phương trình phản ứng,tính toán theo các công thức hoá học và phương trình hoá học… Nếu là bàitập thực nghiệm sẽ rèn các kĩ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kĩthuật tổng hợp cho HS
Trang 19- Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, laođộng sản xuất và bảo vệ môi trường.
- Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các thao tác tư duy
1.3.2.2 Ý nghĩa phát triển
Thông qua giải BTHH, phát triển ở HS các năng lực tư duy logic, giảiquyết vấn đề, nhận thức, biện chứng, khái quát, độc lập, thông minh và sángtạo
1.3.2.3 Ý nghĩa giáo dục
- Rèn luyện đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mêkhoa học hoá học
- BTHH là nguồn tạo hứng thú học tập cho HS
- Bài tập thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện văn hoá lao động (laođộng có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc)
- Giáo dục kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp, dạy nghề cho HS
1.3.3 Phân loại BTHH [10]
Có nhiều cách để phân loại BTHH, tuỳ theo việc lựa chọn cơ sở đểphân loại Có thể phân loại BTHH dựa vào một số cách sau:
1.3.3.1 Phân loại BTHH dựa vào nội dung
- Bài tập định tính: là các dạng bài tập nhận thức có sự liên hệ với sựquan sát, giải thích các hiện tượng hoá học, sự điều chế các chất cụ thể, xácđịnh thành phần hoá học các chất và phân biệt chúng, tách hỗn hợp, trắcnghiệm
- Bài tập định lượng: là dạng bài tập hoá học có tính chất hoá học (cầndùng các kĩ năng toán học để giải) và tính chất hoá học (cần đúng kiến thứchoá học) Bài toán hoá học có liên quan đến dung dịch
- Bài tập thực nghiệm: là dạng bài tập có liên quan đến các kĩ năng thựchành như: quan sát thí nghiệm, mô tả hiện tượng và giải thích, điều chế chất,
Trang 20làm thí nghiệm nghiên cứu về tính chất của các chất, nhận biết, tách cácchất……
1.3.3.2 Phân loại BTHH dựa trên hình thức
- Bài tập tự luận: là loại bài tập khi làm bài, học sinh phải tự viết câu trảlời, học sinh phải tự trình bày, lí giải, chứng minh bằng ngôn ngữ của mình
- Bài tập trắc nghiệm khách quan: là loại bài tập khi làm học sinh chỉphải chọn một câu trả lời trong số các câu trả lời đã được cung cấp Do khôngphải viết câu trả lời nên thời gian dành cho việc đọc, suy nghĩ và chọn câu trảlời chỉ từ 1 – 2 phút
1.3.3.3 Phân loại BTHH theo mức độ nhận thức
Có thể phân loại BTHH ở các mức độ: Nhận biết – Thông hiểu – Vậndụng
Trên thực tế có nhiều cách phân loại BTHH, nhưng sự phân loạiBTHH chỉ mang tính chất tương đối, vì giữa cách phân loại không có ranh giới rõ nét, sự phân loại thường theo một mục đích nhất định nào đó
1.3.4 Sử dụng bài tập hoá học trong dạy học hoá học [6]
1.3.4.1 Lựa chọn bài tập
Hiện nay, ngoài SGK và SBT còn có rất nhiều sách tham khảo về BTHH
ở trường phổ thông Tuy nhiên, tuỳ theo từng điều kiện cụ thể mà GV cần lựachọn các BT cho thích hợp Khi chọn BT cần chú ý đến các yếu tố sau:
- Căn cứ trên khối lượng kiến thức HS nắm được để lựa chọn BT phù hợp với trình độ HS
- Qua việc giải BT của HS có thể đánh giá được chất lượng học tập, phân loại được HS, kích thích được toàn lớp học
- Căn cứ vào chương trình giảng dạy, nên xây dựng một ngân hàng BTphù hợp với mức độ của từng khối lớp
Trang 21- Nên chọn các BT có nội dung gắn hoá học với các môn học khác, vớithực tiễn BT có nhiều cách giải đòi hỏi HS phải suy luận thông minh để cócách giải nhanh nhất, sẽ tạo hứng thú, nâng cao chất lượng giải bài tập.
- Sau mỗi bài giảng, cần rèn luyện cho HS có thói quen làm hết các BT
+ Hướng dẫn cho HS cách phân tích BT, nên có ví dụ về bài làm của
HS từ việc phân tích sai dẫn đến giải sai
+ Cần lựa chọn các bài điển hình, các dạng BT bắt buộc
- Khi chú trọng tới số lượng: HS phổ thông rất cần phải chữa nhiều BT,kiểm tra để khuyến khích HS học tập, đánh giá kịp thời chất lượng dạy học
GV có thể tiến hành theo các hình thức sau:
+ Tiến hành vào đầu hoặc cuối giờ học, kiểm tra một lúc nhiều HS.+ Kiểm tra trắc nghiệm
+ Các dạng BT cơ bản
1.3.5 Xây dựng BTHH mới [11]
Các xu hướng hiện nay:
- Loại bỏ những bài tập có nội dung trong hoá học nghèo nàn nhưng lạicần đến những thuật toán phức tạp để giải (hệ nhiều ẩn nhiều phương trình,bất phương trình, phương trình bậc 2, cấp số cộng, cấp số nhân…)
- Loại bỏ những bài tập có nội dung lắt léo, giả định rắc rối, phức tạp,
xa rời hoặc phi thực tiễn hoá học
- Tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm
- Tăng cường sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan
Trang 22- Xây dựng bài tập mới về bảo vệ môi trường và phòng chống ma tuý.
- Xây dựng bài tập mới để rèn luyện cho HS năng lực phát hiện vấn đề
và giải quyết vấn đề
- Đa dạng hoá các loại hình bài tập như bài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ
sơ đồ, đồ thị, bài tập lắp dụng cụ thí nghiệm…
- Xây dựng những bài tập có nội dung hoá học phong phú, sâu sắc,phần tính toán đơn giản nhẹ nhàng
- Xây dựng và tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm định lượng
- Bài tập bằng hình vẽ là một loại hình bài tập mới cần chú ý xây dựng
1.4.2 Phân loại bài tập có sử dụng hình vẽ
Trong khoá luận này, tôi chia bài tập có sử dụng hình vẽ theo ba mức
độ:
- Mức độ nhận biết
- Mức độ thông hiểu
- Mức độ vận dụng
1.4.3 Vai trò của bài tập hoá học có sử dụng hình vẽ [1]
Hiện nay, BT bằng hình vẽ còn quá ít do vậy cũng ít được sử dụng
Muốn tạo ta BT bằng hình vẽ cần dựa vào nội dung và cách tến hànhcác thí nghiệm hóa học để sáng tạo Đây là dạng BT mang tính trực quan, sinhđộng gắn liền với kiến thức và kĩ năng thực hành hoá học, BT có sử dụnghình vẽ có tác dụng:
Trang 23- Mô tả, thay thế những thí nghiệm khó, phức tạp hoặc điều kiện thực
tế không thế tiến hành được từ đó giúp HS dễ tái hiện và vận dụng kiến thức
Trang 24- Giúp HS hình dung được những vật quá nhỏ bé hoặc quá lớn, hoặckhông thể đến gần HS để tiếp thu và nhớ lâu.
- Giúp HS rèn luyện kĩ năng vẽ hình
- Giúp HS phát triển kĩ năng quan sát, phân tích, tổng hợp, suy đoán
- Rèn luyện năng lực quan sát cho HS, là cơ sở để HS tư duy
- Kiểm tra kiến thức kĩ năng thực hành của HS
- Giúp GV tiết kiệm thời gian do không phải mô tả, giải thích dài dòng
- Gây chú ý cho HS
- Bài giảng hấp dẫn, HS hứng thú học tập làm cho lớp học sinh động, nâng cao hiệu quả của HS
Trang 25- Hệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học.
Bài tập là một phương tện để tổ chức các hoạt động của học sinhnhằm khắc sâu, vận dụng và phát triển hệ thống kiến thức lí thuyết đãhọc, hình thành và rèn luyện các kĩ năng cơ bản
Mục têu của hoá học ở trường THPT (đối với ban cơ bản), cung cấpcho HS hệ thống kiến thức, kĩ năng phổ thông, cơ bản, hiện đại, thiết thực, cónâng cao về hoá học và gắn với đời sống Nội dung chủ yếu bao gồm cấu tạochất, sự biến đổi các chất, những ứng dụng và những tác hại của cácchất trong đời sống, sản xuất và môi trường
- Hệ thống bài tập cần phải bám sát nội dung bài học
Căn cứ vào mục têu của chương, bài và từng nội dung trong bài để xâydựng, lựa chọn bài tập cho phù hợp với mục tiêu đó
- Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính chính xác, khoa học
Khi xây dựng nội dung của bài tập phải có sự chính xác về kiến thứchoá học, bài tập, cho đủ các điều kiện, không được dư hay thiếu Các bài tậpkhông được mắc sai lầm về mặt thiếu chính xác trong cách diễn đạt, nội dungthiếu logic chặt chẽ Vì vậy giáo viên khi ra bài tập cần nói, viết một cáchlogic chính xác và đảm bảo tính khoa học về mặt ngôn ngữ hoá học
- Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính đa dạng, tính hệ thống
Trang 27- Hệ thống bài tập đảm bảo tính vừa sức.
Hệ thống bài tập phải xây dựng từ dễ đến khó, từ đơn giản đếnphức tạp: Đầu tiên là những bài tập có hình vẽ vận dụng theo mức đơn giản,sau đó là những bài tập phức tạp hơn, sau đó đòi hỏi các dạng bài tập vậndụng, sáng tạo Từng chương, từng bài, mức độ khó tăng dần theo trình độphát triển của
HS
- Hệ thống bài tập phải củng cố kiến thức cho HS
Sự nắm vững kiến thức có thể phân biệt ở ba mức độ: Biết, hiểu, vậndụng HS nắm vững kiến thức hoá học một cách chính xác khi họ được hìnhthành kĩ năng, kĩ xảo vận dụng và chiếm lĩnh kiến thức thông qua nhiều dạngbài tập khác nhau
- Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính sư phạm
Các kiến thức bên ngoài khi đưa vào làm bài tập đều phải qua khâu xử
lí sư phạm để phù hợp với phương pháp giảng dạy và thúc đẩy khả năng tiếpthu của HS
- Các hình vẽ đúng quy chuẩn, có tính thẩm mĩ, có đường nét cân đối,hài hoà
- Hệ thống bài tập phải phát huy tính tích cực nhận thức, năng lực vậndụng sáng tạo của HS
Tuỳ theo trình độ HS mà xây dựng hệ thống bài tập cho phù hợp vớikhả năng của HS Bài tập từ dễ đến khó, nếu thấy HS đã đạt mức độ dễ thìnâng dần lên mức độ cao hơn
2.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập có sử dụng hình vẽ
Bước 1: Xác định cấu trúc hệ thống bài tập.
- Bài tập về nhóm halogen
Trang 28- Bài tập về oxi – lưu huỳnh
Ở mỗi nhóm các bài tập được xây dựng gồm các bài tập có sử dụng hình
vẽ, được sắp xếp theo mức độ từ dễ đến khó gồm ba mức độ:
Trang 29- Mức độ 1: Mức độ “Nhận biết” là mức độ thấp nhất, ở mức độnày HS chỉ cần nắm vững các kiến thức cơ bản, không đòi hỏi tư duy logicnhiều, HS nhớ kiến thức một cách máy móc HS chỉ cần ghi nhớ cách bố trícác thí nghiệm, các bước tiến hành thí nghiệm, các hiện tượng thí nghiệmđơn giản, nhận biết các chất đơn giản.
- Mức độ 2: Mức độ “Thông hiểu” là mức độ này đòi hỏi khả năng thấuhiểu được ý nghĩa kiến thức, giải thích được nội dung kiến thức, diễn đạt theo
ý hiểu của mình Đòi hỏi HS những kiến thức về các hiện tượng thí nghiệmphức tạp, tại sao lại phải tiến hành thí nghiệm theo các bước
- Mức độ 3: Mức độ “Vận dụng” là mức độ đòi hỏi HS phải nắm chắckiến thức, có sự so sánh, phân tích để giải quyết các vấn đề có liên quan, khảnăng sử dụng thông tn và biến đổi kiến thức từ dạng này sang dạng khác,vận dụng vào tình huống mới trong thực tiễn Ngoài ra, HS phải khái quátđược các số liệu thu được, sử dụng chúng trong điều kiện phức tạp hơn, có sựsáng tạo, tư duy logic
Bước 2: Hệ thống được các kiến thức trọng tâm của từng chương.
- Nghiên cứu các kiến thức trọng tâm của chương, bài, từng nội dungtrong bài để định hướng cho việc thiết kế bài tập
- Nghiên cứu kĩ nội dung SGK, SBT, các tài liệu tham khảo và các vấn đề
có liên quan đến nội dung đó
- Nghiên cứu đặc điểm, trình độ nhận thức của HS để thiết kế BT chophù hợp
Bước 3: Thu thập thông tin để xây dựng hệ thống bài tập.
- Các BT trong SGK, SBT hoá học trung học phổ thông
- Bài tập trong các sách tham khảo, báo, tạp chí,…
- Các thông tin trên mạng internet,…
Trang 30Bước 4: Tiến hành soạn thảo.
- Soạn từng bài tập
Trang 31- Xây dựng các phương án để giải bài tập.
- Dự kiến những tình huống, những sai lầm HS có thể xảy ra trong quá trình HS giải BT và cách khắc phục
- Sắp xếp các BT theo ba mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng
Bước 5: Lấy ý kiến của các chuyên gia và chỉnh sửa.
2.3 Giới thiệu về phần mềm Edraw Max
2.3.1 Giới thiệu chung
Edraw Max là một phần mềm dành cho các sinh viên, giảng viên và cácnhân viên kĩ thuật thiết kế các mô hình, đồ hình, sơ đồ tuyệt đẹp đápứng được các nhu cầu cao về mặt thẩm mỹ
Edraw Max có thể tạo ra các biểu đồ chuyên
nghiệp, biểu đồ tổ chức, sơ đồ mạng, các bài
thuyết trình kinh doanh, xây dựng kế hoạch, bản
đồ tâm trí, thiết kế thời trang, công việc, cấu trúc
chương trình, sơ đồ thiết kế web, sơ đồ kỹ thuật
điện, bản đồ hướng dẫn, sơ đồ cơ sở dữ liệu và
nhiều hơn nữa Edraw Max cho phép bạn tạo ra
một loạt các sơ đồ sử dụng các mẫu, hình dạng
và các công cụ vẽ trong khi làm việc trong một
môi trường văn phòng
2.3.2 Phần mềm Edraw Max trong thiết kế hình vẽ thí nghiệm hoá học
Trong Edraw Max có rất nhiều mẫu dụng cụ sẵn có với hình thức thẩm
mỹ cao Số lượng hình vẽ dụng cụ có sẵn trong Edraw Max rất nhiều, đủ đểchúng ta miêu tả tất cả các dụng cụ thường dùng trong phòng thí nghiệmnhư: đèn cồn, giá thí nghiệm, bình cầu có nhánh…
Trang 32Chỉ với thao tác đơn giản là kéo dụng cụ, thiết bị… từ cột bên trái mànhình sao cho phù hợp với thí nghiệm đặt sang trang vẽ bên phải sau đógroup hoặc ungroup và các nút lệnh, hình vẽ trên thanh công cụ, chúng ta
có thể tự
Trang 33biên ra rất nhiều hình vẽ dụng cụ, bộ dụng cụ đẹp mắt Có thể đổ màu chocác dung dịch, chất rắn, hiện tượng phản ứng xảy ra Ngoài ra chúng tacũng có thể ghi chú tên chất, tên thí nghiệm ngay trên trang vẽ.
Edraw Max cho phép xuất ra Word, Powerpoint dưới dạng hình ảnh vìvậy khi điều chỉnh kích thước sẽ không bị vỡ hình, tuỳ theo mục đích người
sử dụng
2.3.3 Quy trình vẽ hình sử dụng phần mềm Edraw Max
Ví dụ: Thiết kế bài tập có sử dụng hình vẽ trong phần điều chế oxi trongphòng thí nghiệm
Để có thể vẽ hình ảnh minh họa cho các thí nghiệm hóa học chúng tacần thực hiện các bước sau:
Bước 1: Khởi động Edraw Max và mở trang vẽ
- Cách 2: Nhấn chuột vào Start/ Program/ Edraw Max
Sau khi khởi động Edraw Max cửa sổ ứng dụng mở ra
Cách mở file chứa dụng cụ mẫu: Vào File/ Science/ Chemical Experiment ofMiddel School Kéo các dụng cụ thí nghiệm từ bên trái màn hình đặt sang bênphải trang vẽ, thiết kế sao cho phù hợp với thí nghiệm
Trang 3422
Trang 35Bước 2: Chọn dụng cụ thí nghiệm từ bên trái màn hình đặt sang trang vẽ bên phải, lắp ghép các dụng cụ.
Bước 3: Lắp ghép, hoàn chỉnh mô phỏng thí nghiệm
Bước 4: Lưu và xuất ra file JPG
File/ Save As (Ctrl + Shift + S) / Save As Type chọn JPEG FileInterchange Fomat (*.jpg) / Save
Trang 36- Do phần mềm Edraw Max là phần mềm tạo sơ đồ, biểu đồ, lược đồchuyên nghiệp, dễ dàng và nhanh chóng nhất với rất nhiều mẫu, ví dụ cósẵn để lựa chọn nên tôi đã sử dụng phần mềm này trong việc thiết kế hệthống BTHH có sử dụng hình vẽ
2.4 Kiến thức trọng tâm của chương Nhóm Halogen và chương Oxi – Lưu huỳnh.
2.4.1 Kiến thức trọng tâm chương Nhóm Halogen
2.4.1.1 Khái quát chung
* Cấu tạo nguyên tử và phân tử của các halogen, sự biến đổi đại lượng vật lí
- Cấu hình chung lớp ngoài cùng của nhóm VIIA (nhóm halogen):
- Đi từ flo đến iot ta thấy:
+ Nhiệt độ nóng chảy, nhiệt độ sôi, bán kính nguyên tử tăng dần
+ Độ âm điện giảm dần
Bảng thống kê các đại lượng vật lí và tính chất của nhóm VIIA
–1, +1, +3,+5, +7
* Tính chất hoá học chung
Trang 37 H 2 O 2AlI3
2 2
- Tính chất hoá học chung của nhóm halogen là tính oxi hoá mạnh,halogen oxi hoá được hầu hết kim loại, phi kim và nhiều hợp chất
Trang 382 2 2
2
* Phương pháp điều chế các đơn chất halogen
- Cl2:
+ F2
+ Trong PTN: Cho axit HCl đặc tác dụng với các chất oxi hoá mạnh
* Các hiđro halogenua (HF, HCl, HBr, HI)
Đều là các chất khí, dễ tan trong nước tạo thành dung dịch axit
Trang 39* Các axit halogenhiđric
Theo dãy:
HF – HCl – HBr – HI
Tính axit tăng, tính khử tăng
- Trừ HF là axit trung bình, còn lại đều là axit mạnh Chúng mang đầy
đủ tính chất của một axit
- Nhận biết các ion halogenua:
+ Là chất khí, không màu, không mùi, không vị.
+ Hơi nặng hơn không khí, ít tan trong nước
Trang 402KCl + 3O
- Trong CN:
- Ozon oxi hoá hầu hết các kim loại (trừ Au, Pt), phi kim và hợp chất có
2 (*)