Với tính cách là phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử phương thức sản xuất biểu thị cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người. Dưới sự vận động của lịch sử loài người, cũng như sự vận động của mỗi xã hội cụ thể, sự thay đổi về phương thức sản xuất bao giờ cũng là sự thay đổi có tính chất cách mạng. Trong sự thay đổi đó, các quá trình kinh tế, xã hội được chuyển sang một chất mới. Phương thức sản xuất là cái mà nhờ nó người ta có thể phân biệt được sự khác nhau của những thời đại kinh tế khác nhau. Mà phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng. đó cũng chính là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Do vậy, quy luật trên trước hết là quy luật kinh tế nhưng hơn thế nữa nó con là quy luật cơ bản nhất của toàn bộ đời sống xã hội của lịch sử nhân loại bởi vì nó là quy luật của bản thân phương thức sản xuất. Sự tác động của quy luật này dẫn tới sự thay đổi của phương thức sản xuất và kéo theo sự thay đôỉ cua toàn bộ đời sống xã hội. Với những lý do trên, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có ý nghĩa hết sức to lớn. Tuy nhiên, việc nắm bắt được quy luật này không phải là đơn giản, nhận biết được một quan hệ sản xuất có phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hay không hoàn toàn phải phụ thuộc vào thực tiễn của sản xuất và kinh nghiệm bản thân. Với những chính sách, đường lối và chủ trương đúng đắn, nắm bắt tốt quy luật của đảng và nhà nước, nền kinh tế, đặc biệt là kinh nhiều thành phần đã phát triển mạnh mẽ, đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu phát triển thành nước sản xuất nông nghiệp tiên tiến; góp phần đẩy nhanh nền kinh tế nước nhà đi sang một hướng khác, sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới....
Trang 1sản xuất đối với trình độ phát triển lực lượng sản xuất
ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Trang 2MỤC LỤC
A. Phần mở đầu 3
B. Nội dung 4
I Đặt vấn đề 4
II Sự vận dụng quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất đối với trình độ phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 5
1 Quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất đối với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 5
a, Khái niệm lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất 5
b, Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 6
2 Sự vận dụng quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất đối với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của nước ta hiện nay 9
a, Trước đổi mới 9
b, Từ 1986 đến nay 10
C Kết luận 13
DANH SÁCH THÀNH VIÊN 14
Trang 3
- -A Phần mở đầu
Trong lịch sử nhân loại từ khi xuất hiện xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái kinh tế xã hội: chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư sản và xã hội chủ nghĩa Qua mỗi thời kì tư duy và nhận thức của con người không dừng lại ở một chỗ mà ngày càng phát triển hoàn thiện hơn Chính sự thay đổi về tư duy và nhận thức đã kéo theo sự thay đổi và phát triển của lực lượng sản xuất cũng như cơ sở sản xuất Từ
đó, quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất đối với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trở thành quy luật hết sức phổ biến trong công cuộc xây dựng đất nước của mỗi quốc gia Tuy nhiên không phải quốc gia nào cũng vận dụng nó một cách hiệu quả, việc vận dụng quy luật này cần có sự cân nhắc kĩ lưỡng Sự mâu thuẫn hay phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đều có ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, sự tác động của “quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ pháp triển của lực lượng sản xuất” tạo ra nguồn gốc và động lực cơ bản nhất đối với sự vận động, phát triển của nền sản xuất vật chất và do đó là sự vận động, phát triển của toàn bộ đời sống xã hội; sự vận động, pháp triển của lịch sử nhân loại từ phương thức sản xuất thấp lên phương thức sản xuất cao hơn Quy luật này còn là cơ sở để giải thích về nguồn gốc sâu xa của toàn bộ các hiện tượng xã hội, sự biến đổi trong đời sống chính trị Sự tổng hoà mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên một nền kinh tế
có lực lượng sản xuất phát triển kéo theo một quan hệ sản xuất phát triển Nói cách khác Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là một điều kiện tất yếu để phát triển một nền kinh tế Nước ta cũng là nước vận dụng quy luật này để đổi mới và phát triển đất nước
Trang 4B Nội dung
I Đặt vấn đề:
Với tính cách là phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử phương thức sản xuất biểu thị cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người Dưới sự vận động của lịch sử loài người, cũng như sự vận động của mỗi xã hội cụ thể, sự thay đổi về phương thức sản xuất bao giờ cũng là sự thay đổi có tính chất cách mạng Trong sự thay đổi đó, các quá trình kinh tế, xã hội được chuyển sang một chất mới Phương thức sản xuất là cái mà nhờ nó người ta có thể phân biệt được sự khác nhau của những thời đại kinh
tế khác nhau Mà phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng đó cũng chính là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Do vậy, quy luật trên trước hết là quy luật kinh tế nhưng hơn thế nữa nó con
là quy luật cơ bản nhất của toàn bộ đời sống xã hội của lịch sử nhân loại bởi vì nó
là quy luật của bản thân phương thức sản xuất Sự tác động của quy luật này dẫn tới
sự thay đổi của phương thức sản xuất và kéo theo sự thay đôỉ cua toàn bộ đời sống
xã hội Với những lý do trên, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có ý nghĩa hết sức to lớn Tuy nhiên, việc nắm bắt được quy luật này không phải là đơn giản, nhận biết được một quan hệ sản xuất có phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hay không hoàn toàn phải phụ thuộc vào thực tiễn của sản xuất và kinh nghiệm bản thân Với những chính sách, đường lối và chủ trương đúng đắn, nắm bắt tốt quy luật của đảng và nhà nước, nền kinh tế, đặc biệt là kinh nhiều thành phần đã phát triển mạnh mẽ, đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu phát triển thành nước sản xuất nông nghiệp tiên tiến; góp phần đẩy nhanh nền kinh tế nước nhà đi sang một hướng khác, sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 5II Sự vận dụng quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất đối với trình độ phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:
1 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:
a, Khái niệm lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất:
Bất kì một quá trình sản xuất vật chất nào cũng cần phải có các nhân tố thuộc
về người lao động (như năng lực, kỹ năng, tri thức… của người lao động) cùng các
tư liệu sản xuất nhất định (như đối tượng lao động, công cụ lao động, các tư liệu phụ trợ của quá trình sản xuất,…) Toàn bộ các nhân tố đó tạo thành lực lượng sản xuất của các quá trình sản xuất
Lực lượng sản xuất chính là toàn bộ các nhân tố vật chất, kỹ thuật của quá trình sản xuất, tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau tạo ra năng lượng thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội
Lực lượng sản xuất là những nhân tố có tính sáng tạo và tính sáng tạo đó có tính lịch sử Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phản ánh trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người: trình độ thủ công của lực lượng sản xuất phản ánh trình độ chinh phục giới tự nhiên thấp hơn rất nhiều so với lực lượng sản xuất ở trình độ kỹ thuật công nghiệp và công nghệ cao
Trong các nhân tố tạo thành lực lượng sản xuất, nhân tố “người lao động” là nhân tố giữ vai trò quyết định Bởi vì, các tư liệu sản xuất chỉ là sản phẩm lao động của con người, phụ thuộc vào trình độ thực tế sử dụng và sáng tạo của người lao động Trong tư liệu sản xuất thì nhân tố công cụ lao động là nhân tố phản ánh rõ nhất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và thể hiện tiêu biểu trình độ con người chinh phục giới tự nhiên
Trang 6Lực lượng sản xuất là nhân tố cơ bản, tất yếu tạo thành nội dung vật chất của
quá trình sản xuất; không một quá trình sản xuất hiện thực nào có thể diễn ra nếu thiếu một trong hai nhân tố là người lao động và tư liệu sản xuất Thế nhưng chỉ có lực lượng sản xuất vẫn chưa thể diễn ra quá trình sản xuất hiện thực được mà còn cần phải có những quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thức xã hội của quá trình sản xuất ấy
Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản
xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội), bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức – quản lí quá trình sản xuất và quan hệ trong phân phối kết quả của quá trình sản xuất đó tồn tại trong mối quan hệ thống nhất và chi phối, tác động lẫn nhau trên cơ sở quyết định của quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất
b, Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất:
- Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trờ lại lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn quan hệ sản xuất là “hình thức xã hội” của quá trình đó
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại trong tính quy định lẫn nhau, thống nhất với nhau Đây là yêu cầu tất yếu, phổ biến diễn ra trong mọi quá trình sản xuất hiện thực của xã hội Tương ứng với thực trạng phát triển nhất định của lực lượng sản xuất cũng tất yếu đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất phù hợp với thực trạng đó trên cả ba phương diện: sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức – quản lí và phân phối thì lực lượng sản xuất mới có thể được duy trì, khai thác – sử dụng và không ngừng phát triển Ngược lại, lực lượng sản xuất của một xã hội chỉ có thể được duy trì, khai thác – sử dụng và phát triển trong một hình thức kinh tế - xã hội nhất định
Trang 7Mối quan hệ thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tuân theo
nguyên tắc khách quan: quan hệ sản xuất phải phụ thuộc vào thực trạng phát triển của lực lượng sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử xác định; bởi vì, quan hệ sản
xuất chỉ là hình thức kinh tế - xã hội của quá trình sản xuất, còn lực lượng sản xuất
là nội dung vật chất, kỹ thuật của quá trình đó
Quan hệ sản xuất, với tư cách là hình thức kinh tế - xã hội của quá trình sản
xuất, luôn luôn có khả năng tác động trở lại sự vận động, phát triển của lực lượng
sản xuất Sự tác động này có thể diễn ra theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực,
điều đó phụ thuộc vào tính phù hợp hay không phù hợp của quan hệ sản xuất với thực trạng và nhu cầu khách quan của sự vận động, phát triển lực lượng sản xuất
- Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ
thống nhất có bao hàm khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn.
Trong phạm vi tương đối ổn định của một hình thức kinh tế - xã hội xác định, lực lượng sản xuất của xã hội được bảo tồn, không ngừng được khai thác – sử dụng
và phát triển trong quá trình sản xuất và tái sản xuất của xã hội Tính ổn định, phù hợp của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản suất càng cao thì lực lượng sản xuất càng có khả năng phát triển, nhưng chính sự phát triển của lực lượng sản xuất lại luôn luôn tạo ra khả năng phá vỡ sự thống nhất của những quan hệ sản xuất từ trước đến nay đóng vai trò là hình thức kinh tế - xã hội trong sự phát triển của nó Những quan hệ sản xuất này, từ chỗ là hình thức phù hợp và cần thiết cho sự phát triển của các lực lượng sản xuất đã trở thành những hình thức kìm hãm sự phát triển đó tạo ra một mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, từ đó xuất hiện nhu cầu khách quan phải thiết lập mối quan hệ thống nhất giữa chúng theo nguyên tắc quan hệ sản xuất phải phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất Khi phân tích sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản
Trang 8xuất và quan hệ sản xuất, C Mác đã từng chỉ ra rằng “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ mâu thuẫn hiện có…, trong đó từ trước đến nay, các lực lượng sản xuất vẫn phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất” Chính nhờ các
cuộc cách mạng xã hội mà những quan hệ sản xuất cũ của xã hội được thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới, phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất đã phát triển, tiếp tục phát huy tác dụng tích cực thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất trong một hình thức quan hệ sản xuất mới
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ mâu thuẫn biện chứng giữa nội dung vật chất, kỹ thuật với hình thức kinh tế - xã hội của quá trình sản xuất Sự vận động của mâu thuẫn này là một quá trình đi từ sự thống nhất đến những sự khác biệt và đối lập, xung đột, từ đó làm xuất hiện nhu cầu khách quan phải được giải quyết theo nguyên tắc quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất Sự vận động của mâu thuẫn này cũng tuân theo quy luật “từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại”, quy luật “phủ định của phủ định”, khiến cho quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội vừa diễn ra với tính chất tiệm tiến, tuần tự, lại vừa có tính nhảy vọt với những bước đột biến kế thừa và vượt qua của nó ở trình độ ngày càng cao hơn Trong phạm vi phân tích sự phát triển xã hội mâu thuẫn và sự vận động của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chính là nội dung cơ bản
“quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”
Sự tác động của quy luật này tạo ra nguồn gốc và động lực cơ bản nhất đối với sự vận động, phát triển của nền sản xuất vật chất và do đó là sự vận động, phát triển của toàn bộ đời sống xã hội; sự vận động, phát triển của lịch sử nhân loại từ phương thức sản xuất thấp sang phương thức sản xuất cao hơn; là cơ sở để giải
Trang 9thích một cách khoa học về nguồn gốc sâu xa của toàn bộ các hiện tượng xã hội và các sự biến trong đời sống chính trị, văn hóa của các cộng đồng người trong lịch sử
2 Sự vận dụng quy luật phù hợp quan hệ sản xuất đối với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của nước ta hiện nay:
Lịch sử xã hội nói chung phát triển tuần tự từ thấp lên cao, nhưng thực tiễn lịch sử chứng minh rằng nhiều nước đã bỏ qua một số phương thức sản xuất để tiến lên phương thức sản xuất cao hơn, Việt Nam là một trong những nước đó
a, Trước đổi mới:
Trước đây, nước ta là một nước nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, lực lượng sản xuất thấp kém, trình độ quản lí thấp với nền sản xuất nhỏ tự cung, tự cấp, tự túc Hơn nữa, nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến trải qua hai cuộc đấu tranh, nhiều lần bị đế quốc Mĩ bao vây nền kinh tế vì vậy lực lượng sản xuất chưa
có điều kiện phát triển
Sau khi giành được chính quyền, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, lực lượng sản xuất chưa phát triển, chủ yếu với tư liệu lao động thô xơ, lực lượng lao động còn thấp kếm, tụt hậu, không động đều… Trước yêu cầu xây dựng chủ nghĩa
xã hội, nước ta đã vứt bỏ hết các yếu tố tư bản chủ nghĩa với quan niệm tư bản chủ nghĩa là xấu, không áp dụng nó chỉ cho tồn tại những quan hệ chủ nghĩa xã hội, nước ta xóa bỏ nhanh chế độ tư hữu chuyển sang chế độ công hữu với hai hình thức toàn dân và tập thể lúc đó được coi là điều kiện chủ yếu, quyết định, tính chất, trình
độ xã hội hoá sản xuất cũng như sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở nước ta Song trong thực tế cách làm này đã không mang lại kết quả như mong muốn,
vì nó trái quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực
Trang 10lượng sản xuất, trong khi lực lượng sản xuất còn yếu kém thì quan hệ sản xuất lại quá phát triển, phát triển với mức độ cao, đã để lại hậu quả là: kinh tế kiệt quệ, nguy cơ nghèo đói tăng cao, việc tiến hành tập thể nhanh chóng tư liệu sản xuất dưới hình thức cá nhân bị tập trung dưới hình thức sở hữu công cộng, người lao động bị tách khỏi tư liệu sản xuất, không làm chủ được qúa trình sản xuất, phụ thuộc vào lãnh đạo hợp tác xã, họ cũng không phải là chủ thể sở hữu thực sự dấn đến tư liệu sản xuất trở thành vô chủ, gây thiệt hại cho tập thể, kinh tế quốc doanh thiết lập tràn lan trong tất cả các ngành Về pháp lý tư liệu sản xuất cũng thuộc sở hữu toàn dân, người lao động là chủ sở hữu có quyền sở hữu chi phối, định đoạt tư liệu sản xuất và sản phẩm làm ra nhưng thực tế thì người lao động chỉ là người làm công ăn lương, chế độ lương lại không hợp lý không phản ánh đúng số lượng và chất lượng lao động của từng cá nhân đã đóng góp… dẫn tới tình trạng đơn vị kinh
tế mất dần tính chủ động, sáng tạo, mất động lực lợi ích, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả nhưng lại không ai chịu trách nhiệm, không có cơ chế giàng buộc trách nhiệm, nên người lao động thờ ơ với kết quả hoạt động của mình, sinh ra tiêu cực trong phân phối, chỉ có một số người có quyền định đoạt phân phối vật tư, vật phẩm, đặc quyền đặc lợi
b, Từ năm 1986 đến nay:
Đối với đất nước của chúng ta, đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường hợp với
xu thế của thời đại và điều kiện cụ thể của nước ta Tuy nhiên, chúng ta tiến lên
chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, nên phải trải qua thời kỳ quá độ Việc bỏ qua giai đoạn phát triển
tư bản chủ nghĩa về thực chất là bỏ qua chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa, nhưng chúng ta lại kế thừa những giá trị của chủ nghĩa tư bản với tư cách là lực lượng sản xuất, để hướng nền sản xuất đi lên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa