Mục đích nghiên cứu Luận án nghiên cứu, khảo sát các đơn vị thuộc trường thị giác trongtiếng Việt và tiếng Anh: chỉ ra đặc điểm nghĩa của nhóm từ chỉ cơ quanthị giác và bộ phận của cơ qu
Trang 1KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘIVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGÔN NGỮ HỌC VIỆN KHOA HỌC CÁC HỘI VIỆT NAM
N ƣời ƣớng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Văn K an
Phản biện 1: GS.TS Đỗ Việt Hùng
Phản biện 2: GS.TS Lâm Quan Đ n
Phản biện 3: PGS.TS Lê Hùng Tiến
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 477Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Vào hồi giờ ngày tháng năm 201
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 32 Mụ đí và n iệm vụ n iên ứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu, khảo sát các đơn vị thuộc trường thị giác trongtiếng Việt và tiếng Anh: chỉ ra đặc điểm nghĩa của nhóm từ chỉ cơ quanthị giác và bộ phận của cơ quan thị giác, hoạt động của cơ quan thị giác
và đặc điểm của cơ quan thị giác; làm sáng tỏ sự phát triển nghĩa và khảnăng kết hợp của nhóm từ theo tư duy liên tưởng của mỗi dân tộc
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu có nhiệm vụ: tổng quan tình hình nghiên cứu, xây dựng
cơ sở lí luận, xác lập nhóm từ thuộc trường thị giác trong tiếng Việt vàtiếng Anh, chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, khảo sátđặc điểm ngữ nghĩa, khảo sát khả năng tham gia vào thành ngữ với tưcách là yếu tố cấu tạo của nhóm từ; chỉ ra sự tương đồng và khác biệt củachúng giữa hai ngôn ngữ
3 Đối tƣợn , p ạm vi n iên ứu và n uồn tƣ liệu n iên ứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
ối tượng nghiên cứu là đơn vị từ thuộc trường thị giác trong tiếngViệt và tiếng Anh, cấu trúc nghĩa của các đơn vị từ thuộc trường thị giáctrong tiếng Việt, phương thức chuyển nghĩa, chuyển trường; phát hiện cácđặc điểm điển hình, đặc trưng của nhóm từ này, đồng thời nghiên cứu cácđơn vị từ trong các tổ hợp từ, cụm từ cố định là thành ngữ Trên cơ sở kếtquả thu được từ tiếng Việt, tiến hành đối chiếu với nhóm từ tiếng Anh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là các đơn vị từ thuộc trường thị giác trong Việt
và tiếng Anh Do số lượng từ thuộc trường thị giác khá lớn, chúng tôi tập
Trang 4trung nghiên cứu 24 đơn vị từ vựng tiếng Việt, từ đó so sánh, đối chiếusang nhóm từ tương ứng thuộc trường thị giác trong tiếng Anh.
3.3 Nguồn tư liệu nghiên cứu
Nguồn tư liệu của luận án là nhóm từ thuộc trường thị giác được khảosát và nghiên cứu chủ yếu dựa trên các từ điển tiếng Việt, tiếng Anh,tiếng Việt – Anh, Anh –Việt, từ điển thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anhcủa các nhà xuất bản có uy tín
4 P ƣơn p p n iên ứu
Luận án sử một số phương pháp và thủ pháp chủ yếu như: phươngpháp phân tích thành tố nghĩa, phương pháp miêu tả, phương pháp sosánh – đối chiếu, thủ pháp thống kê
5 C i mới ủa luận n
Luận án nghiên cứu đối chiếu một cách hệ thống các đơn vị từ thuộctrường thị giác trong tiếng Anh và tiếng Việt, gồm: danh từ, động từ vàtính từ, đồng thời chỉ ra được sự giống nhau và khác nhau trong đặc điểmcấu tạo và phương thức chuyển nghĩa, nghiên cứu ngữ nghĩa của nhóm từnày trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh để chỉ ra tương đồng và khácbiệt trong tư duy, văn hóa của hai dân tộc
6 Ý n ĩa k oa ọ ủa luận n
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án nghiên cứu chi tiết và có hệ thống về trường thị giác trongtiếng Việt bằng các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học và ngôn ngữ -văn hóa học Kết quả của luận án đóng góp một phần cho lý thuyết vềtrường nghĩa và mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa dân tộc, tạo ra cơ
sở lý thuyết cũng như thực tiễn cho các nghiên cứu về trường nghĩa nóichung và trường nghĩa tiếng Việt nói riêng có đối chiếu so sánh với tiếngAnh
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của luận án sẽ giúp việc học, và dạy các từ thuộc trường thịgiác trong tiếng Việt và tiếng Anh thêm hiệu quả, và cũng có thể dùngnhư một tài liệu hỗ trợ công tác biên soạn từ điển
7 Bố ụ luận n
Luận án, ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục,được cấu trúc thành 3 chương: Chương 1 Tổng quan tình hình nghiêncứu và cơ sở lí thuyết, Chương 2 ối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa nhóm từthuộc trường thị giác trong tiếng Việt và tiếng Anh, Chương 3 ối chiếu
từ ngữ thuộc trường thị giác tham gia vào tạo thành ngữ trong tiếng Việt
và tiếng Anh
Trang 5C ƣơn 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về trường từ vựng ngữ nghĩa và trường thị giác
Trên thế giới, vấn đề trường nghĩa đã được nghiên cứu từ lâu và đượcvận dụng vào nghiên cứu, khảo sát đối với nhiều nhóm từ cụ thể Chẳnghạn, A Lehrer và L.P Battan (1945) nghiên cứu trường từ vựng ngữnghĩa chỉ động vật và phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ thông dụng trênngữ liệu từ điển American Heritage Dictionary và Oxford EnglishDictionary Với mục đích nghiên cứu các cặp từ đồng nghĩa và mối liên
hệ với cú pháp, Li-li Chang, Keh-jiann Chen, Chu-Ren Huang (1999)nghiên cứu trường từ vựng các động từ chỉ cảm xúc trong tiếng TrungQuốc phổ thông Theo hướng áp dụng trường từ vựng ngữ nghĩa vào thựctiễn, Chunming Gao và Bin Xu (2013) đã tập trung vào các cụm từ, các từđồng nghĩa và trái nghĩa, từ đó đề xuất phương pháp giảng dạy nhóm từnày trong tiếng Anh Hướng nghiên cứu tương tự cũng đã được AliNasser Harb Mansouri (1985), Guo Changhong (2010) và nhiều nhànghiên cứu khác áp dụng
So sánh trường từ vựng của hai hoặc nhiều ngôn ngữ đã cho các kếtquả có ý nghĩa lí luận và thực tiễn Ali Mansouri (2007) giải quyết vấn đềtrong dịch thuật bằng cách lấp khoảng trống trong trường nghĩa của haingôn ngữ: tiếng Ả-rập và tiếng Anh Mary K Bolin (2015) đã nghiên cứu
so sánh đối chiếu trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ thái độ (grace) trong các
ngôn ngữ Anh, ức, Do Thái, Hy Lạp và Latin (English, German, Hebrew,Greek, và Latin) với nguồn dữ liệu từ các cuốn kinh thánh Asifa Majid(2009) đã đưa ra các dẫn chứng khoa học với hai trường: trường nhậnthức và trường cơ thể để minh chứng cho tương đồng và khác biệt của cácngôn ngữ
Ngoài việc dựa vào các lớp nghĩa của từ có trong từ điển, tác giảSherali Shokirov (2017) còn quan tâm đến chức năng cấu tạo của các từ
liên quan đến từ mắt trong tiếng Anh và tiếng Uzbekistan Jansson Kajsa
(2017) sử dụng từ điển Oxford Thesaurus (1991) và Nordstedts SvenskaSynonymordbok (2009) nghiên cứu so sánh – đối chiếu trường nghĩa củaLOVE và ÄLSKA (tình yêu)
Ngoài các nghiên cứu kế trên còn có rất nhiều các nghiên cứu vềtrường từ vụng ngữ nghĩa khác đã được thực hiện bởi Ricardo MairalUsón (1990), Zhou và Weijie (2001), Clark E V (1972),
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về trường từ vựng ngữ nghĩa và trường thị giác
Trang 6Với các phương pháp nghiên cứu khác nhau, nhiều nghiên cứu trườngnghĩa được thực hiện ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu đã có những đónggóp về lí luận cũng như thực tiễn về ngôn ngữ học đối chiếu và trườngnghĩa Trong nghiên cứu về trường nghĩa tên gọi động vật trong tiếngViệt và tiếng Nga, Nguyễn Thúy Khanh (1996) đã phát hiện đặc trưngđịnh danh tên gọi động vật tiếng Việt và tiếng Nga, đưa ra ý nghĩa biểutrưng của các từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ so sánh Với phươngpháp tương tự, Cao Thi Thu (1996) đã thực hiện các nghiên cứu vớitrường tên gọi của cây, trường tên gọi động vật Trên cơ sở của ngôn ngữhọc chức năng, Hoàng Thị Hòa (2007) nghiên cứu lớp động từ tri giáctrong tiếng Anh có liên hệ tiếng Việt ỗ Minh Hùng (2009) nghiên cứu
về động từ chỉ hoạt động thị giác trong tiếng Anh và tiếng Việt trên ngữliệu từ điển: Từ điển tiếng Việt và từ điển tiếng Anh Oxford AdvancedLearner‟s Dictionary, với mục đích hỗ trợ dạy tiếng Anh cho người Việt.Cũng dùng thủ pháp phân tích nghĩa tố, Trần Thị Hường (2009) nghiêncứu nhóm từ biểu thị hoạt động thị giác của con người trong tiếng Việt vàtiếng Pháp tập trung vào 12 từ vị biểu thị hoạt động thị giác và các đơn vị
từ vựng phái sinh Nghiên cứu trường từ vựng thị giác trong truyện Kiều,Trần Thị Hưởng (2011) đã chia trường từ vựng thị giác ra làm 3 tiểutrường Còn nhiều các nghiên cứu so sánh đối chiếu trường từ vựng tiếngViệt và một ngôn ngữ khác đã được thực hiện như: Lại Thị Phương Thảo(2016), Lê Thị Lệ Thanh (2001), Nguyễn Thị Bảo (2003), Nguyễn Minh(2006), Có thể thấy,
Có thể nói, nghiên cứu về trường từ vựng ngữ nghĩa vẫn là hướngnghiên cứu đã và đang được quan tâm Trong đó, nghiên cứu so sánh đốichiếu trường nghĩa đang trở nên khá phổ biến ở trên thế giới cũng như ởViệt Nam
1.2 Cơ sở lí thuyết
1.2.1 Một số vấn đề lý luận chung về trường từ vựng ngữ nghĩa
Trường từ vựng-ngữ nghĩa:
Từ “Field” (trường) lần đầu tiên được G Ispen sử dụng trong cụm từ
“semantic filed” (bedeutungsfeld) “Semantic field” giống như một tranhbức khảm (a mosaic) với những viên đá đặt kề bên nhau, từ được đặt với
từ, mỗi từ có hình dạng khác nhau, nhưng có đường viền khớp với nhau,tất cả tạo nên một chỉnh thể có trật tự cao J.Trier (1931) với quan điểm
về trường nghĩa được áp dụng đã “nâng ngữ nghĩa học lên một tầm caomới” với thuật ngữ “trường ngôn ngữ” Khác với Trier, W.Porzig (1934)phát hiện ra mối quan hệ ngữ nghĩa mật thiết giữa các từ loại, ông đề xuất
sử dụng mối quan hệ ngữ đoạn để xác định trường từ vựng Kế thừa quanniệm về trường của Trier, L.Weisgerber (1950) cho rằng ngôn ngữ ảnh
Trang 7hưởng đến các thành viên trong cộng đồng ngôn ngữ bằng các phươngtiện của trường; đặc trưng của từ tồn tại chỉ trong trường, và đề xuấttrường 3 chiều, và tỏa ra nhiều hướng khác và do hệ thống ngữ nghĩa củacác dân tộc khác nhau nên các trường tạo cấu thành cũng không giốngnhau Tư tưởng của F Saussure (19730 đã thúc đẩy một cách quyết định
sự hình thành lí thuyết về các trường với quan niệm giá trị của mỗi yếu tốngôn ngữ được xác định trong mối quan hệ với các yếu tố còn lại
Ở Việt Nam, ỗ Hữu Châu (1998) đưa ra định nghĩa về trường từ vựng
là một tập hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó
về ngữ nghĩa, trong hệ thống từ vựng, mỗi từ bao giờ cũng đối lập vớinhững từ còn lại và chỉ có giá trị khi được đặt trong mối tương quan vớicác từ khác trong hệ thống Nguyễn Thiện Giáp (2001) cho rằng trườngnghĩa là tập hợp các đơn vị từ vựng có quan hệ lẫn nhau về nghĩa, các
đơn vị từ vựng này có thể là một từ vị hay một đơn vị thành ngữ (ngữ vị).
Trích dẫn quan điểm của Trier, ông chỉ ra mối quan hệ lẫn nhau về nghĩatrong định nghĩa trường từ vựng, trong hệ thống, tất cả chỉ nhận được
ý nghĩa qua cái toàn thể Cùng chung quan điểm với Nguyễn Thiện Giáp,
ỗ Việt Hùng (2011), Nguyễn Tất Thắng (2008) đề xuất tiêu chuẩn đểnhóm từ vào các trường khác nhau với các từ ngữ trung tâm và ngoại vi
Vũ ức Nghiệu và Nguyễn Văn Hiệp (2009) định nghĩa trường ngữ nghĩa
là những tiểu hệ thống, tổ chức của từ vựng, trong đó các từ ngữ có quan
hệ với nhau một cách có hệ thống
Quan điểm chung của các nhà nghiên cứu là: một tập hợp từ có quan
hệ với nhau về nghĩa, tạo thành một tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là
“trường từ vựng”, “trường nghĩa” hay “trường từ vựng - ngữ nghĩa”
Quan niệm về quan hệ ngữ nghĩa trong trường từ vựng – ngữ nghĩa:
Căn cứ vào các dạng quan hệ ngữ nghĩa trong trường từ vựng ngữ nghĩa,các nhà ngôn ngữ phân loại các trường nghĩa thành các loại khác nhau,trường thường quy về hai mối quan hệ chính: quan hệ tuyến tính và quan hệliên tưởng Theo F de Saussure (1973), quan hệ liên tưởng rộng hơn quan hệtuyến tính (ngữ đoạn) L Wesigerber (1950) và J Trier (1931) quan niệm vềtrường theo quan hệ dọc: trường trực tuyến, một khuynh hướng khác với đạidiện là W Porzig (1934), đã xây dựng khái niệm về trường tuyến tính dựatheo quan hệ ngang và đã phân biệt trường trung tâm và trường chuyểnnghĩa Kế thừa các thành tựu nghiên cứu về trường nghĩa trên thế giới, ỗ HữuChâu (1981) chia trường nghĩa làm 3 loại: trường đối vị, trường tuyếntính/kết hợp và trường liên hội /tổng hợp Ông đề xuất lấy danh từ có tínhkhái quát cao làm gốc để đưa nghĩa biểu vật của một từ vào một trường thích
hợp Ví dụ, từ mắt có thể có các trường biểu vật: bộ phận của mắt, đặc điểm
của mắt (đặc điểm ngoại hình,
Trang 8đặc điểm về năng lực), cảm giác của mắt, bệnh của mắt, … ối với trườngbiểu niệm và biểu vật, một trường lớn đều có thể chia thành các trườngnhỏ.
Nghĩa của từ:
Theo ỗ Hữu Châu (1981), ý nghĩa của từ là tập hợp một số thành phầnnhất định gồm: ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm, ý nghĩa biểu thái và ýnghĩa ngữ pháp; ngoài ra còn có ý nghĩa liên hội Trong nghiên cứutrường nghĩa, việc xác định nghĩa biểu vật và biểu niệm trở nên quantrọng vì nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật, hiện tượng, … trong thực tếvào ngôn ngữ còn nghĩa biểu niệm thông qua khái niệm để hiên hệ với sựvật, hiện tượng ngoài ngôn ngữ, và thông qua ý nghĩa biểu vật để liên hệvới thực tế khách quan Việc nghiên cứu ngữ nghĩa (ngữ nghĩa học) cầnmột quan điểm toàn diện: nghiên cứu cả đơn vị ngôn ngữ và đơn vị lờinói, mối quan hệ nghĩa của từ với nhận thức, hiện tại, cấu trúc nội bộ, hệthống và tổ hợp với nghĩa của từ khác (Hoàng Phê, 2008) Một từ cónhiều nghĩa và mỗi nghĩa được tạo ra từ những thành tố nhỏ hơn được gọi
là nghĩa tố hay nét nghĩa (seme) Mỗi nét nghĩa lại có thể phân tích thànhcác nét nghĩa nhỏ hơn và có thể tiếp tục cho đến yếu tố ngữ nghĩa cơ bản.Theo Nguyễn Thiện Giáp (2014), định nghĩa của các từ trong từ điển giảithích được tường giải theo lối miêu tả nên thường được dùng làm cơ sởphân tích các thành tố nghĩa
Sự chuyển nghĩa của từ:
Các nhà nghiên cứu đã đề cập đến khá nhiều phương thức chuyểnnghĩa, thường tập trung vào các phương thức: khu biệt hóa(specialization), khái quát hóa (generalization), hoán dụ (metonymy) và
ẩn dụ (metaphor) Trong các phương thức này thì hoán dụ và ẩn dụ làphương thức phổ biến, đặc biệt là ẩn dụ - được coi là trái ngọt của trítưởng tượng sáng tạo Hiện tượng chuyển nghĩa của từ thường bị chi phốibởi quy luật nhận thức Do đó, các nghĩa chuyển có tính dân tộc sâu sắc
Hiện tượng đa nghĩa của từ:
Hiện tượng đa nghĩa hay còn gọi là hiện tượng nhiều nghĩa là một hiệntượng mang tính phổ quát, bắt nguồn từ nhu cầu giao tiếp của con người
và thể hiện quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ, thể hiện về mặt từ vựng là:cùng một hình thức ngữ âm có thể diễn đạt được nhiều nội dung khácnhau (Nguyễn Thiện Giáp, 2014) Các nghĩa biểu vật thường được pháttriển trên cơ sở một hoặc vài nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệm mà nhómnghĩa biểu vật lấy làm trung tâm
Hiện tượng chuyển trường:
Một đơn vị từ vựng có thể có nhiều nghĩa, nên cũng có thể thuộc nhiềutrường nghĩa iều này liên quan đến một hiện tượng phổ biến, đó là
Trang 9chuyển trường từ vựng - ngữ nghĩa (hiện tượng chuyển trường) Hiệntượng chuyển nghĩa của một từ là cơ sở của hiện tượng chuyển trường.Chuyển trường làm tăng tác dụng gợi hình ảnh của từ ngữ.
1.2.2 Lí thuyết về ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu ngôn ngữ
Ngôn ngữ học đối chiếu (Contrastive linguistics) là một lĩnh vực trongNgôn ngữ học so sánh và ngày càng phát triển do nhu cầu khắc phục lỗitrong học ngoại ngữ Việc đối chiếu các ngôn ngữ giúp thấy được giớihạn của ngôn ngữ nhân loại So sánh đối chiếu ngôn ngữ học cũng như sosánh đối chiếu khác, luôn được thực hiện trên một cơ sở xác định, các đốitượng so sánh thường thuộc cùng một phạm trù Một quy trình đối chiếuchung được xác lập dựa trên những nguyên tắc chung gồm: Bước 1: Miêu
tả ngôn ngữ được đối chiếu một cách phù hợp với mục đích đối chiếu,Bước 2: Xác định những yếu tố có thể đối chiếu, Bước 3: Thực hiện đốichiếu, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt của các yếu tố trongcác ngôn ngữ được đối chiếu
1.3 T ị i và trườn từ vựn ỉ t ị i
1.3.1 Thị giác
Thị giác là sự nhận cảm bằng mắt nhìn, và là cả một quá trình thunhận và xử lí thông tin từ môi trường qua ánh sáng Quá trình này đượccác bộ phận thị giác phức tạp thực hiện, trong đó mắt, còn được gọi là cơquan thị giác, là bộ phận chính
1.3.2 Khái niệm trường thị giác
Với phương thức xác định trường từ vựng – ngữ nghĩa được các nhànghiên cứu như Khanegrefs (1980) và ỗ Hữu Châu (1981) đề xuất, danh
từ mắt có thể được dùng làm gốc để xác định trường thị giác vì mắt là bộ
phận đại diện cho thị giác Trường thị giác là hệ thống các từ có nét nghĩabiểu vật liên quan đến cảm giác phân biệt ánh sáng, màu sắc, hình dạng;hay nói cách khác các từ có nghĩa biểu vật liên quan đến mắt
1.3.3 Các từ ngữ trong trường thị giác
Trường thị giác có thể được xác định gồm những nhóm từ như sau: từ
chỉ cơ quan thị giác và bộ phận của cơ quan thị giác (mắt, lông mày, lông
mi, mí,…), từ chỉ hoạt động của cơ quan thị giác (nhìn, trông, ngó, …), từ
chỉ đặc điểm của liên quan đến cơ quan thị giác (đặc điểm hình dáng, đặcđiểm màu sắc, đặc điểm về năng lực của cơ quan thị giác), từ chỉ cảm
giác của cơ quan thị giác (chói, quáng, hoa, cộm, xót, …), từ chỉ các bệnh của cơ quan thị giác (quáng gà, thong manh, cận thị, viễn thị, …)
1.3.4 Đối chiếu từ ngữ trong trường thị giác
Việc đối chiếu trường từ vựng thị giác trong tiếng Việt và tiếng Anhđược thực hiện như các bước đã được miêu tả trong phần trên Trước hết,các từ được xếp vào trường từ vựng hay tiểu trường Sau đó, nhà nghiên
Trang 10cứu nhận xét về: danh sách các đơn vị từ vựng thuộc trường, cấu trúc ngữnghĩa của từng đơn vị thuộc trường, tần số sử dụng của các đơn vị từtrong một văn bản nhất định (ví dụ như Truyện Kiều) hoặc trong thànhngữ, quán ngữ, giá trị tu từ của đơn vị từ Dựa vào kết quả của đối chiếu,các kết luận về sự khác biệt và tương đồng giữa tiếng Việt và tiếng Anhđược rút ra, từ đó thấy được đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa – dân tộc
1.4 Tiểu kết
Kinh nghiệm của các nghiên cứu đi trước, việc định hướng, phươngpháp và mục đích nghiên cứu trở nên rõ ràng hơn Cơ sở lí luận đã cungcấp những hiểu biết sâu rộng hơn về trường từ vựng – ngữ nghĩa, cácquan niệm về trường từ vựng ngữ nghĩa và ngôn ngữ học đối chiếu.Trong nghiên cứu này chúng tôi quan niệm bộ phận cấu thành trường từvựng – ngữ nghĩa (hay còn dược gọi là trường từ vựng, trường ngữ nghĩa)
là các từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa và nghiên cứu đối chiếu cácđơn vị từ vựng thuộc trường thị giác trong tiếng Việt và tiếng Anh là đốichiếu nghĩa của các đơn vị từ theo phạm trù truyền thống để tìm ra cácđặc điểm tương đồng và khác biệt trong trường nghĩa của hai ngôn ngữ để
tìm được các đặc trưng văn hóa dân tộc Việt và Anh.
C ươn 2 ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG-NGỮ NGHĨA NHÓM TỪ THUỘC TRƯỜNG THỊ GIÁC TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH 2.1 Giới ạn n iên ứu và k ảo s t
ể xác định được các đơn vị từ vựng thuộc trường thị giác cho nghiêncứu, chúng tôi đã sử dụng hai cuốn từ điển: Từ điển tiếng Việt của HoàngPhê (2018) và Từ điển Anh-Anh-Việt (Oxford Advanced Learner‟sDictionary with Vietnamese Translation – 8th Edition) (2015) Các danh từchỉ thị giác và bộ phận của thị giác, động từ mô tả hoạt động của thị giác
và tính từ mô tả đặc điểm của cơ quan thị giác trong hai cuốn từ điển trênđược thống kê cùng với giải thích nghĩa liên quan đến trường thị giác.Kết quả thống kê như sau: danh từ chỉ thị giác và bộ phận của thị giác:tiếng Việt: 32 từ, tiếng Anh: 24 từ; động từ chỉ hoạt động của thị giác:tiếng Việt: 43 từ, tiếng Anh: 62 từ, tính từ mô tả đặc điểm của thị giác:tiếng Việt: 70 từ, tiếng Anh: 51 từ
2.2 Đối iếu về từ vựn từ n t uộ trườn t ị i tron tiến Việt và tiến An
2.2.1 Nhóm từ chỉ cơ quan thị giác và bộ phận của thị giác
Số lượng từ tiếng Việt (32 từ) nhiều hơn tiếng Anh (24 từ), một số từchỉ bộ phận của thị giác xuất hiện trong từ điển tiếng Việt nhưng lại
không có trong từ điển tiếng Anh và ngược lại: màng, ve, tròng – không
Trang 11tìm được từ tương ứng trong tiếng Anh; rim (of sb‟s eyes) có nghĩa the
edge (of sb‟s eyes) không tìm được từ tương ứng trong tiếng Việt.
Trong số 32 danh từ chỉ cơ quan thị giác và bộ phận thị giác trongtiếng Việt có 22 từ ghép và 10 từ đơn, các từ ghép đều là từ ghép chínhphụ, số lượng từ ghép và đơn trong tiếng Anh tương ứng là 7 và 17 TiếngViệt có xu hướng lấy các đơn vị từ có sẵn để tạo thành các danh từ chỉ thịgiác và bộ phận thị giác Số lượng từ đơn trong tiếng Anh nhiều hơn thểhiện xu hướng tạo đơn vị từ mới cho các bộ phận của cơ quan thị giác
Số lượng từ chỉ một bộ phận thuộc cơ quan thị giác khác nhau trongtiếng Việt và tiếng Anh: tiếng Việt có 2 bộ phận thuộc cơ quan thị giác có
3 từ mô tả trong tiếng Việt (lông mày/mày/chân mày, lông mi/mi/lông
nheo); 7 bộ phận cơ quan thị giác có 2 từ mô tả (cầu mắt/nhãn cầu, con ngươi/đồng tử, giác mạc/màng kính, lòng đen/tròng đen, lòng trắng/tròng trắng, màng lưới/võng mạc, mắt/thu ba), 8 bộ phận thuộc cơ quan thị giác
có 1 từ mô tả (điểm mù, hốc, quầng, thủy tinh thể, ve, chắp, khóe, tròng,
màng); tiếng Anh có 4 bộ phận thuộc cơ quan thị giác với 2 từ mô tả
(eyebrow/brow, eyelid/lid, eyelash/lash, bags/shadow), 20 bộ phận thuộc
cơ quan thị giác có 1 từ mô tả (eyeball, pupil, blind spot, socket, cornea,
iris, white, chalazion, choroid, eye, retina, scela, lens, rim, shiner, socket) Từ vựng tiếng Việt đa dạng hơn tiếng Anh thể hiện ở số lượng bộ
phận thị giác có nhiều hơn 01 từ gọi tên trong tiếng Việt nhiều hơn
Trong tiếng Việt và tiếng Anh đều có lược bỏ từ: lông mày, lông mi thành: mày, mi; eyebrow, eyelash, eyelid thành brow, lash và lid.
2.2.2 Nhóm từ chỉ hoạt động của cơ quan thị giác
Số lượng từ tiếng Việt (43 từ) thấp hơn tiếng Anh (62 từ) Một sốđộng từ không tìm thấy từ tương đương trong tiếng Việt và tiếng Anh:
không tìm thấy từ tương ứng về nghĩa với từ linger trong từ điển tiếng
Việt, không tìm thấy động từ tiếng Anh chỉ hoạt động của thị giác tương
ứng về nghĩa với 18 động từ trong tiếng Việt.Tuy nhiên, có 12 động từ
chỉ hoạt động của thị giác tiếng Anh tương đương với cụm động từ gồm
động từ nhìn kết hợp với một số từ ngữ phụ thuộc.
Trong số các từ chỉ hoạt động của cơ quan thị giác trong tiếng Việt vàtiếng Anh, số lượng từ đơn cao hơn các loại từ khác
2.2.3 Nhóm từ mô tả đặc điểm của cơ quan thị giác
Số lượng từ tiếng Việt (70 từ) cao hơn tiếng Anh (51 từ) Các tính từ mô
tả đặc điểm của cơ quan thị giác được chia làm 4 nhóm: từ mô tả đặc điểmmàu sắc của cơ quan thị giác, từ mô tả đặc điểm liên quan đến thị lực của cơquan thị giác, từ mô tả đặc điểm hình dạng/kích cỡ của cơ quan thị giác, từ
mô tả đặc điểm liên quan đến trạng thái của cơ quan thị giác
Trang 12Trong số 70 tính từ tiếng Việt có 33 tính từ không tìm được từ tương ứngtrong tiếng Anh, trong đó: nhóm từ mô tả đặc điểm liên quan đến trạngthái/cảm xúc của cơ quan thị giác số từ không tìm thấy từ tiếng Anh
tương ứng nhiều nhất: 21 từ; nhóm từ mô tả đặc điểm màu sắc:7 từ; nhóm
từ mô tả đặc điểm hình dạng, kích cỡ: 4 từ; nhóm từ mô tả đặc điểm liênquan đến các tật của mắt có 01 từ Số lượng tính từ mô tả đặc điểm của cơquan thị giác trong tiếng Anh không tìm thấy từ tương ứng trong tiếng
Việt là 5 từ: beady, grey, lazy, sapphire, snow-blind và puffy; trong đó có
3 từ thuộc nhóm mô tả đặc điểm trạng thái của cơ quan thị giác, 2 từ mô
tả đặc điểm màu sắc của thị giác, 1 từ mô tả hình trạng thái của thị giác.Trong tiếng Việt, số lượng từ ghép mô tả đặc điểm của cơ quan thịgiác bằng với số lượng từ đơn (27 từ), số lượng từ láy là 16 Số lượng từđơn ở tiếng Anh lớn hơn nhiều so với từ ghép (từ đơn: 40, từ ghép: 11)
Nhận xét:
Xét về từ loại, tiếng Việt và tiếng Anh đều có số lượng cao tính từ vàđộng từ thuộc trường thị giác, điều này chứng tỏ tầm quan trọng của hoạtđộng và đặc điểm của cơ quan thị giác đối với người Việt và người Anh.Tính từ mô tả đặc điểm của cơ quan thị giác trong tiếng Việt có số lượngcao hơn động từ, động từ mô tả hoạt động của cơ quan thị giác trong tiếngAnh có số lượng cao hơn tính từ Sự khác biệt về số lượng từ loại chothấy người Việt quan tâm đến trạng thái của đôi mắt, còn người Anh quantâm đến hoạt động của đôi mắt trong giao tiếp Ví dụ, tương ứng với 5mức độ đỏ của màu mắt là các trạng thái khác nhau của đôi mắt và biểu
cảm cũng có phần khác nhau (hoe – có màu đỏ, hoặc vàng nhạt, đỏ hoe –
có màu đỏ nhạt nhưng tươi, đỏ kè – đỏ đục và tối, gây cảm giác không ưa nhìn, đỏ nọc/đỏ đọc – đỏ đến mức độ cao, với vẻ như pha sắc máu, nhìn thấy ghê, đỏ ngầu – đỏ sẫm và pha sắc đục, gây cảm giác không ưa nhìn) Tiếng Anh chỉ có 2 cấp độ màu đỏ cho đôi mắt: red (đỏ) và blood-shot (đỏ ngầu) Với động từ nhìn trong tiếng Việt, tiếng Anh có đến 14 từ tương ứng (behold, look, cast, bore, gawk, gawp, stare, devour, olge,
drop, glower, peek, penetrate, leer) với sắc thái của hành động dùng mắt
để nhận biết khác nhau: nhìn = behold/look/cast, nhìn chòng chọc = bore/
gawk/gawp/stare, nhìn hau háu = devour/ogle, …
Tổng số đơn vị từ trong trường thị giác ở tiếng Việt và tiếng Anhkhông có sự khác biệt nhiều: tiếng Việt: 145 từ, tiếng Anh: 137 từ Tỉtrọng từ đơn và từ ghép trong trường thị giác ở tiếng Việt là 68 – 54, tiếngAnh là 117 – 19 Trong cả hai ngôn ngữ, số lượng từ đơn đều cao hơn từghép, nhưng trong tiếng Anh, từ đơn chiếm số lượng lớn hơn gấp nhiềulần iều này chứng tiếng Việt sử dụng các đơn vị từ có sẵn để tạo ra từmới chỉ khái niệm, hiện tượng liên quan đến thị giác nhiều hơn tiếng Anh
Trang 132.3 Đối iếu n n ĩa ủa n óm từ t uộ trườn t ị i tron tiến Việt và tiến An
2.3.1 Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ cơ quan thị giác
và bộ phận của cơ quan thị giác trong tiếng Việt và tiếng Anh
Chúng tôi chỉ nghiên cứu 03 danh từ chỉ 3 bộ phận của cơ quan thị
giác, gồm: mắt, mày, mi tương ứng với eye, eyebrow, eyelid, eyelash
trong tiếng Anh
Dựa vào định nghĩa và phân tích nét nghĩa, có thể thấy trong số các
nét khu biệt của eye, eyelid, eyelash, eyebrow đều có nét nghĩa chỉ vị trí
và thể hiện phạm trù số lượng của các bộ phận này Từ eye có nét nghĩa trên mặt (in the face) và một hoặc hai (either of), eyelid có nét nghĩa trên
và dưới (above or below) và một hoặc hai (either of), eyelash - nét nghĩa rìa mí mắt (on the edge of eyelids) và một trong (one of), eyebrow – phía trên con mắt (above the eye) và một hàng lông (the line of hair) Trong
khi đó, khi đưa ra định nghĩa của các từ cùng chỉ một bộ phận tương ứng
trong tiếng Việt, các từ mắt, mi không có nét nghĩa chỉ vị trí và số lượng.
Có thể nói, người Anh quan tâm đến vị trí và số lượng hơn người Việt khigiải thích các từ chỉ cơ quan thị giác và bộ phận của cơ quan thị giác.Qua việc khảo sát nghĩa phái sinh thấy trong các từ mô tả cơ quan thị
giác và bộ phận của cơ quan thị giác được nghiên cứu, mắt/eye có nhiều
nghĩa phái sinh nhất trong cả hai ngôn ngữ iều này chứng tỏ tầm quantrọng của đôi mắt trong văn hóa của hai dân tộc Xét các phương thứcchuyển nghĩa, tiếng Việt và tiếng Anh có dòng chuyển nghĩa tương đối
giống nhau Phương thức ẩn dụ tạo ra 07 nghĩa phái sinh của từ mắt, 08 nghĩa phái sinh của từ eye, trong đó 06 nghĩa tương đồng trong hai ngôn
ngữ là: thị lực, đánh giá qua vẻ bề ngoài, sự theo dõi và cách nhìn để đưa
ra đánh giá, vật có hình dạng lồi lõm giống con mắt và vật có hình dạng
giống mắt Từ mắt có thêm nghĩa ẩn dụ: Thiết bị điện tử có hình dạng giống con mắt và có thể nhận diện tín hiệu, từ eye có thêm nghĩa phái
sinh mà tiếng Việt không có, đó là: vị trí dưới con mắt Phương thức hoán
dụ tạo ra 02 nghĩa phái sinh của từ mắt trong kết hợp từ tai mắt (người
nghe ngóng tình hình và người có danh vọng), tuy nhiên không tạo ra
nghĩa phái sinh của từ eye Các từ mô tả bộ phận của mắt hầu như không
có nghĩa phái sinh trong cả hai ngôn ngữ Chỉ duy nhất có từ mày có 01 nghĩa ẩn dụ: khí phách (đàn ông) qua cụm mày râu và 01 nghĩa hoán dụ: mặt của con người trong mày mặt.
2.3.2 Đối iếu đặ điểm n n ĩa ủa n óm từ ỉ oạt độn ủa
ơ quan t ị i tron tiến Việt và tiến An
Trong giới hạn của nghiên cứu, chúng tôi tập trung vào 9 động từ: mở (mắt), nhắm, nháy, nhìn, xem, liếc, ngó, dòm, khóc Các từ tương ứng