Một nghiên cứu hay về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân lao phổi mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Đề tài có trích dẫn Endnote đầy đủ tiện cho việc làm tài liệu tham khảo. Đề tài cho kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân suy dinh dưỡng trong nghiên cứu này tương đối cao. Do đó, bên cạnh việc sử dụng các biện pháp điều trị phù hợp bệnh nhân cần được tư vấn thêm về chế độ dinh dưỡng để giúp bệnh nhân có thể lựa chọn chế độ dinh dưỡng phù hợp và bổ sung đầy đủ dưỡng chất nhằm nâng cao thể trạng bản thân. Vì số lần điều trị lao phổi có mối liên quan với độ nặng COPD, do đó đối với những bệnh nhân COPD mắc lao phổi nhiều lần cần phải được theo dõi cẩn thận. Bên cạnh việc thăm khám định kỳ, những bệnh nhân này cần được làm xét nghiệm chức năng hô hấp thường xuyên để sớm phát hiện bệnh chuyển nặng hoặc tên đoán các đợt cấp COPD nặng gây nguy hiểm tính mạng cho bệnh nhân.
Trang 1PHẠM THỊ BÍCH LOAN
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH
NHÂN BỆNH PHỔI TÁC NGHẼN MẠN TÍNH
CÓ TIỀN SỬ LAO PHỔI
LUẬN ÁN TỐT NGHIỆP CHUYÊN KHOA CẤP II
Tp Hồ Chí Minh – 2015
Trang 2PHẠM THỊ BÍCH LOAN
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH
NHÂN BỆNH PHỔI TÁC NGHẼN MẠN TÍNH
CÓ TIỀN SỬ LAO PHỔI
Chuyên ngành: LAO VÀ BỆNH PHỔI
Mã số: CK 62 72 24 01
LUẬN ÁN TỐT NGHIỆP CHUYÊN KHOA CẤP II Hướng dẫn khoa học: BS CKII TRẦN MINH TRÚC HẰNG
Tp Hồ Chí Minh - 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
Tất cả dữ liệu và sự kiện trong nghiên cứu này là trung thực và chưa từng được công bố trong các nghiên cứu khác.
Tác giả
PHẠM THỊ BÍCH LOAN
Trang 5
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Trang 64.1 Đặc điểm dân số học, lâm sàng, cận lâm sàng, và điều trị của bệnh nhân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1: Phiếu thu thập thông tin
Phụ lục 2: Bảng đồng thuận tham gia nghiên cứu
Phụ lục 3: Danh sách bệnh nhân
Phụ lục 4: Bệnh án mẫu
Trang 7DANH MỤC THUẬT NGỮ ĐỐI CHIẾU
AFB Trực khuẩn kháng acid Acid-Fast Bacilli
ATS Hiệp hội lồng ngực Hoa Kỳ American Thoracic Society
BMI Chỉ số khối cơ thể Body Mass Index
CAT Xét nghiệm lượng giá COPD COPD Assessment Test
COPD Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Chronic Obstructive Pulmonary
Disease
FEF25-75% Lưu lượng thở ra tối đa đoạn từ
FVC Dung tích sống gắng sức Forced vital capacity
GOLD Chiến lược toàn cầu về bệnh
IC Dung tích hít vào Inspiratory Capacity
MAFA Vùng mỡ cánh tay giữa Mid Arm Fat Area
mMRC Thang điểm khó thở cải tiến của
Hội Đồng Nghiên Cứu Y Khoa
modified Medical Research Council
TFS Nếp gấp da vùng cơ tam đầu Triceps Skin Fold
TLC Dung tích phổi toàn bộ Total Lung Capacity
TNF Yếu tố hoại tử u Tumor necrosis factors
UDP Uridine 5’-diphosphate Uridine 5’-diphosphate
WHO Tổ chức Y tế Thế giới World Health Orgnization
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang
Trang 11Hình 1.4 Hình ảnh tràn dịch màng phổi với đường cong Damoiseau
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, lao và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là hai vấn đề y tếcông cộng có tầm ảnh hưởng to lớn trên thế giới Theo thống kê của Tổ chức Y
tế Thế giới (WHO), năm 2011 số hiện mắc lao toàn cầu là khoảng 7,9 triệu ca và
số ca tử vong là 1,4 triệu ca [170] Tương tự như vậy, COPD có số mắc ngàycàng tăng và trở thành nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba ở 25 nướcChâu Âu vào năm 2006 [122] Cả hai bệnh không chỉ gây ảnh hưởng xấu và kéodài trên bệnh nhân mà đối với xã hội chúng còn gây những gánh nặng chi phí y
tế hết sức to lớn Chi phí y tế ước tính dành cho COPD lên đến 38,6 tỷ euro tạicác nước Châu Âu và 20,4 tỷ đôla tại Mỹ [65, 121]
Cả hai bệnh đều xảy ra phổ biến tại khu vực Châu Á và Châu Phi, nơi cócác nước đang phát triển với điều kiện kinh tế và y tế còn nhiều khó khăn vì vậygánh nặng của lao và COPD càng thêm nghiêm trọng Việt Nam cũng nằm trong
số các quốc gia này vì theo thống kê của WHO, Việt Nam đứng hàng thứ 12trong các nước có gánh nặng bệnh tật lao cao [171] Các số liệu về COPD tạiViệt Nam chưa đầy đủ, tuy nhiên có thể chắc chắn rằng COPD tại Việt Nam có
xu hướng ngày một tăng vì Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ ngườidân hút thuốc lá (HTL) cao nhất thế giới Số người HTL có độ tuổi ≥ 15 năm
2002 là 56,1% ở nam và 1,8% ở nữ [116] Một nghiên cứu gần đây cho thấyHTL gây ra khoảng 66.000-76.000 ca tử vong vào năm 2005, chiếm tỷ lệ 9,7-11,1% tổng số ca tử vong do mọi nguyên nhân [123]
Mối liên quan giữa lao và COPD đã được nghiên cứu trong nhiều thập kỷtrước đây Mặc dù các nghiên cứu đều chỉ ra rằng có một mối tương quan giữahai loại bệnh này nhưng kết luận vẫn chưa mang tính thuyết phục Chỉ trong
Trang 13những năm gần đây mối quan hệ này đã được xác định chắc chắn, Hiệp hội LồngNgực Hoa Kỳ (ATS) và Chiến lược Toàn cầu về Bệnh phổi Tắc nghẽn Mạn tính(GOLD) đã đưa ra kết luận rằng lao phổi là một yếu tố nguy cơ đối với COPD[75] Thực vậy, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh được rằng bảnthân bệnh lao phổi cùng với các di chứng của nó gây ra những rối loạn thông khí
và tổn thương đường hô hấp dưới, là hai đặc trưng của COPD
Tại Việt Nam, việc tìm hiểu mối liên quan giữa lao phổi và COPD chỉ mớiđược quan tâm trong thời gian gần đây Hiện chỉ có một vài nghiên cứu tiến hànhtrên bệnh nhân mắc COPD có tiền sử lao phổi cho thấy bệnh lao cùng với những
di chứng của nó có ảnh hưởng đến đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnhnhân COPD [31] Với mong muốn mô tả một bức tranh đầy đủ hơn về đặc điểmlâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân mắc COPD có tiền sửlao phổi, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này
Trang 14Mục tiêu nghiên cứu
2 Khảo sát mối tương quan giữa độ nặng COPD với các yếu tố dịch tễ và triệuchứng lâm sàng ở bệnh nhân COPD có tiền sử lao phổi
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Đa số các trường hợp mắc lao đều thuộc các quốc gia đang phát triển.Trong 22 quốc gia có gánh nặng bệnh tật lao cao thì tất cả đều thuộc khu vựcChâu Á Thái Bình Dương và khu vực Châu Phi nơi có các nước đang phát triểnvới điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn Các quốc gia có số mắc mới nhiềunhất phải kể đến là Ấn Độ (2 – 2,5 triệu ca), Trung Quốc (0,9 – 1,1 triệu ca),Nam Phi (0,4 – 0,6 triệu ca), Indonesia (0,4 – 0,5 triệu ca) và Pakistan (0,3 – 0,5triệu ca) trong đó chỉ riêng Trung Quốc và Ấn Độ đã chiếm đến 26% và 12%tổng số ca lao mắc mới toàn cầu [170]
Hiện nay, Việt Nam đứng hàng thứ 12/22 nước có độ lưu hành lao caonhất và đứng thứ 3 trong vùng Châu Á-Thái Bình Dương sau Trung Quốc vàPhillipine Bệnh lao cũng là một trong 5 nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở
Trang 16Việt Nam Số tử vong do bệnh lao chiếm tỷ lệ rất cao (23 trường hợp/100.000dân) Theo WHO vào năm 2010 Việt Nam với dân số 88 triệu người, chươngtrình chống lao quốc gia thu nhận điều trị 99.022 bệnh nhân lao các thể, trong đó
có 52.145 bệnh nhân lao phổi AFB (+) mới chiếm 52,7% [168]
Theo kết quả điều tra tình hình nhiễm và mắc lao toàn quốc VINCOTBnăm 2006-2007, cho thấy số người bệnh lao hiện mắc tăng cao hơn trước đây:nguy cơ nhiễm lao hàng năm ở Việt Nam là 1,67%; tỷ lệ hiện mắc lao phổiAFB(+) các thể ở Việt Nam là 145/100.000 dân (cao hơn ước tính 1,6 lần) và tỷ
lệ hiện mắc lao phổi AFB (+) mới là 114/100.000 (cao hơn ước tính 1,5 lần).Tuy nhiên, tỷ lệ phát hiện bệnh lao các thể chỉ đạt 54% (45-72%) so với ướctính Tỷ lệ lao kháng đa thuốc là 2,7% (2-3,7%) trong số bệnh nhân lao mới và19% (14-25%) trong số bệnh nhân lao điều trị lại [4, 82, 168]
Nghiên cứu tại các nơi (Cần Thơ, Hà Nội, Tp.HCM và Tiền Giang) đãchứng minh phải thực hiện thành công DOTS để đạt tỷ lệ điều trị khỏi > 85%cho lao phổi AFB (+) mới – mục tiêu của WHO [14, 20, 22, 28]
Ở Việt Nam từ cuối năm 1990 đã phát hiện được trường hợp mắc lao trênbệnh nhân nhiễm HIV, tỷ lệ đồng nhiễm lao-HIV tăng dần (1996- 0,45%; 2002-3%; 2004-4.4%; 2006-4,9%; 2008-5% và 2010-8,4%) Theo báo cáo WHO năm
2010 tại Việt Nam có 42.356 bệnh nhân đồng nhiễm lao/HIV [5, 24]
Tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2008 khi kết hợp đồng thời điều trịthuốc kháng virus ARV ở bệnh nhân lao/HIV đã cải thiện tỷ lệ lành bệnh (69,3%
so với 67,8%) và tử vong giảm [23] Cần thiết phải ưu tiên can thiệp, tích hợp vàhội nhập vào hệ thống y tế chung chương trình HIV và chương trình chống lao[169]
Trang 171.1.2 Triệu chứng lâm sàng của bệnh lao phổi
Hầu hết các trường hợp lao phổi không có triệu chứng lâm sàng hoặc triệuchứng lâm sàng không rõ rệt, một số trường hợp được phát hiện tình cờ quakhám sức khỏe định kỳ, hoặc được phát hiện với bệnh cảnh cấp tính như ho ramáu, đau ngực, khó thở, sốt cao, suy kiệt
Các triệu chứng toàn thân của bệnh bao gồm [36]:
Mệt mỏi: không giảm khi nghỉ ngơi, tăng dần vào buổi chiều và kéo dài daidẳng
Chán ăn, ăn không ngon miệng
Gầy sút, sụt cân: đây là triệu chứng quan trọng để gợi ý chẩn đoán và theo dõikhả năng đáp ứng với điều trị của bệnh nhân
Sốt nhẹ: tăng dần khi làm việc và giảm khi nghỉ ngơi, có thể kèm theo mồ hôiban đêm Triệu chứng sốt gặp trong khoảng 60 – 80% các trường hợp
Các triệu chứng cơ năng bao gồm [36]:
Ho: là triệu chứng thường gặp nhất trong lao phổi Lúc đầu là ho khan, daidẳng, thường vào buổi sáng, về sau ho có đàm nhầy, hoặc mủ nhầy Khilượng đàm tăng nhiều và thành mủ, có thể gợi ý đến hang lao
Ho ra máu: ít khi là triệu chứng khởi phát và thường là kết quả của bệnh laophổi trước đó đang tiến triển Lượng máu thường thay đổi từ mức độ nhẹ nhưđàm dính máu đến rất nặng (ho ra máu sét đánh, với lượng máu có thể trên1000ml/24 giờ)
Đau ngực: có thể âm ỉ hoặc đau nhói đột ngột, đau tăng lên khi thở sâu hoặc
ho Đau ngực thường có liên quan đến tổn thương hoặc phản ứng của màngphổi
Trang 18 Khó thở: ít xảy ra, trừ khi có tổn thương phổi rộng hoặc có tràn khí, tràn dịchmàng phổi kèm theo, hay trên cơ địa có bệnh lý mạn tính Khó thở thường làtăng dần, thường gặp nhịp thở nhanh nông, nhưng có thể nhịp thở rất chậm.
Xanh tím: thường gặp trong bệnh cảnh nặng Sự thiếu oxy có thể là mạn tínhhoặc cấp tính do tắc nghẽn đường dẫn khí đột ngột
1.1.3 Chẩn đoán bệnh lao phổi
Chẩn đoán bệnh lao phổi sẽ bao gồm:
Thăm hỏi triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân
Bao gồm các phương pháp xét nghiệm sau:
Nhuộm soi đàm trực tiếp tìm AFB: Tất cả những người có triệu chứng nghi
lao phổi phải được xét nghiệm đờm ít nhất 2 mẫu, tốt nhất là 3 mẫu: 1 mẫu tạichỗ khi đến khám, 1 mẫu buổi sáng sớm sau ngủ dậy và mẫu thứ 3 lấy tại chỗkhi đem mẫu đờm buổi sáng đến phòng xét nghiệm Trong các phương phápnhuộm thì kỹ thuật nhuộm Ziehl-Neelsen được đánh giá là nhanh nhất(khoảng 30 phút), độ chính xác cao, đơn giản, dễ làm và rẻ tiền nên thườngđược dùng rộng rãi Tuy nhiên soi đàm có nhược điểm là chỉ phát hiệnkhoảng 50 – 80% các trường hợp lao phổi và cần phải có ≥ 5.000 AFB/mlmới có thể kết luận là dương tính Do đó kết quả soi đàm không được sử dụng
để loại trừ lao phổi
Trang 19 Phương pháp nuôi cấy tìm vi khuẩn lao: cấy phân lập vi khuẩn lao là tiêuchuẩn để chẩn đoán lao phổi Độ nhạy của phương pháp này là 80 – 85% và
độ đặc hiệu là 98% Do đó, mẫu đàm sau khi được nhuộm soi trực tiếp dù kếtquả dương tính hay âm tính đều phải cấy tìm vi khuẩn lao và làm kháng sinh
đồ để đánh giá tình trạng kháng thuốc Nuôi cấy trong môi trường đặc cho kếtquả sau 6 - 8 tuần trong khi nuôi cấy trong môi trường lỏng (MGIT, BATEC)cho kết quả sớm hơn khoảng 10 ngày
X - quang phổi: X – quang phổi là phương tiện được sử dụng rộng rãi và cógiá trị cao trong chẩn đoán lao phổi, nhất là trong những trường hợp có triệuchứng lâm sàng nghi ngờ nhưng soi đàm trực tiếp hoặc cấy đàm âm tính.Ngoài ra, các dấu hiệu trên X – quang phổi còn cho biết được mức độ tổnthương phổi, diễn tiến bệnh học xảy ra trong quá trình tiến triển của laonguyên phát hay thứ phát và theo dõi, đánh giá kết quả điều trị Tổn thươngtrên X – quang được khảo sát về các đặc điểm: vị trí tổn thương (một bên/haibên, bên phải/bên trái, trên/dưới), tính chất phân bố tổn thương (khu trú/lantỏa) và các dạng hình ảnh tổn thương Một số hình ảnh tổn thương đặc trưngtrong bệnh lao phổi bao gồm:
o Nốt: rất thường gặp, kích thước khoảng 1 – 2 cm, có thể rời rạc hoặc
gom tụ lại thành đám mờ
o Hình ảnh hang: một hình tăng sáng được giới hạn rõ bởi một bờ cản
quang, có thể dày hoặc mỏng, hang có kích thước thay đổi, đường kínhthường ≥ 2 cm, có thể có một hay nhiều hang, thường gặp ở thùy trênphổi phải
o Đám mờ: ít gặp, có thể theo hệ thống hay không, đồng nhất hoặc không
đồng nhất
Trang 20o Hạt kê: là những hạt li ti, có kích thước từ 1 – 3 mm, bờ rõ, cùng một
kích thước, phân bố lan tỏa đều khắp hai phế trường tạo nên hình ảnhlao kê, thường gặp ở trẻ nhỏ
o Hình ảnh xơ, đóng vôi: thường gặp và nó cho biết tình trạng tổn thương
lao đã cũ
o Một số hình ảnh khác có thể gặp như: tràn dịch màng phổi, hình ảnh rối
loạn thông khí, đường mờ, tổn thương mô kẽ
Hình 1.1 Tổn thương dạng thâm nhiễm ở bệnh nhân lao phổi
Trang 21Hình 1.2 Hình ảnh đông đặc thùy trên phổi phải
Hình ảnh 1.3 Hình hang bờ dầy ở bệnh nhân lao phổi
Trang 22Hình 1.4 Hình ảnh tràn dịch màng phổi với đường cong Damoiseau
Phản ứng Tuberculin (TST test): Phản ứng TST test chỉ có ý nghĩa hỗ trợtrong chẩn đoán, nhất là chẩn đoán lao ở trẻ em khi phản ứng dương tínhmạnh (≥ 15 mm đường kính cục phản ứng với Tuberculin) Độ nhạy và độđặc hiệu của phản ứng tuberculin rất thay đổi, trong đó kết quả âm tính giả là25% vì vậy độ nhạy của xét nghiệm này rất thấp Thử nghiệm được thực hiệnbằng cách tiêm 0,1 ml dung dịch PPD trong da, và sau đó đọc kết quả sau 48– 72 giờ Nếu phản ứng dương tính sẽ thấy một vùng mẫn đỏ và một nốt sầncứng ở da Đo đường kính của nốt sần bằng thước đo trong suốt theo chiềungang cánh tay
Các xét nghiệm khác: công thức máu thường trong giới hạn bình thường,ngoại trừ bạch cầu và lympho có thể tăng Trong đợt cấp tính thì bạch cầu đanhân có thể tăng lúc đầu Ngoài ra, giảm bạch cầu cũng có thể gặp trong bệnhlao phổi Tình trạng thiếu máu có thể xảy ra trong khoảng 10 -30% bệnh nhân
Trang 23lao Tốc độ lắng máu thường tăng cao (có thể cao gấp 5 – 10 lần trị số bìnhthường) có giá trị hỗ trợ chẩn đoán lao trong giai đoạn sớm và theo dõi diễn
tiến điều trị [135]
1.1.4 Phân loại bệnh lao phổi theo WHO
Phân loại theo kết quả xét nghiệm soi tươi trực tiếp [3]
Lao phổi AFB (+): Đảm bảo một trong các tiêu chuẩn sau:
o Tối thiểu có 2 tiêu bản AFB (+) từ 2 mẫu đờm khác nhau
o Một tiêu bản đờm AFB (+) và hình ảnh nghi lao trên X - quang phổi
o Một tiêu bản đờm AFB (+) và nuôi cấy dương tính
Lao phổi AFB (-): Đảm bảo một trong các tiêu chuẩn sau:
o Kết quả xét nghiệm đờm AFB (-) ít nhất 3 mẫu đờm khác nhau, có tổnthương nghi lao trên X - quang phổi, không đáp ứng với kháng sinhphổ rộng, đáp ứng với phác đồ điều trị lao đầy đủ được quyết định bởibác sĩ lâm sàng
o Kết quả xét nghiệm đờm AFB (-) nhưng nuôi cấy dương tính
Phân loại theo tiền sử điều trị lao [3]
Lao mới: Người bệnh chưa bao giờ dùng thuốc hoặc mới dùng thuốc chốnglao dưới 1 tháng
Lao tái phát: Người bệnh đã được điều trị lao và được thầy thuốc xác định làkhỏi bệnh, hay hoàn thành điều trị nay mắc bệnh trở lại AFB (+)
Lao điều trị thất bại: Người bệnh mới điều trị lần đầu, còn AFB(+) trong đờm
từ tháng điều trị thứ 5 trở đi, phải chuyển phác đồ điều trị
Trang 24 Lao điều trị lại sau bỏ trị: Người bệnh không dùng thuốc trên 2 tháng liên tụctrong quá trình điều trị, sau đó quay trở lại điều trị từ đầu với AFB (+) trongđờm.
Lao mạn tính: Người bệnh vẫn còn vi khuẩn lao trong đờm sau khi đã dùngcông thức tái trị có giám sát chặt chẽ việc dùng thuốc
1.1.5 Di chứng của bệnh lao phổi
Bệnh lao phổi nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì thường làkhông để lại di chứng Những người được điều trị lao trễ không những khó khăncho việc điều trị mà còn để lại rất nhiều di chứng sau này
Ho Ra Máu
Ho ra máu có thể lượng ít, vừa hay nhiều Ho ra máu sét đánh là thể ho ramáu nguy hiểm vì có thể gây tử vong nhanh chóng Ho ra máu trên bệnh nhânlao phổi đã được điều trị khỏi, rất hay thường gặp, do di chứng của lao phổi cũtổn thương nhiều và được điều trị lao trễ
Giãn Phế Quản
Vi khuẩn lao phá hủy nhu mô phổi, tổ chức xơ phát triển, dây xơ co kéolàm phế quản bị biến dạng hẹp lại Có khi trong lòng phế quản cũng bị tổnthương Phế quản của vùng phổi bị lao trước đó có thể bị di chứng giãn phếquản Đây là di chứng rất thường gặp, cả trẻ em và người lớn Đa số giãn phếquản ở nước ta là di chứng của bệnh lao phổi
Triệu chứng của giãn phế quản là khạc đàm mạn tính Đàm nhày để lắngthành nhiều lớp, khi có nhiễm trùng thì thành mủ Một triệu chứng và cũng làbiến chứng của giãn phế quản là ho ra máu Có thể chỉ là máu dính lẫn trongđàm, có thể là ho ra máu lượng nhiều, dai dẳng Nguyên nhân là các mạch máu ởthành phế quản đã bị giãn nở to ra, khi vỡ gây ho ra máu
Trang 25Hình 1.5 Di chứng giãn phế quản ở bệnh nhân lao phổi
thể bị nấm Aspergillus fumigatus trong không khí bám vào rồi sinh sôi, phát triển
thành cục nấm gọi là u nấm phổi Triệu chứng của u nấm là bệnh nhân ho ramáu, có thể là lượng nhiều, dai dẳng Khi chụp Xquang hoặc chụp CT-Scanngực sẽ thấy hình ảnh cục nấm nằm trong hang như cái lục lạc
Trang 26Hình 1.6 Hình ảnh u nấm phổi Aspergillus fumigatus ở bệnh nhân có tiền sử lao
phổi
Xơ Phổi
Vùng nhu mô phổi bị lao khi lành bệnh sẽ thành sẹo, gọi là bị hóa xơ Nếu
ít, không ảnh hưởng đến chức năng phổi Nếu nhiều phần phổi bị xơ không hoạtđộng trao đổi khí được, bệnh nhân bị suy hô hấp Có nhiều bệnh nhân khi chụpphim phổi tình cờ phát hiện có tổn thương xơ, di chứng của lao trước đó đã tựkhỏi Không có điều trị riêng biệt cho di chứng này
Tràn Khí Màng Phổi
Các tổn thương dạng bóng khí nằm ở sát bên màng phổi có thể bị vỡ làmkhông khí tràn vào khoang màng phổi gọi là tràn khí màng phổi Đây là biếnchứng nặng, gây suy hô hấp nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời Biếnchứng có thể xảy ra sau một gắng sức hoặc không có tác nhân nào cụ thể Bệnhnhân đột ngột thấy đau ngực, khó thở nhiều hay ít là tùy tình trạng hô hấp trước
đó của bệnh nhân Nếu là người đã suy hô hấp do di chứng của bệnh phổi khác
Trang 27có sẵn, bị COPD, thì tràn khí màng phổi sẽ gây suy hô hấp cấp nguy hiểm đếntính mạng
Hình 1.7 Tràn khí màng phổi ở bệnh nhân lao phổi
Suy Hô Hấp Mạn Tính
Nếu bệnh lao quá nặng, tổn thương phổi nhiều, thì sau khi chữa khỏi dichứng cũng rất nặng nề Phổi bị xơ hóa nhiều, không hoạt động trao đổi khíđược, bệnh nhân sẽ suy hô hấp mạn tính
1.2 Tổng quan về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
1.2.1 Định nghĩa bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Năm 2006, GOLD xuất bản hướng dẫn quản lý bệnh COPD trong đó địnhnghĩa COPD như sau: COPD, một bệnh có thể phòng ngừa và điều trị, có các
ảnh hưởng ngoài phổi đáng kể có thể góp phần tác động đến độ nặng trên từng
bệnh nhân Tác động lên phổi của COPD được mô tả bằng giới hạn luồng khíkhông thể đảo ngược hoàn toàn Giới hạn luồng khí thường tiến triển và đi kèmvới đáp ứng viêm bất thường ở phổi đối với các phân tử hoặc khí độc hại [73]
Trang 28Năm 2013, GOLD công bố bản cập nhật của hướng dẫn này với định nghĩa lạibệnh COPD như sau: COPD, một bệnh có thể phòng ngừa và điều trị, được mô
tả bằng giới hạn luồng khí kéo dài tiến triển kèm theo đáp ứng viêm mạn tính lantỏa trong đường thở đối với các phân tử hoặc khí độc hại Các ảnh hưởng ngoàiphổi và bệnh lý đi kèm đều góp phần vào bệnh cảnh chung của bệnh nhân [75].Như vậy trong cả định nghĩa năm 2006 và 2013, GOLD đều nhấn mạnh đến haiyếu tố là giới hạn luồng khí và ảnh hưởng ngoài phổi của bệnh COPD
Đặc điểm giới hạn luồng khí trong bệnh COPD được gây ra bởi sự phốihợp giữa bệnh phế quản nhỏ (viêm phế quản tắc nghẽn) và sự phá hủy nhu môphổi (khí phế thũng) Cả hai hiện tượng này đều do quá trình mạn tính gây ra.Quá trình viêm mạn tính sẽ dẫn đến:
Biến đổi cấu trúc và làm hẹp tiểu phế quản,
Phá hủy nhu mô phổi dẫn đến phế nang mất khả năng bám dính vào tiểu phếquản, làm giảm sự đàn hồi co giãn của phổi từ đó làm mất khả năng nở ra củatiểu phế quản trong suốt quá trình thở ra
Các ảnh hưởng ngoài phổi của COPD có thể đưa đến những tình trạngbệnh lý đi kèm Sụt cân, rối loạn dinh dưỡng, rối loạn cơ xương là những ảnhhưởng ngoài phổi của COPD và bệnh nhân có nguy cơ cao mắc các bệnh nhồimáu cơ tim, đau thắt ngực, loãng xương, nhiễm trùng hô hấp, dễ gãy xương,trầm cảm, đái tháo đường, rối loạn giấc ngủ, thiếu máu và glaucoma [45]
1.2.2 Dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Hiện nay, việc thống kê số hiện mắc COPD trên thế giới vẫn chưa đầy đủ
vì nhiều lý do như định nghĩa COPD chưa được thống nhất, thiếu trang thiết bịchẩn đoán [142] Tuy nhiên, có một xu hướng ngày càng rõ rệt là số mắc COPDngày càng gia tăng trên phạm vi toàn cầu Năm 2003, COPD là nguyên nhân gây
Trang 29tử vong đứng hàng thứ ba trên thế giới [110] Năm 2006, COPD cũng xếp thứ batrong các nguyên nhân gây tử vong phổ biến ở 25 nước thành viên Châu Âu(chiếm 8% số ca tử vong) [122] Panettieri đưa ra kết luận rằng tỷ lệ COPD tăngcao ở các nước có tỷ lệ HTL cao so với các nước có tỷ lệ HTL thấp[127].
Các nghiên cứu gần đây cho thấy các nước Châu Á có tỷ lệ mắc COPDcao hơn hẳn so với các quốc gia thuộc các Châu Âu và Châu Mỹ La Tinh Theothống kê của Hiệp hội Hô Hấp Châu Á Thái Bình Dương, tỷ lệ mắc COPD củacác nước Châu Á là 6,3% trong đó thấp nhất là Hong Kong và Singapore chiếm3,5% và cao nhất là Việt Nam chiếm 6,7%[120]
COPD cũng gây ra gánh nặng kinh tế to lớn cho nhiều quốc gia Tại cácquốc gia Liên Minh Châu Âu, tổng ngân sách dành cho bệnh đường hô hấpchiếm khoảng 6% ngân sách dành cho chăm sóc y tế, trong số này ngân sáchdành cho COPD đã chiếm đến 56% (khoảng 38,6 tỷ euro) [65] Tại Mỹ ngânsách trực tiếp dành cho COPD là 29,5 tỷ đôla và gián tiếp là 20,4 tỷ đôla [121].Tại các nước đang phát triển việc ước tính gánh nặng chi phí do COPD gặp rấtnhiều khó khăn vì các chi phí trực tiếp dành cho chăm sóc bệnh nhân khôngphản ánh đúng gánh nặng chi phí do COPD Thực vậy, khi một người mắcCOPD, người thân trong gia đình phải chăm sóc bệnh nhân, chi phí mà ngườithân này bỏ ra quan trọng hơn so với chi phí khám chữa bệnh cho bệnh nhân đó.Tuy nhiên chi phí này lại rất khó có thể ước tính đầy đủ
Tại Việt Nam, các nghiên cứu khảo sát về dịch tễ COPD còn rất ít nhưngcũng phần nào cho thấy được tỷ lệ COPD trong dân số Nghiên cứu của NguyễnQuỳnh Loan (2002) cho thấy tỷ lệ mắc COPD trong cộng đồng dân cư trên 35tuổi của Phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, Hà Nội là 1,53% [14] Năm
2003, nhóm nghiên cứu của Hội Hô Hấp Châu Á – Thái Bình Dương đã tính
Trang 30toán tần suất COPD trung bình và nặng của người Việt Nam trên 35 tuổi là 6,7%,cao nhất khu vực [55] Một nghiên cứu dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn toàn quốcthực hiện từ tháng 9 năm 2006 đến tháng 6 năm 2007 của Nguyễn Thị Xuyên,Đinh Ngọc Sỹ và cộng sự cho thấy tỷ lệ mắc COPD chung cho cả nước 2,2% và
tỷ lệ ở nam 3,4%, ở nữ 1,1% Tỷ lệ mắc COPD ở lứa tuổi trên 40 tuổi là 4,2%,trong khi nhóm dưới 40 tuổi là 0,4% Cũng trong hội nghị Lao và Bệnh Phổitháng 6 năm 2011 nhóm tác giả cho biết tỷ lệ COPD trong cộng đồng dân cưViệt Nam từ 40 tuổi trở lên là 4,2%, trong đó nam chiếm 7,1% và nữ chiếm1,9% Nếu chia theo khu vực thì nông thôn 4,7%, thành thị 3,3% và miền núi3,6% [32]
1.2.3 Các yếu tố nguy cơ của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Mặc dù thuốc lá có thể xem là nguyên nhân chính gây ra bệnh nhưng cácnghiên cứu khoa học gần đây đã chứng minh rằng HTL không phải là yếu tốnguy cơ duy nhất gây ra bệnh bởi vì cùng với tiền sử HTL như nhau nhưng cóngười không mắc bệnh và có những người không HTL lại có thể mắc COPD[43] Một số yếu tố nguy cơ khác ngoài HTL hiện nay được cho là có mối liênquan với COPD bao gồm:
Yếu tố di truyền
Một yếu tố di truyền đã được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu có ảnhhưởng đến nguy cơ mắc bệnh COPD chính là sự thiếu hụt nặng alpha – 1antitrypsin, một men protease serine ức chế tuần hoàn, được di truyền qua cácthế hệ trong cùng một gia đình Mặc dù sự thiếu hụt alpha – 1 antitrypsin chỉ xảy
ra rất ít trong dân số trên thế giới, nhưng mối quan hệ này đã cho thấy sự tươngtác giữa các yếu tố di truyền và phơi nhiễm môi trường dẫn đến bệnh COPD.Một nghiên cứu đã chứng minh điều này khi kết quả nghiên cứu cho thấy những
Trang 31bệnh nhân là anh em với nhau cùng HTL và cùng mắc bệnh COPD nặng có sựgiới hạn luồng khí mang tính chất di truyền [113] Một vài nghiên cứu về ditruyền học cũng chứng minh được một số gen như gen mã hóa protein MMP12,gen ức chế thụ thể alpha-nicotin acetylcholine và một số gen khác đóng vai tròquan trọng trong sự suy giảm chức năng của phổi, nhưng mối liên quan giữa cácgen này và COPD vẫn chưa được khẳng định một cách chính xác [51]
Tuổi và giới tính
Tuổi luôn được xem là một yếu tố nguy cơ của COPD Cho đến nay cácnhà khoa học vẫn chưa biết được lớn tuổi dẫn đến COPD hay tuổi cao là giaiđoạn mà sự tích tũy phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ bộc phát Trước đây cácnghiên cứu nhận thấy đàn ông mắc bệnh và tử vong nhiều hơn ở nữ nhưngnhững nghiên cứu tại nhiều nước phát triển cho thấy số mắc bệnh ở nam và nữ làngang nhau, điều này phản ánh sự thay đổi xu hướng HTL ở cả hai giới [109].Một số nghiên cứu thì lại phát hiện rằng nữ có khả năng nhạy cảm hơn với thuốc
lá so với đàn ông và vì vậy dễ mắc COPD hơn [70]
Quá trình tăng trưởng và phát triển của phổi
Quá trình tăng trưởng phổi liên quan đến một loạt các quá trình xảy ra từkhi mang thai, sinh ra đời và tiếp xúc với các chất trong suốt giai đoạn thơ ấu vàtrưởng thành của một con người Các nghiên cứu cho thấy việc giảm thể tích tối
đa phổi của một cá nhân là một yếu tố nguy cơ khiến người đó mắc bệnh COPD[149] Các yếu tố gây ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng của phổi trong thai
kỳ và thời thơ ấu chẳng hạn nhiễm trùng bào thai, cân nặng sơ sinh cũng chính lànhững yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh COPD [98, 151]
Trang 32Phơi nhiễm với các phân tử độc hại
HTL từ lâu đã được xem như là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây COPD.Người HTL có khả năng mắc các triệu chứng hô hấp, bất thường chức năng phổi
và giảm dung tích sống cao gấp nhiều lần so với người không HTL Các loạithuốc lá khác như thuốc tẩu, xì gà, bồ đà cũng đã được chứng minh là yếu tốnguy cơ đối với bệnh COPD Phơi nhiễm thụ động với khói thuốc lá (còn gọi làkhói thuốc lá môi trường) có lẽ cũng góp phần gây ra các triệu chứng hô hấp vàCOPD
Việc phơi nhiễm nghề nghiệp với các bụi hữu cơ và vô cơ hoặc các chấthóa học cũng là một yếu tố nguy cơ gây COPD nhưng thường không được quantâm ATS đã kết luận rằng phơi nhiễm nghề nghiệp chiếm đến 10 – 20% cáctrường hợp mắc COPD có triệu chứng hoặc COPD kèm suy chức năng phổi
Các chất ô nhiễm trong nhà cũng là một nguồn tác nhân có khả năng làmtăng nguy cơ mắc COPD Các chất như mùn gỗ, lông động vật, bụi than đượcđốt cháy đều là những chất có khả năng đi vào phổi và gây ra tình trạng viêmnhiễm mạn tính, một điều kiện tiên quyết cho việc hình thành bệnh COPD Gầnđây, các nghiên cứu còn phát hiện các chất đốt sinh khối được dùng trong nấunướng và sưởi ấm tại các hộ gia đình cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng dẫnđến mắc bệnh COPD Hiện nay có khoảng 3 tỷ người trên thế giới sử dụng chấtđốt sinh khối và than làm nguồn năng lượng để nấu nướng, sưởi ấm và các nhucầu gia đình khác, vì vậy dân số nguy cơ mắc COPD thông qua việc phơi nhiễmvới các chất đốt này là rất lớn
Sự liên quan giữa chất ô nhiễm ngoài trời và COPD hiện nay vẫn chưa rõ.Điều này là do rất khó đánh giá việc tiếp xúc của một người với một chất nào đótrong môi trường khí quyển bị ô nhiễm Các nghiên cứu chỉ ra rằng các khí thải
Trang 33từ nguồn chất đốt dầu mỏ, đặc biệt là khí thải từ động cơ xe máy có sự liên hệchặt chẽ với sự suy giảm chức năng hô hấp, tuy nhiên chưa thể chứng minh đượcrằng chúng có mối liên hệ với bệnh COPD hay không
Tình trạng kinh tế xã hội
Nghèo đói chắc chắn là một yếu tố nguy cơ của COPD, tuy nhiên thànhphần nào của nghèo đói gây ra bệnh vẫn chưa được biết rõ Các bằng chứng khoahọc xác đáng ủng hộ kết luận rằng nguy cơ mắc COPD sẽ tỷ lệ nghịch với tìnhtrạng kinh tế xã hội Tuy nhiên các nhà khoa học không biết rằng yếu tố ô nhiễmkhông khí trong nhà hay ngoài trời, tình trạng đông đúc, dinh dưỡng kém, bệnhnhiễm trùng hay các yếu tố khác tạo ra mối liên quan này
Hen suyễn
Suyễn có lẽ là một yếu tố nguy cơ của COPD mặc dù các bằng chứng hiệnnay vẫn còn khá mơ hồ Một nghiên cứu cho thấy ở người trưởng thành mắcsuyễn sẽ có khả năng mắc COPD cao gấp 12 lần so với người không mắc suyễnsau khi đã hiệu chỉnh theo HTL Một nghiên cứu khác trên người bệnh suyễn cóthấy có khoảng 20% số đối tượng có giới hạn luồng khí tiến triển không thể đảonghịch và giảm hiệu quả trao đổi khí
Cơ chế gây giới hạn luồng khí mạn tính ở bệnh nhân không HTL và bịsuyễn khác hoàn toàn so với cơ chế ở người HTL nhưng không bị suyễn Điềunày gợi ý rằng có lẽ hai thể bệnh này có sự khác biệt mặc dù có chung đặc điểmsuy giảm chức năng phổi
Viêm phế quản mạn tính
Nghiên cứu của Fletcher và cộng sự từ năm 1977 đã cho thấy viêm phếquản mạn không có mối liên quan đến sự suy giảm chức năng phổi Tuy nhiên,các nghiên cứu gần đây lại chứng minh được sự kết hợp giữa tăng tiết dịch nhầy
Trang 34phế quản và suy giảm FEV1, đồng thời những bệnh HTL trẻ mắc viêm phế quảnmạn có nhiều khả năng mắc COPD.
Bệnh truyền nhiễm
Nhiễm trùng hô hấp xảy ra trong thời thơ ấu có mối liên hệ với giảm chứcnăng phổi và tăng các triệu chứng hô hấp khi trưởng thành Cảm nhiễm với bệnhtruyền nhiễm có thể đóng vai trò quan trọng trong việc làm tăng mức độ trầmtrọng của COPD nhưng cơ chế ảnh hưởng như thế nào thì vẫn chưa được biết
Nhiễm HIV đã được chứng minh là làm thúc đẩy sự khởi phát tình trạngkhí phế thũng do HTL Lao cũng được chứng minh là một yếu tố nguy cơ củaCOPD[96, 115] Thêm vào đó, lao vừa là chẩn đoán phân biệt của COPD vừa làmột bệnh có khả năng đồng mắc [89]
1.2.4 Triệu chứng lâm sàng của bệnh COPD
Ba triệu chứng lâm sàng đặc trưng trong diễn tiến bệnh của COPD chính
là ho, khạc đàm và khó thở Ba triệu chứng này thay đổi theo thời gian và khôngliên quan đến chức năng phổi bị suy giảm Vì vậy có trường hợp bệnh nhân bịgiai đoạn nặng nhưng có thể có hoặc không có các triệu chứng này
Khó thở
Khó thở chính là triệu chứng quan trọng nhất ở bệnh nhân COPD vàthường là lý do khiến bệnh nhân đi khám bệnh Đặc trưng của triệu chứng này làkéo dài dai dẳng và tiến triển Trong giai đoạn đầu bệnh nhân có thể chỉ khó thởmột chút ít nhưng khi FEV1 giảm xuống 30% thì bệnh nhân thường xuyên khóthở ngay cả khi vận động nhẹ[45], thở rít và có cảm giác đau thắt ngực Nếukhông có thở rít hoặc đau thắt ngực cũng không thể loại trừ COPD
Trang 35Ho mạn tính
Đây thường là triệu chứng đầu tiên của bệnh và bệnh nhân thường ít quantâm do nghĩ đó là hệ quả của việc HTL nhiều và/hoặc tiếp xúc nhiều với môitrường ô nhiễm Ban đầu, bệnh nhân chỉ ho cách quãng, về sau ho ngày càngnhiều có thể là cả ngày, đôi khi cả ban đêm Ho mạn tính có thể không liên quanđến mức độ nặng của giới hạn luồng khí trong một số trường hợp
Khạc đàm
Trong dân số chung, tỷ lệ bệnh nhân có ho và khạc đàm có thể dao động
từ 15 – 44% ở nam và 6 – 17% ở nữ[161] Các triệu chứng này tăng dần theotuổi và có mối liên quan chặt chẽ với thói quen HTL (60% người HTL ở độ tuổi
60 khai báo có các triệu chứng này), và các yếu tố nguy cơ khác như phơi nhiễmnghề nghiệp, nhiễm trùng đường hô hấp từ nhỏ, ô nhiễm không khí Theo thờigian, tình trạng của các triệu chứng này sẽ liên quan nhiều đến những thay đổitình trạng HTL của bệnh nhân
Theo phân giai đoạn COPD của GOLD, thì sự hiện diện của ho và/hoặckhạc đàm thường xảy ra trong giai đoạn 0 Tuy nhiên các nghiên cứu đã chỉ rarằng sự xuất hiện của các triệu chứng này không liên quan gì đến sự tắc nghẽnđường dẫn khí [160] Ngược lại ngày càng có nhiều bệnh nhân bị tắc nghẽnđường dẫn khí và đồng thời hiện diện các triệu chứng này ở giai đoạn vừa đếnnặng ở cả nam và nữ Còn trong các ca nặng, thì có đến 80% đối tượng là cótriệu chứng này[176]
Thời gian đầu bệnh nhân thường khạc đàm ít, chỉ vài ml/ngày, đàm nhầy
và trong Sau đó số lượng đàm tăng dần, chứng tỏ bệnh nhân đang trong giaiđoạn giãn phế quãn Dấu hiệu đàm trong suốt trong giai đoạn đầu chứng tỏ bệnh
Trang 36nhân chỉ mới bị viêm mạn tính đơn thuần, càng về sau đàm càng đục chứng tỏ đã
có hiện tượng bội nhiễm vi khuẩn trong phế quản phổi[150]
Định nghĩa dịch tễ học quy định bệnh nhân khạc ra đàm trên 3 tháng trởlên trong 2 năm liên tiếp được coi là mắc viê phế quản mạn tính Tuy nhiên địnhnghĩa này chỉ mang tính lý thuyết vì không thể đánh giá được chính xác lượngđàm của bệnh nhân, nhất là trong trường hợp bệnh nhân thường nuốt đàm màkhông khạc ra
Các triệu chứng khác
Thở khò khè và nặng ngực là những triệu chứng lâm sàng không điển hìnhcủa bệnh, có thể thay đổi rất lớn giữa các ngày và thậm chí trong cùng một ngày.Nếu bệnh nhân không có các triệu chứng này cũng không thể nào loại suy chẩnđoán bệnh COPD và sự hiện diện của hai triệu chứng này cũng không thể nàogiúp chẩn đoán bệnh COPD
Các triệu chứng khác bao gồm mệt mỏi, chán ăn, sụt cân là các triệuchứng thường gặp trong giai đoạn COPD nặng và rất nặng Các triệu chứng này
có giá trị tiên lượng quan trọng và có thể là dấu hiệu cảnh báo mắc một số bệnhkhác chẳng hạn lao, ung thư phổi, do đó cũng nên kiểm tra kỹ các triệu chứngnày trên bệnh nhân
1.2.5 Chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Việc chẩn đoán bệnh COPD bao gồm:
- Khám triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân với ba triệu chứng đặc trưng làkhó thở tiến triển kéo dài, ho mạn tính, và khạc đàm mạn tính;
- Thăm hỏi tiền sử phơi nhiễm yếu tố nguy cơ và tiền sử gia đình;
- Sử dụng hô hấp ký để đo lường giới hạn luồng khí của bệnh nhân
Trang 37Việc thăm khám thực thể cho bệnh nhân chỉ mang tính chất tham khảo, ítkhi sử dụng trong chẩn đoán COPD bởi vì các dấu hiệu thực thể của bệnh thườngchỉ xuất hiện khi phổi đã bị suy chức năng do đó độ nhạy và độ đặc hiệu của cácdấu hiệu thực thể là rất thấp Có một vài dấu hiệu thực thể xuất hiện trong COPDnhưng nếu không có các triệu chứng này cũng không thể loại trừ bệnh COPD
Thăm hỏi tiền sử phơi nhiễm yếu tố nguy cơ và tiền sử gia đình
Việc thăm hỏi tiền sử phơi nhiễm yếu tố nguy cơ và tiền sử gia đình phảichi tiết, cụ thể và gồm các khía cạnh sau đây:
Phơi nhiễm của bệnh nhân với yếu tố nguy cơ chẳng hạn HTL, phơi nhiễmnghề nghiệp hoặc môi trường
Tiền sử bệnh lý của bệnh nhân chẳng hạn suyễn, dị ứng, viêm xoang, polypmũi, nhiễm trùng hô hấp lúc nhỏ và các bệnh hô hấp khác
Tiền sử gia đình mắc bệnh COPD và các bệnh hô hấp mạn tính khác
Kiểu phát triển triệu chứng: COPD thường xảy ra ở tuổi trưởng thành và hầuhết bệnh nhân đều ý thức được diễn tiến khó thở tăng dần, thường có các cơn
ớn lạnh, và giới hạn sinh hoạt trong vòng một vài năm trước khi phải đi khámbệnh
Tiền sử các đợt kịch phát bệnh và các đợt nhập viện vì rối loạn hô hấp: bệnhnhân có thể cảm nhận được những lần triệu chứng bệnh trở nặng cho dùkhông ý thức được rằng đó là các đợt kịch phát bệnh
Các bệnh lý đi kèm chẳng hạn bệnh tim, rối loạn cơ xương, loãng xương vàkhối u ác tính cũng có thể góp phần làm giới hạn hoạt động của bệnh nhân
Tác động của bệnh đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bao gồm giảmhoạt động, bỏ lỡ công việc và gây tác động đến kinh tế, ảnh hưởng đến sinh
Trang 38hoạt trong gia đình, cảm thấy trầm cảm hoặc lo lắng vì bệnh, ảnh hưởng đếnsức khỏe và đời sống tình dục.
Sự hỗ trợ từ phía gia đình và xã hội dành cho bệnh nhân
Khả năng giảm thiểu các yếu tố nguy cơ đặc biệt là giảm HTL
Đo lường giới hạn thông khí
Hô hấp ký là một phương pháp hô hấp ký chẩn đoán giới hạn luồng khíhiệu quả, khách quan và đáng tin cậy nhất Để chẩn đoán mức độ giới hạn luồngkhí ở bệnh nhân COPD cần đo lường các chỉ số sau:
Dung tích sống gắng sức (FVC): là thể tích thu được do hít vào hết sức rồithở ra hết sức thật nhanh, thật mạnh và thật hết
Thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu (FEV1): là thể tích khí lớn nhất có thểthở ra được trong một giây đầu tiên
GOLD 1: Nhẹ với FEV1/FVC < 0,7 và FEV1 ≥ 80%
GOLD 2: Vừa với FEV1/FVC < 0,7 và 50% ≤ FEV1< 80%
GOLD 3: Nặng với FEV1/FVC < 0,7 và 30% ≤ FEV1< 50%
GOLD 4: Rất nặng FEV1/FVC < 0,7 và FEV1< 30%
Trang 391.2.6 Phân loại bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Cũng dựa vào 4 mức độ giới hạn luồng khí này, GOLD 2014 đã phân diễntiến bệnh thành 4 giai đoạn như sau:
Giai đoạn I: Giới hạn luồng khí nhẹ với FEV1/FVC < 0,7 và FEV1≥ 80%.Triệu chứng ho mạn tính và khạc đàm có thể xuất hiện nhưng không thườngxuyên Ở giai đoạn này bệnh nhân không nhận biết được bản thân có chứcnăng phổi bất thường
Giai đoạn II: Giới hạn luồng khí vừa với FEV1/FVC < 0,7 và 50% ≤ FEV1<80% Bệnh nhân có triệu chứng khó thở đặc trưng khi gắng sức, ho và đôi khikhạc đàm Ở giai đoạn này bệnh nhân thường đi khám vì triệu chứng hô hấpmạn tính hoặc các cơn kịch phát
Giai đoạn III: Giới hạn luồng khí nặng với FEV1/FVC < 0,7 và 30% ≤FEV1< 50% Bệnh nhân cảm thấy khó thở ngày càng nhiều, giảm khả năng
Trang 40vận động, mệt mỏi, và các cơn kịch phát thường xuyên ảnh hưởng đến chấtlượng cuộc sống bệnh nhân.
Giai đoạn IV: Giới hạn luồng khí rất nặng với FEV1/FVC < 0,7 và FEV1<30% hoặc FEV1< 50% + suy hô hấp mạn tính Suy hô hấp có thể dẫn đến ảnhhưởng tim như suy tim phải Các dấu hiệu của suy tim phải bao gồm tăng áplực tĩnh mạch cổ, và phù nề mắt cá chân Bệnh nhân có thể vào giai đoạn IVngay cả khi FEV1 > 30% nếu có bất kỳ những biến chứng nào nêu trên xảy
ra Vào giai đoạn này chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bị suy giảm đáng
kể và các cơn kịch phát có thể đe dọa tính mạng của bệnh nhân
1.3 Mối liên quan giữa lao và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Lao và COPD cùng có chung một số yếu tố nguy cơ như HTL, và tìnhtrạng kinh tế xã hội thấp Bên cạnh đó cả hai đều có các thành phần di truyền dễ
bị tổn thương, mặc dù sự giống nhau giữa các thành phần này ở mức nào thì vẫnchưa được biết đến
Quan điểm bệnh COPD là một biến chứng của lao phổi đã được đề cập vànghiên cứu tại nhiều khu vực khác nhau trên thế giới Một nghiên cứu được tiếnhành để đánh giá tác động của lao phổi lên số hiện mắc COPD, cho thấy số hiệnmắc COPD tăng lên 3,7 – 5% bằng cách tính luôn những người đã có tiền sửđiều trị lao phổi [93] Trong hội nghị năm 2006, GOLD đã kết luận rằng viêmphế quản mạn tính và khí phế thũng, hai đặc trưng của COPD có thể là do cácbiến chứng của lao phổi gây ra [130] Điều này có thể lý giải thông qua việc gâyrối loạn thông khí trong quá trình bệnh lao diễn tiến và các di chứng phổi do lao
để lại sau khi điều trị dẫn đến rối loạn thông khí và tình trạng viêm nhiễm trongbệnh COPD[81] Ngoài ra một vấn đề quan trọng khác cần lưu ý là mức độ tắcnghẽn đường thở trong bệnh COPD thay đổi theo chiều hướng tăng dần ở những