Kết quả của cuốn sách này sẽ giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc hơn tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng của Người về đào tạo và sử dụng cán bộ nói riêng và vận d
Trang 1TS PHẠM QUỐC THÀNH
VỀ ĐÀO TẠO
VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2CÁC CỘNG TÁC VIÊN
Nguyễn Phương An Lưu Xuân Công Nguyễn Anh Cường Nguyễn Ngọc Hân Trần Bách Hiếu Nguyễn Thị Kim Hoa Trần Thị Quang Hoa Đinh Ngọc Quý Đào Thành Trường
Đỗ Xuân Tuất Nguyễn Thanh Tùng
Trang 3
MỤC LỤC
Chương 1 9
VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ VÀ TẦM QUAN TRỌNG
CỦA VIỆC ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG CÁN BỘ 9
1.1 Cán bộ - quan niệm, vị trí, vai trò 9
1.2 Đào tạo, sử dụng cán bộ - quan niệm, tầm quan trọng 21
Chương 2 41
HỆ THỐNG QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ 41
2.1 Về ₫ào tạo cán bộ 41
2.1.1 Xây dựng tiêu chuẩn người cán bộ, ₫ảng viên 42
2.1.2 Đào tạo - huấn luyện cán bộ 49
2.2 Về sử dụng cán bộ 74
2.2.1 Nhận thức ₫úng tầm quan trọng của việc sử dụng cán bộ 75
2.2.2 Sử dụng ₫úng cán bộ 79
2.2.3 Phải khéo dùng cán bộ 83
2.2.4 Điều kiện ₫ể sử dụng cán bộ tốt 98
Chương 3 122
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ
TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY 122
3.1 Sự nghiệp ₫ổi mới và công tác ₫ào tạo, sử dụng cán bộ 122
3.1.1 Nhân tố tác ₫ộng 122
Trang 43.1.2 Thực trạng ₫ội ngũ cán bộ, ₫ảng viên 127
3.1.3 Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế
trong ₫ào tạo và sử dụng cán bộ 144
3.2 Học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ₫ào tạo và sử dụng cán bộ trong sự nghiệp ₫ổi mới hiện nay 151
3.2.1 Hồ Chí Minh với sự nghiệp ₫ào tạo và sử dụng cán bộ 151
3.2.2 Quan ₫iểm, nội dung vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về ₫ào tạo và sử dụng cán bộ trong giai ₫oạn hiện nay 167
KẾT LUẬN 175
Trang 5MỞ ĐẦU
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến cán bộ. Từ khi chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Người đã trực tiếp mở lớp huấn luyện cán bộ. Đến khi giành được chính quyền, việc huấn luyện cán bộ càng được chú trọng, quy mô huấn luyện ngày càng được mở rộng. Trước lúc đi xa, Người còn căn dặn: bồi dưỡng cán bộ cách mạng cho đời sau là một công việc quan trọng
và cần thiết. Nhận thức được tầm quan trọng và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ nói chung và việc huấn luyện cán bộ nói riêng, trong những năm qua, các nhà khoa học Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến
vấn đề này. Trong đó có các công trình tiêu biểu như: Hồ Chí Minh
với vấn đề đào tạo cán bộ (Đức Vượng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1995); Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ và công
tác cán bộ trong sự nghiệp đổi mới hiện nay (Nxb. Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 1997); Luận cứ khoa học cho việc nâng cao đội ngũ cán bộ
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
(Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2001); Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức cho cán bộ,
đảng viên (Phạm Quốc Thành, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
Trang 6chuẩn mực của cán bộ; Tuy nhiên, do hạn chế về chủ quan và khách quan mà nhiều vấn đề về cán bộ, đặc biệt là vấn đề đào tạo
và sử dụng cán bộ trong tư tưởng Hồ Chí Minh chưa được nghiên cứu thấu đáo.
Nội dung của cuốn sách phân tích vai trò của cán bộ và tầm quan trọng của việc đào tạo và sử dụng cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh; phân tích hệ thống các quan điểm Hồ Chí Minh về đào tạo và sử dụng cán bộ; phân tích làm sáng rõ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo và sử dụng cán bộ.
Thực tiễn lịch sử Việt Nam và thế giới đã chứng minh rằng
sự thành công hay thất bại, tồn vong, thịnh suy của mọi quốc gia, chế độ đều phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ những người lãnh đạo, quản lý, điều hành và hiền tài của quốc gia.
Theo Hồ Chí Minh, cán bộ là những người đem chính sách của Đảng và Chính phủ giải thích cho dân hiểu và đem nguyện vọng của dân chúng báo cáo Chính phủ để đặt chính sách cho đúng. Người chỉ rõ, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém. Chính vì vậy, đào tạo cán bộ theo nhu cầu của thực tiễn cách mạng và đòi hỏi của nhân dân luôn được đặt ra như một trong những vấn đề cốt yếu. Hồ Chí Minh luôn coi việc huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ, Đảng ta đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ đông đảo làm nòng cốt trong việc giải phóng dân tộc thành công và xây dựng chế độ mới đạt nhiều thành tựu. Nước ta hiện nay đang đứng trước một thời kỳ mới, thời cơ nhiều và thách thức cũng không ít. Do vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cán bộ nói chung và việc đào tạo và sử dụng cán bộ nói riêng. Mặt khác, thực tiễn sinh động nảy sinh nhiều vấn đề mới đòi hỏi chúng ta phải xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “hồng” ‐ “chuyên” thì mới đáp
Trang 7ứng được đòi hỏi trước mắt cấp bách cũng như yêu cầu lâu dài của sự nghiệp cách mạng.
bộ trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, bồi dưỡng cán bộ của nước ta trong giai đoạn hiện nay. Kết quả của cuốn sách này sẽ giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc hơn tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng của Người về đào tạo
và sử dụng cán bộ nói riêng và vận dụng tư tưởng đó vào thực tiễn cách mạng nước ta.
Từ yêu cầu công tác chuyên môn và tình hình nghiên cứu thực tế, tác giả đặt ra mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau: làm rõ vai trò của cán bộ và tầm quan trọng của việc đào tạo và sử dụng cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng được hệ thống các quan điểm Hồ Chí Minh về đào tạo và sử dụng cán bộ; nêu được giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo
và sử dụng cán bộ.
Các tác giả
Trang 8Trang 9
Chương 1
VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ VÀ TẦM QUAN TRỌNG
CỦA VIỆC ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG CÁN BỘ
1.1 Cán bộ - quan niệm, vị trí, vai trò
Cán bộ là một thuật ngữ được cho là du nhập vào nước ta từ
Trung Quốc với hai nghĩa cơ bản là: Nghĩa thứ nhất là cái khung, cái khuôn (khung ảnh), nghĩa thứ hai là người nòng cốt, những người chỉ huy quân đội, trong một cơ quan tổ chức làm nòng cốt.
Khi du nhập vào nước ta, thuật ngữ cán bộ đã biến đổi không còn
nguyên nghĩa gốc, song hàm nghĩa bộ khung, người làm nòng cốt, người làm chỉ huy luôn được lưu giữ và nhận thức.
Thuật ngữ cán bộ được sử dụng phổ biến ở Việt Nam từ sau
Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi Đảng lãnh đạo nhân dân Tổng khởi nghĩa thắng lợi, giành chính quyền nhà nước, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Kể từ đây, Đảng trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội thực hiện những bước đầu tiên trong xây dựng chế độ mới, cuộc sống mới. Trong điều kiện đó, cán bộ là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trước yêu cầu vừa cấp bách, vừa có tính cơ bản lâu dài của sự nghiệp cách mạng.
Cách hiểu được cho là rộng nhất về cán bộ, xem cán bộ gồm tất cả những người thoát ly, hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách
Trang 10Nhà nước, làm việc trong bộ máy chính quyền, trong hệ thống chính trị. Đây là quan niệm thông dụng ở nước ta, đặt cơ sở đầu tiên phân biệt cán bộ với các thành phần khác trong xã hội, với những công dân là người lao động không hưởng lương, phụ cấp
Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, tại Điều 4 nêu: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị ‐ xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”.
1 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng ‐ Trung tâm Từ điển học
‐ Hà Nội ‐ Đà Nẵng, 2003, tr. 109.
2 Nguyễn Như Ý, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hoá thông tin, H, 1999, tr. 249.
Trang 11Trên thực tế xem xét cán bộ dưới góc độ hưởng lương, phụ cấp phân theo ngạch, bậc; phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp nghiệp
vụ thì quan niệm “cán bộ” chưa bao quát hết. Để phát huy hết vai
trò, chức năng nghiệp vụ của cán bộ và luật pháp hóa công tác
quản lý cán bộ, khái niệm “cán bộ” đã được bổ sung và cụ thể hơn
bằng những khái niệm gần nghĩa như khái niệm công chức, viên chức Cũng tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức nêu:
‐ “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị ‐ xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong
bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị ‐ xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
‐ “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã)
là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị ‐ xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”.
Trong thực tế, một số người đã hiểu lệch lạc cho rằng những
khái niệm trên độc lập với khái niệm cán bộ, thậm chí một số
Trang 12người còn cho rằng viên chức không phải là cán bộ hoặc cán bộ chỉ là những người được tuyển dụng, bầu làm lãnh đạo còn lại những người gọi theo chuyên môn, chức vụ không phải là cán bộ. Hiểu như vậy gây ra nhiều trở ngại trong tư duy thông thường của đại bộ phận quần chúng và quan niệm về cán bộ. Để đảm bảo nhận thức thống nhất, không phức tạp hóa vấn đề, không mâu thuẫn giữa cán bộ, công chức, viên chức với cán bộ cần có sự
thống nhất khái niệm coi “cán bộ” là khái niệm gốc, chung nhất.
Tiếp cận khái niệm cán bộ từ nhiều phương diện, có thể rút ra kết luận cần hiểu khái niệm cán bộ theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng, cán bộ là tất cả những người đảm đương
một công việc nào đó hay giữ một chức trách, một cương vị trong Đảng, Nhà nước, cơ quan, ban ngành, tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể, đơn vị sự nghiệp hưởng lương và phụ cấp từ ngân sách Nhà nước hoặc một phần từ ngân sách Nhà nước theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và những chính sách hiện hành của Nhà nước. Họ là những người công bộc của dân, phục vụ nhân dân.
Theo nghĩa hẹp, cán bộ theo nghĩa hẹp vừa là cán bộ theo
nghĩa rộng, vừa có nét đặc thù do bầu cử, đề bạt, cân nhắc, bổ nhiệm theo quy trình của công tác tổ chức cán bộ và các cấp quản
lý ra quyết định, giao nhiệm vụ giữ cương vị trong bộ máy lãnh đạo của cơ quan Trung ương hoặc địa phương, hưởng phụ cấp
Trang 13Tựu trung lại, “Cán bộ” là từ chỉ tất cả những người được
đảm đương thực hiện, gánh vác một công việc, nhiệm vụ nào đó
do Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể thông qua công tác tổ chức cán bộ và các cấp quản lý quyết định tuyển dụng, tiến cử, bổ nhiệm, đề bạt, cân nhắc giao cho, phân công cho nhiệm vụ nào đó để phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc. Lương
và phụ cấp của cán bộ được hưởng từ ngân sách hoặc một phần từ ngân sách Nhà nước theo quy định của Hiến pháp, pháp luật, pháp lệnh của Nhà nước cùng với những chính sách cụ thể do Nhà nước ban hành.
Theo quan niệm trên, cán bộ có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau tùy vào vị trí, vai trò, chức năng của từng loại cán bộ quy định.
Theo chức vụ phân công trong cơ quan đơn vị tổ chức có thể phân chia cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt.
Theo phân cấp hệ thống hành chính có thể phân chia thành cán bộ Trung ương, cán bộ địa phương cơ sở.
Theo nhiệm vụ trong hệ thống chính trị có thể phân chia thành cán bộ Đảng, cán bộ chính quyền, cán bộ đoàn thể. Theo chuyên môn nghiệp vụ có thể chia thành cán bộ hành chính, cán
bộ nghiệp vụ
Theo phân định công việc có thể chia thành cán bộ chuyên trách, cán bộ kiêm nhiệm, chuyên gia,
Chủ nghĩa Mác ‐ Lênin đặc biệt quan tâm đến vấn đề cán bộ, xem là khâu đặc biệt quan trọng quyết định việc hiện thực hóa lý luận khoa học và cách mạng. Những điều kiện hiện thực khiến cho Mác và Ăngghen chưa có thực tế để đề cập nhiều về vấn đề
Trang 14cán bộ và công tác cán bộ. Tuy nhiên, các ông rất quan tâm đến xây dựng đội ngũ những nhà tuyên truyền, cổ động, truyền bá tư tưởng cộng sản, gây dựng phong trào công nhân để lập ra những đảng cách mạng chân chính. Các ông không chỉ đề cập đến sự xuất hiện của những con người vĩ đại trong mỗi thời đại xã hội,
mà còn cho rằng “muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn”1. Những người sử dụng lực lượng thực tiễn, những nhà tuyên truyền, cổ động, truyền bá, gây dựng mà hai ông nói, thực chất, là những cán bộ chuyên nghiệp của Đảng trong điều kiện hoạt động bí mật.
C.Mác và Ph.Ăng ghen còn khẳng định trong cán bộ, có bộ phận những người cộng sản ưu tú là nhân tố tích cực để thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển theo con đường tự giác, các ông khái quát: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”2. V.I.Lênin đã bảo vệ và phát triển những quan điểm của C.Mác và khẳng định: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào dành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong
có đủ khả năng tổ chức lãnh đạo phong trào”3.
Từ việc xác định đường lối, nhiệm vụ chính trị đúng, cho đến khi biến đường lối nhiệm vụ chính trị đó thành hiện thực cách mạng thì phải trải qua một quá trình, trong quá trình này, vấn đề
tổ chức cán bộ có ý nghĩa quyết định. Nếu không có đội ngũ cán
1 C.Mác và Ăngghen, Toàn tập, t.2, Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 2000, tr. 181.
2 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.4, sđd, tr. 614‐615.
3 V.I Lênin, Toàn tập, t.4, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1974, tr. 473.
Trang 15bộ tốt thì đường lối nhiệm vụ đề ra dù đúng cũng chỉ dừng lại trên giấy tờ. Lênin chỉ rõ: “Nghiên cứu con người, tìm những cán
bộ có bãn lĩnh, hiện nay là then chốt; nếu không thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn”1.
Vì vậy, Lênin luôn luôn gắn vấn đề kiện toàn tổ chức và hoạt động của bộ máy với xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà nước. Người nhấn mạnh “Tổ chức, tổ chức
và tổ chức”, “nếu cho tôi tổ chức những người cách mạng, tôi sẽ làm đảo lộn được nước Nga”. Tổ chức mà Lênin nhắc đến bao gồm “những nhà chính trị của giai cấp thực sự của mình, những nhà chính trị vô sản và không thua kém các nhà chính trị của giai cấp tư sản”. Lênin còn chỉ rõ cán bộ cách mạng: “Là những người biết cách biến cái sắc lệnh từ trạng thái giấy lộn đầy bụi bặm thành thực tiễn cuộc sống”. Lênin khẳng định đội ngũ cán bộ là nhân tố đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản: “Người cộng sản chỉ có một cách duy nhất để chứng minh quyền lãnh đạo của mình đó là tìm cho được ngày càng nhiều những người phụ
tá, biết giúp đỡ họ làm việc, biết đề bạt họ, biết giới thiệu họ và chú ý đến kinh nghiệm của họ”2.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, từ lúc ra đi tìm đường cứu nước đến khi sáng lập và lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta,
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ cho sự nghiệp cách mạng. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác ‐ Lênin về cán bộ
và công tác cán bộ, kế thừa và phát triển những tư tưởng tiến bộ trong lịch sử dân tộc, phù hợp với tiến trình cách mạng Việt Nam,
Hồ Chí Minh đã hình thành những quan niệm hết sức khúc chiết, sáng tạo và toàn diện về cán bộ và đội ngũ cán bộ.
1 V.I Lênin, Toàn tập, t.44, sđd, tr. 449.
2 V.I Lênin, Toàn tập, t.4, sđd, tr. 473.
Trang 16Hồ Chí Minh thường quan niệm về cán bộ với nghĩa bao quát nhất, phổ thông nhất. Theo Người, nói ngắn gọn, cán bộ là công bộc của nhân dân, “làm cán bộ tức là suốt đời làm đầy tớ trung thành của nhân dân”. Điều này hoàn toàn khác với “phụ mẫu chi dân”, chăn dắt người dân trong các triều đại phong kiến và bọn quan lại thực dân “đè đầu cưỡi cổ nhân dân” thời kỳ trước đây.
Thông qua các mối quan hệ, Hồ Chí Minh quan niệm về người cán bộ rất cụ thể, dễ hiểu, nhưng thể hiện chiều sâu lý luận. Trước hết và xuyên suốt, không chỉ đối với vấn đề cán bộ, mà toàn
bộ cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh thường xét trong mối quan
hệ với nhân dân. Từ nhận thức đúng đắn về vai trò và sức mạnh của nhân dân, Người khẳng định “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Muốn có cách mạng và để cách mạng thắng lợi,
Hồ Chí Minh đặt lên đầu tiên vấn đề giác ngộ nhân dân. “Cách mạng trước phải làm cho dân giác ngộ”. Công việc ấy cần có những người cách mạng “đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức
họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”. Người cách mạng đó ‐ tức là đội ngũ những người “giác ngộ dân chúng”, tập hợp và phát huy sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân – trước hết là cán bộ.
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, với tinh thần như trên,
Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”1. Cán
bộ không những chỉ là người có vai trò giác ngộ và hướng dẫn, lãnh đạo quần chúng mà còn là “chiếc cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là “công bộc” của nhân dân.
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, Sđd, tr. 269.
Trang 17để con người. Cũng chính từ chiều sâu triệt để ấy của cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc xác định “Sửa cái xã hội cũ đã mấy ngàn năm làm
xã hội mới, ấy là rất khó”, bởi nó liên quan trực tiếp đến con người, khó nhận biết, khó giải quyết. Vì lẽ đó, việc cách mạng phải có sự đồng tâm, hiệp lực của nhiều người, phải tiến hành lâu dài, đời này làm chưa xong thì đời sau nối theo làm thì phải xong. Trong lực lượng đông đảo thực hiện việc cách mạng ấy, Hồ Chí Minh khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; cây phải có gốc, không có gốc thì cây chết; việc cách mạng cũng như cây, cán bộ cách mạng là gốc cây, quyết định mọi sự thành bại; “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”1. Quan niệm này thể hiện chiều sâu tư duy chính trị của Hồ Chí Minh. Xét trong mối quan hệ với bộ máy (cơ quan, tổ chức, lãnh đạo, quản lý), Hồ Chí Minh quan niệm: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ
dù tốt, toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ
dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được”2. Đời sống kinh tế ‐ xã hội và toàn bộ sự nghiệp cách mạng là một cỗ máy khổng lồ. Trong cỗ máy đó, cán bộ là dây chuyền. Hồ Chí Minh quan niệm “dây chuyền” với ý nghĩa cán bộ và đội ngũ cán bộ là mắt xích liên kết các bộ phận của bộ máy, là hệ thống chuyển tải năng lượng đến từng bộ phận của bộ máy.
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, sđd, tr. 240.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, sđd, tr.54.
Trang 18Trong bộ máy tổ chức cách mạng, Đảng đóng vai trò quyết định. Hồ Chí Minh khẳng định cách mệnh “trước hết phải có Đảng cách mệnh”; “Đảng có vững cách mệnh mới thành công cũng như người cầm lái có vững, thuyền mới chạy”. Để lãnh đạo cách mạng, thì Đảng:
bộ, do nơi kiểm tra. Nếu ba điểm ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”2. Với cách đặt vấn đề như vậy, Hồ Chí Minh
quan niệm “cán bộ là tiền vốn của Đoàn thể”. Có vốn mới làm ra
lãi. Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức lỗ vốn”3. Cũng với quan niệm ấy, Hồ Chí Minh nói “Cán bộ là tướng của đoàn thể”, người tướng ấy quyết định hoạt động của đoàn thể.
Trong quan niệm về cán bộ, Hồ Chí Minh cũng đồng thời chỉ
ra vị trí, vai trò của người cán bộ cách mạng. Luận điểm khái quát nhất của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của cán bộ là: cán bộ vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Như vậy, vị trí, vai trò của cán bộ cũng được Hồ Chí Minh
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, sđd, tr.285.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, sđd, tr.154.
3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, sđd, tr.46.
Trang 19xem xét chủ yếu trong mối quan hệ với nhân dân. Ở đây, dễ nhận thấy Hồ Chí Minh đồng thời nhắc đến yếu tố “lãnh đạo” và “đầy tớ” trong cùng một con người. Hai trong một đều thể hiện quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh khi nói đến vị trí, vai trò của cán
bộ. Nói đến lãnh đạo là nói đến quyền lãnh đạo của người cán bộ. Quyền ấy, xét cho cùng, do nhân dân ủy thác. Làm lãnh đạo, cũng
có nghĩa người cán bộ phải đứng ở vị trí tiên phong, đứng mũi chịu sào, đóng vai trò dẫn đường, tổ chức nhân dân. Nhưng lãnh đạo không phải để “vinh thân phì gia”, cốt sao mình béo mặc thiên hạ gầy, mà là để phục vụ nhân dân, tức muốn nói đến nghĩa
vụ, bổn phận của người cán bộ. Làm đầy tớ, cũng có nghĩa người cán bộ phải đứng ở vị trí lo trước cái lo của dân, hưởng sau cái hưởng của dân.
Trong những mối quan hệ cụ thể với đường lối chính sách,
tổ chức (bao gồm cả bộ máy lãnh đạo, quản lý), công việc, Hồ Chí Minh chỉ ra vị trí, vai trò của cán bộ với những thuật ngữ minh họa dễ hiểu nhưng sâu sắc: gốc, dây chuyền, người đem (chính sách, tình hình), tướng, tiền vốn, Điều khẳng định đầu tiên, cán
bộ là thành phần của tổ chức, nhưng khác với thành phần khác trong tổ chức, hơn nữa là khác với nhân dân ở chỗ họ là thành phần ưu tú nhất, có vị trí là dây chuyền của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân, “là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”. Cán bộ có vị trí chủ thể của sự nghiệp cách mạng nước ta do Đảng lãnh đạo. Vị trí lãnh đạo, vị trí chủ thể của cán bộ là do Đảng, Nhà nước, đoàn thể phân công, và quyền lực của cán bộ cũng như nhiệm vụ của người cán bộ là do nhân dân giao cho. Cán bộ luôn đứng đầu trong tổ chức cách mạng, khi thực hiện việc cách mạng. Hồ Chí Minh xem ʺCán bộ là tướng của đoàn thể”, quyết định hiệu quả
Trang 20hoạt động của đoàn thể. Hồ Chí Minh viết: “Cán bộ làm đúng kế hoạch của đoàn thể, có mưu trí, được quần chúng tin yêu, kiên quyết, gan góc, giữ đúng kỷ luật, biết làm cho dân chúng cùng đoàn thể sống chết mà không sợ nguy hiểm mới là tướng giỏi của đoàn thể. Như thế thì cách mạng nhất định chóng thành công”1.
Về vai trò của cán bộ, Hồ Chí Minh khẳng định rằng: cán bộ
là cái gốc của mọi công việc; muôn việc thành công hay thất bại đều là do cán bộ tốt hay kém. Với ý nghĩa như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, cán bộ là lực lượng tinh tuý nhất của xã hội, có vị trí vừa tiên phong vừa là trung tâm của xã hội và có vai trò cực kỳ quan trọng của hệ thống chính trị nước ta.
Tóm lại, cán bộ theo quan niệm của Hồ Chí Minh là một khái niệm “mở”. Tư tưởng Hồ Chí Minh đề cập cán bộ ở nhiều góc độ, nhiều mối quan hệ và được thể hiện ở nhiều cách khác nhau, phù hợp các vị trí vai trò của họ trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng. Nhưng về cơ bản, Người xem: “cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”2. Đó là những người hội đủ phẩm chất đạo đức và năng lực nhất định để đảm đương được yêu cầu và nhiệm vụ của
sự nghiệp cách mạng, vừa là người lãnh đạo vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân dân. “Cán bộ” là một danh từ chỉ lớp người
là những chiến sĩ cách mạng, lớp người mới sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh, gắn bó với nhân dân, phục vụ cho sự nghiệp cao cả giành độc lập, tự do và phát triển dân tộc. “Cán bộ” trở thành danh xưng mang ý nghĩa tôn vinh, để dấu ấn đẹp trong lịch
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, sđd, tr.515.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, sđd, tr.269.