1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Truyện ngắn việt nam hàn quốc những năm đầu thế kỷ XX một vài so sánh (trường hợp tự lực văn đoàn và cửu nhân hội)

58 131 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 684,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ 1933 ₫ến 1945 Sau khi nhóm Tự lực văn đoàn ra đời, hoạt động sôi nổi và đạt được một số thành tựu đáng chú ý, một số nhà nghiên cứu phê bình văn học bắt đầu có những nhận định, đánh

Trang 1

HÀ MINH THÀNH - VŨ THỊ THU HƯƠNG

TRUYÖN NG¾N

VIÖT NAM - HµN QUèC

NH÷NG N¡M §ÇU THÕ Kû XX: MéT VµI SO S¸NH (Tr−êng hîp Tù lùc v¨n ®oµn vµ Cöu nh©n héi )

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1.TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM

NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX 27

1 Hoàn cảnh lịch sử và ₫ời sống văn học 27

1.1 Cuộc sống ₫ô thị hóa và công chúng ₫ô thị……….……27

1.2 Môi trường văn học mới và quan niệm mới về văn học 28

2 Tự lực văn ₫ošn 31

2.1 Tự lực văn ₫ošn ra ₫ời là một nhu cầu tất yếu

của lịch sử văn học 31

2.2 Vài nét về truyện ngắn Tự lực văn ₫ošn 33

3 Một số tác giả tiêu biểu 41

3.1 Khái Hưng 41

3.2 Thạch Lam 48

CHƯƠNG 2.TRUYỆN NGẮN HÀN QUỐC

NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX( CỬU NHÂN HỘI ) 59

1 Khái quát tình hình văn học Hàn Quốc ₫ầu thế kỷ XX 59

1.1 Truyện ngắn mang phong cách tiểu thuyết mới

- thời kỳ chuyển giao giữa hai thế kỷ 59

Trang 4

1.2 Bối cảnh lịch sử và sự chuyển mình của văn học

trước và sau Phong trào ₫ộc lập 65

1.3 Thời kỳ chuyển tiếp và diện mạo của truyện ngắn

những năm 30 73

2 Cửu nhŽn hội và những ảnh hưởng trên văn ₫àn 79

2.1 Bối cảnh ra ₫ời và hoạt ₫ộng 79

2.2 Tạp chí Thơ vš tiểu thuyết 85

3 Một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu 90

3.1 Kim Yoo-jeong, nông thôn và sự bần cùng hoá

của người nông dân 90

3.2 Lee-sang, nỗi tuyệt vọng của người trí thức

và không gian tâm lý mang tính siêu thực 95

3.3 Lee Hyo-seok, bản năng của con người

và không gian trữ tình ₫ậm chất thơ 102

CHƯƠNG 3 MỘT VÀI SO SÁNH 111

1 Tự lực văn ₫ošn và Cửu nhŽn hội trong tiến trình hiện ₫ại hoá văn học dân tộc 111

2 Thế giới nhân vật 121

2.1 Nhân vật người dân nghèo 121

2.2 Nhân vật người phụ nữ 129

KẾT LUẬN 150

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Việt Nam và Hàn Quốc là hai quốc gia phương Đông, lại gần nhau về khoảng cách địa lý, cùng chịu ảnh hưởng của văn hóa - văn minh Trung Quốc và văn hóa văn minh phương Tây nên có rất nhiều đặc điểm văn hóa tương đồng

Đầu thế kỷ XX, trong nền văn học các nước phương Đông

nói chung, văn học Việt Nam và Hàn Quốc nói riêng đã diễn ra một sự kiện có tính chất bước ngoặt: công cuộc hiện đại hóa văn học Dòng văn học bác học, chính thống, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, của văn học Trung Quốc đã mất vị trí độc tôn trên văn đàn Nền văn học mới chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây ngày càng phát triển và đi vào quỹ đạo hiện đại Quan niệm văn học, quan niệm cái đẹp và thi pháp của thể loại đã thay đổi Nền văn học mới có những tác phẩm, có đội ngũ tác giả và công chúng văn học khác, có phương tiện truyền

bá, đời sống văn học khác với nền văn học truyền thống từ mấy thế kỷ trước

Cùng với các thể loại văn học như thơ, tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn cũng có một vị trí nổi bật trên văn đàn những năm đầu thế kỷ XX và đã có những đóng góp quan trọng đối với nền văn học hiện đại mỗi nước; điều đó thể hiện sự tương đồng văn hóa cần được ghi nhận

Trang 6

Việc trao đổi, dịch thuật, giới thiệu, nghiên cứu tác phẩm văn học của hai dân tộc và có sự liên hệ so sánh để rút ra bài học cho sự phát triển không còn bó hẹp ở hình thức xã giao hữu nghị mà đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của các học giả, dịch giả và giới nghiên cứu

Chuyên luận này sẽ góp phần đáp ứng yêu cầu trên đồng thời phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy môn Văn học Hàn Quốc nói riêng, văn hoá Hàn Quốc nói chung và bổ sung một tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên chuyên ngành Hàn Quốc học, Khoa Đông phương học cũng như sinh viên các ngành có liên quan

2 Tìm hiểu truyện ngắn Việt Nam, Hàn Quốc những năm

đầu thế kỷ XX, chúng tôi tập trung nghiên cứu trường hợp Tự

lực văn đoàn và Cửu nhân hội

Văn học Tự lực văn đoàn là một hiện tượng văn học độc đáo Có thể nói, trong vòng mười năm, từ 1932 đến 1945, Tự

lực văn đoàn chiếm ưu thế tuyệt đối trên văn đàn công khai

Văn chương Tự lực văn đoàn có vai trò rất lớn trong sự phát

triển văn học Việt Nam những năm ba mươi, có những đóng góp lớn trong việc đổi mới nền văn học theo xu hướng hiện đại Nói đến những dấu ấn không thể phai mờ, những thành

công đóng góp của Tự lực văn đoàn không thể không nhắc đến

hai cây bút hàng đầu: Khái Hưng và Thạch Lam, đặc biệt ở thể loại truyện ngắn

Với những sự cách tân táo bạo, vào cái thời loạn lạc, sự mâu thuẫn lúc nào cũng khiến con người có thể rơi vào bế tắc, tuyệt vọng, những tác phẩm văn chương lãng mạn tuy không

Trang 7

thôi thúc tầng lớp tiểu tư sản đứng lên đấu tranh giành lại sự tự

do nhưng phần nào cũng góp phần giải tỏa những dằn vặt nội tâm Giai đoạn những năm đầu thế kỷ XX là giai đoạn giao thời, tất cả mọi điều đều có phần thống nhất theo một quy luật chung,

là sự tìm tòi, thể nghiệm Khái Hưng và Thạch Lam, hai tác giả

tiêu biểu của Tự lực văn đoàn đã có những đóng góp đáng kể,

quan trọng trong tiến trình phát triển đa dạng, rực rỡ sắc màu của văn chương đầu thế kỷ XX

Với văn học Hàn Quốc, những năm 30 được đánh giá là thời kỳ thịnh vượng và rất quan trọng trong lịch sử văn học Hàn Quốc Thời kỳ này đã gặt hái được những thành tựu cả về lượng

và chất cùng với những thay đổi đa dạng về chính trị, xã hội, văn hoá trong nước Những thành quả ấy được nhận định là có ảnh hưởng sâu rộng tới nền văn học Hàn Quốc sau này Sự biến động của văn đàn đầu những năm 1930 có thể coi là vấn đề đã ảnh hưởng trực tiếp nhất tới văn học đương thời Chae Man-sik, Lee Tae-jun, Park Tae-won, Kim You-jeong, An Hwe-nam là những cái tên làm nên biểu trưng cho lòng tự hào của văn xuôi Hàn Quốc những năm 30

Những năm 30 là thời kỳ đầy biến động của văn học Hàn Quốc [120] với những khuynh hướng sáng tác đa dạng cùng sự xuất hiện của nhiều tác giả có phong cách Chae Man-sik là nhà văn trào phúng, Lee Tae-jun là nhà văn của chủ nghĩa vị nghệ thuật, Park Tae-won chuyên viết truyện thế thái, Kim You-jeong

là nhà văn của đồng quê đã góp phần làm nên bộ mặt mới cho văn đàn Hàn Quốc Bên cạnh những cá nhân thì sự ra đời của các nhóm tác giả cùng các tạp chí văn học trở thành tâm điểm

và trào lưu trong giai đoạn này Khi nghiên cứu giai đoạn văn

Trang 8

học những năm 30 hay những nhóm tác giả, tạp chí người ta

không thể bỏ qua Cửu nhân hội Điều đó đủ để nói lên tầm quan trọng của Cửu nhân hội trong văn học Hàn Quốc Các học giả còn nhấn mạnh rằng chỉ cần nghiên cứu Cửu nhân hội thôi là có

thể thấy được văn học Hàn Quốc những năm 30 chuyển mình, phát triển như thế nào cùng với những biến động chính trị, xã hội và văn hoá thời kỳ ấy

3 Lịch sử vấn ₫ề

3.1 Về Tự lực văn ₫ošn

Hơn 70 năm qua, vấn đề văn chương Tự lực văn đoàn đã

được dư luận độc giả và giới nghiên cứu phê bình thẩm định qua các chặng đường biến động của lịch sử Việt Nam Qua khảo sát

tình hình đánh giá về Tự lực văn đoàn, chúng tôi nhận thấy:

3.1.1 Từ 1933 ₫ến 1945

Sau khi nhóm Tự lực văn đoàn ra đời, hoạt động sôi nổi và

đạt được một số thành tựu đáng chú ý, một số nhà nghiên cứu phê bình văn học bắt đầu có những nhận định, đánh giá qua các bài báo hoặc dành các chương mục trong các công trình để bàn

về giá trị văn chương Tự lực văn đoàn ở một số khía cạnh: đấu tranh giải phóng cá nhân, nghệ thuật tả cảnh, và phác hoạ tâm lý

nhân vật Tiêu biểu là các công trình của Trương Chính: Dưới

mắt tôi (1939), Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại (1942), Dương

Quảng Hàm: Việt Nam văn học sử yếu (1943), các bài báo của

Trương Tửu và bước đầu hình thành hai cách nhìn đối lập nhau Trương Chính ủng hộ và khen ngợi những vấn đề mới mẻ

đặt ra trong tác phẩm của các nhà văn Tự lực văn đoàn Những trang ông viết về tiểu thuyết Lạnh lùng của Nhất Linh thực chất

Trang 9

là những luận điểm mang tính bút chiến với Trương Tửu Ông khẳng định: “Lời phê bình cuối cùng của tôi là một lời khen thành thực” [44] Ông cũng không đồng ý cách đánh giá của Trương Tửu đối với một số tác phẩm của Khái Hưng và thẳng thắn bày tỏ: “Đọc Khái Hưng ta thấy cõi lòng sáng hẳn lên như soi rọi bởi những tia vui trong trẻo Nói rằng một kỷ nguyên mới trong lịch sử văn học Việt Nam và tác giả nó là một nhà luân lý cũng không phải là quá đáng Nhà luân lý Khái Hưng lại là một nhà tâm lý nữa” [44] Năm 1942, Vũ Ngọc Phan với

1.400 trang viết trong cuốn Nhà văn hiện đại đã dành gần 100

trang cho Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam với nhiều ý kiến xác đáng, nhất là về tiểu thuyết, truyện ngắn Nhất Linh, Khái Hưng Năm sau (1943), Dương Quảng Hàm trong

cuốn Việt Nam văn học sử yếu đã giới thiệu sơ lược về tổ chức văn học Tự lực văn đoàn cùng hai tác giả tiêu biểu là Nhất Linh, Khái Hưng (gồm 4 tác phẩm nổi bật là Đoạn tuyệt, Lạnh lùng,

Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân) và chỉ ra đặc điểm nổi bật:

tác phẩm Nhất Linh là tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết Khái Hưng thì thiên về khuynh hướng lý tưởng

Nhìn chung, hoạt động nghiên cứu phê bình văn học thời

kỳ này khá sôi nổi và có nhiều thành tựu Với Tự lực văn

đoàn, sự đánh giá của các nhà nghiên cứu phê bình không

thuần nhất một chiều Xu hướng chung là khen nhiều hơn chê, khẳng định nhiều hơn phủ định Những ý kiến đánh giá ngày càng khách quan, ủng hộ cái mới, trân trọng những đóng

góp của Tự lực văn đoàn Đây là cơ sở quan trọng tạo tiền đề

và có ảnh hưởng sâu sắc đối với hoạt động nghiên cứu các giai đoạn sau

Trang 10

3.1.2 Từ 1945 ₫ến 1986

Suốt một thời gian dài, khi nước ta trải qua hai cuộc chiến tranh, vấn đề được đặt lên hàng đầu là giành lại độc lập dân tộc, giữ vững chủ quyền đất nước Trong khoảng gần chục năm từ

1945 đến năm 1954, hiện tượng văn chương Tự lực văn đoàn

gần như ít được sách báo nhắc đến, ngoài bài viết của Trường

Chinh: Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hoá Việt Nam Sang giai đoạn từ 1954 đến 1975, tình hình tiếp nhận văn chương Tự lực

văn đoàn ở hai miền Nam - Bắc cũng có sự khác biệt khá lớn

Ở miền Nam nhìn chung có thái độ đánh giá cao văn chương

Tự lực văn đoàn Các tác giả, tác phẩm Tự lực văn đoàn chiếm vị

trí quan trọng trong chương trình trung học phổ thông Nhiều

công trình nghiên cứu về Tự lực văn đoàn được xuất bản: Nguyễn Văn Xung - Bình giảng về Tự lực văn đoàn (1958); Phạm Thế Ngũ - Việt Nam văn học sử giản ước tân biên - Tập 3 (1960); Doãn Quốc Sỹ - Về Tự lực văn đoàn (1960); Lê Hữu Mục - Khảo về "Đoạn tuyệt" (1960); Thanh Lãng - Phê bình văn

học thế hệ 32 - Tập 3 (1972); Vũ Hân - Văn học Việt Nam thế kỷ XIX tiền bán thế kỷ XX 1800 - 1945; Thế Phong - Nhà văn tiền chiến 1930-1945 Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên - Tập 3 đã giới thiệu nhiều mặt hoạt động của Tự lực văn đoàn: Về người sáng lập Nguyễn Tường Tam; Từ tờ báo đến văn đoàn; Quan điểm của nhóm về xã hội và nhân sinh; Tôn chỉ

và đường lối sáng tác của văn đoàn; Những cơ quan truyền bá của văn đoàn; Tổng luận về Tự lực văn đoàn, Phạm Thế Ngũ

viết: “Làm việc trong bảy tám năm liền bằng tờ báo, bằng quyển

sách, những người trong nhóm Tự lực văn đoàn đã đi đến hoán

cải bộ mặt xã hội chúng ta hồi đó về hai phương diện tư tưởng và

Trang 11

văn học" "Về đường tư tưởng, chủ trương duy tân và cấp tiến, họ đưa ra tác động như một cơn lốc thổi vào cái xã hội trì trệ trước

1932, nhất là với cái cười Phong hoá, không có gì họ nhằm đả

phá mà đứng vững được ( ) Thật vậy, không phải chỉ tác động bằng tiếng cười đả phá mà còn bằng tiểu thuyết, bằng thơ, những sáng tác văn nghệ của họ ngấm sâu vào linh hồn và thay đổi nề nếp suy cảm của cả một thế hệ độc giả [44] Năm 1962 trên tạp

chí Bách khoa số 140 - Nguyễn Hữu Ngư có bài Giải thưởng Tự

lực văn đoàn giới thiệu về những lần xét và tặng giải thưởng

cho các nhà văn có tác phẩm dự thi Tựu trung có ba lần xét và trao giải: 1935; 1937; 1939 Năm 1938 có xét nhưng không có tác phẩm nào được tặng giải thưởng Đây cũng là một hoạt động

có nhiều ý nghĩa của Tự lực văn đoàn Sau cái chết của Nhất Linh (tháng 7-1963) trên tạp chí Văn - xuất bản ở Sài Gòn trong nhiều số của năm 1963, 1964, 1965 và tạp chí Bách khoa (Sài

Gòn) đã có nhiều bài về Nhất Linh và các tác giả khác trong văn đoàn Như vậy ở miền Nam trước 1975, giới phê bình nghiên

cứu văn học và độc giả đã dành nhiều ưu ái cho Tự lực văn

đoàn Việc đánh giá vai trò, vị trí, đóng góp của Tự lực văn đoàn cho tiến trình văn học hiện đại Việt Nam theo chúng tôi là

khá thoả đáng, có cơ sở

Ở miền Bắc, từ sau 1954, việc nghiên cứu đánh giá văn học

tiền chiến nói chung, văn học lãng mạn và văn chương Tự lực

văn đoàn nói riêng khá phức tạp Sau một thời gian dài ít được

quan tâm, từ 1957 trở đi một số công trình nghiên cứu về văn

học giai đoạn trước 1945 được công bố Nổi bật là Lược thảo

lịch sử văn học Việt Nam - Tập 3 (1957) của nhóm Lê Quý Đôn; Văn học Việt Nam 1930 - 1945 (1961) của Bạch Năng Thi, Phan

Trang 12

Cự Đệ; Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945 (1964);

Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong văn học Việt Nam hiện đại 1930-1954 (1971) của Vũ Đức Phúc; Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1974, 1975) của Phan Cự Đệ Trên tạp chí Văn nghệ, tập san Nghiên cứu văn học, rồi tạp chí Văn học đăng tải

một số bài về văn học lãng mạn và Tự lực văn đoàn của các nhà

phê bình văn học, gây được sự chú ý của độc giả Một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra được mặt thành công và hạn chế của văn

học lãng mạn cũng như văn chương Tự lực văn đoàn trên nhiều

phương diện Bạch Năng Thi khẳng định: “Cuộc xung đột "mới, cũ" trong văn học của ta không có quy mô rộng lớn và không được náo nhiệt như cuộc xung đột giữa phái cổ điển và phái lãng mạn ở Pháp Nhưng nó cũng có ý nghĩa xã hội của nó cuối buổi

giao thời ấy Và Tự lực văn đoàn với một loạt tiểu thuyết mới, cả một loạt Thơ mới nữa, phất cờ chiến thắng là tất nhiên” [44]

Tuy nhiên các ý kiến đánh giá nhìn chung vẫn tỏ ra e dè, rào đón, hầu hết đều khen ít, chê nhiều, xoay quanh tiêu chí giai cấp; tiêu chí văn học vô sản đối lập với văn học tư sản; hiểu định hướng văn nghệ phục vụ chính trị một cách máy móc, nên trong phê bình không tránh khỏi tình trạng suy diễn, thậm chí quy chụp, nặng về xem xét nội dung xã hội của tác phẩm trên một số phương diện chính trị, tư tưởng, đạo đức, giá trị hiện thực Về nghệ thuật nặng về yêu cầu điển hình hoá, cá thể hoá, miêu tả tâm lý nhân vật Giới nghiên cứu miền Bắc thời kỳ này hầu như cùng chung một nhận định: Những năm 1941-1945 là thời kỳ toàn bộ nền văn học công khai đi vào bế tắc Vũ Đức

Phúc trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945 cho

rằng: “Trong cuộc đấu tranh nghệ thuật vị nghệ thuật, nghệ

thuật vị nhân sinh nhóm Tự lực văn đoàn không dám tham gia

Trang 13

cuộc tranh luận Đường lối cơ hội chủ nghĩa của họ trong thời

kỳ này thể hiện trong sáng tác là muốn "kiếm ăn cả về hai mặt"

Một mặt thì vuốt ve công nông bằng những tác phẩm như Tối

tăm (1936), mặt khác lại muốn phục vụ cho khách hàng "tài hoa

son trẻ" bằng những tác phẩm như Trống mái (1937)” [52]

Hoặc cho rằng Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo là tiêu biểu cho "một khuynh hướng" phản động, “muốn giữ vững quyền lợi cho giai cấp bóc lột đồng thời ban ơn cho dân nghèo" (qua một

số tác phẩm Con đường sáng, Gia đình) [52] Hầu hết các tác phẩm của các thành viên chủ chốt Tự lực văn đoàn (trừ Thạch

Lam) đều được đặt dưới tiêu chí đó để xem xét

Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1985, việc nghiên cứu, đánh giá lại các di sản văn hoá cũ, nhất là những sáng tác trước

1945 trong đó có Tự lực văn đoàn theo một cách nhìn mới vẫn

chưa có sự thay đổi đáng kể Các giáo trình văn học ở bậc đại

học, cao đẳng như cuốn Lịch sử văn học Việt Nam (1930-1945) -

tập 5, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1978 của nhiều tác giả [54] chủ yếu vẫn giữ nguyên những nhận định, đánh giá trước đây Có thể xem đó như một khoảng lặng giữa hai đợt sóng, đã dần bộc lộ những ý tưởng mới, nhận thức mới, nhưng chủ yếu là để chuẩn bị cho một thời kỳ đổi mới văn học cả về chất và lượng từ sau 1986

3.1.3 Thời kỳ 1986 ₫ến nay

Hoà chung trong không khí đổi mới của toàn dân tộc, đây là thời kỳ khởi phát rực rỡ của văn học cả về phương diện sáng tác, nghiên cứu, phê bình Không khí học thuật thật sự có sự biến chuyển lớn Nhiều hiện tượng văn học quá khứ được đánh giá lại, các tác phẩm văn chương trước Cách mạng tháng Tám - 1945,

nhất là văn chương lãng mạn trong đó bao gồm văn chương Tự

Trang 14

lực văn đoàn và Thơ mới được thẩm định lại với cái nhìn biện

chứng, bình tĩnh và công bằng hơn Hầu hết tác phẩm các nhà

văn trong Tự lực văn đoàn đã được in lại và được giới thiệu theo

một quan điểm, góc nhìn nhận mới Phan Cự Đệ viết lời giới

thiệu cho một loạt tác phẩm: Đoạn tuyệt, Đôi bạn, Băn khoăn,

Tiêu sơn tráng sĩ, Trống mái, Thoát ly, Đẹp; Hà Minh Đức viết

lời giới thiệu Nửa chừng xuân, Đời mưa gió; Phong Lê sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu Tuyển tập truyện ngắn Thạch Lam Đặc biệt, trong giai đoạn này, hàng loạt công trình nghiên cứu về Tự

lực văn đoàn đã làm thay đổi hẳn những nhận thức phần nào

thiên kiến trước đây Đó là các bộ giáo trình Đại học được chỉnh

lý và biên soạn mới của Phan Cự Đệ, Nguyễn Trác, Nguyễn

Hoành Khung, Hà Văn Đức: Văn học Việt Nam 1930 – 1945, NXB Đại học & THCN, 1988; Phan Cự Đệ: Văn học lãng mạn

Việt Nam 1932 – 1945, NXB Giáo dục, 1997; Phan Cự Đệ, Trần

Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng,

Hà Văn Đức: Văn học Việt Nam 1900-1945, NXB Giáo dục,

1997 Các công trình này đã đặt Tự lực văn đoàn trong tiến trình

chung của văn học dân tộc và tiến trình văn học hiện đại để xem xét Bên cạnh đó là một số bài viết rất có giá trị của các nhà nghiên cứu như: Lê Thị Đức Hạnh, Trương Chính, Trần Đình Hượu, Phong Lê, Trịnh Hồ Khoa, Lê Thị Dục Tú Riêng Vu Gia

đã lần lượt xuất bản một loạt bốn công trình khảo cứu nghiêm túc

về bốn nhà văn chủ chốt của Tự lực văn đoàn: Khái Hưng, nhà

tiểu thuyết, NXB Văn hoá, Hà Nội,1993; Thạch Lam thân thế và

sự nghiệp, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1994; Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hoá văn học, NXB Văn hoá 1995; Hoàng Đạo, nhà báo - nhà văn, NXB Văn hoá 11-1997

Trang 15

Những năm cuối cùng của thế kỷ XX nhiều nhà nghiên cứu đã sưu tầm, biên soạn, giới thiệu và xuất bản các bộ tuyển

tập lớn về văn chương Tự lực văn đoàn như: Tuyển tập Tự lực

văn đoàn, NXB Hội Nhà văn, 1999 - 3 tập với khoảng 2.000

trang gồm những tác phẩm chủ yếu của Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo và một số của Thạch Lam, Thế Lữ, Xuân Diệu, Tú

Mỡ Dày dặn, công phu và tương đối đủ các tác phẩm tiêu biểu

của Tự lực văn đoàn là bộ tuyển tập Văn chương Tự lực văn

đoàn của nhóm Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ, NXB Giáo

dục - 1999 với hơn 3.500 trang khổ lớn Bộ Từ điển tác phẩm

văn xuôi Việt Nam do Vũ Tuấn Anh, Bích Thu chủ biên (NXB

Văn học, Hà Nội, 2001) là một đóng góp của các nhà nghiên

cứu ở trong và ngoài Viện Văn học Các bài viết về Tự lực văn

đoàn qua các thời kỳ của các nhà phê bình đã được tập hợp lại,

biên soạn thành sách như cuốn Tự lực văn đoàn trong tiến

trình văn học dân tộc - (Mai Hương biên soạn), NXB Văn hoá

- Thông tin, Hà Nội, 2000; Mấy vấn đề trong văn học hiện đại

Việt Nam của Lê Thị Đức Hạnh (NXB Khoa học Xã hội, Hà

Nội, 1999) là những đóng góp thiết thực cho việc nghiên cứu,

tiếp nhận bộ phận văn chương này Trong cuốn sách Nhìn lại

một thế kỷ văn học (1900 - 2000), Tự lực văn đoàn được đánh

giá như một nhân tố quan trọng thúc đẩy tiến trình hiện đại hoá văn học: "Mở đầu là phong trào Duy tân của các nhà nho tiến

bộ, đến cải cách của Tự lực văn đoàn, trào lưu hiện thực và

văn học cách mạng thấm sâu tư tưởng nhân đạo, dân chủ, tiến bộ" [48] Qua đó có thể thấy một điểm thú vị là việc nghiên cứu phê bình văn học có chất lượng học thuật và đạt thành tựu cao lại tập trung vào hai chặng: những năm 30 đầu 40 và những năm cuối thế kỷ XX đến nay Mặc dù thời gian tồn tại

Trang 16

của Tự lực văn đoàn chỉ diễn ra trên dưới 10 năm nhưng đã có

ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn hoá, văn nghệ dân tộc suốt một chặng đường dài Ở mỗi thời kỳ, tuy có những cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau, nhưng nhìn chung ngày càng hướng đến quan điểm thống nhất

3.2 Về Cửu nhŽn hội

Nghiên cứu về Cửu nhân hội được bắt đầu vàơ năm 1949

do Baek-cheol khởi xướng trong cuốn Điều tra lịch sử văn học

mới Joseon (phần hiện đại) [93] Baek-cheol đã đề cập đến sự

ra đời, mục đích, hội viên, khuynh hướng tác phẩm và sự giải

thể của Cửu nhân hội Ông cho rằng, sau năm 1931 khi tình

hình kinh tế xã hội Joseon suy thoái, văn học vô sản thoái trào thì những nhà văn theo khuynh hướng nghệ thuật mới xuất

hiện Ông đã khẳng định rằng Cửu nhân hội không phải là một

tổ chức mạnh về các hoạt động tập thể như KAPF (Korea Artist Proletarian Federation, Liên đoàn các nhà nghệ thuật vô sản Triều Tiên) mà là một nhóm các tác giả mang khuynh hướng và thái độ vị nghệ thuật trong văn học, thực hiện việc giao lưu trao đổi và phê bình các sáng tác của nhau Nhưng ông cũng cho rằng chính hoạt động không mạnh về tổ chức đã

dẫn đến việc Cửu nhân hội nhanh chóng bị giải thể Nghiên cứu của Baek-cheol về Cửu nhân hội được đánh giá là nghiên

cứu có tính chất mở đầu quan trọng, tuy nhiên vẫn còn mang tính chung chung và tồn tại nhiều hạn chế

Tiếp theo, phải đến năm 1958 Jo Yeon-hyun[115] mới lại

đề cập tới Cửu nhân hội qua bài đăng trên tạp chí Văn học hiện

đại với tiêu đề Ký ức về Cửu nhân hội và sau đó phát hành

Trang 17

thành sách Lịch sử văn học hiện đại Hàn Quốc (Nxb Inkan) vào

năm 1961 Trong phần nghiên cứu của mình Jo Yeon-hyun đã

đề cập tới sự khởi điểm, định hướng hội viên, đặc trưng cấu thành hội viên, nội dung hoạt động, ý nghĩa và những hạn chế

mang tính lịch sử văn học của Cửu nhân hội Jo Yeon-hyun đã cho rằng Cửu nhân hội thành lập là do đã phản ứng tiêu cực với

văn học vô sản và ủng hộ tích cực cho phái văn học nghệ thuật

thuần tuý Nhưng ông cũng đánh giá Cửu nhân hội không phải

là một tổ chức tích cực có quy ước và đường lối cụ thể mà chỉ là

tổ chức với các thành viên thân thiết với nhau cùng tham gia hội họp có đóng hội phí rồi mỗi tháng họp 1, 2 lần Điểm quan trọng trong nghiên cứu của Jo Yeon-hyun ở chỗ ông là người

đầu tiên đã coi Cửu nhân hội là một tổ chức có chí hướng và ý

đồ nhất định Khác vớí Baek-cheol, ông đã công nhận mục đích

và quan điểm mang tính văn học của Cửu nhân hội Đặc biệt tác

giả cũng đã đánh giá tích cực ý nghĩa mang tính lịch sử văn học

mà Cửu nhân hội có

Bước vào những năm 1970 thì nghiên cứu về Cửu nhân hội

đã có phần gia tăng, trong đó có nghiên cứu của Kim See-tae

(Nghiên cứu Cửu nhân hội, trong tập luận văn nghiên cứu của

trường Đại học Jeju, tập 7, 1975) [84] Trong bài nghiên cứu này, dựa trên những phân tích về tình hình chính trị xã hội và văn đàn lúc bấy giờ Kim See-tae đã khảo sát bối cảnh và đánh

giá lại về việc thành lập Cửu nhân hội Đặc biệt, ông đã hệ thống những bàn luận của phái KAPF về Cửu nhân hội Không

những thế, ông còn thông qua các tác phẩm của các hội viên

Cửu nhân hội để nêu lên những nét đặc trưng và phương hướng

của hội, bàn luận đến ý nghĩa mang tính lịch sử văn học của

Trang 18

Cửu nhân hội Kim See-tae đã chỉ ra những hạn chế của Cửu nhân hội, ông cho rằng Cửu nhân hội đã bộc lộ những hạn chế

của văn học thời kỳ thực dân do thiếu nhận thức mang tính lịch

sử về thời đại và sự nghèo nàn của tư tưởng

Nếu như nghiên cứu của Kim See-tae lấy Cửu nhân hội làm

đối tượng nghiên cứu riêng thì đến Seo Jun-seop [94]trong phần nghiên cứu về văn học Hàn Quốc những năm 30 đã chỉ rõ ra

rằng Cửu nhân hội là một tổ chức trung gian của phong trào văn

học hiện đại những năm 1930 Chủ nghĩa hiện đại những năm

1930 đã xuất hiện trên cơ sở sự suy yếu của tình hình chính trị,

sự đình trệ của văn học hiện thực mà KAPF làm trọng tâm, phong trào chủ nghĩa hiện đại lấy mô hình đô thị lớn của phương Tây làm trung tâm Thành công trong nghiên cứu của Seo Jun-seop là đã đưa ra những tài liệu đầy đủ liên quan tới

mỗi thành viên của Cửu nhân hội và nhận thức được ra rằng

Cửu nhân hội là một tổ chức tồn tại thực có ý nghĩa về mặt lịch

sử văn học Nếu như các nghiên cứu trước đó đều cho rằng Cửu

nhân hội là phái văn học thuần tuý, là phái vị nghệ thuật để

chứng minh một điều rằng Cửu nhân hội đối lập với KAPF thì

Seo Jun-seop lại lưu ý tới bản chất nền tảng mang tính xã hội,

vật chất để Cửu nhân hội hình thành chứ không phải là để đối

đầu với KAPF

Đáng chú ý trong số các nghiên cứu về Cửu nhân hội là nghiên cứu của Kim Han-sik trong “Nghiên cứu tiểu thuyết của

Cửu nhân hội”[85] khi phân tích tổng hợp các bài phê bình của Lee Tae-jun, Park Tae-won, Lee-sang, Kim You-jeong để đưa ra quan niệm về tiểu thuyết rồi từ đó xem xét xem quan niệm ấy

được thể hiện trong thế giới tác phẩm của hội viên Cửu nhân hội

Trang 19

như thế nào Tuy nhiên nghiên cứu của Kim Han-sik lại mang đậm tính chất quy nạp và cũng không có gì khác đặc biệt với các

nghiên cứu trước đó khi nhìn nhận đặc trưng của Cửu nhân hội

qua mỗi cá nhân, thậm chí còn thiếu các tài liệu chuyên sâu liên

quan tới hoạt động có tổ chức và sự thành lập Cửu nhân hội cũng

như mức độ hoạt động độc lập của các thành viên

Lee Jung-jae trong luận án tiến sĩ ở trường Đại học

Dongkuk Nghiên cứu ‘Cửu nhân hội’ - lấy tiểu thuyết của Lee

Tae-jun, Park Tae-won, Lee-sang làm trọng tâm (1995)[104] đã

tổng kết hoạt động tổng thể của Cửu nhân hội dựa trên quan điểm cho rằng Cửu nhân hội theo định hướng văn học hiện đại

Bên cạnh những đánh giá về ý nghĩa mang tính lịch sử văn học, Lee Jung-jae đã phân tích những đặc trưng nổi trội mang tính

mỹ học trong tiểu thuyết của các thành viên Cửu nhân hội là

Lee Tae-jun, Park Tae-won, Lee-sang rồi đưa ra những tổng kết

như sau: Một là, hội viên của Cửu nhân hội quan tâm tới việc

“Nói như thế nào” hơn là “Nói gì” Hai là, tìm kiếm hình ảnh cá nhân bị tách rời khỏi xã hội và lịch sử hơn là tìm kiếm ý nghĩa của cá nhân trong lịch sử và xã hội ấy Ba là, hướng vào quan niệm về tiểu thuyết mang tính biểu hiện luận, phủ định quan niệm về tiểu thuyết mang tính phản ánh luận Bốn là, tác giả của

Cửu nhân hội mang đồng thời nhận thức nhà văn và nhận thức

của nhà nghệ thuật Điểm quan trọng trong nghiên cứu của Lee Jung-jae là đã phân tích rất chi tiết đặc trưng mang tính mỹ học

trong tác phẩm của các tác giả Cửu nhân hội Lee Jung-jae đã xếp văn chương của Cửu nhân hội là văn học hiện đại

Còn Park Hun-ho [90] chỉ ra tính khập khiễng của nhận

thức cận đại thực dân mà Cửu nhân hội đã tách riêng nhận thức

Trang 20

về lĩnh vực mỹ học và lĩnh vực xã hội Nhà nghiên cứu cho rằng phương thức của nếp sống phong kiến vẫn còn tồn tại vào những năm 1930 Thời bấy giờ các nhà trí thức đã phủ định tính hiện thực và dò tìm phương án mang tính trừu tượng mới đó chính là cận đại hoá Nhưng cận đại hoá khi ấy nảy sinh nhiều mâu thuẫn đa dạng và nặng nề Vì những mâu thuẫn trong xã hội thực dân mà mỗi cá nhân lại đồng thời vừa mang ý thức bị mâu thuẫn hoặc vừa gặp phải những vấn đề từ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội

Khác với các nghiên cứu truớc đó, Kim Min-jeong [77]

đã tập trung vào mảng Cửu nhân hội đối đầu với văn học

mang tính phi tự do với phương thức quan trọng nhất là chủ nghĩa báo chí Chính vì thế mà Kim Min-jeong đã cho rằng

Cửu nhân hội là một tổ chức mang tính chính trị và đồng thời

là một nhóm kết giao Theo Kim Min-jeong, ở một chừng

mực nhất định thì Cửu nhân hội đã đối đầu với văn học phi tự

do và theo đuổi tự do mang tính mỹ học của văn học nhưng điều đó được cho là có liên quan mật thiết tới ngôn ngữ báo

chí tiểu tư sản Tức, Kim Min-jeong cho rằng Cửu nhân hội là

một tổ chức của các nhà báo có viết văn làm thơ, nên tính tự

do mà họ theo đuổi bị hạn chế bởi tính chất giai cấp của báo chí Đây được coi là nét mới và có giá trị trong nghiên cứu về

Cửu nhân hội của Kim Min-jeong Tuy mới và chặt chẽ về

lập luận nhưng thực chứng phân tích trong nghiên cứu của Kim Min-jeong bị cho là còn thiếu căn cứ Nhà nghiên cứu đã tập trung vào việc tìm và lý giải những nét mới mẻ chứ không nghi ngờ hoặc tìm thiếu sót trong các nghiên cứu trước đó Chính vì thế dẫn đến việc mặc nhiên thừa nhận, ứng dụng cả

Trang 21

những sai sót trong quá trình trích dẫn thông tin dữ liệu mà không cần kiểm chứng

Trên đây là một số các nghiên cứu tiêu biểu về Cửu nhân

hội mà chúng tôi đã khảo sát Nhìn chung các nghiên cứu đến

thời điểm hiện tại về Cửu nhân hội chủ yếu tập trung vào nội

dung xác định đặc trưng văn học và ý nghĩa mang tính lịch sử

văn học của Cửu nhân hội Ở một chừng mực nhất định đều

đã công nhận những đóng góp có giá trị văn chương và lịch

sử văn học Hàn Quốc những năm đầu thế kỷ XX của Cửu

nhân hội Tuy vậy Cửu nhân hội và mỗi thành viên vẫn còn là

những mảng đề tài nghiên cứu hấp dẫn và gợi mở Các nhà nghiên cứu vẫn đã và đang tìm tòi, phân tích, chứng minh những lập luận và hiểu biết của mình về vấn đề này Tuy

nhiên trong quá trình nghiên cứu về Cửu nhân hội thì giữa

các nhà nghiên cứu đã tồn tại những ý kiến không thống nhất

Tranh luận về Cửu nhân hội chủ yếu tập trung vào hai điểm:

một là, quan hệ giữa Cửu nhân hội và KAPF, hai là tính chất

của Cửu nhân hội

Về vấn đề quan hệ giữa Cửu nhân hội và KAPF có 3 quan điểm chủ yếu được đưa ra Một là Cửu nhân hội xuất hiện do sự

thoái trào của KAPF và hai tổ chức này không có quan hệ qua lại với nhau Ủng hộ theo quan điểm này có Baek-cheol, Kim Han-sik, Park Hun-ho Trong nghiên cứu của mình, Baek-cheol

đã cho rằng thời kỳ từ sau năm 1931 cho tới khi Cửu nhân hội

ra đời là “tình trạng chấp chới của phong trào văn học” Nói như thế có nghĩa rằng trong tình hình xã hội chính trị suy yếu, những nhà văn vô sản cũng như những nhà văn có khuynh hướng bổ

Trang 22

trợ cho giai cấp ấy không còn duy trì được tư tưởng mà họ có cho tới thời điểm lúc bấy giờ nữa và rơi vào thoái trào Baek-cheol đã nhận định rằng sự thoái trào của KAPF là thời cơ để

Cửu nhân hội đi lên Tương tự như vậy, kế thừa quan điểm của

Baek-cheol thì Kim Han-sik và Park Hun-ho cũng chỉ ra rằng sự

suy yếu của KAPF là một trong những thời cơ để Cửu nhân hội

xuất hiện Sau biến sử Mãn Châu sự đàn áp của Nhật Bản gia tăng, nội bộ tổ chức của KAPF đình trệ, chính vì thế phái vốn

phản đối văn học vô sản đã bắt đầu lên tiếng Và thời kỳ Cửu

nhân hội thành lập được Park Hun-ho gọi là nguồn động lực

mang tính ý niệm đã bị mất Tức là thời kỳ không thể suy luận giá trị tồn tại của nhà văn thông qua ý niệm Trong tình huống

ấy, Cửu nhân hội là tổ chức văn học đã phủ định phương thức

cũ dựa theo ý niệm để hướng tới những điểm chung mang tính

vị văn học mới

Quan điểm thứ hai là của Kim See-tae, Lee Jung-jae khi đã

cho rằng KAPF thoái trào và Cửu nhân hội ra đời nhưng KAPF

vẫn giữ được thế lực trong văn đàn như trước đây, đã đơn

phương công kích Cửu nhân hội Kim See-tae gọi năm 1933 - là năm mà Cửu nhân hội xuất hiện là “thời kỳ quá độ” Cho đến tận thời điểm mà Cửu nhân hội được thành lập thì KAPF vẫn là

tổ chức thâu tóm hoàn toàn văn đàn, đưa ra những tranh luận về

Cửu nhân hội và ra mặt công kích Lee Jung-jae đã kế thừa và

tiếp nhận toàn bộ lý giải trên

Quan điểm thứ ba là một quan điểm hoàn toàn khác khi

nhận định rằng Cửu nhân hội và KAPF không những cùng tồn

tại mà còn cùng tạo bước phát triển mới mang tính lịch sử văn

Trang 23

học nhờ những tác động tương hỗ Seo Jun-seop và Kim jeong đã theo đuổi lập luận này Hai nhà nghiên cứu này đã nhìn nhận khi tình hình lịch sử chính trị suy yếu, chủ nghĩa hiện thực

Min-là trọng tâm của KAPF rơi vào đình trệ, Cửu nhân hội xuất hiện

trong quá trình tìm kiếm bước nhảy vọt cho văn học thì chủ nghĩa hiện đại được lấy làm chủ đạo khi ấy Nhưng khác với các

nghiên cứu cho rằng Cửu nhân hội (chủ nghĩa hiện đại) và

KAPF (chủ nghĩa hiện thực) phủ định và bài trừ lẫn nhau thì những người theo quan điểm này đã chủ trương hai nhóm văn

học này đã tiếp nhận nhau bằng phương pháp biện chứng Cửu

nhân hội và KAPF đối lập trong phương pháp nhận thức cụ thể

về văn học và hiện thực nhưng có sự nhất trí với nhau trong nguyên tắc tạo nên cơ sở của sự đối lập ấy và cùng lấy tính cận đại của văn học làm điểm chung

Cho tới tận bây giờ thì việc quy định tính chất của Cửu

nhân hội như thế nào vẫn là vấn đề đang được tranh luận Hầu

hết các nghiên cứu trước đây đều cho rằng đó là tổ chức văn học theo “phái nghệ thuật và phái tinh tế”, “văn học thuần tuý”, “chủ nghĩa hiện đại” Baek-cheol và Jo Yeon-hyen đánh

giá tính chất của Cửu nhân hội dựa trên quan điểm phủ định và đối kháng với KAPF khi cho rằng Cửu nhân hội là một tổ chức

giao lưu thân thiết giữa các nhà văn nhà thơ theo khuynh hướng vị nghệ thuật hay còn gọi là văn học thuần tuý, phản đối văn học vô sản Ngược lại, Kim See-tae, Lee Jung-jae đã chỉ ra

rằng Cửu nhân hội đã hội ý với không chỉ KAPF mà còn cả

với phái văn học dân tộc chủ nghĩa Kim See-tae đã chỉ ra rằng

Cửu nhân hội thoát ra khỏi phương hướng mục đích chủ nghĩa

và chính trị chủ nghĩa của văn học trước đó để tích cực theo

Trang 24

đuổi khuynh hướng văn học thuần tuý Kim Han-sik thì nhìn

nhận Cửu nhân hội đã từ chối văn học đại chúng mang tính rập

khuôn của phần lớn các sáng tác thời đó cũng như của KAPF

và cả phái văn học chủ nghĩa dân tộc

Đặc biệt, khác với các nhà nghiên cứu trước đó quy định

tính chất của Cửu nhân hội theo cách tìm xem Cửu nhân hội đã

phủ nhận điều gì trong mạch văn học hoặc lịch sử văn học, Seo

Jun-seop đã nhận định tính chất của Cửu nhân hội là theo “chủ

nghĩa hiện đại” thông qua việc chỉ ra những nguyên nhân mang tính lịch sử nghệ thuật và lịch sử xã hội đã ảnh hưởng thế nào

tới việc hình thành và phát triển của Cửu nhân hội Hiện nay

hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồng tình với quan điểm này Tuy nhiên giữa các nhà nghiên cứu lại đưa ra những cách hiểu

và phân tích về chủ nghĩa hiện đại của Cửu nhân hội theo những

phương thức tiếp cận khác nhau Trên thực tế, mỗi thành viên

của Cửu nhân hội đều là những tác giả đầy cá tính, phong cách

nghệ thuật cũng đa dạng đó vừa điểm mạnh nhưng cũng là

khó khăn cho các nhà nghiên cứu khi nghiên cứu về Cửu nhân

hội Bởi mỗi cá thể của Cửu nhân hội là một thế giới văn học

riêng cần được nghiên cứu sâu thêm

Từ khi Việt Nam và Hàn Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, cánh cửa giao lưu văn hoá giữa hai nước được mở rộng Việc giới thiệu và nghiên cứu văn học Hàn Quốc trong thời gian qua đã đạt được một số kết quả bước đầu Số lượng sách dịch văn học Hàn Quốc ngày càng nhiều, phản ánh được phần nào diện mạo nền văn học Hàn Quốc

Có thể kể tên một số tác phẩm đã được xuất bản bằng tiếng Việt như:

Trang 25

- Bang Hyun Suk, Thời gian ăn tôm hùm, tiểu thuyết, Hà

Minh Thành dịch Nxb Hội Nhà văn, 2005

- Han Yong Un, Sự im lặng của tình yêu, thơ, Lê Đăng

- Oh Jung Hee, Ván bài lúc hoàng hôn, tiểu thuyết, Hoàng

Hải Vân dịch, Nxb Văn học, 2005

- Truyện ngắn hiện đại Hàn Quốc, tiểu thuyết, Hà Minh

- Phía Hàn Quốc cũng giới thiệu, dịch những tác phẩm có giá

trị của văn học Việt Nam như Truyện Kiều, Nhật ký trong tù,

Việc nghiên cứu, so sánh giữa hai nền văn học Việt - Hàn phần lớn mới chỉ tập trung vào phần văn học dân gian và văn học cổ trung đại Riêng đối với thể loại truyện ngắn, đặc biệt ở

Trang 26

một giai đoạn có tính chất bước ngoặt - giai đoạn những năm đầu thế kỷ XX, vẫn còn là khoảng trống, còn thiếu vắng sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

Với thành tựu của văn học so sánh, văn học các nước trong khu vực và trên thế giới đang không ngừng được khảo sát, phân tích để tìm ra những điểm tương đồng, những mối liên hệ chung

có ý nghĩa phổ biến, đồng thời chỉ ra những dị biệt, những đặc thù dân tộc làm nên bản sắc độc đáo, không lặp lại của mỗi nền văn học Mỗi quy luật được phát hiện trong lĩnh vực nghiên cứu này sẽ là căn cứ khoa học xác đáng để khẳng định thêm quá trình giao lưu và ảnh hưởng diễn ra như một quy luật phổ biến trong văn học thế giới

Nghiên cứu Truyện ngắn Việt Nam - Hàn Quốc những năm

đầu thế kỷ XX: một vài so sánh (Trường hợp Tự lực văn đoàn và Cửu nhân hội), các tác giả cố gắng đi theo hướng nghiên cứu

các tác phẩm truyện ngắn của một số tác giả tiêu biểu trong nền văn học Việt - Hàn những năm đầu thế kỷ XX, một phần cho đến nay vẫn rất ít người đi sâu tìm hiểu

4 Ở chuyên luận này, chúng tôi nhằm khẳng định vị trí

quan trọng của thể loại truyện ngắn những năm đầu thế kỷ

XX trong nền văn học hai dân tộc; xác định giá trị mới, sức cuốn hút mạnh mẽ của tác phẩm cả về phong cách nghệ thuật độc đáo và nội dung phong phú trong truyện ngắn Việt Nam - Hàn Quốc những năm đầu thế kỷ XX Đồng thời từ đó xác định vai trò, đặc trưng phong cách nghệ thuật, đóng góp của các tác giả tiêu biểu vào thành tựu chung của tiến trình văn học mỗi dân tộc

Trang 27

Những thập kỷ đầu thế kỷ XX là thời kỳ đấu tranh dân tộc

và giai cấp gay gắt, báo hiệu sự tan rã của xã hội phong kiến

ngàn năm và sự lung lay của chế độ thực dân Thực dân Pháp ra

sức củng cố chế độ thuộc địa ở Việt Nam Chúng tiến hành hai

cuộc khai thác thuộc địa và thực hiện các chính sách kinh tế

mới, tuy làm cho dân ta rơi vào cảnh bần cùng nhưng lại tạo

điều kiện cho Việt Nam tiếp xúc với khu vực và châu Âu, đi vào

quỹ đạo hiện đại Các đô thị mọc lên rất nhanh theo đà phát

triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Tầng lớp tiểu tư sản hình

thành và phát triển đông đảo Lối sống tư sản hóa lan tràn Các

trường tư thục đua nhau xuất hiện để dạy chữ quốc ngữ và chữ

Pháp Sự du nhập của sách báo hải ngoại, sự trở về của du học

sinh Pháp với tư tưởng “muốn xây dựng lại cả Đông Dương

bằng những tảng đá chở từ Pháp về”1 là những điều kiện để Việt

1 Phạm Thế Ngũ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập III Quốc học tùng

thư xuất bản, Sài Gòn, 1960, tr 426.

Trang 28

Nam đón nhận những tư tưởng lãng mạn thế kỷ XIX ở châu Âu đang dồn dập đến Ảnh hưởng châu Âu và cuộc sống đô thị hóa

là nhân tố thúc đẩy ý thức cá nhân phát triển trong tầng lớp tiểu

tư sản thành thị Họ có nhu cầu mới về món ăn tinh thần, có quan niệm hoàn toàn khác với thế hệ cha ông về cái đẹp, về đạo đức, và đặc biệt về nghệ thuật

Thực trạng đó đòi hỏi văn học phải phản ánh đời sống cùng với tâm tư tình cảm của công chúng đô thị ấy

1.2 M“i trường văn học mới vš quan niệm mới về văn học

1.2.1 M“i trường văn học mới

Những biến đổi về kinh tế, xã hội theo hướng hiện đại đã làm xuất hiện một môi trường văn học mới, đủ điều kiện để tiến hành công cuộc hiện đại hóa văn học

Trước hết, đó là việc dùng chữ quốc ngữ thay thế chữ Hán

và chữ Nôm Từ những năm 20 của thế kỷ XX về sau, văn học hầu như chỉ còn văn học quốc ngữ Muốn đóng vai trò tích cực trong việc hiện đại hóa văn học, chữ quốc ngữ cũng phải hiện đại hóa chính mình: đổi mới và tăng thêm vốn từ hiện đại tương ứng với cuộc sống hiện đại, những vấn đề khoa học kỹ thuật, tư tưởng văn hóa hiện đại ngoại nhập, cú pháp, cách diễn đạt cũng phải mới, nhanh, rõ hơn Khi chữ quốc ngữ được sử dụng rộng rãi thì công chúng văn học thực sự tăng nhanh, nhờ thế việc viết

và dịch sách báo được đẩy mạnh, các thể loại văn học mới, nhất

là văn xuôi hình thành và phát triển

Các nhà in, các nhà xuất bản, các báo quán, thư quán dần dần xuất hiện nên các tác phẩm văn học được in nhanh, nhiều, phổ biến rộng rãi hơn Nhà văn phải đáp ứng yêu cầu của công

Trang 29

chúng nhiều lứa tuổi, nhiều ngành nghề Viết văn không còn là thú vui mà đã là nghề sống, nên bên cạnh tài năng, người viết còn cần phải có ý thức lao động, sản xuất và bán sản phẩm Máy in, nghề in tạo ra không khí sáng tác, truyền bá văn chương chưa từng có

Sự ra đời của nghề in dẫn đến sự phát triển của báo chí Báo chí là dấu hiệu của xã hội hiện đại Báo chí đã góp phần hình thành nên đời sống văn học hiện đại

Báo chí giúp các nhà văn viết bằng chữ quốc ngữ làm quen với cách viết và tư duy hiện đại, không dài dòng, lê thê, ứng đối như văn biền ngẫu; đồng thời cũng giúp bạn đọc làm quen với kiểu văn mới, thay đổi thị hiếu thẩm mỹ

Báo chí giúp người Việt Nam biết đến tư tưởng học thuật, văn học châu Âu qua các bản dịch Điều này rất quan trọng đối với việc hiện đại hóa văn học

Báo chí đăng nhiều những tác phẩm thuộc nhiều thể loại mới: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự hiện đại với nhiều cây bút mới có phong cách sáng tạo độc đáo

Báo chí tích cực tham gia quá trình truyền bá chữ quốc ngữ, chuẩn hóa và làm giàu kho từ vựng tiếng Việt

Tất cả cho thấy báo chí có vai trò rất quan trọng đối với quá trình hiện đại hóa văn học

Một yếu tố có ý nghĩa đặc biệt nữa là dịch thuật Từ việc được tiếp xúc với văn học cổ kim đông tây, những trào lưu văn học, triết học thế giới hiện đại, nhất là của văn học Pháp, các nhà văn Việt Nam đã thay đổi cách cảm, cách nghĩ, học

Ngày đăng: 30/12/2019, 13:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w