1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề xuất giải pháp đảm bảo thực hiện dự án di dời nhà bè nhằm khôi phục cảnh quan cho vịnh hạ long

121 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bồi thường đất ở đối với những người đang đồng quyền sử dụng đấtquy định tại Điều 15 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP khi Nhà nước thu hồiđất mà giấy tờ về đất không xác định được diện tí

Trang 1

Lời đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và biết ơn sâu sắctới PGS.TS Đặng Tùng Hoa - người đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suốtquá trình thực hiện đề tài Sự giúp đỡ tận tình, những lời khuyên bổ ích vànhững góp ý của Cô đã giúp tác giả hoàn thành đề tài của mình.

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu, các thầy cô giáo đãnhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và toàn thể cán bộ, nhân viên trườngĐại học Thuỷ lợi đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong thời gianhọc tập và nghiên cứu nhằm hoàn thành chương trình học

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Hội đồngkhoa học Khoa Kinh tế và Quản lý đã đóng góp ý kiến cho luận văn và kínhmong nhận được sự quan tâm, nhận xét của các thầy cô để hoàn thiện tốt hơnnhững nội dung của luận văn nhằm đạt được tính hiệu quả, hữu ích khi ápdụng vào trong thực tiễn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày … tháng năm 2015

Tác luận văn

Hoàng Tuấn Hiệp

Trang 2

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, khôngsao chép các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm củariêng mình Các số liệu, kết quả, ý kiến nêu trong luận văn là trung thực, cónguồn gốc rõ ràng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiêncứu khoa học nào trước đây.

Hà Nội, ngày … tháng năm 2015

Tác luận văn

Hoàng Tuấn Hiệp

Trang 3

Hình 2.1: Vịnh Hạ Long di sản thiên nhiên thế giới 27

Hình 2.2: Bản đồ vị trí địa lý Vịnh Hạ Long 28

Hình 2.3: Hạ Long đá và nước 30

Hình 2.4: Điểm neo đậu Vung Viêng 36

Hình 2.5: Mục đích hoạt động của các nhà bè 38

Trang 4

Bảng 2.1: Danh sách điểm neo đậu nhà bè trên Vịnh Hạ Long 37 Bảng 2.2: Mức độ ảnh hưởng của nhà bè đến môi trường Vịnh Hạ Long

45 Bảng 2.3: Dự kiến kinh phí di dời các hộ nhà bè 55

Trang 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ

TÁI ĐỊNH CƯ PHỤC VỤ CÁC MỤC ĐÍCH KINH TẾ - XÃ HỘI 1

1.1 Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 1

1.1.1 Khái niệm công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 1

1.1.2 Mục đích công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 1

1.1.3 Ý nghĩa của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 2

1.2 Cơ sở pháp lý của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 2

1.2.1 Chính sách bồi thường 2

1.2.2 Chính sách hỗ trợ 7

1.2.3 Chính sách tái định cư 10

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 11

1.3.1 Các nhân tố chủ quan 11

1.3.2 Các nhân tố khách quan 13

1.4 Tình hình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở nước ta trong thời gian qua 15

1.4.1 Những kết quả đạt được 15

1.4.2 Những vấn đề còn tồn tại 17

1.5 Kinh nghiệm bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở một số nước 20

1.5.1 Tại Trung Quốc 20

1.5.2 Tại Inđônêxia 21

1.5.3 Tại Hàn Quốc 22

1.5.4 Phương pháp bồi thường thiệt hại về đất đai thuộc các tổ chức tài trợ 23

Kết luận chương 1 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ TRONG VIỆC TỔ CHỨC DI DỜI NHÀ BÈ TRÊN VỊNH HẠ LONG TRONG THỜI GIAN 2012 - 2014 27

2.1 Giới thiệu khái quát về kỳ quan thiên nhiên Vịnh Hạ Long 27

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 28

Trang 7

2.2.2 Các tác động của nhà bè đến môi trường Vịnh Hạ Long 45

2.3 Giới thiệu dự án di dời nhà bè trên Vịnh Hạ Long 48

2.3.1 Sự cần thiết của dự án 48

2.3.2 Nội dung của dự án 49

2.3.3 Tình hình tổ chức triển khai thực hiện dự án 55

2.4 Đánh giá chung về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nhà bè trên Vịnh Hạ Long trong thời gian 2011 - 2014 57

2.4.1 Những kết quả đạt được 57

2.4.2 Những tồn tại và nguyên nhân 60

Kết luận chương 2 62

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ TIẾN ĐỘ DỰ ÁN DI DỜI NHÀ BÈ TRÊN VỊNH HẠ LONG 63

3.1 Định hướng phát triển du lịch của Vịnh Hạ Long 63

3.2 Những cơ hội và thách thức trong công tác di dời nhà bè 66

3.2.1 Cơ hội 66

3.2.2 Thách thức 67

3.3 Đề xuất một số giải pháp thực hiện có hiệu quả công tác di dời nhà bè 68

3.3.1 Giải pháp tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát việc di dời nhà bè 68

3.3.2 Xác định mức giá bồi thường, hỗ trợ về tài sản hợp lý 77

3.3.3 Công tác tái định cư cho người dân 79

3.3.4 Hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho người phải di dời 82

3.3.5 Công tác tuyên truyền, giáo dục và vận động người dân 85

3.4 Kiến nghị những giải pháp hỗ trợ 88

Kết luận chương 3 90

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 8

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên không chỉ gópphần bảo tồn và phát huy giá trị nguồn tài nguyên du lịch của đất nước mà nócòn có khả năng đóng góp vào sự phát triển kinh tế của địa phương và cảnước

Là một trong những di sản thiên nhiên thế giới của Việt Nam được Tổchức UNESCO 2 lần công nhận (năm 1994 về giá trị cảnh quan, và năm 2000

về giá trị địa chất, địa mạo); Vịnh Hạ Long đã và đang được các cấp chínhquyền tỉnh Quảng Ninh tích cực, chủ động tăng cường công tác quản lý, bảotồn và phát huy giá trị di sản vốn có của nó Quảng Ninh xác định rõ Vịnh HạLong là thắng cảnh nổi tiếng, đồng thời chứa đựng nhiều tiềm năng to lớn đểphát triển kinh tế, nhất là về du lịch, giao thông, cảng biển, đánh bắt và nuôitrồng thủy hải sản Bảo vệ, khai thác và tôn vinh những giá trị đặc biệt củaVịnh Hạ Long vừa là nhiệm vụ vừa là niềm vinh dự của nhân dân các dân tộcQuảng Ninh đối với đất nước và các thế hệ mai sau

Xuất phát từ lợi ích kinh tế, trên Vịnh Hạ Long đã xuất hiện và pháttriển các hoạt động kinh tế và du lịch với nhiều hình thức đa dạng, phong phú

Từ năm 2007 đến năm 2013, số lượng nhà bè, dân cư trên Vịnh Hạ Long pháttriển nhanh; từ đó cũng gây ra các ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sinhthái Vịnh Hạ Long (ô nhiễm mặt nước, khói bụi, rác thải…) Để đảm bảo điềukiện an toàn (phòng, tránh gió bão, an toàn giao thông đường thuỷ, an ninhtrật tự…), nâng cao điều kiện sống cho nhân dân, đảm bảo vệ sinh môitrường, trật tự an toàn giao thông, an ninh trật tự trên Vịnh, tạo cảnh quan cho

Di sản Vịnh Hạ Long – Kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới, bảo tồn, duy trì

và phát huy văn hoá làng chài; Đảng bộ và chính quyền các cấp tỉnh Quảng

Trang 9

Quá trình triển khai kế hoạch sắp xếp, di dời nhà bè đã gặp phải khókhăn do chưa có các giải pháp bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phù hợp.Ngoài vướng mắc về cơ chế chính sách thì vấn đề liên quan đến sinh kế củangười dân cũng đặt ra một dấu hỏi lớn do cộng đồng dân cư này đã có nhiềunăm sinh sống trên Vịnh Hạ Long nên họ có những tập quán sản xuất, sinhhoạt và nền văn hoá đặc trưng riêng biệt Vì vậy, việc bồi thường, hỗ trợ vàtái định cư để di dời hộ nhà bè trên Vịnh Hạ Long có nhiều khác biệt với côngtác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở các dự án khác Việc di dời này sẽkhiến cho đời sống của người dân vùng tái định cư gặp phải nhiều biến độnghơn Do đó, rất cần có những giải pháp phù hợp để áp dụng cho công tác didời nhà bè trên Vịnh Hạ Long đảm bảo dự án, đồng thời đảm bảo được sinh

kế cho người dân vùng di dời đến nơi ở mới có cuộc sống tốt hơn hoặc tốithiểu đảm bảo sinh kế như nơi ở cũ góp phần vào sự phát triển trong lĩnh vựckinh tế, xã hội của tỉnh Quảng Ninh

Vì vậy, với mong muốn bảo tồn di sản thiên nhiên thế giới, ổn định đờisống nhân dân và đảm bảo tiến độ thực hiện dự án di dời nhà bè nhằm khôi

phục môi trường cảnh quan cho Vịnh Hạ Long, tác giả chọn đề tài: “Đề xuất giải pháp đảm bảo thực hiện dự án di dời nhà bè nhằm khôi phục môi trường cảnh quan cho Vịnh Hạ Long” làm đề tài luận văn thạc sĩ.

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề xuất một số một số giải pháp đảm bảo thực hiện có hiệu quả dự án

di dời nhà bè nhằm khôi phục môi trường cảnh quan cho Vịnh Hạ Long trên

cơ sở đánh giá thực trạng, công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trongviệc tổ chức di dời nhà bè trên Vịnh Hạ Long trong thời gian qua

Trang 10

phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp:

Tác giả tiến hành tìm kiếm, rà soát văn bản, tài liệu, báo cáo và cácnghiên cứu tư liệu hiện có được thu thập tại Việt Nam thông qua nhiều nguồnkhác nhau (Chính phủ, các bộ ban ngành, UBND tỉnh Quảng Ninh, UBNDthành phố Hạ Long, Ban quản lý Vịnh Hạ Long, các báo cáo/tạp chí nghiêncứu khoa học, Internet, các doanh nghiệp du lịch ) nhằm thu thập thông tin

về các vấn đề quan tâm và nhiệm vụ nghiên cứu

- Phương pháp chuyên gia:

Phỏng vấn và trao đổi với khoảng 10 chuyên gia về lĩnh vực bồithường, hỗ trợ và tái định cư nhằm thu được những kinh nghiệm, tham khảonhững nhận xét và ý kiến của họ về vấn đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cưnói chung và các nội dung như quy hoạch, đền bù, di dân trong từng tìnhhuống cụ thể tại các dự án đã và đang thực hiện

- Phương pháp điều tra xã hội học:

+ Lựa chọn địa bàn điều tra: Dựa trên tính chất đặc trưng của các nhà

bè trên Vịnh Hạ Long, tác giả lựa chọn các phường: Bạch Đằng, Hồng Hải,Hồng Hà của thành phố Hạ Long để tiến hành nghiên cứu tác động của quátrình di dời nhà bè trên Vịnh đến cuộc sống của người dân

+ Xác định đối tượng điều tra: Các hộ điều tra thuộc nhóm hộ phải didời tái định cư đến nơi ở mới thuộc đề án di dời nhà bè trên Vịnh Hạ Longcủa các phường thuộc địa bàn nghiên cứu Số lượng phỏng vấn và trao đổi là

20 hộ thuộc diện phải di dời

- Phương pháp phân tích tổng hợp và xử lý số liệu:

Trang 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: tập trung vào thực trạng, công tác bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư trong việc tổ chức di dời nhà bè trên Vịnh Hạ Long trongthời gian qua

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trên địa bàn tỉnh QuảngNinh, với phạm vi chủ yếu là địa bàn thành phố Hạ Long trong thời gian từtháng 8/2014 đến tháng 02/2015

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Đề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận, đề xuất các giảipháp dựa trên cơ sở khoa học, đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc bổ sungcập nhật thêm các giải pháp về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đảm bảohoàn thành dự án di dời nhà bè Nội dung nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệutham khảo cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu

- Ý nghĩa thực tiễn: Thông qua các kết quả nghiên cứu, đề tài góp phầngiúp các nhà quản lý, các cấp thực hiện cũng như các tổ chức có liên quan cócái nhìn khách quan và toàn diện hơn về thực trạng, công tác bồi thường, hỗtrợ và tái định cư trong việc tổ chức di dời nhà bè trên Vịnh Hạ Long trongthời gian qua Các giải pháp đề xuất của đề tài đóng góp một phần tích cựcvào công tác di dời nhà bè nhằm khôi phục cảnh quan trên Vịnh Hạ Long, gópphần phát triển bền vững kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh

6 Kết quả dự kiến đạt được

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và các khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và

tái định cư

- Thực trạng quá trình triển khai, kết quả đạt được và những tồn tạitrong việc di dời nhà bè trên Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Trang 12

7 Nội dung của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận kiến nghị, luận văn được cấu trúc với 3chương với nội dung chính sau đây:

Chương 1: Cơ sở lý luận, thực tiễn về bồi thường, hỗ trợ và tái định cưphục vụ các mục đích kinh tế - xã hội

Chương 2: Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trongviệc tổ chức di rời nhà bè trên Vịnh Hạ Long trong thời gian 2012-2014

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp đảm bảo thực hiện có hiệu quả dự

án di rời nhà bè trên Vịnh Hạ Long

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ PHỤC VỤ CÁC MỤC ĐÍCH KINH TẾ - XÃ HỘI

1.1 Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

1.1.1 Khái niệm công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Theo Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003 được Quốc hội nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thì:

- Bồi thường thiệt hại có nghĩa là trả lại tương xứng giá trị hoặc cônglao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác

- Việc bồi thường thiệt hại này có thể vô hình hoặc hữu hình (bồithường bằng tiền, bằng vật chất khác…) có thể do các quy định của pháp luậtđiều tiết, hoặc do thoả thuận giữa các chủ thể

- Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trịquyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi

- Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bịthu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để

di dời đến địa điểm mới

- Tái định cư là người sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất theo quyđịnh hiện hành mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư bằng mộttrong các hình thức sau: bồi thường bằng nhà ở, bồi thường bằng giao đất ởmới, bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới

1.1.2 Mục đích công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Tạo ra quỹ đất sạch phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội và các lợiích khác của quốc gia được quy định cụ thể tại Khoản 1, 2 Điều 36 Nghị định181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ Đồng thời đảm bảo côngbằng xã hội, cuộc sống ổn định cho người dân nơi có đất bị thu hồi

Trang 14

1.1.3 Ý nghĩa của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Phát triển công nghiệp và đô thị là một tiến trình tất yếu trên toàn thếgiới Thu hồi đất là cách thức thường được thực hiện để xây khu công nghiệp

và đô thị Quá trình thu hồi đất đặt ra rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội cầnđược giải quyết kịp thời và thỏa đáng Để có thể hài hòa được lợi ích của xãhội, tập thể và cá nhân, mỗi quốc gia có cách làm riêng của mình

Về mặt hành chính thì đây là một quá trình không tự nguyện, có tínhcưỡng chế và vẫn đòi hỏi sự “hy sinh” Không chỉ là một sự đền bù ngang giátuyệt đối

Từ những nhận thức trên có thể hiểu ý nghĩa của công tác đền bù giảiphóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ mục đích an ninh, quốcphòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng trong quá trình hiện nay không chỉđơn thuần là sự đền bù về mặt vật chất mà còn phải đảm bảo lợi ích của ngườidân phải di chuyển Đó là họ phải có được chỗ ở ổn định, điều kiện sống bằnghoặc tốt hơn nơi cũ

1.2 Cơ sở pháp lý của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

1.2.1 Chính sách bồi thường

1.2.1.1 Bồi thường, hỗ trợ về đất

a Điều kiện để được bồi thường về đất

Điều kiện để được bồi thuờng về đất được thực hiện theo Nghịđịnh, người đang sử dụng đất được bồi thường về đất thực hiện theo quy địnhtại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 10 và 11 Điều 8 của Nghị định số197/2004/NĐ-CP và các Điều 44, 45 và 46 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP.Một số điểm tại khoản

3 Điều 8 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP được quy định cụ thể như sau:

- Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất hoặc tài sảngắn liền với đất và giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với

- Giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở

Trang 15

- Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho ngườiđang sử dụng đất.

- Các loại giấy tờ khác chứng minh việc tạo lập nhà ở, đất ở nay đượcUBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có đất ở công nhận

b Giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại

Giá đất để tính bồi thường quy định tại Điều 11 của Nghị định số69/2009/NĐ-CP là giá đất theo mục đích đang sử dụng của loại đất bị thu hồi,được UBND cấp tỉnh quy định và công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm

Trường hợp giá đất do UBND cấp tỉnh công bố chưa sát với giá chuyểnnhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thườngthì UBND cấp tỉnh giao cho cơ quan chức năng xác định lại giá đất cụ thể đểquyết định giá đất tính bồi thường cho phù hợp và không bị giới hạn bởi quyđịnh về khung giá các loại đất

Chi phí đầu tư vào đất còn lại quy định tại khoản 3 Điều 9 của Nghịđịnh số 197/2004/NĐ-CP là các chi phí thực tế hợp lý mà người sử dụng đất

đã đầu tư vào đất để sử dụng theo mục đích được phép sử dụng mà đến thờiđiểm Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được Các khoản chi phí đầu tưvào đất phải có đầy đủ hồ sơ, chứng từ, thực tế chứng minh Chi phí đầu tưvào đất còn lại được xác định bằng tổng chi phí thực tế hợp lý tính thành tiền

đã đầu tư vào đất trừ đi số tiền đầu tư phân bổ cho thời gian đã sử dụng đất

UBND cấp tỉnh quy định việc xác định khoản chi phí đầu tư vào đấtcòn lại đối với các trường hợp không có hồ sơ, chứng từ về chi phí đã đầu tưvào đất cho phù hợp với thực tế tại địa phương

c Bồi thường đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

Bồi thường đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân thực hiệntheo quy định tại Điều 16 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP như sau:

- Đất nông nghiệp được bồi thường gồm: đất trồng cây hàng năm, đất

Trang 16

trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thuỷ sản,đất làm muối và đất nông nghiệp khác.

- Đối với đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt quyhoạch rừng phòng hộ, rừng đặc dụng mà các tổ chức, hộ gia đình, cá nhânnhận khoanh nuôi tái sinh rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng hoặc trồng rừng bằngnguồn vốn ngân sách Nhà nước theo hợp đồng khoán thì khi Nhà nước thuhồi đất không được bồi thường về đất, chỉ được bồi thường về cây trồng trênđất Mức bồi thường tương đương với mức phân chia sản phẩm theo quy địnhtại Thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT/BNN-BTC ngày 03/9/2003 của BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiệnQuyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ

về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê,nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp

d Bồi thường đối với đất ở

Việc bồi thường bằng đất ở được thực hiện khi người bị thu hồi đất ởthuộc các trường hợp quy định tại Điều 8 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP

Người bị thu hồi đất ở được bồi thường bằng việc giao đất ở mới hoặcbằng nhà ở tái định cư hoặc bằng tiền theo giá trị quyền sử dụng đất tại thờiđiểm có quyết định thu hồi đất

Bồi thường đất ở đối với những người đang đồng quyền sử dụng đấtquy định tại Điều 15 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP khi Nhà nước thu hồiđất mà giấy tờ về đất không xác định được diện tích đất thuộc quyền sử dụngriêng của từng tổ chức, từng hộ gia đình, cá nhân thì UBND cấp tỉnh hướngdẫn việc tiếp nhận và phân chia tiền bồi thường về đất

1.2.1.2 Bồi thường, hỗ trợ về tài sản

a Các trường hợp bồi thường, hỗ trợ cụ thể về nhà, công trình

Xử lý các trường hợp bồi thường, hỗ trợ cụ thể về nhà, công trình quy định

Trang 17

tại Điều 20 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP được quy định cụ thể như sau:

Nhà, công trình khác được phép xây dựng theo quy định của pháp luật

về xây dựng trên đất có đủ điều kiện được bồi thường về đất thì được bồithường theo quy định tại Điều 24 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP

Nhà, công trình khác không được phép xây dựng theo quy định củapháp luật về xây dựng nhưng xây dựng trên đất có đủ điều kiện được bồithường về đất và xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì được bồithường theo quy định tại Điều 24 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP; nếu xâydựng từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về sau, xây dựng không đúng với mụcđích sử dụng đất theo quy định của pháp luật thì không được bồi thường.Trong trường hợp đặc biệt, UBND cấp tỉnh xem xét hỗ trợ từng trường hợp cụthể cho phù hợp với thực tế tại địa phương

b Bồi thường, hỗ trợ nhà, công trình đối với người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước

Bồi thường, hỗ trợ nhà, công trình đối với người đang sử dụng nhà ởthuộc sở hữu Nhà nước thực hiện theo quy định tại Điều 21 của Nghị định số197/2004/NĐ-CP và được quy định cụ thể như sau:

Khoản 1 Điều 21 quy định về phần diện tích nhà ở thuộc sở hữu Nhànước tự cải tạo, sửa chữa, nâng cấp được coi là hợp pháp khi được cơ quan raquyết định phân nhà hoặc cơ quan quản lý nhà đất thuộc sở hữu Nhà nước tạiđịa phương cho phép

Khoản 2 Điều 21 quy định về người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữuNhà nước bị phá dỡ được thuê nhà tại nơi tái định cư; trường hợp không cónhà tái định cư để bố trí thì được hỗ trợ bằng tiền để tự lo chỗ ở mới, mức hỗtrợ bằng 60% trị giá đất và 60% trị giá nhà đang thuê; trường hợp có nhà táiđịnh cư để bố trí mà người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước không

có nhu cầu thuê thì không được hỗ trợ bằng tiền

Trang 18

c Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi

Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi thực hiện theo quy định tại Điều

24 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và được quy định cụ thể như sau:

- Mức bồi thường đối với cây hàng năm bằng giá trị sản lượng thuhoạch của một (01) vụ thu hoạch Giá trị sản lượng của một (01) vụ thu hoạchđược tính theo năng suất cao nhất trong ba (03) năm trước liền kề của câytrồng chính tại địa phương theo thời giá trung bình của nông sản cùng loại ởđịa phương tại thời điểm thu hồi đất

- Cây lâu năm bao gồm cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lấy gỗ, lấy lá,cây rừng quy định tại khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 74 ngày 25 tháng 10năm 1993 của CP quy định chi tiết thi hành Luật Thuế sử dụng đất nôngnghiệp, khi Nhà nước thu hồi được bồi thường theo giá trị hiện có của vườncây, giá trị này không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất

- Chi phí đầu tư ban đầu, chi phí chăm sóc, chi phí chặt hạ quy định tạikhoản này được tính thành tiền theo mức chi phí trung bình tại địa phương doUBND cấp tỉnh quy định cụ thể đối với từng loại cây

- Đối với cây trồng và lâm sản phụ trồng trên diện tích đất lâm nghiệp

do Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân để trồng, khoanh nuôi, bảo vệ, táisinh rừng, mà khi giao là đất trống, đồi núi trọc, hộ gia đình, cá nhân tự bỏ vốnđầu tư trồng rừng thì được bồi thường theo giá bán cây rừng chặt hạ tại cửarừng cùng loại ở địa phương tại thời điểm có quyết định thu hồi đất trừ đi giátrị thu hồi

d Xử lý tiền bồi thường đối với tài sản thuộc sở hữu Nhà nước

Việc sử dụng tiền bồi thường đối với tài sản thuộc sở hữu Nhà nướcquy định tại Điều 25 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP được quy định cụ thểnhư sau:

- Tổ chức bị thu hồi đất có tài sản được Nhà nước giao quản lý, sử dụng

bị thiệt hại và phải di dời đến địa điểm mới thì được sử dụng tiền bồi thường

Trang 19

tài sản để đầu tư tại địa điểm mới theo dự án đầu tư được cấp có thẩm quyềnphê duyệt Số tiền bồi thường tài sản này do người được Nhà nước giao đất,cho thuê đất chi trả; nếu không sử dụng hết thì số tiền còn lại được nộp vàongân sách Nhà nước.

1.2.2 Chính sách hỗ trợ

1.2.2.1 Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất

Tại Điều 20 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP được quy định cụ thểnhư sau: Đối tượng được hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất là hộ giađình,cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp và được xác định như sau:

- Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp, lâmnghiệp khi thực hiện Nghị định số 64/1993/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 1993của CP ban hành quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cánhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp; Nghị định

số 02/1994/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 1994 của CP ban hành quy định vềviệc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định,lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28tháng 8 năm 1999 của CP sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định về việcgiao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vàomục đích sản xuất nông nghiệp và bổ sung việc giao đất làm muối cho hộ giađình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài; Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày

16 tháng 11 năm 1999 của CP về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho

tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâmnghiệp; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của CP

về thi hành Luật Đất đai năm 2003;

- Nhân khẩu nông nghiệp trong hộ gia đình quy định tại điểm a khoảnnày nhưng phát sinh sau thời điểm giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình đó;

- Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng đủ điều kiện được giao đất nông

Trang 20

nghiệp theo quy định tại điểm a khoản này nhưng chưa được giao đất nôngnghiệp và đang sử dụng đất nông nghiệp do nhận chuyển nhượng, nhận thừa

kế, được tặng cho, khai hoang theo quy định của pháp luật, được UBND cấp

xã nơi có đất bị thu hồi xác nhận là đang trực tiếp sản xuất trên đất nôngnghiệp đó

Diện tích đất nông nghiệp mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng quyđịnh tại khoản 1 Điều 20 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP gồm diện tích đấttrồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất được giao để trồng rừng sảnxuất, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác và đượcxác định như sau:

- Đối với đất nông nghiệp đã có giấy tờ về quyền sử dụng đất (Giấychứng nhận quyền sử dụng đất, giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều

50 của Luật Đất đai năm 2003) thì xác định diện tích đất ghi trên giấy tờ đó;

- Đối với đất nông nghiệp không có giấy tờ về quyền sử dụng đấtnhưng được thể hiện trong phương án giao đất nông nghiệp khi thực hiện quyđịnh tại điểm a khoản 1 Điều này thì diện tích đất nông nghiệp được xác địnhtheo phương án đó;

- Đối với đất nông nghiệp không có giấy tờ, phương án giao đất quyđịnh tại điểm a và điểm b khoản này thì xác định theo hiện trạng thực tế đang

sử dụng

Khi Nhà nước thu hồi đất của tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh

có đăng ký kinh doanh mà bị ngừng sản xuất kinh doanh thì được hỗ trợ tối

đa bằng 30% một (01) năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quâncủa ba (03) năm liền kề trước đó Thu nhập sau thuế được xác định căn cứvào báo cáo tài chính đã được kiểm toán hoặc được cơ quan thuế chấp thuận;trường hợp chưa được kiểm toán hoặc chưa được cơ quan thuế chấp thuận thìviệc xác định thu nhập sau thuế được căn cứ vào thu nhập sau thuế do đơn vị

kê khai tại báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhcuối mỗi năm đã gửi cơ quan thuế

Trang 21

1.2.2.2 Xác định khu dân cư để tính hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư

Khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn quy định tại khoản 1

và khoản 2 Điều 21 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP được xác định theoranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng của làng, bản, thôn, ấp, buôn,phum, sóc và các điểm dân cư tương tự UBND cấp tỉnh căn cứ vào tình hìnhthực tế tại địa phương quy định việc xác định ranh giới của thửa đất có nhà ởngoài cùng quy định tại khoản 1 Điều này

1.2.2.3 Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm

Việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm được thực hiện theoquy định tại Điều 22 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP và được quy định nhưsau:

- Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 14của Thông tư này mà bị thu hồi đất nông nghiệp nhưng không thuộc trườnghợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 21 của Nghị định số 69/2009/NĐ-

CP thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm

Việc áp dụng hình thức hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làmbằng một (01) suất đất ở hoặc một (01) căn hộ chung cư hoặc một (01) suấtđất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp chỉ thực hiện một lần khi có đủ cácđiều kiện sau:

- Hộ gia đình, cá nhân được hỗ trợ có nhu cầu nhận suất đất ở hoặc căn

hộ chung cư hoặc suất đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp;

- Địa phương có điều kiện về quỹ đất ở, quỹ nhà ở;

- Số tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm quy định tạiđiểm a khoản 1 Điều 22 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP phải bằng hoặc lớnhơn giá trị một (01) suất đất ở hoặc giá một (01) căn hộ chung cư hoặc giá trịmột (01) suất đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp

Việc lấy ý kiến của người bị thu hồi đất nông nghiệp về phương án đào

Trang 22

tạo, chuyển đổi nghề nghiệp được thực hiện đồng thời khi lấy ý kiến vềphương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Hình thức lấy ý kiến thực hiệnnhư việc lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quy địnhtại khoản 2 Điều 30 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP.

1.2.2.4 Hỗ trợ người đang thuê nhà không thuộc sở hữu Nhà nước

Hỗ trợ người đang thuê nhà không thuộc sở hữu Nhà nước quy định tạiĐiều 30 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP được quy định cụ thể như sau:

- Hộ gia đình, cá nhân đang hợp đồng thuê nhà mà không thuộc sở hữuNhà nước, khi Nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ chiphí di chuyển theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 18 của Nghị định số69/2009/NĐ-CP

1.2.3 Chính sách tái định cư

1.2.3.1 Các trường hợp được bố trí tái định cư

Hộ gia đình, cá nhân khi bị Nhà nước thu hồi đất ở thì được bố trí táiđịnh cư trong các trường hợp sau:

- Hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi hết đất ở màkhông có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thuhồi (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân không có nhu cầu tái định cư);

- Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất mà phần diện tích đất ở còn lại sauthu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của UBND cấp tỉnh mà không

có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi;

- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khixây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyểnchỗ ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi cóđất bị thu hồi;

- Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ (nhiều cặp vợ chồng)cùng chung sống đủ điều kiện tách hộ hoặc có nhiều hộ gia đình có chung

Trang 23

quyền sử dụng một (01) thửa đất ở bị thu hồi thì UBND cấp tỉnh căn cứ vàođiều kiện thực tế tại địa phương để quy định diện tích đất, diện tích nhà ở để

- Giá đất tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư do UBND cấp tỉnhquyết định theo quy định của CP về phương pháp xác định giá đất và khunggiá các loại đất Giá bán nhà tái định cư do UBND cấp tỉnh quyết định trên cơ

sở suất đầu tư nhà ở và thực tế tại địa phương Giá cho thuê nhà do UBNDcấp tỉnh quyết định cho phù với thực tế tại địa phương;

- Hộ gia đình, cá nhân được giao đất, mua nhà, thuê nhà tại nơi tái định

cư phải nộp tiền sử dụng đất, tiền mua nhà, tiền thuê nhà theo quy định củapháp luật và được trừ vào tiền bồi thường, hỗ trợ; nếu có chênh lệch thì thựchiện thanh toán bằng tiền phần chênh lệch đó theo quy định, trừ trường hợpđược hỗ trợ tái định cư quy định tại khoản 1 Điều 19 của Nghị định số69/2009/NĐ-CP

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

1.3.1 Các nhân tố chủ quan

Một là, thực trạng quản lý đất đai, hay nói đúng hơn là hiệu lực pháp lý

về quản lý đất đai của nơi có dự án Nơi nào công tác quản lý đất đai tốt như

đã hoàn chỉnh bản đồ địa chính có chất lượng, làm rõ nguồn gốc đất, ban hànhcông khai hạn mức diện tích đất ở và đất canh tác thì khâu đo đạc, xác địnhtính pháp lý của đất để áp giá bồi thường hoặc hỗ trợ, di chuyển tái định cư

Trang 24

thường thuận lợi hơn Trái lại, những nơi chưa tiến hành tốt những việc thuộcnội dung quản lý đất đai thường xuyên nói trên sẽ gặp không ít khó khăntrong việc xác định nguồn gốc đất, chủ sở hữu hợp pháp, diện tích, ranh giớicủa khu đất giữa thực địa và hồ sơ giải thửa do mất nhiều thời gian để đốichiếu, xác minh Mặt khác, mặc dù đã nhận được thông báo về chủ trương thuhồi đất và yêu cầu giữ nguyên hiện trạng đất nằm trong chỉ giới giải phóngmặt bằng, nhưng một số hộ dân vẫn tự ý trồng cây, cơi nới các công trìnhkhiến việc thống kê, đền bù GPMB gặp không ít khó khăn.

Hai là, khả năng tổ chức thực hiện và giải quyết các thủ tục hành chínhtrong GPMB như trích lục, trích đo địa chính, thu hồi đất, thẩm định giá, phêduyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Ba là, khả năng giải quyết các chế độ, chính sách đối với các hộ dântrong vùng bị ảnh hưởng, thái độ và năng lực của cán bộ, công chức của cơquan có thẩm quyền khi tiếp xúc với dân trong quá trình giải quyết các chế

độ, chính sách triển khai công tác GPMB Những phức tạp này thường nảysinh do việc không đạt được sự đồng thuận với người dân về mức giá đền bù,hoặc khi đạt được sự đồng thuận thì lại không có khả năng chi trả nên luôngây khó khăn về sau và đòi hỏi phải thương lượng lại khi mức giá thị trườngtăng Sự am hiểu pháp luật, cách giải quyết nhanh gọn cùng với sự cảm thông,tôn trọng lợi ích của người dân, thấu hiểu được tâm lý và nguyện vọng củangười dân khi thực thi công vụ của cán bộ, công chức sẽ đóng vai trò rất quantrọng trong việc tạo dựng sự hợp tác của nhân dân trong vùng dự án nhằmtránh các phản ứng tiêu cực lây lan gây bất lợi cho tiến độ GPMB

Bốn là, khả năng xử lý những vướng mắc phát sinh của các cơ quanchức năng Thắc mắc của dân phần lớn tập trung ở kết quả đo đạc, nguồn gốcđất, hạn mức đất, đơn giá đền bù hoặc hỗ trợ, một số vấn đề phức tạp về đấtđai do quá khứ để lại và về vị trí, chất lượng, giá cả nhà hoặc đất khu tái định

Trang 25

cư Trong bối cảnh đó, chỉ cần một trường hợp xử lý sai (do chưa am hiểucác quy định, thiếu trách nhiệm, chậm giải quyết, vô cảm, thiên vị, tiêu cựchoặc nhượng bộ vô nguyên tắc) dễ dẫn đến phản ứng dây chuyền, có thể toàn

bộ phương án bồi thường bị đổ vỡ phải làm lại từ đầu

Năm là, khả năng hoàn thành khu tái định cư, bố trí di dời mồ mả phục

vụ cho công tác di dân, tái định cư và khu tái định cư được xây dựng có điềukiện bằng hoặc tốt hơn khu dân cư có đất bị thu hồi

Sáu là, khả năng tài chính và năng lực quản lý, điều hành của nhà đầu tư

hạ tầng KCN trong quá trình tham gia triển khai công tác GPMB với tư cách

là một thành viên trong Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Nhà đầu tưphải đủ khả năng tài chính để kịp thời chi trả bồi thường cho các hộ dân theođúng kế hoạch, tiến độ đã được thông báo Ngược lại, công tác bồi thường sẽ

bị trì hoãn và có thể tạo ra sự bất bình, phản ứng tiêu cực, thiếu hợp tác vàkhiếu kiện trong nhân dân Trong quá trình GPMB, sự tham gia tích cực, năngđộng của nhà đầu tư cùng với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các khókhăn, vướng mắc có vai trò rất quan trọng trong việc đẩy nhanh tiến độGPMB

1.3.2 Các nhân tố khách quan

Nghị định số 69/2009/NĐ-CP về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, bồithường hỗ trợ tái định cư được ban hành đã giải quyết được rất nhiều bất cậptrong công tác quản lý đất đai, đặc biệt là công tác quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất; nhưng những vướng mắc của Nghị định này lại làm công tácGPMB gặp thêm khó khăn và mâu thuẫn gay gắt về quyền lợi trong việc đền

bù, giải tỏa nhất là đối với những dự án dở dang đang chờ phê duyệt phương

Trang 26

thường Cách làm này hết sức rủi ro vì doanh nghiệp có thể sử dụng quyếtđịnh giao đất để giao dịch trong khi quyền sử dụng đất chưa phải của doanhnghiệp.

- Về định giá đất, theo Điều 11 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP vàĐiều 5 và Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT thì “Trường hợp giá đất doUBND cấp tỉnh công bố chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đấtthực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì UBND cấp tỉnh giaocho cơ quan chức năng xác định lại giá đất cụ thể để quyết định giá đất tínhbồi thường cho phù hợp và không bị giới hạn bởi quy định về khung giá cácloại đất” Như vậy, thế nào có thể coi là chưa sát hay sát giá thị trường và sátgiá thị trường tới mức nào thì không thể chắc chắn được Quy định như vậy

dễ dẫn đến sự tùy tiện, thiếu vô tư trong định giá đất, đồng thời tạo ra nhiềuthắc mắc và khiếu kiện hơn Do đó việc quy định biên độ chênh lệch giá vớithị trường trong trường hợp này là cần thiết

- Về tiền sử dụng đất (trong trường hợp dự án hạ tầng KCN áp dụngđược giao đất có thu tiền sử dụng đất) thì “Giá đất tính thu tiền sử dụng đất làgiá đất theo mục đích sử dụng đất được giao tại thời điểm giao đất” (Khoản2

Điều 4 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004) và nếu “chưa sát vớigiá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường” thì phải “xácđịnh lại giá đất” (Điều 11 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP) Quy định như thế sẽlại gặp trở ngại như đã nói ở trên trong định giá đất khi phải có tổ chức thẩmđịnh giá thế nào là sát với thị trường Hơn nữa, cách tính tiền sử dụng đất theogiá thị trường (như đã nói trên) trừ đi tiền bồi thường (Khoản 4 Điều 5 Nghịđịnh số 198/2004/NĐ-CP) là không hợp lý vì như thế phần chi phí bỏ ra đầu

tư hạ tầng và lãi vay ngân hàng không được tính đến Mặt khác, điều này gâykhó khăn khi doanh nghiệp không còn chủ động tính được giá đầu vào vàđầu ra Do đó, Chính phủ cần xem xét lại vấn đề này và cần phải quy địnhmột mức đóng cụ thể mà ai cũng có thể tính toán được trước khi quyết địnhđầu tư

Trang 27

1.4 Tình hình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở nước ta trong thời gian qua

1.4.1 Những kết quả đạt được

Ở nước ta, các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cưngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quyluật kinh tế Quan tâm tới lợi ích của những người bị thu hồi đất, Nghị định197/2004/NĐ-CP sau một thời gian thực hiện, đặc biệt là sau sự ra đời của

NĐ 84/2007/NĐ-CP đã thể hiện được tính khả thi và vai trò tích cực của cácvăn bản pháp luật Vì thế, công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong thờigian qua đã đạt được các kết quả khá khả quan, thể hiện trên một số khía cạnhchủ yếu sau:

- Thứ nhất, đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càngđược xác định đầy đủ chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước,giúp cho công tác quản lý đất đai của Nhà nước được nâng cao, người nhậnđền bù cũng thấy thỏa đáng

- Thứ hai, mức bồi thường hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện chongười dân bị thu hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất Một số biện pháp

hỗ trợ đã được bổ sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổimới của Đảng và Nhà nước nhằm giúp cho người dân ổn định về đời sống vàsản xuất

- Thứ ba, việc bổ sung quy định về quyền tự thỏa thuận của các nhà đầu

tư cần đất với người sử dụng đất đã góp phần giảm sức ép cho các cơ quanhành chính trong việc thu hồi đất

- Thứ tư, trình tự thủ tục tiến hành bồi thường hỗ trợ tái định cư đã giảiquyết được nhiều khúc mắc trong thời gian qua, giúp cho các cơ quan nhànước có thẩm quyền thực hiện công tác bồi thường, tái định cư đạt hiệu quả

Trang 28

- Thứ năm, các địa phương bên cạnh việc thực hiện các quy định Luậtđất đai năm 2003, các Nghị định hướng dẫn thi hành, đã dựa trên sự địnhhướng chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình thực tế tại địa phương đểban hành các văn bản pháp luật áp dụng cho địa phương mình, làm cho côngtác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện hợp lý và đạt hiệu quả caohơn Chẳng hạn như: Quyết định 143/QĐ-UB sửa đổi bổ sung một số vấn đề

về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của UBND Thành phố Hồ Chí Minh ngày15/08/2007; Quyết định số 80/2005/QĐ-UB của UBND thành phố Hà Nội…

Do đã vận dụng các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thỏa đáng nênviệc thu hồi đất tiến hành bình thường, mặc dù vẫn còn những khiếu nạinhưng con số này ít và không gây trở ngại đáng kể trong quá trình thực hiện

- Thứ sáu, nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng nhưtính chất phức tạp của vấn đề thu hồi đất, tái định cư của các nhà quản lý,hoạch định chính sách, của chính quyền địa phương được nâng lên Chính phủ

đã có nhiều nỗ lực để tạo điều kiện vật chất và kỹ thuật trong việc bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư

Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có năng lực

và có nhiều kinh nghiệm ngày càng đông đảo; sự chia sẻ kinh nghiệm thựctiễn của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giữa các bộ, ban, ngành cócác dự án đầu tư ngày càng được mở rộng và có hiệu quả

Nhờ những cải thiện về quy định pháp luật về phương pháp tổ chức, vềnăng lực cán bộ thực thi giải phóng mặt bằng, tiến độ giải phóng mặt bằngtrong các dự án đầu tư gần đây đã được rút ngắn hơn so với các dự án cũ, gópphần giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân cũng như đối với dự án.Việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã giúp cho đất nước

ta xây dựng cơ sở vật chất, phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng khu chế xuất,khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự án trọng điểm của Nhà nước,

Trang 29

cũng như góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn định đời sống sản xuấtcho người có đất bị thu hồi.

1.4.2 Những vấn đề còn tồn tại

1.4.2.1 Thực tiễn của việc bồi thường giải phóng mặt bằng

Qua quá trình nghiên cứu nội dung các văn bản pháp qui về bồi thường,GPMB thấy rõ một điều là các chính sách bồi thường GPMB là xuất phát từnhu cầu thực tiễn và được điều chỉnh tích cực để phù hợp với các biến độngcủa tình hình quản lý sử dụng đất đai Trên thực tế đã có tác dụng tích cựctrong việc đảm bảo sự cân đối và ổn định trong phát triển, khuyến khích đượcđầu tư và cơ bản giữ được nguyên tắc công bằng Tuy vậy, nếu so với nhữngyêu cầu mới thì vẫn còn một số vấn đề bất cập đó là:

- Việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất vẫn phải đặt lợi ích

xã hội, lợi ích công cộng lên trên hết, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân lên việcbồi thường là tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, chưa có tiêu chuẩn định mức rõ

- Trong giai đoạn hiện nay thì các chính sách của Nhà nước cần phảiđược thực hiện đồng bộ và minh bạch trong việc đảm bảo quyền và nghĩa vụcủa nhà đầu tư cũng như người chịu ảnh hưởng được thực hiện một cáchthông suốt vì lợi ích phát triển chung

- Trong bối cảnh hệ thống pháp luật chưa đồng bộ và đang trong quátrình hoàn thiện thậm chí có trường hợp còn gây xung đột pháp lý thì việc chỉdựa vào chứng cứ pháp lý để giải quyết bồi thường là chưa đầy đủ, trong rấtnhiều trường hợp phải coi trọng hiện trạng và tôn trọng những vấn đề có tínhlịch sử, tập quán có tính xã hội được cộng đồng chấp nhận

- Hầu hết các dự án xây dựng nước ta đều ách tắc việc bồi thườngGPMB làm cho tiến độ thi công các công trình không đạt kế hoạch và thờigian Điều đó đã gây ra thiệt hại không nhỏ cho các nhà đầu tư xây dựng

- Đối với các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh do không đáp ứng được

Trang 30

tiến độ đầu tư vì vậy nhiều dự án đã mất cơ hội kinh doanh hiệu quả kinhdoanh thấp.

- Đối với các dự án đầu tư không kinh doanh, thời gian thi công kéo dàitiến độ thi công bị ngắt quãng đã gây ra sự lãng phí lớn và ảnh hưởng đếnchất lượng công trình

- Nhiều nơi mặc dù việc bồi thường GPMB được thực hiện bằng cácbiện pháp hành chính đã dẫn tới sự khiếu kiện của nhân dân kéo dài không thểgiải quyết được Trong sự khiếu kiện đó cái chính vẫn là người dân khôngthoả mãn với sự bồi thường của các chủ dự án hoặc sự định giá bồi thườngthiếu công bằng, không sát với giá thị trường ở thời điểm đó

1.4.2.2 Về tái định cư

Tái định cư là quá trình bồi thường các thiệt hại về đất và tài sản gắnliền với đất, chi phí di chuyển, ổn định và khôi phục cuộc sống cho nhữngngười dân bị thu hồi đất để xây dựng các dự án Tái định cư (TĐC) còn baogồm hàng loạt các hoạt động nhằm hỗ trợ cho người bị ảnh hưởng do việc thựchiện dự án gây ra, nhằm khôi phục và cải thiện mức sống, tạo điều kiện pháttriển những cơ sở kinh tế và văn hoá - xã hội Tái định cư nhằm giảm nhẹ cáctác động xấu về kinh tế - văn hoá - xã hội đối với một bộ phận dân cư phải dichuyển nơi ở vì sự phát triển chung Vì vậy, các dự án TĐC cũng được coi là

dự án phát triển và phải được thực hiện như các dự án phát triển khác

Tuy nhiên, trên thực tế triển khai đã nảy sinh nhiều vấn đề cần đượcxem xét như:

- Một số khu TĐC không đảm bảo điều kiện cơ sở hạ tầng tối thiểunhư: Hệ thống điện, nước, đường giao thông, trường hoặc trạm xá, từ đó ảnhhưởng trực tiếp đến đời sống của những người TĐC

- Bố trí TĐC chưa quan tâm tới các yếu tố cộng đồng dân cư, tập quánsinh hoạt, sản xuất Ví dụ người sản xuất nông nghiệp bị chuyển đến khu

Trang 31

TĐC cao tầng không có tư liệu sản xuất trong khi việc hỗ trợ đào tạo nghề,giải quyết việc làm chưa có chế tài chặt chẽ.

- Việc xây dựng khu TĐC còn chậm, nhiều khi có quyết định thu hồiđất hoặc thậm chí khi tiến hành bồi thường mới quan tâm đến vấn đề TĐC

Từ khâu chuẩn bị không được kỹ do sự bức bách về thời gian dẫn đến thiếucác điều kiện tối thiểu

- Chưa có quy định tối thiểu về quyền và nghĩa vụ của người bị thu hồiđất khi được bồi thường ở khu TĐC, nên người dân không biết mình có quyền

và nghĩa vụ gì Họ không vào các khu TĐC mà yêu cầu bồi thường bằng tiền

để tự lo chỗ ở mới dẫn đến tình trạng thừa chỗ trong các khu TĐC

- Chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm của các bên có liên quantrong việc xây dựng khu TĐC, nên có tình trạng khoán trắng cho chủ dự ándẫn đến có những công trình TĐC chất lượng không đảm bảo

- Ổn định đời sống và phong tục tập quán của người dân: phải xây dựngkhu TĐC với điều kiện sống cao hơn so với trước khi di dời Mặt khác, phảiquan tâm đến phong tục, tập quán trong nhóm người, quan hệ họ hàng, cộngđồng Đối với khu TĐC cần xây dựng các quy định về lối sống, an ninh trật

tự, tạo sự yên tâm cho người mới chuyển đến

1.4.2.3 Vấn đề chuyển đổi nghề nghiệp

Đa số các hộ bị thu hồi đất sống bằng nghề buôn bán nhỏ và sản xuấtnông nghiệp, không có khả năng nghề nghiệp nhất định do đó thu nhập không

ổn định

Việc chuyển đổi nghề nghiệp cho những người bị thu hồi đất gặp rấtnhiều khó khăn Trong những năm trước đây, việc hỗ trợ chuyển đổi nghềnghiệp không được các chủ dự án quan tâm đã gây bất lợi cho đời sống củanhững người dân bị thu hồi đất mà kế sinh nhai của họ là gắn liền với đất,nhiều dự án thực hiện công tác hỗ trợ việc làm thông qua viện trợ bằng cách

Trang 32

là cấp một khoản tiền nhất định Khoản tiền này sẽ phát huy tác dụng khácnhau: Với người năng động hoặc có khả năng thì nó được đầu tư sinh lợi,ngược lại với một số người khác thì khoản tiền đó được tiêu dùng cho sinhhoạt cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó dẫn đến hết tiền,thất nghiệp, ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình và đã có những người mắc các

tệ nạn xã hội Vì vậy, tạo công ăn việc làm để người dân bị thu hồi đất có thunhập ổn định là trách nhiệm của chủ dự án cũng như của cả người dân được

hỗ trợ việc làm trong thời kỳ phát triển, tạo điều kiện ổn định cuộc sống giađình, ổn định xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển

1.5 Kinh nghiệm bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở một số nước

1.5.1 Tại Trung Quốc

Pháp luật đất đai của Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với pháp luậtđất đai của Việt Nam Việc sử dụng đất đai tại Trung Quốc thực sự tiết kiệm,Nhà nước Trung Quốc hoàn toàn cấm việc mua bán chuyển nhượng đất đai

Do vậy thị trường đất đai gần như không tồn tại mà chỉ có thị trường nhà cửa

Về bồi thường thiệt hại về đất đai khi Nhà nước thu hồi: do đất đaithuộc sở hữu Nhà nước nên Chính phủ Trung Quốc không có chính sách bồithường thiệt hại về đất Khi Nhà nước thu hồi đất, kể cả đất nông nghiệp, tuỳtrường hợp cụ thể, nhà nước sẽ cấp đất mới cho các chủ sử dụng bị thu hồi đất

Về phương thức bồi thường, Nhà nước thông báo cho người sử dụng đấtbiết trước cho việc họ sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm Người dân cóquyền lựa chọn các hình thức bồi thường bằng tiền hoặc bằng nhà tại khu ởmới

Về giá bồi thường, tiêu chuẩn là giá thị trường Mức giá này cũng đượcNhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà, đồng thời được điềuchỉnh rất linh hoạt cho phù hợp với thực tế Đối với đất nông nghiệp, bồithường theo tính chất của đất và loại đất (tốt, xấu)

Về TĐC, các khu TĐC và các khu nhà ở được xây dựng đồng bộ và kịp

Trang 33

thời, thường xuyên đáp ứng nhu cầu nhiều loại căn hộ với các nhu cầu sửdụng khác nhau Các chủ sử dụng phải di chuyển đều được chính quyền chú ýtạo điều kiện về việc làm, đối với các đối tượng chính sách xã hội được Nhànước có chính sách riêng Trong quá trình bồi thường GPMB phải lập các biệnpháp xử lý theo phương thức trước tiên là dựa vào trọng tài, sau đó khiếu tố

(Phạm Sỹ Liêm, 2009).

1.5.2 Tại Inđônêxia

Đối với In-đô-nê-xi-a di dân tái định cư, bồi thường thiệt hại khi Nhànước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế xã hội từ trước đến nay vẫnđược coi là sự hi sinh mà một số người phải chấp nhận vì lợi ích của cộngđồng Các chương trình bồi thường TĐC chỉ giới hạn trong phạm vi bồithường theo luật cho đất bị dự án chiếm dụng hoặc một số ít trường hợp bị thuhồi đất để xây dựng khu TĐC TĐC được thực hiện theo 3 yếu tố quan trọng:

- Đền bù tài sản bị thiệt hại, nghề nghiệp và thu nhập bị mất

- Hỗ trợ di chuyển trong đó có trợ cấp, bố trí nơi ở mới với các dịch vụ

và phương tiện phù hợp

- Trợ cấp khôi phục để ít người bị ảnh hưởng có được mức sống đạthoặc gần đạt so với mức sống trước khi có dự án Đối với các dự án có di dânTĐC, việc lập kế hoạch, thiết kế nội dung di dân là yếu tố không thể thiếungay từ khi chu kỳ đầu tiên của việc lập dự án đầu tư và những nguyên tắcchính phải đề cập đến gồm:

+ Nghiên cứu kỹ phương án khả thi của các dự án để giảm thiểu việc didân bắt buộc, vấn đề khó tránh được khi triển khai thực hiện các dự án

+ Người bị ảnh hưởng phải được bồi thường và hỗ trợ để triển vọngkinh tế, xã hội của họ nói chung ít nhất cũng thuận lợi như trong trường hợpkhông có dự án

+ Các dự án về TĐC phải đạt hiệu quả ở mức càng cao càng tốt

Trang 34

+ Người bị ảnh hưởng được thông báo đầy đủ, được tham khảo ý kiếnchi tiết về các phương án bồi thường TĐC.

+ Các chủ đầu tư đặc biệt chú ý đến tầng lớp những người nghèo nhất,trong đó có những người không hoặc chưa có quyền lợi hợp pháp về đất đai,

tài sản, những hộ gia đình do phụ nữ làm chủ (Phạm Sỹ Liêm, 2009).

1.5.3 Tại Hàn Quốc

Luật đất đai của Hàn Quốc được xác lập trên cơ sở Luật quy hoạch đôthị cho từng đô thị và Luật quản lý sử dụng quốc thổ bao gồm tất cả các đô thị,Nhà nước chỉ định năm khu vực sử dụng để cân bằng sự phát triển đồng bộ

Đặc biệt, khái niệm cơ bản của luật quản lý sử dụng quốc thổ công khai

rõ ràng về đất đai Đây có ý nghĩa là tách riêng hai phần quyền sở hữu vàquyền sử dụng đất để nhấn mạnh tầm quan trọng của đất công cộng trong xãhội Chế độ này giúp việc sử dụng đất một cách hữu dụng bằng cách thúc đẩyquyền sử dụng đất nhiều hơn quyền sở hữu đất Với khái niệm công khai đấtđai, hạn chế sở hữu đất, hạn chế sử dụng đất, hạn chế lợi ích phát sinh, hạnchế thanh lý các quy chế công cộng được áp dụng theo luật pháp và cách tínhcác quy chế như thế này được xem là đặc trưng của luật liên quan đến đất đaicủa Hàn Quốc

Để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế thì cần rất nhiều đất công cộngtrong một khoảng thời gian ngắn với mục đích cưỡng chế đất cho nên luật

“sung công đất” đã được thiết lập trước vào năm 1962 Sau đó theo pháp luậtngoài mục đích thương lượng thu hồi đất công cộng thì còn muốn thống nhấtviệc này trên phạm vi toàn quốc và đảm bảo quyền tài sản của công nên luậtnày đã được lập vào năm 1975 và dựa vào hai luật trên Hàn Quốc đã triểnkhai bồi thường cho đến nay Tuy nhiên dưới hai thể chế luật và trong quátrình thực hiện luật “đặc lệ” thương lượng không đạt được thỏa thuận thì luật

“sung công đất” được thực hiện bằng cách cưỡng chế, nhưng nếu cứ như vậy

Trang 35

thì phải lặp đi lặp lại quá trình này và đôi khi trùng lặp cho nên thời gian cóthể bị kéo dài hoặc chi phí cho bồi thường sẽ tăng lên Do đó, Luật bồi thườngthiệt hại của Hàn Quốc mới ra đời và thực hiện theo ba giai đoạn:

Thứ nhất: Tiền bồi thường đất đai được giám định viên công cộng đánh

giá trên tiêu chuẩn giá quy định để thu hồi đất phục vụ cho công trình côngcộng Giá quy định không dựa vào lợi nhuận khai thác do đó có thể đảm bảo

sự khách quan trong việc bồi thường

Thứ hai: Pháp luật có quy định không gây thiệt hại nhiều cho người có

quyền sở hữu đất trong quá trình thương lượng chấp thuận thu hồi đất Quytrình chấp thuận theo thứ tự là công nhận mục đích, lập biên bản tài sản và đấtđai, thương lượng, chấp nhận thu hồi

Thứ ba: Biện pháp di dời là một đặc điểm quan trọng Nhà nước hỗ trợ

tích cực về mặt chính sách đảm bảo sự sinh hoạt của con người, cung cấp đấtđai cho những người bị mất nơi cư trú do thực hiện công trình công cộng cần

thiết của Nhà nước (Phạm Sỹ Liêm, 2009).

1.5.4 Phương pháp bồi thường thiệt hại về đất đai thuộc các tổ chức tài trợ

Các dự án vay vốn của ngân hàng Thế giới (WB) và ngân hàng Pháttriển Châu Á (ADB) đều có chính sách về bồi thường thiệt hại, tái định cư docác dự án này đưa ra Các chính sách này có nhiều khác biệt so với luật củaNhà nước Việt Nam nên một mặt có thể có những khó khăn nhất định trongviệc áp dụng cho các dự án vay vốn và đặc biệt có khả năng gây ra một số vấn

đề xã hội nhất định, song mặt khác cũng có những ảnh hưởng tích cực tới việccải thiện chính sách bồi thường và tái định cư cho những người bị thu hồi đấtcủa các dự án khác Một số điểm khác biệt đó là:

Mục tiêu chủ yếu của các chính sách Nhà nước Việt Nam dừng lại ởviệc bồi thường thiệt hại về đất và tài sản trên đất, điều này có thể xuất phát từthời kỳ bao cấp tập trung khi còn thực hành quan niệm về lợi ích xã hội vàlợi ích

Trang 36

công cộng được đặt lên trên hết và do đất đai là quyền sở hữu toàn dân, khicần Nhà nước có thể lấy lại được ngay, còn việc bồi thường thiệt hại là còntuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể chứ không phải là bắt buộc (vì có rất nhiều dự

án Nhà nước động viên nhân dân phá dỡ nhà cửa trả lại một phần đất đai

mà không cần bồi thường), riêng việc các hộ bị ảnh hưởng phải tự khắc phụccác khó khăn gặp phải được coi là hết sức bình thường, dù cho họ có bị thiệtthòi ít nhiều so với trước

Trong khi đó mục tiêu chính sách tái định cư (TĐC) của ADB là giảmthiểu tối đa TĐC và phải bảo đảm cho các hộ bị di chuyển được bồi thường và

hỗ trợ sao cho tương lai kinh tế và xã hội của họ được thuận lợi tương tựtrong trường hợp không có dự án Xuất phát từ mục tiêu này chính sách TĐCcủa ADB phải bao hàm toàn bộ quá trình từ bồi thường, giúp di chuyển vàkhôi phục các điều kiện sống, tạo thu nhập cho các hộ bị ảnh hưởng bằng mứcban đầu, khi chưa có dự án

Các chính sách của Nhà nước ta chỉ bồi thường cho những người cóquyền sử dụng đất hợp pháp hoặc có khả năng hợp pháp hoá quyền sử dụngđất Tuy nhiên Nghị định 197/2004/NĐ-CP có quy định thêm đối với nhữngtrường hợp không được bồi thường thiệt hại về đất là: “Trong trường hợp xétthấy cần hỗ trợ thì UBND cấp tỉnh xem xét quyết định đối với từng trườnghợp cụ thể”, chính nội dung này đã là mối nối, bù đắp sự khác biệt giữa haichính sách của Nhà nước ta và của ADB

Theo chính sách của ADB thì việc bồi thường và TĐC bao giờ cũngphải hoàn thành xong trước khi tiến hành công trình xây dựng trong khi ởViệt Nam chưa có quy định rõ ràng về thời hạn này (có rất nhiều dự án vừagiải toả mặt bằng vừa triển khai thi công, chỗ nào giải phóng mặt bằng xongthì thi công trước để chống lấn chiếm đất đai ), do vậy nhiều gia đình chưakịp thời xây dựng xong hoặc xây dựng lại nhà ở mới, ổn định cuộc sống trước

Trang 37

khi giải toả.

Công tác TĐC đòi hỏi các chủ dự án phải quan tâm nhiều hơn nữa vàgiúp đỡ những người bị ảnh hưởng trong suốt quá trình TĐC, từ việc tìm nơi

ở mới thích hợp cho một khối lượng lớn chủ sử dụng đất đai phải di chuyển,phải tổ chức các khu tái định cư, trợ giúp chi phí vận chuyển, xây dựng nhà ởmới, đào tạo nghề nghiệp, cho vay vốn phát triển sản xuất, cung cấp các dịch

vụ tại khu tái định cư

Nghị định 197/2004/NĐ-CP, Nghị định 84/2007/NĐ-CP, Nghị định69/2009/NĐ-CP cũng quy định những chính sách hỗ trợ để ổn định đời sống

và sản xuất của các hộ di chuyển, song do nhiều nguyên nhân khác nhaunên nhiều chính sách đã không được áp dụng một cách có hiệu quả và đờisống của những người bị di chuyển vẫn không được khôi phục như mục tiêu

Luật Đất đai của chúng ta quy định (trước khi thu hồi phải thông báocho người sử dụng đất lý do thu hồi, thời gian, kế hoạch di chuyển vàphương án bồi thường thiệt hại) Trên thực tế việc thực hiện đầy đủ nội dungnày là rất khó khăn, vì việc thu hồi đất là quyền của Nhà nước, nhưng việc dichuyển theo kế hoạch như thế nào, tái định cư ra sao hầu như không trả lờingay được

Theo ADB những người bị ảnh hưởng là những người bị mất toàn bộhay mất tài sản vật chất hoặc phí vật chất, kể cả đất đai và tài nguyên của giađình như rừng, khu đánh cá… Do vậy, phạm vi ảnh hưởng của dự án phảiquan tâm là rất rộng

Trang 38

Kết luận chương 1

Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phục vụ các mục đích kinh tế

- xã hội của nước ta trong thời gian qua luôn là vấn đề nóng bỏng nhất và thường xuyên phát sinh các tranh chấp

Để ngày càng hoàn thiện hơn các chính sách về bồi thường, hỗ trợ và táiđịnh cư nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Đấtđai và các Nghị định của Chính phủ; Thông tư hướng dẫn thực hiện củacác Bộ, ngành liên quan; các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và của các

Bộ, UBND các địa phương quy định cụ thể về công tác bồi thường, hỗ trợ vàtái định cư trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực đất đai nhằm mụcđích đưa công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đi đúng theo định hướngcủa nhà nước, đảm bảo phục vụ cho sự phát triển chung của nền kinh tế đấtnước

Bên cạnh đó các bộ, ngành và chính quyền các địa phương cũng đãtăng cường việc đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ cho cán bộ, công chức,viên chức làm việc trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để đápứng tốt nhất công việc được giao

Tuy vậy, công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư vẫn còn tồn tạinhiều bất cập, hạn chế, yếu kém cần có sự điều chỉnh để công tác này đạtđược hiệu quả tốt hơn nữa trong các giai đoạn phát triển sau này

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH

CƯ TRONG VIỆC TỔ CHỨC DI DỜI NHÀ BÈ TRÊN VỊNH HẠ

LONG TRONG THỜI GIAN 2012 - 2014

2.1 Giới thiệu khái quát về kỳ quan thiên nhiên Vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long là một trong những di sản thiên nhiên thế giới của ViệtNam được Tổ chức UNESCO 2 lần công nhận; V ị n h t huộc phần bờ Tây V ị nh Bắc Bộ t ại khu vực biển Đông Bắc V i ệt N a m , bao gồm vùng biển đảothuộc t h à n h ph ố H ạ L o n g , T h à n h ph ố C ẩ m P h ả v à một phần của hu y ện đ ả o V

ân Đ ồ n c ủa tỉnh ả n g NQu i n h Sau đây là một trong số những hình ảnh củaVịnh Hạ Long

Hình 2.1: Vịnh Hạ Long di sản thiên nhiên thế giới

(Nguồn: Ban Quản lý Vịnh Hạ Long, 2014)

Trang 40

Hiện nay, Vịnh Hạ Long là một khu vực phát triển năng động nhờnhững điều kiện và lợi thế sẵn có như có một tiềm năng lớn về d u l ị c h , ng hi ê n

c ứ u kh o a h ọ c, nuôi trồng, đánh bắt t hủ y s ả n , g i ao t h ôn g th ủ y đố i với khu vựcvùng biển g BĐôn ắ c V i ệt N am nó i riêng và m i ền B ắ c V i ệ t N a m nó i chung

(Ban Quản lý Vịnh Hạ Long, 2014).

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Là một Vịnh nhỏ, bộ phận của Vịnh Bắc Bộ, Vịnh Hạ Long được giớihạn với phía Đông Bắc giáp Vịnh Bái Tử Long; phía Tây Nam giáp quần đảoCát Bà; phía Tây và Tây Bắc giáp đất liền bằng đường bờ biển khoảng 120

km kéo dài từ thị xã Quảng Yên, qua thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phảđến hết huyện đảo Vân Đồn; phía Đông Nam và phía Nam hướng ra Vịnh Bắc

Bộ Trong diện tích 1.553 km² gồm vùng lõi và vùng đệm, nằm tại các tọa độ

từ 106°58'-107°22' Đông và 20°45'-20°50' Bắc, Vịnh Hạ Long bao gồm 1.969

hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa được đặt tên (Ban Quản lý Vịnh Hạ Long, 2014).

Hình 2.2: Bản đồ vị trí địa lý Vịnh Hạ Long

(Nguồn: Webside h ttp: / /wikimap i a.or g)

Ngày đăng: 30/12/2019, 11:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 48/2012/QĐ-TTg ngày 01/11/2012 cuả Thủ tướng Chính phủ “về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 204/2005/QĐ-TTg ngày 15/8/2005 của Thủ tướng chính phủ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: về việc sửa đổi, bổ sung Quyếtđịnh số 204/2005/QĐ-TTg ngày 15/8/2005 của Thủ tướng chính phủ
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2012
11. Phòng Quản lý đô thị thành phố Hạ Long (2013), Báo cáo công tác quản lý nhà bè năm 2013 Khác
12. Đặng Thái Sơn (2002), Đề tài nghiên cứu xã hội học về chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư, Viện Nghiên cứu Địa chính - Tổng cục Địa chính Khác
13. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2007), Thông báo số 395-TB/TU về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU về công tác quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị Di sản Vịnh Hạ Long và một số giải pháp quản lý, sắp xếp nhà bè trên Vịnh Hạ Long trong thời gian tới Khác
14. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2012), Thông báo số 786-TB/TU về việc xây dựng Đề án di dời, xử lý Nhà bè, Làng chài trên Vịnh Khác
15. Thủ tướng Chính phủ (2002), Quyết định số 142/2002/QĐ-TTg về việc phê duyệt quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di sản Vịnh Hạ Long đến năm 2020 Khác
16. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định số 33/2011/QĐ-TTg về việc miễn tiền sử dụng đất ở cho hộ dân làng chài, dân sống trên sông nước, đầm phá di chuyển đến định cư tại các khu, điểm tái định cư Khác
18. Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2010), Quyết định số 499/QĐ-UBND về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Khác
20. Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2008), Quyết định số 819/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án sắp xếp, quản lý, di chuyển nhà bè trên Vịnh Hạ Long Khác
21. Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2012), Quyết định số 2178/QĐ- UBND về việc phê duyệt phương án di dời đối với nhà bè trên Vịnh Hạ Long Khác
22. Ủy ban Nhân dân thành phố Hạ Long (2012), Phương án số 2674/PA- UBND về việc di dời đối với nhà bè trên Vịnh Hạ Long Khác
23. Ủy ban Nhân dân thành phố Hạ Long (2012), Kế hoạch số 129/KH-BCĐ về việc di dời đối với nhà bè trên Vịnh Hạ Long Khác
24. Đặng Hùng Võ (2009), Báo cáo đề xuất về hoàn thiện chính sách Nhà nước thu hồi đất và cơ chế chuyển đổi đất đai tự nguyện ở Việt Nam - 6/2009 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w