BÀI 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN 1945 A: YÊU CẦU: Giúp học sinh có cái nhìn tổng quan về giai đoạn văn học Việt Nam từ thế kỷ XX đến 1945 Rèn kỹ năng tổng hợp, khái quát vấn đề VH. B: NỘI DUNG CƠ BẢN 1. Khái quát về tình hình xã hội và văn hoá Việt Nam những năm đầu thế kỷ. 2. Quá trình phát triển của dòng văn học Việt Nam đầu thế kỷ. a) Chặng thứ nhất: Hai thập niên đầu thế kỷ XX. b) Chặng thứ hai: Những năm hai mươi của thế kỷ XX. c) Chặng thứ ba: Từ đầu những năm 30 đến CMT8 1945. 3. Những đặc điểm chung của văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến CMT8 – 1945. a) Văn học đổi mới theo hướng hiện đại hoá. b) Văn học hình thành hai khu vực (hợp pháp và bất hợp pháp) với nhiều trào lưu cùng phát triển. c) Văn học phát triển với nhịp độ đặc biệt khẩn trương, đạt được thành tựu phong phú. 4. Giới thiệu một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu cho từng trào lưu văn học: Trào lưu lãng mạn, nói lên tiếng nói của cá nhân giàu cảm xúc và khát vọng, bất hoà với thực tại ngột ngạt, muốn thoát khỏi thực tại đó bằng mộng tưởng và bằng việc đi sâu vào thế giới nội tâm. Văn học lãng mạn th¬ường ca ngợi tình yêu say đắm, vẻ đẹp của thiên nhiên, của “ngày xưa” và thường đượm buồn. Tuy văn học lãng mạn còn những hạn chế rõ rệt về tư tưởng, nhưng nhìn chung vẫn đậm đà tính dân tộc và có nhiều yếu tố lành mạnh, tiến bộ đáng quý. Văn học lãng mạn có đóng góp to lớn vào công cuộc đổi mới để hiện đại hoá văn học, đặc biệt là về thơ ca. Tiêu biểu cho trào lưu lãng mạn trước 1930 là thơ Tản Đà, tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách; sau 1930 là Thơ mới của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính…và văn xuôi của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân… Trào lưu hiện thực gồm các nhà văn hướng ngòi bút vào việc phơi bày thực trạng bất công, thối nát của xã hội và đi sâu phản ánh thực trạng thống khổ của các tầng lớp quần chúng bị áp bức bóc lột đương thời. Nói chung các sáng tác của trào lư¬u văn học này có tính chân thực cao và thấm đư¬ợm tinh thần nhân đạo. Văn học hiện thực có nhiều thành tựu đặc sắc ở các thể loại văn xuôi (truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Bùi Hiển; tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao; phóng sự của Tam Lang, Vũ Trọng Phụng …), nhưng cũng có những sáng tác giá trị ở thể thơ trào phúng (thơ Tú Mỡ, Đồ Phồn). Hai trào lưu lãng mạn và hiện thực cùng tồn tại song song, vừa đấu tranh với nhau lại vừa ảnh hưởng, chuyển hoá nhau. Trên thực tế, hai trào lưu đó đều không thuần nhất và không biệt lập với nhau, càng không đối lập nhau về giá trị ở trào lư¬u nào cũng có những cây bút tài năng và tâm huyết. Văn học khu vực bất hợp pháp gồm thơ văn cách mạng bí mật, đặc biệt là sáng tác thơ ca của các chiến sĩ trong nhà tù. Thơ văn cách mạng cũng có lúc, có bộ phận được lư¬u hành nửa hợp pháp, như¬ng chủ yếu là bất hợp pháp, bị đặt ra ngoài pháp luật và ngoài đời sống văn học bình thư¬ờng. Ra đời và phát triển trong hoàn cảnh luôn bị đàn áp, khủng bố, thiếu cả những điều kiện vật chất tối thiểu, nh¬ưng văn học cách mạng vẫn phát triển mạnh mẽ, ngày càng phong phú và có chất lượng nghệ thuật cao, nhịp với sự phát triển của phong trào cách mạng. Thơ văn cách mạng đã nói lên một cách thống thiết, xúc động tấm lòng yêu nước, đã toát lên khí phách hào hùng của các chiến sĩ cách mạng thuộc nhiều thế hệ nửa đầu thế kỷ. C: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 1. Tài liệu tham khảo: Bài khái quát về văn học Việt Nam: SGK NV8 trang 311. Giáo trình VHVN tập 1 trang173. 2. Bài tập củng cố: Văn học thời kỳ từ XX đến 1945 phát triển với nhịp độ khẩn trương, mau lẹ như thế nào? Vì sao nói văn học nửa đầu TK XX đến 1945 phát triển phong phú rực rỡ và khá hoàn chỉnh (về thể loại) Lập bảng thống kê các tác giả, tác phẩm văn học đầu TK đến 1945. BÀI 2: THANH TỊNH VÀ TÔI ĐI HỌC A.NỘI DUNG 1. Khái quát kiến thức tác giả (tiểu sử, cuộc đời và sự nghiệp) 2. Củng cố lại vẻ đẹp về nội dung và nghệ thuật của áng văn giàu chất thơ “Tôi đi học”. 3. Luyện đề. Đề 1: Hãy phân tích để làm sáng tỏ chất thơ của truyện “Tôi đi học” (Nâng cao ngữ văn trang 10) Đề 2: Cảm nghĩ về truyện ngắn “Tôi đi học” (Nâng cao NV trang 13) Đề 3: Tìm những nét tương đồng trong cảm xúc của nhà thơ Huy Cận trong bài “Tựu tr¬ường” và nhà văn Thanh Tịnh trong “Tôi đi học”. B. PHƯƠNG PHÁP 1. Tài liệu tham khảo: Nâng cao NV8 Các bài viết về đoạn trích “Tôi đi học”. 2. Đề văn nghị luận, chứng minh, tự sự, cảm nhận về 1 đoạn văn. Không biết bao nhiêu thế hệ học trò đã từng đọc, từng học và từng nhầm lẫn một cách rất đáng yêu rằng truyện ngắn “Tôi đi học” của nhà văn Thanh Tịnh chính là bài tâp đọc đầu tiên của mình. Sự nhầm lẫn vô lí
Trang 1- Rèn kỹ năng tổng hợp, khái quát vấn đề VH.
B: NỘI DUNG CƠ BẢN
1 Khái quát về tình hình xã hội và văn hoá Việt Nam những năm đầuthế kỷ
2 Quá trình phát triển của dòng văn học Việt Nam đầu thế kỷ
a) Chặng thứ nhất: Hai thập niên đầu thế kỷ XX
b) Chặng thứ hai: Những năm hai mươi của thế kỷ XX
c) Chặng thứ ba: Từ đầu những năm 30 đến CMT8- 1945
3 Những đặc điểm chung của văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đếnCMT8 – 1945
a) Văn học đổi mới theo hướng hiện đại hoá
b) Văn học hình thành hai khu vực (hợp pháp và bất hợp pháp) với nhiềutrào lưu cùng phát triển
c) Văn học phát triển với nhịp độ đặc biệt khẩn trương, đạt được thànhtựu phong phú
4 Giới thiệu một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu cho từng trào lưu vănhọc:
Trào lưu lãng mạn, nói lên tiếng nói của cá nhân giàu cảm xúc và khátvọng, bất hoà với thực tại ngột ngạt, muốn thoát khỏi thực tại đó bằng mộngtưởng và bằng việc đi sâu vào thế giới nội tâm Văn học lãng mạn thường cangợi tình yêu say đắm, vẻ đẹp của thiên nhiên, của “ngày xưa” và thườngđượm buồn Tuy văn học lãng mạn còn những hạn chế rõ rệt về tư tưởng,nhưng nhìn chung vẫn đậm đà tính dân tộc và có nhiều yếu tố lành mạnh, tiến
bộ đáng quý Văn học lãng mạn có đóng góp to lớn vào công cuộc đổi mới đểhiện đại hoá văn học, đặc biệt là về thơ ca
Tiêu biểu cho trào lưu lãng mạn trước 1930 là thơ Tản Đà, tiểu thuyết TốTâm của Hoàng Ngọc Phách; sau 1930 là Thơ mới của Thế Lữ, Lưu Trọng
Trang 2Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính…và vănxuôi của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân…
Trào lưu hiện thực gồm các nhà văn hướng ngòi bút vào việc phơi bàythực trạng bất công, thối nát của xã hội và đi sâu phản ánh thực trạng thốngkhổ của các tầng lớp quần chúng bị áp bức bóc lột đương thời Nói chung cácsáng tác của trào lưu văn học này có tính chân thực cao và thấm đượm tinhthần nhân đạo Văn học hiện thực có nhiều thành tựu đặc sắc ở các thể loạivăn xuôi (truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Nguyễn CôngHoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Bùi Hiển; tiểu thuyết của Hồ BiểuChánh, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao; phóng sự củaTam Lang, Vũ Trọng Phụng …), nhưng cũng có những sáng tác giá trị ở thểthơ trào phúng (thơ Tú Mỡ, Đồ Phồn)
Hai trào lưu lãng mạn và hiện thực cùng tồn tại song song, vừa đấu tranhvới nhau lại vừa ảnh hưởng, chuyển hoá nhau Trên thực tế, hai trào lưu đóđều không thuần nhất và không biệt lập với nhau, càng không đối lập nhau vềgiá trị ở trào lưu nào cũng có những cây bút tài năng và tâm huyết
Văn học khu vực bất hợp pháp gồm thơ văn cách mạng bí mật, đặc biệt
là sáng tác thơ ca của các chiến sĩ trong nhà tù Thơ văn cách mạng cũng cólúc, có bộ phận được lưu hành nửa hợp pháp, nhưng chủ yếu là bất hợp pháp,
bị đặt ra ngoài pháp luật và ngoài đời sống văn học bình thường Ra đời vàphát triển trong hoàn cảnh luôn bị đàn áp, khủng bố, thiếu cả những điều kiệnvật chất tối thiểu, nhưng văn học cách mạng vẫn phát triển mạnh mẽ, ngàycàng phong phú và có chất lượng nghệ thuật cao, nhịp với sự phát triển củaphong trào cách mạng Thơ văn cách mạng đã nói lên một cách thống thiết,xúc động tấm lòng yêu nước, đã toát lên khí phách hào hùng của các chiến sĩcách mạng thuộc nhiều thế hệ nửa đầu thế kỷ
C: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Tài liệu tham khảo:
Bài khái quát về văn học Việt Nam:
Trang 3BÀI 2:
THANH TỊNH VÀ TÔI ĐI HỌC
A.NỘI DUNG
1 Khái quát kiến thức tác giả (tiểu sử, cuộc đời và sự nghiệp)
2 Củng cố lại vẻ đẹp về nội dung và nghệ thuật của áng văn giàu chấtthơ “Tôi đi học”
3 Luyện đề
Đề 1: Hãy phân tích để làm sáng tỏ chất thơ của truyện “Tôi đi học”
(Nâng cao ngữ văn trang 10)
Đề 2: Cảm nghĩ về truyện ngắn “Tôi đi học” (Nâng cao NV trang 13)
Đề 3: Tìm những nét tương đồng trong cảm xúc của nhà thơ Huy Cận
trong bài “Tựu trường” và nhà văn Thanh Tịnh trong “Tôi đi học”
B PHƯƠNG PHÁP
1 Tài liệu tham khảo: Nâng cao NV8
- Các bài viết về đoạn trích “Tôi đi học”
2 Đề văn nghị luận, chứng minh, tự sự, cảm nhận về 1 đoạn văn
"Không biết bao nhiêu thế hệ học trò đã từng đọc, từng học và từngnhầm lẫn một cách rất đáng yêu rằng truyện ngắn “Tôi đi học” của nhà vănThanh Tịnh chính là bài tâp đọc đầu tiên của mình Sự nhầm lẫn vô lí mà lạihết sức có lí Vô lí vì bài tập đọc đầu tiên hẳn phải là các câu văn, đoạn vănhay bài thơ chứ khó có thể là cả một truyện ngắn Còn có lí bởi học trò các thế
hệ có thể quên đi nhiều bài tập đọc khác, nhưng hình như ít ai hoàn toàn quênđược những cảm xúc trong trẻo nguyên sơ mà từng dòng từng chữ của “Tôi
đi học” gợi lên trong miền kí ức tuổi thơ của mình Liệu có phải Thanh tịnhcũng cảm thấy điều này không khi ông đã viết cả một truyện ngắn nhan đề
“Tôi đi học” để rồi lại kết truyện bằng một câu như thế này: “Tôi vòng tay lênbàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm nhẩm đánh vần đọc: Bài viết tập: Tôi đihọc”?
Bài tập đọc đầu tiên, buổi tựu trường đầu tiên, lần đầu tiên con đường
“đã quen đi lại lắm lần” bỗng tự nhiên thấy lạ, lần đầu tiên đứng trước ngôi ường đã từng vào chơi bỗng cảm thấy vừa thân quen vừa lạ lẫm, cũng là lầnđầu tiên chỉ rời mẹ một lát mà cảm thấy xa mẹ hơn cả những lần đi chơi xa mẹ
tr-cả ngày…Trong cuộc đời, có những tr-cảm xúc đầu tiên mà mỗi người đều phảitrải qua Với “Tôi đi học”, Thanh Tịnh đã làm ngân lên một trong những cảmxúc đó trong lòng mỗi người đang là học trò hay đã từng là học trò: cảm xúc
Trang 4về ngày tựu trường đầu tiên Tính chất đầu tiên của cảm xúc ấy đã đượcThanh Tịnh diễn tả một cách giản dị mà lại hết sức tinh tế như chính tâm hồntrẻ thơ vậy Đâu phải lần đầu tiên nhân vật “tôi” đi trên con đường làng, nh-ưng đây là lần đầu tiên “tôi” thấy “cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vìchính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học” Thanh Tịnhkhông miêu tả những cảnh tượng lạ, những âm thanh lạ hay những con người
lạ lần đầu tiên nhân vật nhìn thấy, nghe thấy hay cảm thấy, mà ông miêu tảmột cái cách “tôi” lần đầu khám phá ra trong những điều tưởng chừng nhưquá quen thuộc những cảm nhận lạ lùng Cảnh vật, con người và từng sự kiện,từng chi tiết của ngày tựu trường được thuật lại một cách khá cặn kẽ tỉ mỉ,phần nào chứng tỏ chúng ta đã được soi chiếu qua cặp mắt háo hức tò mò củamột cậu bé lần đầu tham dự ngày tựu trường Cái ý thức về một ngày đặc biệttrong cuộc đời đã tạo lên tâm trạng vừa bỡ ngỡ vừa hồi hộp và không phảikhông pha chút tự hào của một cậu bé bỗng cảm thấy mình đang là một ngườilớn Chính vì thế mà cậu bé con mới ngày hôm qua thôi chắc hẳn còn bé bỏng,nghịch ngợm và vô tâm xiết bao, ngày hôm nay đã biết để ý vẻ đẹp của thiênnhiên- “một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh”, đã cảm nhận được một cáchthật sâu sắc vẻ “âu yếm” trong bàn tay người mẹ, vẻ hiền từ và cảm động”trong cái nhìn của ông đốc trường Mĩ Lí hay thái độ nhẹ nhàng của các thầygiáo, của các phụ huynh đối với mình và những cậu bé như mình… Dườngnhư đây chính là lần đầu tiên cậu khám phá ra những điều đó vậy! Ngoài ra,cũng cần phải nói rằng “tôi đi học” vốn là những dòng hồi tưởng, cái hiện lênqua truyện ngắn không đơn thuần là một ngày tựu trường mà là những kỷniệm mơn man của buổi tựu trường Bên cạnh cái nhìn của nhân vật “tôi”trong quá khứ – cậu bé con lần đầu tiên đi học, còn có cái nhìn của nhân vật
“tôi” trong hiện tại – người đang ngồi ghi lại những ký ức về buổi tựu trườngđầu tiên của mình, đang dõi theo từng bước chân của “tôi’ trong quá khứ mộtcách bao dung (vì thế nên trong truyện ngắn mới có thể xuất hiện những chi
tiết như: “Tôi muốn thử sức mình nên nhìn mẹ tôi: - Mẹ đưa bút thước cho
con cầm mẹ tôi cúi đầu nhìn tôi với cặp mắt thật âu yếm: - Thôi để mẹ cầm cũng được Tôi có ngay cái ý nghĩ vừa non nớt vừa ngây thơ này: chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước” Chi tiết trên mặc dù được nhìn bằng cặp
mắt của “tôi”- cậu bé trong quá khứ nhưng rõ ràng những nhận xét như “cái ýnghĩ vừa non nớt vừa ngây thơ” chỉ có thể là của tôi trong hiện tại) Sự đanxen hai cái nhìn này thật hoà hợp với phong cách của truyện ngắn, từ cách lựachọn từ ngữ, cách so sánh ví von cho đến giọng văn đều toát lên vẻ trong trẻo
mà lại hiền hoà Đây phải chăng là một trong những lí do làm cho ngời đọc dùthuộc thế hệ nào, lứa tuổi nào cũng tìm thấy chính mình trong nhân vật “tôi”của truyện?
Bước vào khu vườn kí ức có cái tên “Tôi đi học”, ta dường như đượcmột bàn tay tin cậy và êm ái dẫn dắt đi từ dòng đầu đến dòng cuối Tôi đi học
Trang 5giống như một nốt lặng, một mảnh nhỏ, một góc khuất trong cuộc sống rộnglớn Truyện ngắn không viết về những cái mới, cái lạ (có mới lạ gì đâu mộtngày đầu tiên đi học mà học trò nào cũng phải trải qua?), nhưng nó đem lạicho người ta cái cảm giác đây là lần đầu tiên mình khám phá ra những điềunhư vậy Và có khó tin quá không khi có những người nói rằng giữa bao bộn
bề lo toan thường nhật, họ đã dần quên mất ngày tựu trường đầu tiên củamình, nhưng khi đọc “Tôi đi học”, những kỷ niệm tưởng đã ngủ yên trong ký
ức lại hồi sinh, và họ bỗng nhớ lại ngày đó thậy rõ ràng sống động dườngnhư nó chưa bao giờ bi lãng quên cả, để rồi họ lại có thể bất giác ngâm nga
một cách rất chân thành: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng
nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những
kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường…”
Tiếp theo chất thơ của truyện còn được phản ánh qua bố cục Bố cục xây dựng theo dòng cảm xúc, theo dòng hồi tưởng Từ hiện tại nhớ về dĩ vãng, cảm xúc men theo trình
tự thời gian, không gian và bộc lộ Lúc đầu tâm trạng nhân vật tôi "nao nức", "mơn man" nhớ về ngày đầu tiên đi học Trên đường đi học, cậu bé ngỡ ngàng trước mọi vật rồi lo sợ vẩn vơ Cảm xúc vừa lạ vừa quen khi ngồi trong lớp học đó là cảm xúc trong sáng đẹp đẽ.
Không chỉ vậy mối quan hệ giữa các nhân vật trong chuyện cũng rất giàu chất thơ Các phụ huynh rất yêu thương lo lắng quan tâm chăm sóc con em Ông Đốc và thầy giáo trẻ vỗ về an ủi nhẫn nại, dỗ dành động viên các em bước vào ngôi nhà thứ hai của mình Tất cả tạo lên môi trường giáo dục ấm áp có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường, cái nôi nuôi dưỡng trẻ thơ trưởng thành.
Bên cạnh đó các yếu tố khác cũng góp phần làm nổi bật chất thơ của truyện Thiên nhiên đặc trưng mùa thu được nói đến qua mấy nét chấm phá "Hằng năm cứ vào cuối thu
lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bọc" Mái trường qua cái nhìn của nhân vật tôi cũng rất riêng Lúc thì nó giống các ngôi nhà trong làng Lúc thì
nó xinh xắn, oai nghiêm như cái đình làng Hòa Ấp Tác giả kết hợp nhiều phương thức biểu đạt tự sự với miêu tả biểu cảm đặc biệt là biểu cảm khiến chuyện nhẹ nhàng ấm áp,
Trang 6lời văn trong sáng, nhịp kể chậm giọng tha thiết bồi hồi các hình ảnh so sánh khiến lời văn cụ thể sinh động bay bổng, nhẹ nhàng, hấp dẫn.
Như vậy, chất thơ thẫm đấm trong toàn truyện "Tôi đi học" còn mãi với thời gian bởi Thanh Tịnh đã nói hộ cảm xúc kỉ niệm đẹp trong ta bằng lời văn cách kể nhẹ nhàng sâu lắng, giàu cảm xúc tinh tế.
ĐỀ 2: Cảm nghĩ về truyện ngắn “Tôi đi học” (Nâng cao NV trang 13)
“Hàng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường ”, những câu văn ấy của Thanh Tịnh đã xuất hiện trên văn đàn Việt Nam hơn sáu mươi năm rồi! Thế nhưng “Tôi đi học” vẫn là một trong những áng văn gợi cảm, trong trẻo đầy chất thơ của văn xuôi quốc ngữ Việt Nam.
Không những thế, tác phẩm còn in đậm dấu ấn của Thanh Tịnh - một phong cách trữ tình nhẹ nhàng, nhiều mơ mộng và trong sáng Dòng cảm xúc của nhân vật tôi trong truyện vẫn đầy ắp trong tâm trí ta những nét thơ dại đáng yêu của trẻ thơ trong buổi đầu đến lớp Trong chúng ta ai cũng đã từng trải qua ngày tháng đầu tiên của tuổi học trò Với Thanh Tịnh, trường làng Mĩ Lí là một mảng kí ức nhiều lần từng trở đi trở lại trong những trang viết của ông Câu chuyện “tôi đi học” rất đơn giản, nhưng làm xúc động tất
cả những ai từng cắp sách đến trường Giọng kể chuyện bằng lối xưng hô trực tiếp “tôi” của nhà văn tạo cảm giác gần gũi chân thực, như một bản tự thuật tâm trạng mà dường như mỗi người chúng ta đều nhận ra mình trong đó.
Nhà văn đã dẫn dắt chúng ta vào không gian êm đềm của mùa thu, trong khung cảnh một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, để trở về trên con đường làng dài và hẹp,
để được sống lại cảm giác của một cậu bé ngây thơ nép mình bên mẹ, chập chững những bước chân đầu tiên đến trường Cảm nhận về sự thay đổi không gian đã khắc ghi đậm nét, bởi chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học Chắc chắn, đó cũng là cảm giác của tất cả những ai đã, đang và từng đi học.
Hình ảnh ấy thật gần gũi với chúng ta, giống như lời một câu hát ta đã từng quen thuộc “hôm nay em đến trường, mẹ dắt tay từng bước” (lời bài hát Đi học của Minh Chính - Bùi Đình Thảo) Cảm giác của cậu bé như một con chim non vừa rời tổ, đang ngập ngừng những sải cánh đầu tiên, có chút chơi vơi nhưng thích thú Thật thú vị biết bao khi ta cùng chia sẻ khoảnh khắc được cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn của cậu bé Cảm giác ấy thực ra đã bắt đầu từ sự thay đổi đầu tiên mà cậu bé rất hãnh diện vì
đi học “oai” hơn nhiều với những trò thả diều hay ra đồng nô đùa, dù rằng cậu vẫn có thể rất thèm được như thằng Quý, thằng Sơn để được tự do bay nhảy.
Bởi lẽ đi học là được tiếp xúc với cả một thế giới những điều mới lạ: quần áo mới, sách vở mới, thậm chí oai hơn là được cầm bút thước mà không để lộ vẻ khó khăn gì hết Bởi chưa là người thạo nên cậu bé phải ganh tị và thèm muốn được như chúng bạn Trường học quả là một thế giới tôn nghiêm khiến cho cậu bé phải lo sợ vẩn vơ khi ngắm nhìn và bước chân vào cái nơi vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình làng Hòa Ấp Cái đình làng là nơi chỉ dành cho quan viên chức sắc, những người lớn mới được vào Trường Mĩ Lí có lẽ chỉ dành cho người thạo, còn một cậu bé bước vào sẽ bị choáng ngợp trước vẻ oai nghiêm của nó, nên cảm giác hồi hộp là điều không tránh khỏi.
Cảm giác được thấy mình trở nên quan trọng hơn cũng khiến cậu trở nên lúng túng Không phải chỉ có cậu, mà đó cũng là tâm trạng chung của các cậu trò nhỏ: “Họ như con chim non đứng bên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập
Trang 7ngừng e sợ.” Thật thú vị khi ta được biết cảm giác thèm vụng và ước ao thầm được như những người học trò cũ Có lẽ khi nhớ lại ngày đầu đi học ấy, nhà văn vẫn chưa hề quên những bước chân run run buổi đầu đời, như lần đầu tiên khám phá ra một thế giới lạ: cái
gì cũng to, đẹp và trang trọng Có lẽ trong đời cậu bé, chưa có lúc nào được tiếp xúc với nhiều người lạ đến thế Nhất là lại có một ông Đốc trang nghiêm nhận học sinh vào lớp Trong tâm trí của cậu cũng như bạn bè đồng trang lứa, đó là thời khắc hết sức trịnh trọng, khiến tim như ngừng đập, quên cả sự hiện diện của người thân và “tự nhiên giật mình và lúng túng” khi được gọi đến tên.
Dẫu cho ông Đốc trường Mĩ Lí đã đón các cậu bằng cặp mắt hiền từ và cảm động thì cũng không đủ giúp các cậu vượt qua phút hồi hộp và căng thẳng Đoạn văn tái hiện không khí ấy của Thanh Tịnh cũng không giấu được nụ cười hóm hỉnh với kỉ niệm đầu đời đáng nhớ, sau lời dặn của thầy Đốc “các em đều nghe nhưng không em nào dám trả lời Cũng may đã có một tiếng dạ ran của phụ huynh đáp lại” Những dòng cảm xúc khó diễn tả đã được nhà văn thuật lại một cách sinh động khiến cho mỗi một ai khi đã lớn khôn hơn đọc lại không khỏi bật cười trước những tiếng khóc của các cậu bé lần đầu tiên chính thức không còn được ở bên cạnh người thân, bước vào một nơi lạ lùng mới mẻ như trường học Nhưng cũng rất nhanh chóng, nỗi sợ hãi ban đầu qua đi khi cậu bé được chính thức bước vào trong lớp học Cặp mắt tò mò cảm nhận một thế giới mới mà cậu bé bây giờ thấy lạ lạ và hay hay, để rồi sau đó tự nhận là vật của riêng mình Hóa ra đi học cũng không đáng sợ, cảm giác này khiến cho cậu bé nhanh chóng nguôi ngoai cảm giác
“chưa bao giờ tôi thấy xa mẹ tôi như lần này”.
Trường làng Mĩ Lí cũng giống như đồng làng Lê Xá mà thôi, cũng có những người bạn tí hon Cảm giác rất tự nhiên ấy chính là vì cậu bé lại được hòa vào thế giới của riêng những cậu học trò, vẫn được có những phút ước ao riêng tư với niềm vui thơ bé Đoạn văn kết lại tác phẩm thật đẹp trong hình ảnh liên tưởng: “Một con chim con liệng đến đứng bên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao” Cánh chim của đồng nội
đã đến với lớp học để làm sống lại kỉ niệm những hôm đi chơi suốt cả ngày, để lại trở về bao hình ảnh quen thuộc của cánh đồng lúa hay bên bờ sông Viêm Con chim con ấy cũng chính là hình ảnh cậu bé buổi đầu đến lớp rụt rè để một mai sẽ được bay cao vào khung trời cao rộng Nhưng trước mắt cậu bé giờ đây là phấn trắng, bảng đen và nét chữ của thầy, để cậu dại nghiêm chỉnh lần đầu trong đời, thể hiện tư cách cậu học trò ngoan:
“Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm nhẩm đánh vần đọc: Bài viết tập:
"Tôi đi học".
Một trang vở mới sẽ in những nét chữ đầu tiên đầy hứa hẹn cho một tương lai đang
mở ra với những bé thơ Ta nhận ra trong mỗi lời văn của Thanh Tịnh một sự trìu mến đặc biệt dành cho những suy nghĩ và cảm xúc của nhân vật “tôi” Bởi lẽ, đó chính là kỉ niệm đầu đời của nhà văn gắn với thế giới học trò mở ra bao ước vọng Giọng văn nhẹ nhàng, hình ảnh khắc họa còn tươi rói bao nhiêu kí ức đầu đời đã làm nên chất thơ lan tỏa trong toàn bộ truyện ngắn Truyện ngắn Tôi đi học của Thanh Tịnh còn đọng mãi trong ta
kỉ niệm đầu đời trong sáng hồn nhiên, ghi lại khoảnh khắc thật đẹp trong tâm hồn tuổi thơ Những trang văn tinh tế, giàu sức biểu cảm sẽ còn làm biết bao thế hệ học sinh xúc động.
Trang 81 Giới thiệu về tác giả Nguyên Hồng
Đọc “Từ cuộc đời và tác phẩm” trang 251 đến 256
Giáo trình VHVN 30 – 45
Anh bình dị đến như là lập dị
Áo quần ? Rách vá có sao đâu?
Dễ xúc động, anh thường hay dễ khóc Trải đau nhiều nên thương cảm nhiều hơn.
(Đào Cảng)Nguyễn Tuân: “Tôi là một thằng thích phá đình phá chùa mà anh đúng làmột người thích tô tượng đúc chuông”
Nguyễn Đăng Mạnh: Văn Nguyên Hồng bao giờ cũng lấp lánh sự sống.Những dòng chữ đầy chi tiết….thống thiết mãnh liệt
2 Giới thiệu khái quát về “Những ngày thơ ấu”
a) Thể loại: Hồi ký là thể loại văn học mà người viết trung thành ghi lạinhững gì đã diễn ra trong cuộc sống của mình, tôn trọng sự thật Đặc điểm củahồi ký là không thể hư cấu vì nếu thế tác phẩm sẽ không hay, sẽ tẻ nhạt nếu
những gì diễn ra trong cuộc đời nhà văn không có gì đặc sắc Những ngày thơ ấu là một tập hồi ký ghi lại những gì đã diễn ra thời thơ ấu của chính nhà
văn Ta có thể cảm nhận được tất cả những tình tiết, chi tiết trong câu chuyệnđều có thật Có nước mắt của Nguyên Hồng thấm qua từng câu chữ
Trang 9côi cha lại vắng mẹ, sống thui thủi cô đơn giữa sự ghẻ lạnh, cay nghiệt củanhững người họ hàng giàu có, trở thành đứa bé đói rách, lêu lổng, luôn thèmkhát tình thương yêu mà không có Từ cảnh ngộ và tâm sự của đứa bé “côi cútcùng khổ”, tác phẩm còn cho thấy bộ mặt lạnh lùng của xã hội đồng tiền, cái
xã hội mà cánh cửa nhà thờ đêm Nô-en cũng chỉ mở rộng đón những ngườigiàu sang “khệnh khạng bệ vệ” và khép chặt trước những kẻ nghèo khổ “trơtrọi hèn hạ”; cái xã hội của đám thị dân tiểu tư sản sống nhỏ nhen, giả dối, độc
ác, khiến cho tình máu mủ ruột thịt cũng thành khô héo; cái xã hội đầy nhữngthành kiến cổ hủ bóp nghẹt quyền sống của người phụ nữ…
c) Giá trị nội dung và nghệ thuật
3.Đoạn trích “Trong lòng mẹ”
Xây dựng dàn ý cho đề bài sau
Đề 1: Một trong những điểm sáng làm nên sức hấp dẫn của chương IV
(trích hồi ký “Những ngày thơ ấu” – Nguyên Hồng) là nhà văn đã miêu tảthành công những rung động cực điểm của một tâm hồn trẻ dại Hãy chứngminh
Đề 2: Có nhà nghiên cứu nhận định: “Nguyên Hồng là nhà văn của phụ
nữ và nhi đồng” Hãy chứng minh
Đề 3: Chất trữ tình thấm đượm “Trong lòng mẹ”.
Đề 4: Qua nhân vật trẻ em trong đoạn trích “Trong lòng mẹ”của Nguyên
Hồng hãy phân tích để làm sáng tỏ: “Công dụng của văn chương là giúp cho
tình cảm và gợi lòng vị tha” (Hoài Thanh).
C PHƯ ƠNG PHÁP:
1 HS và GV tìm đọc các tư liệu tham khảo sau:
- Bài đọc thêm “Tôi viết bỉ vỏ” của Nguyên Hồng: Trang 27 – 31 sổ tayvăn học
- Bài đọc thêm trích “Nguyên Hồng, một tuổi thơ văn”: Trang 16 – 18
tư liệu ngữ văn
- Hồi ký “Những ngày thơ ấu”
- Các bài viết bàn về đoạn trích “Trong lòng mẹ”
2 Đề văn nghị luận, chứng minh, tự sự, cảm nhận về một đoạn văn.VD: Luyện viết đoạn văn chứng minh:
Niềm hạnh phúc vô bờ khi ở trong lòng mẹ theo cách: Diễn dịch và quynạp
- Bắt buộc HS ghi nhớ một đoạn văn hay trong đoạn trích
Trang 10NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý
Hồi ký là một thể loại văn học mà người viết trung thành ghi lạinhững gì đã diễn ra trong cuộc sống của mình, tôn trọng sự thật Đặc điểm củahồi ký là không thể hư cấu vì thế tác phẩm sẽ không hay, sẽ tẻ nhạt nếu những
gì diễn ra trong cuộc đời của nhà văn không có gì đặc sắc “Những ngày thơấu" của Nguyên Hồng là một tập hồi ký ghi lại những gì đã diễn ra thời thơ ấucủa chính nhà văn Nguyên Hồng Ta có thể cảm nhận được tất cả những tìnhtiết, chi tiết trong câu chuyện đều rất thật Có nước mắt của Nguyên Hồngthấm qua từng câu chữ
Ở chương IV của tác phẩm, Nguyên Hồng đã thể hiện rất thành côngnghệ thuật xây dựng tâm lý nhân vật Cùng một lúc ở bé Hồng diễn ra nhữngtình cảm rất trái ngược nhau Có sự nhất quán về tính cách và thái độ Khi bà
cô thể hiện nghệ thuật xúc xiểm và nói xấu về người mẹ của bé Hồng ở mộtmức độ cao mà một đứa bé bình thường rất dễ dàng tin theo thì con người độc
ác này đã thất bại Bé Hồng không những không tin lời bà cô mà càng thương
mẹ hơn
Trong điều kiện lúc bấy giờ, một ngời phụ nữ cha đoạn tang chồng đãmang thai với người khác, là một điều tuyệt đối cấm kỵ Ai cũng có thể xalánh thậm chí phỉ nhổ, khinh thường Hơn ai hết bé Hồng hiểu rất rõ điều này
Vì thế tình thơng của bé Hồng đối với mẹ không chỉ là tình cảm của đứa con
xa mẹ, thiếu vắng tình cảm của mẹ mà còn là thương ngời mẹ bị xã hội coithường khinh rẻ Bé Hồng lớn khôn hơn rất nhiều so với tuổi của mình Điềuđặc biệt là dù có suy nghĩ chín chắn, từng trải nhưng bé Hồng vẫn là một đứatrẻ, vẫn có sự ngây thơ
Vì thế, làm nên sức hấp dẫn của tác phẩm, điều đầu tiên phải nói tớicảm xúc chân thành:
- Những tình tiết, chi tiết trong chơng IV của tác phẩm “Những ngàythơ ấu” diễn ra hết sức chân thật và cảm động Có thể nói ở bé Hồng nỗi đauxót, niềm bất hạnh được đẩy lên đến đỉnh cao Niềm khát khao được sốngtrong vòng tay yêu thương của ngời mẹ cũng ở mức độ cao nhất không gì sosánh bằng Cuối cùng thì hạnh phúc bất ngờ đến cũng vô cùng lớn, được diễn
tả thật xúc động Có thể biểu diễn những cung bậc của tình cảm của bé Hồngbằng sơ đồ như sau:
+ Nỗi bất hạnh (cha chết, mẹ phải đi kiếm ăn ở nơi xa, bị mọi ngườikhinh rẻ)
+ Nỗi căm tức những cổ tục, niềm khát khao gặp mẹ
+ Hạnh phúc vô bờ bến khi sống trong vòng tay yêu thương của mẹ
- Chữ “tâm” và chữ “tài” của Nguyên Hồng:
Trang 11Nguyên Hồng là một cây bút nhân đạo thống thiết ở chương IVcủa tác phẩm, nhà văn không những thể hiện sâu sắc niềm đồng cảm với ngư-
ời mẹ Hồng mà còn khẳng định những phẩm chất tốt đẹp cao quý của mẹ, khi
mẹ lâm vào những tình cảnh nghiệt ngã nhất Đằng sau câu chữ, ta đọc đượctấm lòng trăn trở yêu thương con người chân thành, thấm thía, đặc biệt là tìnhyêu thương phụ nữ và trẻ em – những người vốn chịu nhiều thiệt thòi, đau khổnhất
DÀN BÀI GỢI Ý
ĐỀ 1: Một trong những điểm sáng làm nên sức hấp dẫn của chương
IV (trích hồi ký “Những ngày thơ ấu” – Nguyên Hồng) là nhà văn đã miêu
tả thành công những rung động cực điểm của một tâm hồn trẻ dại Hãy chứng minh.
Lòng yêu thương mẹ tha thiết của bé Hồng: Xa mẹ, vắng tình thương,
thiếu sự chăm sóc, lại phải nghe những lời dèm pha xúc xiểm của người côđộc ác nhưng tình cảm của bé Hồng hướng về mẹ vẫn mãnh liệt duy nhất một
phương, không bị “những rắp tâm tanh bẩn xúc phạm đến” Chính tình yêu
thương mẹ tha thiết đã khiến cho bé Hồng có một thái độ kiên quyết, dứtkhoát
Sự căm thù những cổ tục đã đầy đoạ mẹ: Lòng căm ghét của bé
Hồmg được diễn đạt bằng những câu văn có nhiều hình ảnh cụ thể, gợi cảm
và có nhịp điệu dồn dập tựa như sự uất ức của bé ngày một tăng tiến: “Cô tôi nói chưa dứt câu, cổ họng tôi đã nghẹn ứ không ra tiếng Giá những cổ tục
đã đầy đoạ mẹ tôi là một vật như hòn đá, cục thuỷ tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lại mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kỳ nát vụn mới thôi”.
Khát khao gặp mẹ cháy bỏng: Ngòi bút của nhà văn đã thể hiện thành
công đặc sắc khi miêu tả với phương pháp so sánh như khát khao của người
bộ hành đi giữa sa mạc nghĩ về bóng râm và dòng nước mát Hình ảnh chú béphải xa mẹ lâu ngày, hơn nữa phải sống trong sự ghẻ lạnh của những ngườixung quanh
Sự cảm động, sung sướng, bối rối khi gặp mẹ Niềm hạnh phúc vô
bờ khi ở trong lòng mẹ: Để tô đậm niềm sung sướng tột độ của em bé mất
cha, xa mẹ lâu ngày, nay được ngồi bên mẹ, lúc thì nhà văn miêu tả những
cảm giác cụ thể: “Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp vào đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ … mơn man khắp da thịt”, lúc thì chen những lời bình luận thấm đẫm chất trữ tình: “Phải bé lại…”, khi thì nghĩ đến câu nói độc ác, đay nghiến của bà cô và “Khômg mảy may nghĩ ngợi gì nữa.” bởi vì bé Hồng
được gặp mẹ rất bất ngờ, niềm vui quá lớn Nêu chính mình chưa phải trải quanỗi đau xa mẹ, cha có niềm sung sướng tột độ khi được gặp mẹ, chắc Nguyên
Trang 12Hồng khó có được những đoạn văn gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọcnhư vậy.
DÀN Ý CHI TIẾT
Có tuổi thơ nào chẳng đầy ắp những kỷ niệm ngọt ngào về tình mẹ, tình quê hương, về mái trường yêu dấu Nhưng có tuổi thơ đã hóa trang văn, mà mỗi trang ấy là trang đời về một thời thơ ấu thiếu tuổi thơ đầy cay đắng Đó chính là Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng được hiện lên qua dòng chữ đẫm nước mắt, trong đó đoạn trích Trong lòng mẹ, chương IV của tác phẩm gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc Đánh giá
về đoạn trích này, sinh thời nhà văn Thạch Lam cho rằng: Nguyên Hồng đã miêu tả thành công những rung động cực điểm của một linh hồn bé dại về người mẹ yêu thương của mình.
Nhân vật tôi (bé Hồng) là kết quả của một cuộc hôn nhân gượng ép, không có tình yêu, cha bé vì cờ bạc, nghiện ngập mất sớm Mẹ vì nợ nần, cùng túng phải tha phương, cầu thực Bé sống trong sự ghẻ lạnh của cả một họ hàng giàu có luôn tìm mọi cách chia cắt tình mẹ con.
Đoạn trích không đầy bốn trang giấy, nhưng mỗi dòng chữ dường như cũng phập phồng, thổn thức bởi những rung động cực điếm của một trái tim thơ ngây yêu mẹ tha thiết đến cháy lòng Chất trữ tình của một ngòi bút nhân đạo thống thiết thấm đẫm qua lời
kể của nhân vật tôi (bé Hồng) và những lời bình luận trữ tình ngoại đề của tác giả.
Hiển hiện qua những dòng hồi ký, người đọc như cảm thấu được mọi cung bậc: đau đớn, tủi hận, xót xa, căm giận, sung sướng, hạnh phúc…của bé Hồng Tất cả cung bậc đó được khởi nguồn từ một trái tim yêu mẹ.
Trước hết những rung động ấy được thể hiện bằng phản ứng quyết liệt của bé Hồng trước lời nói của người bà cô xấu bụng.
Xa mẹ, rất nhớ mẹ, muốn gặp mẹ nhưng khi cô nói Hồng, có muốn vào Thanh Hóa chơi với mợ mày không tưởng đến khuôn mặt rầu rầu và hiền từ của mẹ, bé toan trả lời
có nhưng nhận ra ý nghĩa cay độc trong giọng nói và trên nét mặt rất kịch của người cô,
bé cúi đầu không đáp rồi lại cười đáp: Không! cháu không muốn vào Đây có thể coi là phản ứng thông minh, xuất phát từ một trái tim nhạy cảm và lòng tin yêu mẹ sâu sắc.
Nhưng vì trái tim non nớt, khi người bà cô ngọt ngào: Mày dại quá, cứ vào đi, tao chạy cho tiền tàu và thăm em bé nữa chứ thì lòng bé thắt lại, khóe mắt cay cay … nước mắt ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa đầm đìa ở cằm, ở cổ,… cười dài trong tiếng khóc Các từ rớt, ròng ròng, chan hòa, đầm đìa cùng một trường nghĩa, miêu tả giọt nước mắt đớn đau của bé Hồng vì thương mẹ đến vô hạn Nỗi đau của bé âm thầm cố kìm nén bên trong giờ đây không thể nào kìm giữ nổi đã vỡ ra thành nước mắt Mặc dù không đời nào tình thương mẹ của bé lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến nhưng lời nói của người bà cô quả như mũi dao ghê gớm, sắc lạnh đã chạm tới nơi dễ tổn
thương nhất của một trái tim thơ ngây đã từng rỉ máu vì nỗi đau xa mẹ, yêu mẹ đến vô cùng.
Tình thương và niềm tin yêu mẹ trào dâng với bao xúc cảm thơ ngây bồng bột về người mẹ tội nghiệp: Tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tồi để sinh nở một cách giấu giếm, trốn tránh như một kẻ giết người lúng túng với con dao vấy máu
Trang 13Từ nỗi đớn đau vì thương mẹ, bé Hồng căm giận những cổ tục đày đọa mẹ bé qua hình ảnh so sánh thật dữ dội.
Đến đây tình thương mẹ trào lên như bão nổi, giằng xé với bao phẫn uất: Giá những cổ tục đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kỳ nát vụn mới thôi.
Nhà văn đã sử dụng các động từ chỉ hành động mạnh: vồ, cắn, nhai, nghiến với sắc thái biểu cảm ngày càng tăng, khiến lời văn dường như sôi sục, tuôn trào đặc tả tâm trạng phẫn uất, căm giận cao độ của bé Hồng với những thành kiến vô hình đã làm khổ mẹ bé Qua đó, ta càng thấu hiểu bé Hồng thương yêu mẹ đến chừng nào.
Trong xã hội phong kiến ngày trước, biết bao người phụ nữ đã phải chôn vùi tuổi xuân vì những thành kiến vô hình mà ác nghiệt ấy:
Gió đưa cây trúc ngã quỳ
Ba năm trực tiết còn gì là xuân.
Từ câu chuyện riêng của đời mình, Nguyên Hồng đã truyền tới người đọc nội dung mang ý nghĩa xã hội sâu sắc bằng những dòng văn giàu cảm xúc và hình ảnh thật ấn tượng Thông qua những rung cảm của trái tim người con, Nguyên Hồng đã phát biểu quan điểm nhân đạo tiến bộ của mình, dứt khoát đứng về phía người phụ nữ mà thông cảm, bênh vực họ trước những thành kiến tàn ác của xã hội phong kiến.
Từ tình thương và niềm tin yêu mẹ, có một niềm khát khao âm thầm, cháy bỏng luôn ấp ủ trong lòng bé Hồng: được gặp mẹ Xa mẹ nhưng bé Hồng dường như vẫn bấm đốt ngón tay, tính từng ngày khắc khoải, chờ mong mẹ về: Gần đến ngày giỗ đầu thầy tôi,
mẹ tôi ở Thanh Hóa vẫn chưa về…
Nhưng đến ngày giỗ đầu thầy tôi, tôi không viết thư gọi mẹ tôi cũng về… Người
mẹ đã trở về, nỗi nhớ, niềm mong của bé Hồng đã trở thành hiện thực.
Đến đây có thể nói những rung động về mẹ của bé Hồng đã đến độ cực điểm qua ngòi bút miêu tả của nhà văn Đầu tiên là cảm giác bối rối, hồi hộp đến nghẹn ngào của
bé Hồng khi vừa tan trường ra nhìn thấy người đàn bà ngồi trên xe kéo giống mẹ, bé đuổi theo gọi bối rối: Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ ơi!
Mong ngóng bao ngày, giây phút gặp mẹ, bé Hồng vẫn cám thấy như quá đột ngột, niềm vui, niềm hạnh phúc được gặp mẹ khiến bé bất ngờ không dám tin vào mắt mình nữa để nghĩ rằng: Nêu người quay lại ấy là người khác… Và cái lầm đó không những làm cho tôi thện mà còn tủi cực nữa, chẳng khác gì cái ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc.
Lời văn miêu tả với hình ảnh so sánh gợi cảm, nhà văn đã lấy hình ảnh người khách bộ hành ngã ngục giữa sa mạc, với đôi mắt đăm đắm trông nhìn đến gần rạn nứt để
so sánh với khát khao gặp mẹ cháy bỏng mãnh liệt của bé Hồng Còn người mẹ lại được
so sánh như Dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm giữa sa mạc để nói rằng mẹ bé Hồng chính là nguồn sống, là sự hiền hòa, bao dung như dòng nước mát làm dịu lòng con trước nỗi đắng cay của cuộc đời Chỉ có mẹ mới đưa con từ cõi chết trở về với sự sống, con sống được là nhờ có mẹ.
Trang 14Được ngồi lên xe cùng mẹ, bé òa lèn khốc nức nở khiến người mẹ cũng sụt sùi theo Các từ òa, nức nở, sụt sùi cùng trường nghĩa nối tiếp nhau miêu tả cung bậc khác nhau của tiếng khóc, của dòng nước mắt đã càng làm tăng tính biểu cảm của đoạn văn và diễn tả rõ nét tình cảm của bé Hồng khi gặp mẹ.
Trước đây nước mắt bé Hồng đã từng chan hòa, đầm đìa, ròng ròng rơi xuống từ niềm đau, nỗi khổ của mẹ Bây giờ vẫn là dòng nước mắt nhưng nó vỡ “oà ra” vì bàng hoàng, sung sướng đến tột cùng Đó là dòng nước mắt nhân lên niềm vui, nở bừng ánh sáng hạnh phúc trong giây phút hội ngộ của tình mẫu tử thiêng liêng.
Những rung động của bé Hồng khi được ngồi kề bên mẹ, được ôm ấp trong lòng
mẹ cứ trào lên từng giây, từng phút Được tận mắt nhìn thấy mẹ, thấy gương mặt mẹ tồi vẫn tươi sáng đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má chứ không còm cõi, xơ xác như lời người bà cô, bé thấy mẹ bé vẫn tươi đẹp như thuở còn sung túc.
Với bé, mẹ chính là cô Tấm thảo hiền, là cô tiên dịu dàng xinh đẹp bởi mẹ em chỉ
có một trên đời.
Được ôm ấp, được sống trong lòng mẹ đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đă bao lâu mất đi bỗng lại nở và man khắp da thịt, hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường, bé Hồng tưởng như trên đời không còn hạnh phúc nào bằng Ngôn ngữ của Nguyên Hồng đã diễn tả thật chính xác sinh động, cảm xúc, cảm giác, những rung động của một người con được ôm ấp trong lòng mẹ, cảm nhận được mùi vị riêng của người mẹ
từ hơi quần áo, hơi thở Đó chính là những rung động chỉ có được ồ người con thiết tha yêu kính mẹ Đó cũng chính là cộng hưởng của cảm xúc, của nỗi khát khao bao ngày được sống trong lòng mẹ của bé Hồng.
Bằng chính rung động của trái tim mình, Nguyên Hồng đã vẽ lên bằng ký ức bức tranh đẹp, lãng mạn về tình mẫu tử muôn đời: tràn ngập ánh sáng, thoang thoảng hương thơm, sắc màu tươi tắn, được họa nên bởi muôn hồng ngàn tía tỏa ra từ tình mẹ với con, tình con với mẹ Ta chợt nhớ tới câu của một nhà thơ Nga: Chỉ mẹ là nguồn vui ánh sáng diệu kỳ.
Được sống trong vòng tay yêu thương của mẹ, bé Hồng lại khao khát, một khao khát thật dễ thương là: Phải bé lại lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ để bàn tay của người mẹ vuốt ve, gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người
mẹ có một êm dịu vô cùng.
Đây là lời bình luận trữ tình ngoại đề hay chính là lời độc thoại nội tám của nhân vật ẩn chứa khát khao thơ ngây và cũng thật chính đáng của mỗi con người Ta như bồi hồi sống lại tuổi thơ, được mẹ yêu thương vỗ về, được làm nũng, hưởng sự vuốt ve, chiều chuộng, được cánh tay hiền của mẹ đưa nôi cùng với điệu à ơi để mai này có lúc:
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm nắm, lưỡi lừa cá xương
Bé Hồng bồng bềnh như trôi trong cảm giác sung sướng, rạo rực ru mình trong giấc mơ về tình mẹ dịu êm.
Tôi còn nhớ câu chuyện cô bé bản diêm của nhà văn thiên tài xứ Đan Mạch, trong đêm đông lạnh giá, em bé đốt đến que diêm cuối cùng để ru mình trong giấc mơ rực sáng,
Trang 15ở đây bé Hồng đang ru mình vào giấc mơ giữa ban ngày, giấc mơ trong hiện thực với tình
mẹ thiêng liêng, tình con cháy bỏng để quên đi tất cả.
Văn chính là người, văn của Nguyên Hồng chính là hạt trai long lanh kết tụ từ nước mắt rơi xuống của chính cuộc đời nhà văn Trang hồi ký của ông thực sự là tiếng lòng của ông vọng về từ một thời thơ ấu, chính vì thế mới là những rung động cực điểm của một linh hồn bé dại, về một tuổi thơ bất hạnh luôn khao khát tình mẹ Ta! càng cảm thông, xót xa hơn cho những tuổi thơ xa vắng mẹ Tất cả có thể mất đi, có thể nhạt phai nhưng có một điều không thể nào chia rẽ được Đó là tình mẫu tử Với ý nghĩa nhân văn sâu sắc ấy, đoạn trích sẽ còn lay động mãi tới tất cả những trái tim biết yêu mẹ, hiếu để với đấng sinh thành.
ĐỀ 2: Có nhà nghiên cứu nhận định: “Nguyên Hồng là nhà văn của phụ nữ và nhi đồng” Hãy chứng minh.
Có nhà nghiên cứu đã nhận định Nguyên Hồng là nhà văn của phụ nữ và nhi đồng.
Có lẽ chính điều này đã giúp cho nhà văn ngay từ khi xuất hiện trên văn đàn vào những
năm trước cách mạng tháng Tám đã được bạn đọc yêu quý Đọc đoạn trích Trong lòng
mẹ trích trong hồi kí Những ngày thơ ấu chúng ta được tiếp xúc với những nhân vật phụ
nữ và nhi đồng của ông.
Nguyên Hồng là nhà văn viết rất nhiều về phụ nữ và nhi đồng Đây là những con người xuất hiện nhiều trong thế giới nhân vật của ông Nhưng nếu chỉ hiểu như thế thì chưa đủ Mặc dù xuất hiện trong gần như toàn bộ đoạn trích là nhân vật bà cô, còn nhân vật mẹ chú bé Hồng chỉ xuất hiện ở phần cuối nhưng người đọc đều nhận thấy rằng, Nguyên Hồng dành cho người phụ nữ này một tấm lòng chan chứa thương yêu và thái
độ nâng niu trân trọng Trước hết, đó là người phụ nữ phải chịu biết bao nỗi cơ cực và tủi nhục, một bà mẹ trẻ - nạn nhân của chế độ hôn nhân gia đình phong kiến Người đàn
bà ấy có trái tim khao khát yêu thương và sự trẻ trung sôi nổi thì lại phải chôn tuổi xuân bên người chồng nghiện ngập Đến khi chồng chết, gia đình sa sút đến nỗi bà mẹ ấy phải
bỏ con cái đi tha hương cầu thực Chúng ta hiểu rằng, phải rơi vào hoàn cảnh khốn cùng như thế nào, một người mẹ mới nỡ xa rời đứa con trai rứt ruột đẻ ra của mình Vào Thanh Hóa, người đàn bà một thời sung túc ấy kiếm sống bằng nghề bán bóng đèn, thậm chí bán cả vàng hương Bất hạnh và đáng thương, những người phụ nữ ấy đã không hề được cảm thông mà còn bị những thành kiến tàn ác, những cổ tục lạc hậu hành hạ Không chỉ có người mẹ tội nghiệp, chú bé Hồng cũng là kết quả của cuộc hôn nhân miễn cưỡng không có tình yêu, chú lớn lên trong không khí gia đình giả dối, lạnh lẽo và không có hạnh phúc Sau khi người bố bê tha chỉ biết đến bàn đèn thuốc phiện qua đời,
mẹ cũng vì hoàn cảnh éo le mà bỏ rơi chú bơ vơ giữa sự ghẻ lạnh cay nghiệt của họ hàng Để rồi tình yêu thương mẹ, niềm tin con trẻ đôi lần lại bị chính bà cô - người chung máu mủ với mình đem ra săm soi, nhục mạ.
Chịu bao đau đớn, nhục nhã nhưng những con người ấy vẫn sáng lên vẻ đẹp của tâm hồn cao quý Dưới ngòi bút đầy cảm thông và thấu hiểu, hai con người ấy, một mẹ một con đều khiến người đọc xót thương, yêu mến Trước hết, chúng ta hãy ngắm nhìn
và suy ngẫm về hình ảnh người mẹ “Đến ngày giỗ đầu của thầy tôi” mẹ đã trở về không cần đến bức thư hay lời nhắn gọi từ người cô Đây thật là người phụ nữ không quên tình nghĩa và trách nhiệm đối với người chồng đã mất cùng đứa con bé bỏng mặc dù đã ở nơi
xa Người mẹ ấy đã trở về, "mang rất nhiều quà bánh cho tôi và em Quế tôi" Có lẽ, nhà
văn đã dành những lời đẹp nhất, những tình cảm thiêng liêng nhất để viết về người mẹ.
Trang 16Và người mẹ ấy xuất hiện với tư thế, hình hài mới đẹp làm sao! “Gương mặt tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má” dường như
càng sáng thêm, rạng rỡ thêm khi được ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình Để từ đó,
sự ân cần âu yếm của mẹ lại truyền cho con bao niềm vui, niềm hạnh phúc êm dịu vô cùng Chỉ với vài nét chấm phá, hình ảnh người mẹ hiện lên trái ngược hoàn toàn với bà
cô cay độc Nhà văn đã bày tỏ thái độ yêu ghét rõ ràng, bày tỏ tình thương của mình đối với những lầm lỡ của con người, đối với kiếp người gặp nhiều gian truân, tủi cực.
Bên cạnh người mẹ, chú bé Hồng cũng hiện lên với bao suy nghĩ, cảm xúc đẹp đẽ đáng trân trọng Khi bị bà cô hành hạ về tinh thần, phải chịu bao đau đớn uất ức nhưng
bé Hồng vẫn một lòng tin yêu mẹ Chỉ có lòng tin yêu mãnh liệt ấy chú mới nhanh chóng nhận ra ý nghĩ cay độc trong giọng nói rất kịch của bà cô và một mực bảo vệ mẹ
bằng lời nói khẳng định chắc nịch: “Cuối năm, thế nào mợ cháu cũng về” Mục đích
làm cho đứa cháu đáng thương đau đớn của bà cô đã thành công nhưng mục đích khiến
bé Hồng xa rời, khinh rẻ mẹ thì hoàn toàn thất bại Bởi nỗi đau đớn ấy là vì “tôi thương
mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi,
để sinh nở một cách giấu giếm” Chính vì rất mực thương yêu mẹ, nên những lời người
cô “tươi cười” kể lể tình cảnh khốn khổ của mẹ như là những hạt muối mặn chát xát vào
lòng đứa trẻ Sự uất ức phẫn nộ trào sôi như cơn giông tố khiến bé Hồng nảy ý nghĩ táo
tợn: “Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”.
Nhờ tình thương và niềm tin ấy, chú đã nhận được niềm hạnh phúc lớn lao khi gặp mẹ Nếu Nguyên Hồng tỏ ra chân thực vô cùng khi miêu tả những giằng xé nội tâm của chú
bé Hồng trước sự nhục mạ của bà cô thì ông lại càng tỏ ra tinh tế biết bao khi nói về
niềm sung sướng của một đứa trẻ được nằm trong lòng mẹ sau bao ngày xa cách “Thở hồng hộc”, đẫm mồ hôi để đuổi kịp xe mẹ, chỉ chờ mẹ xoa đầu hỏi là tôi òa lên khóc rồi
cứ thế nức nở Bao nhiêu nỗi nhớ thương chờ đợi vỡ òa theo tiếng khóc Vẫn là niềm tin yêu mãnh liệt ấy khiến cho người mẹ trong mắt đứa con trai trở nên đẹp đẽ vô cùng Và
như bé Hồng tự hỏi “Hay tại sự sung sướng bỗng được trông nhìn và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc”, rồi hơi quần áo mẹ tôi
và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường Niềm hạnh phúc mà tình mẫu tử ruột thịt mang lại cứ dâng lên từng giây từng phút Những phút giây rạo rực ngắn ngủi ấy chính là nguồn sức mạnh để chú bé có thể tiếp tục đấu tranh với những điều tiếng xấu về mẹ, tiếp tục giữ niềm tin về mẹ.
Qua đoạn trích, chúng ta hiểu rõ hơn và sâu sắc hơn về nhận định trên Phụ nữ và nhi đồng là những người đáng yêu, đáng trân trọng, Nguyên Hồng viết về họ để thể hiện tình cảm, tấm lòng nhân đạo sâu sắc đối với những con người mà ông gần gũi, yêu thương.
ĐỀ 3: Chất trữ tình thấm đượm “Trong lòng mẹ”.
Đoạn trích " Trong lòng mẹ " cho ta thấy một nét riêng độc đáo trong phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng : giọng văn giàu trữ tình, dồi dào cảm xúc Chất chữ tình được thể hiện chủ yếu qua những phương tiện sau:
- Tình huống và nội dung câu truyện : Hoàn cảnh chú bé Hồng rất éo le và đáng thương ( mồ côi cha, sống xa mẹ, bị người cô gièm pha ác ý, ) Chú bị đặt lên vai " nỗi thống khổ chồng chất để thử thách sức bền của đức tin và lòng nhẫn nại, gan góc " ; chính trong hoàn cảnh nghiệt ngã đó, chú bé hiện lên với những phẩm chất đáng quý.
Trang 17- Câu truyện được kể lại thông qua sự hồi tưởng - dòng cảm xúc của nhà văn với nhiều cung bậc tình cảm đan xen : đau đớn, tủi hờn, phẫn uất , sung sướng cực độ , hạnh phúc dâng trào, Đặc biệt xuyên suốt là tình yêu thương mãnh liệt , sâu sắc của nhân vật chú bé Hồng đối với người mẹ bất hạnh của mình.
- Ngoài ra, chất trữ tình còn được thể hiện ở cách xây dựng hình ảnh thể hiện tâm trạng " giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đàu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy à cắn, mà nhau , mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi " ; cách so sánh gây ấn tượng giàu sức gợi ( nếu lỡ phận lầm mẹ thì " khác gì cái ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt cuả người bộ hành ngã gục giữa sa mạc " ; lời văn nhiều khi mê say, dào dạt khác thường " Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ,áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ
có một êm dịu vô cùng ".
- Đoạn trích " Trong lòng mẹ " tiêu biểu cho những đặc sắc của ngòi bút Nguyên Hồng : giàu chất trữ tình, dạt dào cảm xúc và rất ,mực chân thành Đó là lời văn của một trái tim nhạy cảm, dễ bị tổn thương, dễ rung động đến cực điểm với mỗi đau và niềm hạnh phúc bình dị của con người, đặc biệt là của phụ nữ và trẻ em.
TƯ LIỆU
Dòng tình huống và nội dung câu chuyện xoay quanh hoàn cảnh đáng thương của chú bé Hồng, câu chuyện về một người mẹ phải âm thầm chịu đựng nhiều đắng cay, nhiều thành kiến tàn ác, bà cô nham hiểm,lòng tin yêu và sự cậy mà chú bé dành cho người mẹ của mình.
Dòng cảm xúc phong phú của bé hồng:nỗi niềm xót xa tủi nhục;lòng căm giận sâu sắc,quyết liệt;tình yêu thương nồng nàn,thắm thiết.
Các thể hiện của tác giả:kể+tả+bộc lộ cảm xúc rất nhuần nhuyễn,các hình ảnh thể hiện tâm trạng ,so sánh gây án tượng,giàu sức gợi cảm;lời văn nhiều khi say mê khác thường như được viết trong dòng cảm xúc mơn man dạt dào
a Về phương diện nội dung :
Tình huống , hoàn cảnh đáng thương của hai mẹ con bé Hồng.
Dòng cảm xúc tinh tế phong phú của bé Hồng trong cuộc đối thoại với bà cô và khi gặp mẹ trên đường đi học về.
b Cách kể của tác giả :
Kết hợp giữa kể và bộc lộ cảm xúc trong quá khứ.
Xây dựng nhiều hình ảnh so sánh độc đáo đầy ấn tượng.
Giọng văn thiết tha, say mê.
ĐỀ 4: Qua nhân vật trẻ em trong đoạn trích “Trong lòng mẹ”của
Nguyên Hồng hãy phân tích để làm sáng tỏ: “Công dụng của văn chương
là giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha” (Hoài Thanh).
Yêu cầu đề 4:
Trang 18- Phương pháp: Biết cách làm bài văn nghị luận, chứng minh thể hiệntrong các thao tác: tìm ý, chọn ý, dựng đoạn, liên kết đoạn bố cục văn bản đặcbiệt là cách lựa chọn phân tích dẫn chứng.
- Nội dung: Trên cơ sở hiểu biết về đoạn trích “Trong lòng mẹ” củaNguyên Hồng phân tích làm sáng tỏ ý liến của Hoài Thanh về công dụng củavăn chương: “Giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha” Học sinh có thể trìnhbày bố cục nhiều cách khác nhưng cần tập trung vào các vấn đề sau:
+ Tình yêu thương con người: Bé Hồng có tình yêu mãnh liệt vớingười mẹ đáng thương
+ Giàu lòng vị tha: Bé Hồng bỏ qua những lời dèm pha thâm độc của
bà cô lúc nào cũng nghĩ tới mẹ với niềm thông cảm sâu sắc, mong muốn ược đón nhận tình yêu thương của mẹ
+ Bồi đắp thêm về tâm hồn tình cảm
ĐỀ BỔ SUNG: Đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng, ta thấy cậu bé Hồng có tình cảm yêu thương sâu sắc, thắm thiết Dựa vào đoạn văn trích đó, em hãy làm sáng
tỏ nhận xét trên.
Mở bài: Giới thiệu nhân bé Hồng trong đoạn trích Trong lòng mẹ với hai đặc
điểm: - Những cay đắng, tủi cực thời thơ ấu; - Tình yêu thương cháy bỏng đối với người
mẹ bất hạnh.
Thân bài: Lần lượt làm sáng tỏ từng luận điểm
1 Những cay đắng, tủi cực của bé Hồng - Bố mất, mẹ vì “cùng túng quá, phải bỏ con cái đi tha hương cầu thực”, bé Hồng sống bơ vơ giữa sự ghẻ lạnh, cay nghiệt của họ
hàng.
- Bị bà cô độc ác gieo rắc vào đầu óc những hoài nghi, những ý nghĩ xấu xa, về
người mẹ; - Bị người cô nhục mạ, hành hạ, bé Hồng đau đớn, cổ họng nghẹn ứ khóc không ra tiếng, cười dài trong tiếng khóc…
2 Tình yêu thương mãnh liệt của bé Hồng với người mẹ bất hạnh –
Những ý nghĩ, cảm xúc của chú bé khi trả lời người cô
+ Nhận ra ý nghĩa cay độc trong giọng nói và trên nét mặt của người cô; không muốn tình thương yêu và lòng kính mến mẹ bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến
Trang 19+ Đau đớn, uất ức đến cực điểm vỡ cổ tục đó hành hạ, đầy đọa mẹ: “Giỏ những cổ tục đó đầy đọa mẹ tụi là một vật như hũn đỏ hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tụi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kỡ nỏt vụn mới thụi”.
- Cảm giỏc sung sướng cực điểm khi ở trong lũng mẹ
+ Chạy đuổi theo chiếc xe Vừa được ngồi lờn xe cựng mẹ đó ũa lờn khúc nức nở + Cảm giỏc sung sướng đến cực điểm của bộ Hồng khi ở trong lũng mẹ là hỡnh ảnh
về một thế giới đang bừng nở, đang hồi sinh của tỡnh mẫu tử Vỡ thế, những lời cay độc của người cụ cũng bị chỡm ngay đi, bộ Hồng khụng mảy may nghĩ ngợi gỡ nữa…
+ Đoạn trích Trong lòng mẹ, đặc biệt là phần cuối là bài ca chân thành và cảm động về tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt
Lưu ý: Học sinh có thể có những cách chứng minh, làm sáng tỏ vấn đề khác nhau nhng vẫn đầy đủ, hợp lí thì vẫn cho điểm tối
đa.
Kết bài:
- Khẳng định vấn đề đó chứng minh: Đoạn trớch Trong lũng mẹ đó kể lại một cỏch
chõn thực và cảm động những cay đắng, tủi cực cựng tỡnh yờu thương mónh liệt của nhà văn thời thơ ấu đối với người mẹ bất hạnh
- Nờu thỏi độ, tỡnh cảm của người viết: Hồi kớ thấm đẫm chất trữ tỡnh Cỏch nhỡn nhận, đỏnh giỏ con người và sự việc và đặc biệt là tỡnh cảm của nhà văn thời ấu thơ dành cho người mẹ thật đỏng trõn trọng.
Trang 20BÀI 4:
NGÔ TẤT TỐ VÀ TIỂU THUYẾT “TẮT ĐÈN”
A YÊU CẦU:
Củng cố, mở rộng và nâng cao kiến thức về tác giả, tác phẩm
Rèn kỹ năng xây dựng đoạn văn bằng phép diễn dịch, quy nạp, songhành, tổng hợp
B NỘI DUNG:
1 Khái quát về tác giả Ngô Tất Tố:
Là cây bút xuất sắc nhất của dòng văn học hiện thực trước cách mạng và
là một trong những tác giả lớn có vị trí quan trọng trong nền văn học ViệtNam hiện đại Chỉ với ba thập kỷ cầm bút, ông đã để lại một sự nghiệp vănhọc đồ sộ, độc đáo bao gồm nhiều thể loại: Tiểu thuyết, phóng sự, truyện kýlịch sử, khảo cứu, dịch thuật…và ở thể loại nào cũng để lại dấu ấn đặc sắcriêng Suốt 6 thập kỷ qua, thân thế và văn nghiệp của Ngô Tất Tố đã thực sựthu hút được sự quan tâm, yêu mến của các nhà nghiên cứu, phê bình, giảngdạy văn học và đông đảo công chúng
Tham khảo “Ngô Tất Tố về tác giả và tác phẩm”- NXBGD
+ Một nhà nho yêu nước, thức thời, một cây bút sắc bén
+ Sức sống của một văn nghiệp lớn đa dạng: Nhà tiểu thuyết phóng
sự đặc sắc, nhà văn của dân quê
+ Một nhà báo có biệt tài
2 Giới thiệu khái quát về “Tắt đèn”
+) Tắt đèn của Ngô Tất Tố- (Vũ Trọng Phụng) “Một thiên tiểu thuyết
có luận đề xã hội …hoàn toàn phụng sự dân quê, một áng văn có thể gọi làkiệt tác chưa từng thấy”
3 Củng cố, nâng cao về đoạn trích “Tức nước vỡ bờ”
- Ý nghĩa của cách xây dựng các tuyến nhân vật
Trang 21- Tại sao nói đây là một đoạn văn giàu kịch tính.
- Phân tích diễn biến tâm lý, hành động của chị Dậu
4 Luyện đề: Các dạng đề văn nghị luận, chứng minh phân tích nhân
vật, đề văn sự kết hợp miêu tả và biểu cảm
Ví dụ minh hoạ:
Đề 1: Hãy chứng minh nhận xét của nhà nghiên cứu phê bình văn học
Vũ Ngọc Phan “Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ là một đoạn tuyệt
khéo”.
Đề 2: Nhà văn Nguyễn Tuân cho rằng với tác phẩm “Tắt đèn”, Ngô Tất
Tố đã “xui người nông dân nổi loạn” Em hiểu như thế nào về nhận xét đó.
Hãy chứng minh
Đề 3: “Trên cái tối giời tối đất của đồng lúa ngày xa, hiện lên cái chân
dung lạc quan của chị Dậu Bức chân dung ấy tuy chưa được ánh sáng cách mạng soi rọi tới nhưng dù sao tôi vẫn quý bức chân dung ấy” Chứng minh
qua “Tức nước vỡ bờ”
Đề 4: “Tôi nhớ như đã có lần nào tôi đã gặp chị Dậu ở một đám đông
phá kho thóc Nhật, ở một cuộc cướp chính quyền huyện kỳ tổng khởi nghĩa hay chí ít đậy nắp hầm bem cho cán bộ” Em hiểu ý kiến trên như thế nào.
Bằng sự hiểu biết của em về đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” em hãy làm sáng tỏ
ý kiến trên
C PHƯƠNG PHÁP:
1 Tài liệu tham khảo:
- Tiểu thuyết “Tắt đèn”
- Xem băng hình phim “Chị Dậu” (diễn viên Lê Vân đóng vai chị Dậu)
- Các tư liệu bàn về “Tắt đèn” (Từ trang 195 – 313 Ngô Tất Tố về tác gia và tác phẩm)
2 Phương pháp:
- Rèn kỹ năng dựng đoạn, xây dựng luận điểm trong văn nghị luận
- Kỹ năng tạo lập văn bản tự sự, nghị luận
Đề:
Hình ảnh nhân vật chị Dậu qua “Tức nước vỡ bờ”
Bản chất xã hội thực dân phong kiến qua “Tức nước vỡ bờ”
Sức sống và tinh thần phản kháng của người nông dân truớc CM quahình ảnh chị Dậu
Trang 22Ngòi bút hiện thực của Ngô Tất Tố qua “Tức nước vỡ bờ”…
MỘT SỐ ĐỀ BÀI TẬP.
ĐỀ 1: Có ý kiến cho rằng: ChỊ Dậu không những là người mẹ thương con, người
vợ yêu chồng mà còn là hình tượng tiêu biểu cho phẩm chất và số phận người phụ nữ Việt Nam trước CMT8 Qua văn bản “Tức nước vỡ bờ”- Ngô Tất Tố, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
1 Mở bài:
Trào lưu hiện thực phê phán giai đoạn 1930-1945 đã có những đóng góp đáng kể cho nền văn học nước nhà Chúng ta khó có thể quên được các tên tuổi lớn như Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao và đặc biệt là Ngô Tất Tố - tác giả cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Tắt đèn” Lần đầu tiên, ông đã đưa vào văn học hình ảnh một người phụ nữ nông dân Việt Nam với đầy đủ phẩm chất tốt đẹp Đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” thể hiện khá sinh động vẻ đẹp của nhân vật chị Dậu , một người phụ nữ yêu chồng, thương con, giàu đức hi sinh và có tinh thần phản kháng mãnh liệt.
2 Thân bài:
Vẻ đẹp của chị Dậu được miêu tả và tỏa sáng trong một hoàn cảnh đặc biệt: cuộc sống của chị, gia đình chị và nông thôn Việt Nam lâm vào bước đường cùng bởi chính sách sưu thuế bất công và sự tàn ác bất lương của bộ máy cai trị ở nông thôn Trong hoàn cảnh
ấy, chị Dậu vẫn sống với những phẩm chất trong sạch và sức sống tiềm tàng.
a Trước hết, chị Dậu là người vợ rất mực yêu thương chồng con.
Mở đầu đoạn trích là cảnh chị Dậu chăm sóc người chồng ốm yếu vừa bị bọn cường hào đánh đập thừa chết thiếu sống chỉ vì chưa có tiền nộp sưu Chị Dậu đã cố sức xoay sở để cứu chồng bị cùm trói và hành hạ dã man Chị tất tả chạy ngược chạy xuôi, vay được nắm gạo nấu nồi cháo loãng Cảm động thay là cảnh chị Dậu múc cháo ra mấy cái bát cũ kĩ, sứt mẻ và quạt lia quạt lịa cho cháo mau nguội rồi ân cần nâng giấc, vỗ về:
“Thầy em hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột” Chị bế cái Tỉu lo lắng ngồi
xuống cạnh chồng cố ý chờ xem chồng chị ăn có ngon miệng không Đó là cách thương yêu của một người phụ nữ luôn biết che chở và tận tụy.
Trong cơn quẫn bách của mùa sưu thuế, chị Dậu đã trở thành trụ cột của gia đình khốn khổ Chồng bị bắt, bị gông cùm, đánh đập, một tay chị chèo chống, chạy vạy, phải bán tất cả những gì có thể bán được, kể cả đứa con gái đầu lòng ngoan ngoãn, hiếu thảo
mà chị thương đứt ruột để lấy tiền nộp sưu, cứu chồng khỏi vòng tù tội Chị đã phải đổ bao mồ hôi nước mắt để anh Dậu được trả tự do trong tình trạng tưởng như chỉ còn là một cái xác không hồn Chính tình yêu thương, lo lắng cho chồng đã dẫn chị đến hành động chống trả quyết liệt lũ tay sai khi chúng nhẫn tâm bắt trói anh Dậu một lần nữa.
b Chị còn là người phụ nữ biết nhẫn nhục chịu đựng nhưng không yếu đuối mà có sức sống mạnh mẽ, tiềm tàng một tinh thần phản kháng.
Tên cai lệ, người nhà lí trưởng xồng xộc xông vào quát tháo đòi trói anh Dậu lôi ra đình Anh Dậu ốm yếu “ lăn đùng ra đó” Trong tình thế ấy, chỉ Dậu chỉ có cách van xin Chúng là “ người nhà nước” , người danh phép nước để trị những kẻ có tội mà vợ chồng chị chính là kẻ có tội Chí Dậu “ cố thiết tha”, van xin Tên cai lệ không nghe cứ xông đến chỗ anh Dậu, chị “ xám mặt lại” nhưng cũng chỉ dám chạy lại đỡ lấy tay hắn “hết sức
Trang 23lễ phép”, van xin: “cháu xin ông ” Dường như kinh nghiệm đã thành bản năng của người nông dân bị lép vế, bị áp bức nên chị biết phải nhẫn nhục Và cũng vì tâm tính dịu dàng, mộc mạc thuộc người phụ nữ nông dân quen chịu đựng, nhường nhịn.
Nhưng khi tên cai lệ đáp lại những lời van xin tha thiết của chị bằng “trợn ngược hai mắt”, quát, thét, bằng những quả bịch rất đều và bằng việc cứ chạy đến trói anh Dậu, chỉ đến lúc ấy “hình như tức quá, không chịu được, chị Dậu liều mạng cự lại”:
Thoạt tiên, chị cự lại bằng lí : “Chồng tối đang đâu ốm, các ông không được hành hạ” Kì thực chị đâu biết đến luật pháp Chị chỉ nói cái lí tự nhiên tự nhiên, cái nguyên tắc đạo lí tối thiểu của con người Tư thế của chị lúc này không phải là một kẻ bề dưới cúi đầu van xin mà là tư thế người ngang hàng, đanh thép cảnh cáo kẻ ác.
Khi tên cai lệ hung dữ như chó săn ấy quay lại tát vào mặt chị rồi cứ nhảy vào cạnh anh Dậu thì chị bật dậy với sức mạnh ghê gớm, bất ngờ, nỗi căm giận bùng nổ như sấm sét, chị Dậu nghiến hai hàm răng, ném ra lời thách thức quyết liệt: “Mày trói ngay chồng
bà đi, bà cho mày xem!” Cách xưng hô của chị “ mày” – “bà” thể hiện sự căm giận, khinh bỉ cao độ Không còn thái độ cúi đầu van xin, cũng không phải thái độ ngang hàng
mà là thái độ của một kẻ bề trên đè bẹp hoàn toàn uy thế của mấy tên tay sai, chị ra tay với sức mạnh dường như vô địch Chỉ một động tác “túm lấy cổ” tên cai lệ “ấn dúi ra cửa” làm hắn “ngã chổng quẻo” Những từ ngữ miêu tả, giọng văn pha chút hài hước làm nổi bật sức mạnh ghê gớm của chị Dậu và hình ảnh bộc lộc tình thảm hại của tên cai lệ Tình thế đã hoàn toàn đảo ngược.
Đến lượt tên người nhà lí trưởng thì chị xông vào giằng co đu đẩy Rốt cuộc tên này cũng bị chị túm tóc, lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm.
Vừa ra tay chị đã nhanh chóng biến hai tên tay sai hung hãn thành những kẻ bị trừng trịhết sức thảm hại Lúc xông vào chúng hết sức hùng hổ, dữ tợn bao nhiêu thì bây giờ bộ dạng của chúng thật đáng cười bấy nhiêu.Những động từ, tính từ lấy nguyên vẹn trong khẩu ngữ bao lâu và giọng văn pha sắc thái hài hước làm cho sự miêu tả thật sống động trong khẩu ngữ bao lâu và giọng văn pha chút sắc thái hài hước làm cho sự miêu tả thật sống động đằng sau những dòng chữ thấp thoáng, ánh mắt tười cười của tác giả.
Hình ảnh tư thế của chị Dậu lúc này thật đẹp, một vẻ đẹp ngang tàn Trong xã hội
mà cái ác hoành hành , hành động của chị thật dũng cảm Câu nói: “Thà ngồi tù Để chúng nó làm tình làm tội mã thế, tôi không chịu được ” đã chứa đựng một thái độ, một
tư thế làm người không sống quỳ, sống nhục.
Tuy vậy, hành động phản kháng của chị Dậu hoàn toàn mang tính manh động, tự phát Đó mới chỉ là cái thế “tức nước vỡ bờ” của một cá nhân mà chưa phải là cái thế của một giai cấp, một dân tộc vùng lên phá tan xiềng xích áp bức bất công “Có áp bức, có đấu tranh”, áp bức càng nhiều thì đấu tranh càng quyết liệt và hành động của chị Dậu đã chứng minh cho chân lí ấy.
=> Như vậy ở chị Dậu không chỉ bộc lộ tình thương yêu, sự quan tâm, lòng tận tuy, chị còn hấp dẫn ở tính cách vừa nền nã, vừa thẳng thắn, vừa nhẫn nhịn, vừa cứng cỏi, tất cả toát lên một cốt cách mạnh mẽ, một sức sống tiềm tàng mãnh liệt của người phụ nữ nông dân vốn từ ngàn đời lao động và tranh đấu cho cuộc sống của mình.
c Nghệ thuật khắc họa nhân vật:
Trang 24Đặt nhân vật vào tình huống có xung đột, giàu kịch tính, khiến nhân vật bộc lộ rõ nhất các nét tính cách, nhất là tính cách tiềm tàng ( ở đây là tinh thần phản kháng ).
Miêu tả nhân vật có các mặt tính cách đối lập nhưng nhất quán Sự nhất quán đó thể hiện ở sự thống nhất giữa các mặt: Dù nhẫn nhịn hay vùng lên đều thể hiện con người chị biết tôn trọng phép tắc nhưng biết bất bình trước sự vô đạo; biết yêu thương và biết phẫn nộ, dịu dàng và dữ dội Vấn đề là với đối tượng nào, trong hoàn cảnh nào.
Sự nhất quán đó phải được đặt trong hoàn cảnh có xung đột và được miêu tả hết sức chân thực, khéo léo từ thấp đến cao.
Miêu tả được sự nhất quán khiến nhân vật chị Dậu toát lên vẻ đẹp vừa thuần chất vừa đa dạng, phong phú, như chính bản thân cuộc sống.
3 Kết bài: ( Đánh giá, mở rộng, liên hệ )
Hình tượng chị Dậu thể hiện cái nhìn tiến bộ và nhân đạo của nhà văn Ngô Tất Tố cùng tài năng của ông Cuộc đời cơ cực của chị là bản án về chế độ lúc bấy giờ Phẩm chất trong sạch, yêu thương và sức mạnh phản kháng của chị là vẻ đẹp làm nên giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Hình tượng chị Dậu là một trong hình tượng thành công, được đánh giá là bất hủ
về đề tài người nông dân , cùng các nhân vật anh Pha của Nguyễn Công Hoan, lão Hạc, Chí Phèo của nhà văn Nam Cao Chị đã đem đến cho bạn đọc thời đại sau những nhạn thức đầy đủ, sự cảm mến sâu sắc với người nông dân trong xã hội ngày xưa.
Đặc biệt, chị Dậu còn khiến người ta nhớ đến những nhân vật phụ nữ, những người
mẹ, người vợ với cuộc đời nhiều đa đoan mà phẩm giá và sức sống sáng ngời : Thúy Kiều (“Truyện Kiều” – Nguyễn Du), nàng Vũ Nương (“Chuyện người con gái Nam Xương” –Nguyễn Dữ), bà Tú (“Thương vợ” – Tú Xương)
Phẩm chất truyền thống ấy sau này được phát huy khi cuộc đời và số phận người phụ nữ đã sang một trang mới, trang tự do và hạnh phúc Như nhà thơ Huy Cận đã ngợi ca:
* Tư liệu tham khảo:
“Đảm đang, tháo vát, chung thủy, giàu lòng hi sinh đó là những đặc điểm có tính chất truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trước đây Cái mới của chị Dậu là sức chiến đấu mạnh khỏe lạc quan và tinh thần phản kháng gan dạ trước kẻ thù Nhiều người đàn bà khác rơi vào tình cảnh quẫn bách như chị Dậu , có khi đành chịu buông tay khuất phục, nhắm mắt cho cuộc đời trôi theo số mệnh Nhưng người đàn bà nông dân này cứ thấy lăn
sả vào bóng tối như mực, kiếm cách phá tung ra để tìm đường sống Và chống trả một cách mộc mạc, hồn nhiên, không cần lí lẽ, dường như hành động quyết liệt đó, ngôn ngữ nhân vật nhuần nhị đó là sản phẩm tất yếu của một cuộc đời lương thiện vỗn đã cơ cực lại còn bị giày xéo tàn nhẫn”.
( Giáo trình “Văn học Việt Nam 30 – 45, tập 1, 1988)
“Chị Dậu là tất cả cuốn Tắt đèn Có những lúc tôi muốn xin phép tác giả, và nếu tác giả đồng tình ( qua lớp đất nghĩa địa mà tìm cách nhắn lên cho) thì tôi lấy tên chị Dậu làm luôn tên gọi của cuốn truyện Tắt đèn: “Chị Dậu” Chị Dậu là cái đốm sáng đặc biệt trong
Trang 25Tắt đèn Nếu ví toàn truyện Tắt đèn là một khóm cây, thì chị Dậu là cả gốc, cả ngọn, cả cành và chính chị Dậu đã nổi gió lên mà rung cho cả cái cây dạ hương "Tắt đèn" đó lên” ( Nguyễn Tuân )
Viết được các đoạn văn liên kết mạch lạc chặt chẽ
Kiểm tra kỹ năng tạo lập văn bản nghị luận
Là nhà văn - chiến sĩ liệt sĩ, Nam Cao khép lại văn ở tuổi 35 Ômg để lạitrong kho tàng văn chương dân tộc một gia tài không đồ sộ về số lượng nhưnglại luôn ẩn chứa sức sống, sức bền lâu của một giá trị văn chương vượt lêntrên “các bờ cõi và giới hạn” có được những tri kỷ, tri âm Nam Cao là mộttrong 9 nhà văn được lựa chọn để giảng dạy trong chơng trình môn văn ởtrường phổ thông với tư cách tác gia lớn của văn học dân tộc” (NXBGD)
Tham khảo phần I “Văn và người” cuốn “Nam Cao về tác gia và tác phẩm” trang 44-174.
Chú ý các bài luận:
Người và tác phẩm Nam Cao – Tô Hoài
Nam Cao – Nhà văn hiện thực sâu sắc, nhà văn nhân đạo chủ nghĩa lớn– Trần Đăng Xuyền
Tês khôp và Nam Cao – Một sáng tác hiện thực kiểu mới
Gặp gỡ giữa M.Goorky và Nam Cao
b)Tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp, nội dung chính trong tác phẩm của Nam Cao (Giáo trình VHVN trang 283 – 327)
Trang 262 Giới thiệu khái quát về truyện ngắn “Lão Hạc”.
Tóm tắt truyện, bố cục
Các giá trị của tác phẩm:
+ Giá trị nội dung: Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo
+ Giá trị về nghệ thuật: Thể loại, ngôn ngữ, kết cấu…
3 Luyện đề:
Đề 1: So sánh để chỉ ra sự giống và khác nhau giữa cái chết của Lão Hạc
và cái chết của anh đĩ Chuột trong truyện ngắn “Nghèo” của Nam Cao
Đề 2: Viết lời bình cho đoạn văn:
“Mặt lão đột nhiên co rúm lại ………… Lão hu hu khóc”
Đề 3: Cái chết của Lão Hạc đã được nhà văn Nam Cao miêu tả như thế
nào Từ cái chết đó, em nghĩ gì về số phận và phẩm chất của người nông dânnghèo khổ trước CM Tháng Tám?
Đề 4: Trong “Lão Hạc” nhà văn Nam Cao đã phát biểu suy nghĩ của
mình về cách đánh giá nhìn nhận con người: “Chao ôi! Đối với những người
ở quanh ta……….không bao giờ ta thương”
Bằng sự hiểu biết của em về tác phẩm “Lão Hạc” em hãy làm sáng tỏtình yêu thương con người của tác giả
Đề 5: Phân tích nhân vật Lão Hạc – Hình ảnh tiêu biểu của ngời nông
dân truớc CM
Đề 6: Phân tích nhân vật ông giáo – hình bóng của nhà văn Nam Cao.
Đề 7: Triết lý nhân sinh qua “Lão Hạc”.
C.PH ƯƠNG PHÁP:
1 Tài liệu tham khảo:
- Nam Cao về tác gia và tác phẩm
- Các bài viết bàn về truyện ngắn “ Lão Hạc”
- Luyện các dạng đề nghị luận: nghị luận về một nhân vật, một nhómnhân vật, nghị luận về một đề tài trong một tác phẩm, một nhóm tác phẩm…
- Xem băng hình “Làng Vũ Đại ngày ấy”
MỘT SỐ ĐỀ LUYỆN TẬP
ĐỀ 1: Phân tích nhân vật Lão Hạc – Hình ảnh tiêu biểu của người nông dân truớc CM
Dàn ý số phận và tính cách nhân vật Lão Hạc
Trang 27Truyện ngắn "Lão Hạc" là một trong những tác phấm tiêu biểu như thế!
Nhân vật Lão Hạc đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về một người nông dân hiền lành, chất phác, giàu lòng nhân ái, tự trọng đáng kính.
Thân bài:
1 Cuộc đời – cảnh ngộ của Lão Hạc: Người nông dân nghèo khó, gặp nhiều bất hạnh:
Vợ mất sớm, nhà nghèo, con trai phẫn chí bỏ đi đồn điền cao su.
Sống cô đơn trong tuổi già, đối diện với nhiều rủi ro: ốm nặng, yếu, không có việc, hoa màu bị bão phá sạch.
Có con chó vàng làm bầu bạn nhưng phải bán đi vì cảnh nghèo.
Luôn canh cánh thương con, vì chưa lo được cho con trọn vẹn.
Cùng đường, phải tìm đến cái chết thương tâm.
2 Phẩm chất, nhân cách của Lão Hạc:
Giàu lòng nhân ái, có tấm lòng vị tha, nhân hậu.
Là người cha vô cùng thương con, lo lắng cho con.
Giàu lòng tự trọng.
3 Cái chết của Lão Hạc: Là một biến cố điển hình để nhân vật bộc lộ tính cách
điển hình:
Chết để tự giải thoát kiếp sống mòn.
Chết vì quá thương con, muốn giữ trọn vốn liếng cho con, giữ tiếng cho con.
Chết để tránh bị đẩy vào con đường tha hóa, biến chất.
Đau đớn tự trừng phạt vì đã bán con Vàng (đã đánh lừa nó).
Cái chết như một sự hi sinh tàn khốc vì tương lai, nó chứng tỏ sự bế tắc của hiện tại.
Minh chứng cho tấm lòng lương thiện.
Minh chứng cho nỗi bất hạnh và phẩm giá của người nông dân Việt Nam trước cách mạng.
4 Suy nghĩ, đánh giá về nhân vật:
Thương xót một con người bất hạnh.
Trân trọng lòng tự trọng đáng quý.
Yêu quý một con người giàu lòng nhân ái, yêu thương con.
Kết bài:
Trang 28Nhân vật Lão Hạc là một thành công nghệ thuật của Nam Cao trong việc xây dựng hình tương người nông dân trước cách mạng tháng Tám: nghèo khổ, giàu lòng thương con, chất phác, đôn hậu, giàu lòng tự trọng
Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật.
Cảm xúc của cá nhân (trân trọng, yêu quý nhân vật Nhân vật đã để lại suy nghĩ gì cho bản thân?)
Bài viết
Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc trong giai đoạn văn học 1930 – 1945 Qua nhiều tác phẩm, tác giả đã vẽ nên khung cảnh tiêu điều, xơ xác của nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám Sự đói khổ ám ảnh nhà văn bởi nó ảnh hưởng không ít tới nhân cách, nhưng trong cảnh nghèo đói thê thảm, phẩm chất tốt đẹp của người nông dân vẫn tồn tại và âm thầm tỏa sáng Truyện ngắn Lão Hạc thể hiện cái nhìn nhân đạo sâu sắc của Nam Cao Trong đó, nhân vật chính là một nông dân gặp nhiều nỗi bất hạnh vì nghèo đói nhưng chất phác, đôn hậu, thương con và có lòng tự trọng.
Vợ mất sớm, Lão Hạc dồn tất cả tình yêu thương cho đứa con trai duy nhất Lão sẽ sung sướng biết dường nào nếu con trai lão được hạnh phúc, nhưng con trai lão đã bị phụ tình chỉ vì quá nghèo, không đủ tiền cưới vợ.
Thương con, lão thấu hiểu nỗi đau của con khi anh nghe lời cha, không bán mảnh vườn để lấy tiền cưới vợ mà chấp nhận sự tan vỡ của tình yêu Càng thương con, lão càng xót xa đau đớn vì không giúp được con thỏa nguyện, đến nỗi phẫn chí bỏ nhà đi phu đồn điền đất đỏ mãi tận Nam Kì Mỗi khi nhắc đến con, Lão Hạc lại rơi nước mắt.
Lão Hạc rất quý con chó vì nó là kỉ vật duy nhất của đứa con trai Lão trìu mến gọi
là cậu Vàng và cho nó ăn cơm bằng chiếc bát lành lặn Suốt ngày, lão thầm thì to nhỏ với con Vàng Với lão, con Vàng là hình bóng của đứa con trai yêu quý, là người bạn chia sẻ
cô đơn với lão Vì thế nên bao lần định bán con Vàng mà lão vẫn không bán nổi.
Nhưng nếu vì nhớ con mà Lão Hạc không muốn bán cậu Vàng thì cũng chính vì thương con mà lão phải dứt khoát chia tay với nó Lão nghèo túng quá! Lão đã tính chi li mỗi ngày cậu ấy ăn thế bỏ rẻ cũng mất hai hào đấy Cứ mãi thế này thì tôi lấy tiền đâu mà nuôi được Thôi bán phắt đi, đỡ đồng nào hay đồng ấy Bây giờ, tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của con Tiêu lắm chỉ chết nó!
Thế là vì lo tích cóp, giữ gìn cho con trai chút vốn mà Lão Hạc đành chia tay với con chó yêu quý Đã quyết như thế nhưng lão vẫn đau đớn, xót xa Lão kể cho ông giáo nghe cảnh bán cậu Vàng với nỗi xúc động cực độ Lão đau khổ dằn vặt vì cảm thấy mình
đã đánh lừa một con chó Nỗi khổ tâm của lão cứ chồng chất mãi lên Trước đây, lão dằn vặt mãi về chuyện vì nghèo mà không cưới được vợ cho con, thì bây giờ cũng chỉ vì nghèo mà lão thêm day dứt là đã cư xử không đàng hoàng với một con chó Lão cố chịu đựng những nỗi đau đớn ấy cũng chỉ nhằm một mục đích là giữ gìn chút vốn cho con.
Biểu hiện cao nhất của tình yêu thương con chính là cái chết của lão Ông lão nông dân nghèo khổ ấy đã tính toán mọi đường: Bây giờ lão chẳng làm gì được nữa Cái vườn này là của mẹ nó chắt chiu dành dụm cho nó, ta không được ăn vào của nó Ta không thể bán vườn để ăn Chính vì thương con, muốn giữ cho con chút vốn giúp nó thoát khỏi cảnh nghèo mà Lão Hạc đã chọn cho mình cái chết Đó là một sự chọn lựa tự nguyện và
dữ dội Nghe những lời tâm sự của Lão Hạc với ông giáo, không ai có thể kìm nổi lòng
Trang 29xót thương, thông cảm và khâm phục Một con người vì nghèo đói mà bất hạnh đến thế là cùng! Một người cha thương con đến thế là cùng!
Không chỉ có vậy, qua từng trang truyện, chúng ta còn thấy Lão Hạc là người đôn hậu, chất phác Suốt đời, lão sống quanh quẩn trong lũy tre làng Trong làng chỉ có ông giáo là người có học nên lão tìm đến ông giáo để chia sẻ tâm sự Lời lẽ của Lão Hạc đối với ông giáo lúc nào cũng lễ phép và cung kính Đó là cách bày tỏ thái độ kính trọng người hiểu biết, nhiều chữ của một lão nông Cảnh ngộ Lão Hạc đã đến lúc túng quẫn nhưng lão tự lo liệu, xoay xở, cố giữ nếp sống trong sạch, tránh xa lối đói ăn vụng túng làm càn Thậm chí, lão kiên quyết từ chối sự giúp đỡ chỉ vì lòng thương hại.
Lão đã chuẩn bị kĩ lưỡng mọi việc Trước khi chết, lão nhờ ông giáo viết văn tự để giữ hộ con trai mình mảnh vườn và gửi ông giáo 30 đồng để lo chôn cất Lão không muốn mọi người phải tốn kém vì lão Rất có thể vì tốn kém mà người ta lại chẳng oán trách lão sao? Không phiền lụy đến mọi người, đó cũng là cách để giữ gìn phẩm giá Thì
ra ông lão có vẻ ngoài gàn dở ấy lại có phẩm chất đáng quý biết nhường nào!
Nhà văn Nam Cao đã giúp chúng ta hiểu được nỗi khổ tâm, bất hạnh vì nghèo đói cùng những vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám Từ những trang sách của Nam Cao, hình ảnh Lão Hạc luôn nhắc chúng ta nhớ đến những con người nghèo khó mà trong sạch với một tình cảm trân trọng và yêu quý.
ĐỀ 2: Trong “Lão Hạc” nhà văn Nam Cao đã phát biểu suy nghĩ của mình
về cách đánh giá nhìn nhận con người: “Chao ôi! Đối với những người ở quanh
ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu
xa, bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương…” Em hiểu ý kiến trên như thế nào, bằng các nhân vật trong truyện “Lão Hạc”, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
DÀNÝ:
A.Yêu cầu chung:
Thể loại: Giải thích kết hợp chứng minh.
Nội dung:Cách nhìn, đánh giá con người cần có sự cảm thông, trân trọng con
a Giải thích nội dung của đoạn văn:
+ Lời độc thoại của nhân vật “Ông giáo”- thông qua nhân vật này- tác giả Nam Cao thể hiện cách nhìn, đánh giá đầy sự cảm thông, trân trọng con người:
- Phải đem hết tấm lòng của mình, đặt mình vào hoàn cảnh của họ để cố mà tìm hiểu, xem xét con người ở mọi bình diện thì mới có được cái nhìn đầy đủ, chắt gạn được
Trang 30những nét phẩm chất đáng quý của họ, nếu chỉ nhìn phiến diện thì sẽ có ác cảm hoặc những kết luận sai lầm về bản chất của con người
(- Giải thích ngắn gọn ý kiến
+ Không cố tìm mà hiểu họ: không quan tâm, không tìm hiểu, tiếp xúc nhiều để thấu hiểu bản chất tốt
đẹp bên trong, chỉ nhìn hình thức, dáng vẻ và biểu hiện bề ngoài.
+ Chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, bỉ ổi: chỉ nhận thấy mặt xấu, hạn chế và đáng ghét của người
khác.
+ Ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là người đáng thương, không bao giờ ta thương: thờ ơ, vô cảm,
thậm chí ác cảm và coi thường những người không đáng bị đối xử như vậy.)
b Chứng minh ý kiến trên qua các nhân vật:
* Lão Hạc: Thông qua cái nhìn của các nhân vật (trước hết là ông giáo), lão Hạc hiện lên với những việc làm, hành động bề ngoài có vẻ gàn dở, lẩm cẩm
Bán một con chó mà cứ đắn đo, suy nghĩ mãi Lão Hạc sang nhà ông giáo nói
chuyện nhiều lần về điều này làm cho ông giáo có lúc cảm thấy “nhàm rồi”
Bán chó rồi thì đau đớn, xót xa, dằn vặt như mình vừa phạm tội ác gì lớn lắm Gửi tiền, giao vườn cho ông giáo giữ hộ, chấp nhận sống cùng cực, đói khổ: ăn sung, rau má, khoai, củ chuối…
Từ chối gần như hách dịch mọi sự giúp đỡ
Xin bả chó
* Vợ ông giáo: nhìn thấy ở lão Hạc một tính cách gàn dở “Cho lão chết ! Ai bảo
lão có tiền mà chịu khổ ! Lão làm lão khổ chứ ai…”, vô cùng bực tức khi nhìn thấy sự
rỗi hơi của ông giáo khi ông đề nghị giúp đỡ lão Hạc “Thị gạt phắt đi”
* Binh Tư: Từ bản tính của mình, khi nghe lão Hạc xin bả chó, hắn vội kết luận
ngay “Lão…cũng ra phết chứ chả vừa đâu”
* Ông giáo có những lúc không hiểu lão Hạc: “Làm quái gì một con chó mà lão có
vẻ băn khoăn quá thế ?”, thậm chí ông cũng chua chát thốt lên khi nghe Binh Tư kể
chuyện lão Hạc xin bả chó về để “cho nó xơi một bữa…lão với tôi uống rượu”: “Cuộc
đời cứ mỗi ngày càng thêm đáng buồn…” Nhưng ông giáo là người có tri thức, có kinh
nghiệm sống, có cái nhìn đầy cảm thông với con người, lại chịu quan sát, tìm hiểu, suy ngẫm nên phát hiện ra được chiều sâu của con người qua những biểu hiện bề ngoài:
Ông cảm thông và hiểu vì sao lão Hạc lại không muốn bán chó: Nó là một người bạn của lão, một kỉ vật của con trai lão; ông hiểu và an ủi, sẻ chia với nỗi đau đớn, dằn vặt của lão Hạc khi lão khóc thương con chó và tự xỉ vả mình Quan trọng hơn, ông phát hiện ra nguyên nhân sâu xa của việc gửi tiền, gửi vườn, xin bả chó, cái chết tức tưởi của lão Hạc: Tất cả là vì con, vì lòng tự trọng cao quý ông giáo nhìn thấy vẻ đẹp tâm hồn của lão Hạc ẩn giấu đằng sau những biểu hiện bề ngoài có vẻ gàn dở, lập dị.
Ông hiểu và cảm thông được với thái độ, hành động của vợ mình: Vì quá khổ mà
trở nên lạnh lùng, vô cảm trước nỗi đau đồng loại “…Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ
quá rồi Một ngưêi đau chân cã lóc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu ? cái bản tính tốt của ngưêi ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích
kỉ che lấp mất…” ông biết vậy nên “Chỉ buồn chứ không nì giận”.
Ông giáo là nhân vật trung tâm dẫn dắt câu chuyện, từ việc miêu tả các nhân vật
mà quan sát, suy ngẫm để rồi rót ra những kết luận có tính chiêm nghiệm hết sức đúng
Trang 31đắn và nhân bản về con người Có thể nói tác giả đã hóa thân vào nhân vật này để đưa ra những nhận xét, đánh giá chứa chan tinh thần nhân đạo về cuộc đời , con người Đây là một quan niệm hết sức tiến bộ định hướng cho những sáng tác của nhà văn sau này
Hiểu biết đúng về một con người là cơ sở để chia sẻ, đồng cảm, trân trọng, tạo nên những mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống Hiểu không đúng về con người xung quanh,
ta sẽ có cái nhìn phiến diện, đánh giá sai lầm về họ rồi dẫn đến cách hành xử lệch lạc.
-Suy nghĩ của bản thân em:
Phê phán cách đánh giá phiến diện, chỉ nhìn thấy những khiếm khuyết của người khác
mà mất đi lòng tin yêu con người và cuộc sống.
Để hiểu những người xung quanh, bản thân mỗi chúng ta phải đặt mình vào hoàn cảnh cụ thể của họ, mở rộng lòng để đồng cảm, sẻ chia Trong cuộc sống, chúng ta cần sống với nhau bằng tình người, sự quan tâm thấu hiểu, tôn trọng lẫn nhau.
ĐỀ 3: Có ý kiến cho rằng : Chị Dậu và Lão Hạc là những hình tượng tiêu biểu cho
phẩm chất và số phận của người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám Qua đoạn trích: Tức nước vỡ bờ ( Ngô Tất Tố ), Lão Hạc ( Nam Cao ), em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
DÀN Ý:
Mở bài :
Học sinh dẫn dắt và nêu được vấn đề nghị luận : Chị Dậu và Lão Hạc là những hình tượng tiêu biểu cho phẩm chất và số phận của người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám.
2, Thân bài:
a Chị Dậu và Lão Hạc là những hình tượng tiêu biểu cho phẩm chất tốt đẹp của người nông dân Việt Nam trước cách mạng
* Chị Dậu : Là một mẫu mực vừa gần gũi vừa cao đẹp của ngời phụ nữ nông thôn Việt
Nam thời kì trước cách mạng : Có phẩm chất của người phụ nữ truyền thống, có vẻ đẹp của người phụ nữ hiện đại Cụ thể :
- Là một người vợ giàu tình thương : Ân cần chăm sóc người chồng ốm yếu giữa vụ sưu thuế
- Là người phụ nữ cứng cỏi, dũng cảm để bảo vệ chồng
* Lão Hạc :Tiêu biểu cho phẩm chất người nông dân thể hiện ở :
- Là một lão nông chất phát, hiền lành, nhân hậu ( dẫn chứng)
- Là một lão nông nghèo khổ mà trong sạch, giàu lòng tự trọng(dẫn chứng)
b Họ là những hình tượng tiêu biểu cho số phận đau khổ, bi thảm của người nông dân Việt Nam trước cách mạng :
* Chị Dậu