Năm 2013, tác giả Trần Đức Hoàn cũng nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm qua luận án Văn hóa Kinh Bắc – vùng thẩm mỹ trong thơ Hoàng Cầm cũng đi sâu khai thác những ảnh hưởng của văn hóa Kinh Bắ
Trang 2BÙI THỊ TRANG
THƠ HOÀNG CẦM
TỪ GÓC NHÌN ĐỊA VĂN HÓA
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Vũ Tuấn Anh
HÀ NỘI - 2018
Trang 3Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văntốt nghiệp, tác giả luận văn xin được chân thành cảm ơn BGH trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2, khoa đào tạo sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2, cùng các thầy, cô giáo, cán bộ giảng viên đã giảng dạy, giúp đỡ và hướngdẫn tận tình cho tác giả
Đặc biệt, tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đếnPGS.TS Vũ Tuấn Anh - người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ
tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Dù đã hết sức cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, song chắc chắnluận văn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tác giả rất mong nhậnđược sự chia sẻ và những ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô giáo và cácbạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, tháng 07 năm 2018
Tác giả luận văn
Bùi Thị Trang
Trang 4Tôi – Bùi Thị Trang là học viên lớp cao học khóa 20, trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan, những gì mà tôi trình bày trong luận văn là do sự tìmhiểu và nghiên cứu của bản thân trong suốt quá trình học tập và công tác Mọikết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều đượctrích dẫn nguồn gốc cụ thể
Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồngbảo vệ luận văn thạc sĩ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiệnthông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ởtrên
Hà Nội, tháng 07 năm 2018
Tác giả luận văn
Bùi Thị Trang
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Những đóng góp của luận văn 5
7 Cấu trúc của luân văn 5
CHƯƠNG 1 VĂN HỌC TỪ GÓC NHÌN ĐỊA VĂN HÓA VÀ THƠ HOÀNG CẦM 6
1.1 Văn hóa và văn học Địa văn hóa và văn học 6
1.1.1 Văn hóa và văn học 6
1.1.2 Địa văn hóa với văn học 11
1.2 Tiếp cận thơ trữ tình từ góc nhìn địa văn hóa 13
1.2.1 Thơ trữ tình kết tinh giá trị địa văn hóa 13
1.2.2 Nghiên cứu giá trị địa văn hóa của thơ trữ tình 15
1.3 Địa văn hóa Kinh Bắc – cội nguồn thẩm mỹ trong thơ Hoàng Cầm 18
1.3.1 Kinh Bắc – mảnh đất địa linh nhân kiệt 18
1.3.2 Văn hóa địa Kinh Bắc – miền nghệ thuật hấp dẫn trong thơ Hoàng Cầm 24
CHƯƠNG 2 THƠ HOÀNG CẦM - SỰ KẾT TINH CÁC GIÁ TRỊ ĐỊA VĂN HÓA 31
2.1 Thiên nhiên địa Kinh Bắc – Biểu tượng in đậm trong thơ Hoàng Cầm 31
2.1.1 Những dòng sông Kinh Bắc 31
Trang 62.2 Sinh hoạt văn hóa – nét đẹp của người Kinh Bắc 50
2.2.1 Hội hè Kinh Bắc 50
2.2.2 Hát quan họ - biểu tượng địa văn hóa độc đáo 55
2.3 Con người Kinh Bắc dưới góc nhìn địa văn hóa 59
2.3.1 Con người bất tử trong lịch sử và truyền thuyết 59
2.3.2 Người phụ nữ Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầm 63
CHƯƠNG 3 CÁC PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN TRONG THƠ HOÀNG CẦM 71
3.1 Thể thơ 71
3.1.1 Thể thơ truyền thống 71
3.1.2 Thơ tự do 74
3.2 Ngôn ngữ 82
3.2.1 Ngôn ngữ giàu nhạc điệu 83
3.2.2 Ngôn ngữ thơ mang đậm màu sắc truyền thống 88
3.2.3 Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, có tính biểu tượng cao 91
3.3 Giọng điệu………
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn học là một trong những bộ phận quan trọng của cấu trúc văn hóa Văn học là sự biểu hiện văn hoá, trong tác phẩm văn học có hình ảnh của vănhoá thông qua cái nhìn và sự phản ánh của nhà văn Có thể nói văn học là vănhóa lên tiếng bằng ngôn từ nghệ thuật Từ mối quan hệ mật thiết này nên việc nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa đã được hết sức chú ý và đóng góptích cực vào việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, Hoàng Cầm đã để lại ấn tượngsâu sắc trong lòng bạn đọc Thơ ông hấp dẫn như một bông hoa lạ giữa vănđàn bởi một phong cách thơ vừa gần gũi và độc đáo Hoàng Cầm chọn chomình một lối đi riêng trong thơ dù đời ông đã trải qua không ít những thăngtrầm, đắng cay Ông vắt kiệt sức mình cho thơ và vì lẽ đó những câu thơ đầy
ma lực quyến rũ người đọc ra đời Người ta “phải lòng” thơ ông và không dễdứt ra được những ám ảnh của thơ ông
Một trong những yếu tố góp phần tạo nên phong cách thơ Hoàng Cầmphải kể đến ảnh hưởng của văn hóa gia đình và quê hương ông Kinh Bắc có
lẽ là điều kỳ diệu nhất tạo hóa ban tặng cho ông, là “thiên mệnh” của đời thơông Từ góc nhìn địa văn hóa người viết hy vọng sẽ giúp bạn đọc khám phá
và tiếp cận đầy đủ hơn những đóng góp của nhà thơ Hoàng Cầm trong tiếntrình phát triển thơ Việt thế kỷ XX
2 Lịch sử vấn đề
Đất nước ta có những vùng văn hóa thật kì diệu mà chỉ nói đến tên, hồn
ta đã xốn xang bao cảm xúc, hiện lên bao hình ảnh May mắn thay chúng ta
có những nhà văn, nhà thơ được sinh ra, lớn lên hoặc gắn bó lâu dài vớinhững mảnh đất ấy Tâm hồn họ được nuôi dưỡng, vun đắp bằng văn hóa,phong tục, bằng sự duyên dáng riêng, những vần thơ của họ như được mã hóa
Trang 8bằng cái hồn điệu của quê hương Một trong những vùng đất như thế là KinhBắc, và một trong những tác giả như thế là Hoàng Cầm Phải chăng HoàngCầm sinh ra để viết về Kinh Bắc và chỉ ở thơ Hoàng Cầm thì Kinh Bắc mớicuốn hút đầy ma lực như thế?
Văn hóa địa Kinh Bắc đã giúp Hoàng Cầm chiếm được trái tim của biếtbao bạn đọc Chính vì thế nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm đã có rất nhiều tácgiả đã lựa chọn các góc độ khác nhau để tiếp cận, khám phá thơ ông
Nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, tác giả Phạm Thị Hoài có bài viết MưaThuận Thành đăng trên tạp chí Thơ 1997 đã nhận xét: “Cái hệ lời ới hời vi vútsấp ngửa khép nép nghiêng ngửa mê và tê tê vời vợi ấy lại đi đôi với một âmvận rất riêng, dường như đã được gọt rũa tính toán cho không còn một chútngẫu nhiên nào lọt lưới, đồng thời cũng dường như chỉ cảnh vẻ thế thôi,chẳng mấy bận tâm, nên lắm chỗ cứ ngang phứa lên, phá kỷ lục của cả nhữngtay chơi thượng thặng…” [1, 360] Tác giả đã phát hiện được những nét độc đáo, mới mẻ trong thơ Hoàng Cầm về phương diện ngôn ngữ Các tác giả
khác như Đặng Tiến, Chu Văn Sơn khi bàn về Cây tam cúc của Hoàng Cầm
cũng có viết rằng đây chính là thứ ngôn ngữ của thơ mới, trẻ trung và có sứchấp dẫn lạ kỳ Đỗ Lai Thúy cũng nêu ý kiến: “Thơ Hoàng Cầm là thơ ẩn dụ
Hệ thống ẩn dụ của ông, một phần lấy nguyên từ cái kho trời chung của vănhóa dân gian, phần khác lấy có cải biến, còn lại là cá nhân ông sáng tạo…” [1, 131] Còn khá nhiều công trình nghiên cứu về mặt ngôn ngữ thơ Hoàng Cầm như Đỗ Đức Hiểu, Phan Huy Dũng, Hoàng Hưng… họ đều chỉ ra được thếgiới ảo, siêu thực, vô thức trong thế giới thơ Hoàng Cầm
Về góc độ phân tâm học, không thể bỏ qua công trình Đi tìm ẩn ngữtrong thơ Hoàng Cầm của tác giả Đỗ Lai Thúy Tác giả này đã cho người đọcthấy được những ẩn ức tính dục, những tâm tư sâu kín mà chưa ai có thểphân tích kỹ lưỡng, rạch ròi
Trang 9Về góc độ văn hóa, có rất nhiều công trình đã đi sâu vào khai thác cácyếu tố văn hóa Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầm Đầu tiên Nguyễn Thị Bắctrong luận văn của mình có khẳng định văn hóa vùng chính là yếu tố quantrọng, có tính quyết định để tạo nên hiện tượng thơ Hoàng Cầm
Tác giả Lại Nguyên Ân năm 2011 có xuất bản cuốn Hoàng Cầm – hồn
thơ độc đáo tập hợp nhiều bài viết về cuộc đời và sự nghiệp thơ ca HoàngCầm Tác phẩm khá đặc sắc bởi ở đó tập trung nhiều công trình nghiên cứu,bài viết có giá trị của những nhà nghiên cứu tên tuổi như Chu Văn Sơn,Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Trọng Tạo
Năm 2012, Lương Minh Chung trong luận án tiến sĩ cũng chọn đề tàiThơ Hoàng Cầm từ góc nhìn văn hóa đã đi sâu nghiên cứu vấn đề văn hóatrong thơ Hoàng Cầm Công trình này có khai thác các biểu tượng trong thơHoàng Cầm từ góc nhìn văn hóa nhưng vẫn chưa giải thích cụ thể được cộinguồn sâu xa ảnh hưởng đến văn hóa, phong tục, con người Kinh Bắc đối vớithơ Hoàng Cầm
Năm 2013, tác giả Trần Đức Hoàn cũng nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm
qua luận án Văn hóa Kinh Bắc – vùng thẩm mỹ trong thơ Hoàng Cầm cũng đi
sâu khai thác những ảnh hưởng của văn hóa Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầm.Tác giả này chỉ ra cội nguồn văn hóa để tạo ra vùng thẩm mỹ độc đáo, ảnhhưởng lớn đến phong cách, tư tưởng của cây bút xứ Kinh Bắc - Hoàng Cầm.Tuy vậy, công trình công phu này vẫn chưa khẳng định, đi sâu vào vấn đề địavăn hóa, chưa chú ý đến tính chất địa phương, vùng miền sâu đậm
Trong các bài báo, các nghiên cứu phê bình về nhũng đóng góp củaHoàng Cầm với văn chương nước nhà đều có nói đến ảnh hưởng của văn hóaKinh Bắc đối với thơ Hoàng Cầm, song hầu như các bài viết đều chưa nhấnmạnh đến khía cạnh địa văn hóa, ảnh hưởng, tác động của địa văn hóa KinhBắc là mạch nguồn nuôi dưỡng thơ ca Hoàng Cầm Chính địa văn hóa với
Trang 10những đặc trưng riêng biệt về văn hóa, phong tục mới chính là thứ tạo nênmàu sắc riêng, sức hấp dẫn riêng, cái lạ trong thơ Hoàng Cầm
Từ nguyên nhân trên, người viết muốn chọn khai thác vấn đề địa vănhóa để đi vào khai thác tầng sâu của văn hóa Kinh Bắc, chất địa phương,những ảnh hưởng không trộn lẫn mang màu sắc Kinh Bắc trong thơ HoàngCầm Từ việc nghiên cứu đó sẽ đi đến khẳng định: Địa văn hóa Kinh Bắc
chính là nét độc đáo, riêng biệt trong thơ Hoàng Cầm
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm nghiên cứu những yếu tố địa văn hóa vùng Kinh Bắcxuyên suốt chặng đường sáng tác của thơ Hoàng Cầm Dựa vào các phạm trùvăn hóa, người viết sẽ làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và văn học ở tầm kháiquát.Từ đó đi sâu vào thơ Hoàng Cầm như một hiện tượng cụ thể của văn hóa– văn hóa Kinh Bắc
Làm rõ các yếu tố địa văn hóa trong sáng tác của Hoàng Cầm từ đó sẽkhẳng định vị trí, đóng góp của thơ Hoàng Cầm trong nền văn học Việt Namhiện đại và với quê hương Kinh Bắc về phương diện văn hóa
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Luận văn bao quát toàn bộ sáng tác của Hoàng Cầm,chú ý những tácphẩm liên quan đến địa - văn hóa Kinh Bắc Đó là các tập thơ kết tinh giá trị,bản sắc văn hóa truyền thống vùng Kinh Bắc
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các văn bản thơ của Hoàng Cầm đãđược xuât bản Đọc và tham khảo những bài nghiên cứu về thơ Hoàng Cầmcủa các tác giả, các nhà nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng các phương pháp chủyếu sau:
- Phương pháp thống kê phân loại
Trang 11- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
- Phương pháp so sánh văn học
6 Những đóng góp của luận văn
Đây là luận văn nghiên cứu toàn diện, hệ thống thơ Hoàng Cầm từ gócnhìn địa văn hóa Người viết sẽ đi sâu tìm hiểu những yếu tố địa văn hóa, tínhchất vùng miền, những phong tục, nét văn hóa riêng, những nét đẹp của quê
hương Kinh Bắc, của mảnh đất giàu truyền thống văn hóa ấy hiện lên trongthơ Hoàng Cầm một cách đầy đủ và sâu sắc nhất Điều đó sẽ giúp ích cho việctìm hiểu và giảng dạy thơ Hoàng Cầm toàn diện hơn
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3chương như sau:
Chương 1: Văn học từ góc nhìn địa văn hóa và thơ Hoàng Cầm
Chương 2: Thơ Hoàng Cầm – sự kết tinh các giá trị địa văn hóa
Chương 3: Các phương thức thể hiện trong thơ Hoàng Cầm
Trang 12CHƯƠNG 1 VĂN HỌC TỪ GÓC NHÌN ĐỊA VĂN HÓA VÀ THƠ HOÀNG CẦM 1.1 Văn hóa và văn học Địa văn hóa và văn học
Văn hóa là một khái niệm rất rộng, có thể hiểu là tất cả những sản phẩmcon người sáng tạo ra trong quá trình phát triển Đó là những sản phẩm thuộclĩnh vực vật chất mà con người sáng tạo ra, nhưng nó cũng là những giá trịphi vật chất của đời sống tinh thần như tín ngưỡng, phong tục, tôn giáo… Vănhóa phản ánh sự sáng tạo của con người trong thế giới tự nhiên, bởi vậy ở đâu
có con người thì ở đó có văn hóa
Về phương diện vật chất, tất cả những sáng tạo hữu hình của con ngườigiúp họ nâng cao chất lượng cuộc sống đều là văn hóa Trong quá trình sáng tạo ra của cải vật chất, con người tác động, cải tạo và chinh phục thiên nhiên Thiên nhiên được nhìn nhận, đánh giá bằng ngôn ngữ, nghệ thuật , được cảibiến bằng lao động thì lúc ấy thiên nhiên trở thành văn hóa Hành động cảibiến thiên nhiên của con người cũng được gọi là hành động văn hóa Nhưngngược lại, nếu hành động của con người vào thiên nhiên gây hủy diệt thiênnhiên, đi ngược lại quy luật của thiên nhiên thì đó lại là hành động phi vănhóa Như vậy, bản thân văn hóa chính là sự phản ánh giá trị đời sống conngười, thấm đẫm giá trị người
Về phương diện tinh thần, đó là tổng thể các tư tưởng, gía trị, lí luậnđược sáng tạo ra trong hoạt động tinh thần của con người Nhưng những sảnphẩm sáng tạo ra đó phải mang tiêu chí cơ bản của chất người, giá trị người làchân, thiện, mĩ Nếu những sản phẩm không đạt tới hoặc đi ngược các giá trịnày thì trái với văn hóa, còn gọi là phi văn hóa hay phản văn hóa
Trang 13Như vậy, nói tới văn hóa là nói tới con người, là việc phát huy nhữngnăng lực thuộc bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người Do đó,văn hóa có mặt trong mọi hoạt động của con người, trên các hoạt động thựctiễn và sinh hoạt tinh thần của xã hội
Khi nói tới văn hóa thì mỗi phương diện, mỗi thành tố của văn hóa sẽ làđối tượng của một ngành nghiên cứu riêng Vì không có điều kiện đi sâu nênchúng ta chỉ tìm hiểu một số đặc trưng quan trọng của văn hóa
Đặc trưng đầu tiên của văn hóa là tính hệ thống Ở ngay trong định
nghĩa người đọc có thể thấy: Văn hóa là một hệ thống các giá trị chân lý,chuẩn mực, mục tiêu mà con người cùng thống nhất trong quá trình tương tác
và hoạt động sáng tạo Tính hệ thống còn giúp con người phân biệt hệ thốngvới tập hợp, giúp tìm ra mối liên hệ giữa các hện tượng, sự kiện thuộc mộtnền văn hóa Hiểu được tính hệ thống của văn hóa sẽ có cái nhìn biện chứng,
sự cân nhắc khi xây dựng, sáng tạo một loại hình văn hóa
Đặc trưng thứ hai là tính giá trị Đây được xem là một đặc trưng quantrọng của văn hóa Giá trị được xem là: “Thước đo mật độ nhân bản của conngười”, bởi văn hóa vốn dĩ là một giá trị ngay từ khi sinh ra: giá trị người, giátrị nhân văn, nhân sinh… Các giá trị đó sẽ được nhìn nhận, đánh giá tùy theotác dụng của nó trong việc nâng cao tính người, chất lượng cuộc sống Nềntảng vững chắc của xã hội sẽ được tạo nên từ tổng các giá trị văn hóa đó Nógiúp tạo nên sức mạnh của dân tộc, sức mạnh để vượt qua những khó khăn,thử thách từ các thế lực ngoại xâm và cả sự hung dữ của thiên nhiên
Tính giá trị của văn hóa còn biểu hiện ở sự chuẩn mực Chính tính giá trị của văn hóa đã thể hiện được chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hộiđược duy trì ở trạng thái cân bằng, liên tục tự hoàn thiện và thích ứng với sựthay đổi của môi trường, định hướng các chuẩn mực Khi một sự kiện, mộthiện tượng, hành động… được coi là chuẩn mực thì có nghĩa sự kiện, hiện
Trang 14tượng, hành động… ấy được coi là một thước đo, một hình mẫu, hơn thế đó làmột tấm gương Rõ ràng, văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triểncủa xã hội Đó là sự đánh giá đầy đủ nhất về giá trị của văn hóa
Đặc trưng thứ ba là tính lịch sử Văn hóa được hình thành qua một quá
trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ, đó là sự biến đổi, sự phát triển củacon người trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên - xã hội sáng tạo
và luôn hướng tới sự hoàn thiện để đạt đến tính giá trị Một hiện tượng vănhóa sẽ sinh ra trong một thời đại, một giai đoạn nhất định.Nó có thể phát huy,
kế thừa hoặc phủ định những thành quả của tời đại trước, nó mang dấu ấn củathời đại nó sinh ra Bởi vậy, cần nắm được tính lịch sử của văn hóa để khiphân tích, đánh giá các hiện tượng, sự kiện văn hóa một cách khách quan,chính xác
Thứ tư, tính nhân sinh Văn hóa là hiện tượng thuộc về xã hội loài
người, sinh ra cùng với sự sinh ra của con người, gắn liền với hoạt động thựctiễn của con người, là những giá trị do một cộng đồng người sáng tạo ra,thuộc về con người, ở trong con người và mang dấu ấn người Có thể thấy,con người vừa là chủ thể của văn hóa, đồng thời là khách thể của văn hóa, lạivừa là sản phẩm văn hóa Vì thế, đấu tranh về văn hóa, trong văn hóa cũngchính là quy luật tiến hóa của nhân sinh Hơn nữa, muốn hiểu con người phải
có sự hiểu biết nhất định về văn hóa Bới đó là chía khóa để lý giải hànhđộng, tâm lý, ứng xử của con người
Văn học được xem là sản phẩm của văn hóa, bản thân tác phẩm văn họckhi ra đời đã là sản phẩm tinh thần của một thời đại lịch sử cụ thể, nó phảnánh đời sống của giai đoạn mà nó ra đời Văn học như là tấm gương phản ánh đời sống xã hội và văn hóa dân tộc Chính vì vậy mà người ta đã đưa ra một
nhận định rằng:“Người cầm bút chỉ trở thành nhà văn lớn khi nào đạt đến
Trang 15tầm vóc của một nhà văn hóa – tư tưởng” Như vậy, văn học cũng là sự phản
ánh văn hóa trên nhưng khía cạnh, những góc độ nào đó, ta thấy hình ảnh củavăn hóa qua sự tiếp nhận và tái hiện của các nhà văn Người đọc có thể nhận
ra bức tranh văn hoá dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương với những trò chơidân gian, những câu đố tục giảng thanh đầy hóm hỉnh Hay vẻ đẹp của vănhoá truyền thống trong truyện ngắn và tuỳ bút Nguyễn Tuân Văn hóa, lịch sửcủa Hà Nội qua “Hà Nội 36 phố phường” của Thạch Lam… Ngoài đề tài vănhóa còn tác động đến văn học ở toàn bộ hoạt động sáng tạo của nhà văn vàhoạt động tiếp nhận của bạn đọc Chính không gian văn hoá đã chi phối cách
xử lý đề tài, cách thể hiện chủ đề, cách xây dựng nhân vật, sử dụng biện phápnghệ thuật… trong quá trình sáng tác, đồng thời cũng chi phối cách đánh giá,thưởng thức… trong quá trình tiếp nhận Vì lẽ đó nhiều nhà nghiên cứu đãcăn cứ vào dữ liệu văn hóa để lí giải văn hóa của một thời đại, một giai đoạnlịch sử nào đó Vì văn học là một sản phẩm đặc biệt của văn hóa nên khinghiên cứu tác phẩm văn học người đọc hay nhà nghiên cứu cần chú ý đặt tácphẩm văn học trong bối cảnh rộng lớn của văn hóa thời đại đó, xem văn bảnvăn học là sản phẩm của văn hóa thì cần giải mã nó trong ngữ cảnh văn hóa Văn học kết tinh các giá trị văn hóa bởi yếu tố quan trọng nhất trong tácphẩm chính là giá trị thẩm mĩ Giá trị thẩm mĩ riêng của mỗi dân tộc sẽ cómối liên hệ mật thiết với địa văn hóa bởi môi trường sống, thế giới xung quanh sẽ tác động, chi phối đến sự cảm nhận và biểu hiện của nhà văn Mộttác phẩm văn học không chỉ là quan niệm về con người đươc thể hiện qua nghệ thuật ngôn từ mà ở đó còn có cả chuẩn mực ứng xử của một cộng đồng,một dân tộc nào đó trong một thời đại lịch sử nhất định Tác phẩm văn học ấyphải mang trong mình văn hóa đặc trưng của dân tộc nó sinh ra Tính văn hóacủa tác phẩm ấy cho người đọc hiểu hơn giá trị của nó qua hệ thống hìnhtượng, hình ảnh… để từ đó có thể liên hệ, so sánh với tác phẩm khác, nền văn
Trang 16hóa khác Một tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật ngôn từ tái hiệnđời sống tinh thần của một dân tộc, là sự kết tinh cao nhất văn hóa của mộtđất nước Tác phẩm mang tính văn hóa cao sẽ trở thành tài sản, niềm tự hàocủa một dân tộc
Văn học không chỉ kết tinh các giá trị văn hóa mà văn học còn là một ứng
xử văn hóa Ứng xử (behaviour) là thái độ, hành động của con người trướchiện thực khách quan Ứng xử thể hiện quan niệm của con người trong các mốiquan hệ với môi trường và thế giới xung quanh Ứng xử với môi trường đượcbiểu hiện ở quan niệm của con người với môi trường, còn ứng xử với thế giớixung quanh chính là ứng xử giữa người với người, là các quan hệ xã hội Trongtác phẩm văn chương các nhân vật được đặt trong quan hệ giao tiếp, đối thoạivới nhau, trong phạm vi ứng xử văn hóa với nhau Tất cả những ứng xử đó đềumang đặc trưng văn hóa dân tộc, tạo ra màu sắc dân tộc để tác phẩm mang màu sức riêng ko giống với các tác phẩm cùng thể, cùng loại khác
Văn hóa là của con người, cho con người và vì con người Không có vănhóa nằm ngoài con người Vì vậy, tác phẩm văn chương phải lấy con ngườilàm đối tượng trung tâm để phản ánh và đó cũng là việc tập trung khắc họatính chất văn hóa của con người Văn hóa phản ánh sự phát triển của conngười, biểu hiện năng lực sáng tạo của con người trong quá trình tồn tại, pháttriển, vươn lên làm chủ cuộc sống và hoàn thiện nhân cách để tạo ra giá trịcon người qua mỗi thời đại
Tóm lại, tính văn hóa của tác phẩm văn học chính là việc thể hiện qua cái nhìn nghệ thuật mang tính dân tộc về con người và cuộc đời, qua quan niệmứng xử thẩm mỹ mang đặc trưng và phù hợp với chuẩn mực đạo đức tâm lí củadân tộc Tính văn hóa của tác phẩm văn học còn được thể hiện ở việc xây dựngnhân vật, cốt truyện, qua các hình thức ngôn từ nghệ thuật được dùng để diễn tảhình tượng Tác phẩm văn học chính là một chỉnh thể của nghệ thuật ngôn từ
Trang 17Bởi vậy, khi nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn học không nên chỉ chú ýcảm thụ cái hay, cái đẹp của của hình tượng nghệ thuật mà nên bàn về sự độcđáo của văn hóa dân tộc trong đó Từ đó, có thể khẳng định, việc nghiên cứutính văn hóa trong tác phẩm văn học là hết sức cần thiết Có như vậy tác phẩmvăn học mới hiện lên đầy đủ vẻ đẹp toàn diện của nó
1.1.2 Địa văn hóa với văn học
1.1.2.1 Địa văn hóa
Nếu văn hóa là sản phẩm tinh thần và vật chất của con người trên conđường tiến hóa thì khi nghiên cứu văn hóa, người ta nhận thấy những nét chungcủa văn hóa, của nền văn hóa có những nét riêng của từng vùng, từng miền Những nét riêng ấy do tác động của những điều kiện nhân sinh, xã hội, lịch sử,địa lý khác nhau ở từng vùng, từng miền mà có Bởi vậy, nói đến địa văn hóa lànói đến một thực thể văn hóa bao gồm những nét riêng, đặc trưng, những sắcthái khác biệt mà ở các vùng miền khác không có hoặc không tiêu biểu, điểnhình Ở địa phương ấy con người và thiên nhiên, văn hóa và địa lý tương tácqua lại với nhau tạo nên những tính cách, ứng xử văn hóa khác nhau
Như vậy, địa văn hóa được hiểu là văn hóa của một cộng đồng, một dân tộc, một địa phương, khu vực, vùng miền nhất định Đặc trưng của địa vănhóa chính là các bản sắc văn hóa của địa phương ấy Theo định nghĩ củaUnesco thì: “Bản sắc văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạocủa con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại.Qua hàng thế kỷ, các hoạt động sáng tạo đã cấu thành hệ thống gía trị, truyềnthống, thị hiếu, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó, dân tộc khẳng định đượcbản sắc riêng của mình”
1.1.2.2 Địa văn hóa và văn học
Mỗi nhà văn đều sống và viết ở một miền đất nhất định và hầu hết nhữngyếu tố của miền đất đó như lịch sử, địa lý, văn hóa, con người đều tác động
Trang 18đến nhà văn tạo nên những nét riêng đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật.Nội dung và nghệ thuật đó tất nhiên mang đặc điểm chung của đất nước, dântộc, thời đại Nhưng đó là tác động của lịch sử vào văn học đất nước và sẽkhông làm mất đi những nét riêng, đặc sắc của vùng đất, quê hương nơi tác giả đó sống và viết trong tác phẩm văn chương của mình Hay có thể nói đóchính là những ảnh hưởng của yếu tố địa văn hóa vào văn học
Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn địa văn hóa là điểm khởi đầu củanghiên cứu tác giả, giống như việc nghiên cứu dòng sông từ chính cội nguồncủa nó vậy Tuy nhiên, đây không phải là việc địa phương hóa văn hóa, bóhẹp cái nhìn của sáng tạo văn học Ngược lại, đó là cách đào sâu, mở rộng, đisâu, tìm hiểu kỹ một trường hợp cụ thể nào đó của thời đại trong một khu vựcđịa dư, một giai đoạn lịch sử và càng thấy nét đặc sắc của một tác giả vào giá trị của nền văn học nói chung
Trong sáng tác văn học, hiểu biết văn hóa càng rộng thì hình tượng vănhọc càng sâu Sự hiểu biết về văn hóa nói chung, văn hóa vùng nói riêngkhông bao giờ thừa Vốn sống của nhà văn khi đi vào văn học đã trở thànhvăn hóa và được nhìn dưới con mắt văn hóa nghĩa là đã được đánh giá vềnhân sinh Văn học đã và đang tận dụng tốt văn hóa để làm tốt chức năng củamình, đóng góp vào sự đa dạng, nâng cao văn hóa của dân tộc, nhân loại Hơnnữa, văn hóa thể hiện quan niệm cách ứng xử của con người trước cuộc sốngxung quanh còn văn học thì lưu giữ những thành quả đó một cách tốt nhất,hiệu quả nhất Thành quả văn hóa của một dân tộc, vùng miền phải đi qua quátrình tìm kiếm, lựa chọn, đấu tranh và sáng tạo để tạo ra những giá trị trong xã hội Trên con đường tìm kiếm ấy, văn học chính là nơi lưu giữ, định hìnhnhững giá trị quý báu của vùng đất, dân tộc đó Như vậy, địa văn hóa có vaitrò nhất định, nó tạo nên các giá trị thẩm mỹ để văn học lên tiếng bằng ngôn
từ nghệ thuật, đồng thời thể hiện những bản sắc riêng ấy của địa văn hóatrong hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn
Trang 191.2 Tiếp cận thơ trữ tình từ góc nhìn địa văn hóa
Thơ trữ tình là một thể loại thơ ca có đặc trưng là bày tỏ, nói lên tưtưởng, tình cảm của tác giả, thông qua tư tưởng, tình cảm phản ánh cuộc sống
Vì thế, thơ trữ tình không đi vào miêu tả quá trình, sự kiện, không kể tình tiếtcâu chuyện, không miêu tả nhân vật… mà mượn cảnh vật để bày tỏ tình cảm.Thơ trữ tình dùng để chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình, trong đó nhàthơ bộc lộ một cách trực tiếp những cảm xúc riêng tư, cá thể về đời sống, thểhiện tư tưởng về con người, cuộc đời và thời đại nói chung Thơ trữ tình biểuhiện tư tưởng, tình cảm, làm sống dậy cái thế giới chủ thể của hiện thực khách
quan, giúp ta đi sâu vào thế giới sâu kín của tâm tư, nỗi niềm Đó là một sảnphẩm tinh thần vì thế trong thơ trữ tình cũng biểu hiện, kết tinh văn hóa củacộng đồng, của dân tộc thông qua việc sử dụng đầy sáng tạo ngôn ngữ, giọngđiệu, thể thơ, hình ảnh… Quá trình sáng tạo ấy của nhà thơ chính là việc họđang đưa các giá trị thẩm mỹ của văn hóa truyền thống vào trong tác phẩmcủa mình, đồng thời họ cũng tạo ra nét riêng, dấu ấn của cá nhân trên phôngnền của văn hóa truyền thống
1.2.1 Thơ trữ tình kết tinh giá trị địa văn hóa
Trong thơ trữ tình, dấu ấn địa văn hóa là vô cùng đậm nét Các nhà thơ
sẽ bị chi phối ảnh hưởng sâu sắc từ những quan niệm thẩm mỹ chung củacộng đồng Từ đó các nhà thơ vừa thể hiện được những sáng tạo của cá nhânnhưng cũng thể hiện nhiều nét tương đồng với những sáng tác truyền thống.Đây chính là cơ sở để người đọc nhận thấy được những ảnh hưởng chung củalịch sử, thời đại, dấu ấn bản sắc riêng của cộng đồng, dân tộc
Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, văn học và địa văn hóa rất sâu sắc
và bền vững Như đã nói, văn học vừa kết tinh, vừa biểu hiện tâm thức củavăn hóa dân tộc, địa phương, bởi thế những tác phẩm văn học ưu tú sẽ ẩnchứa giá trị văn hóa bền vững Đó có thể là phong tục, tập quán, lễ nghi, hội
Trang 20hè nhưng cũng có khi nó được khai thác ở chiều sâu, là những giá trị ẩn sâu
trong tâm thức văn hóa cộng đồng Chúng ta coi Truyện Kiều của Nguyễn Du
như một thứ “căn cước” văn hóa đầu tiên của Việt Nam được giới thiệu đến
bè bạn phương Tây Bởi vì Nguyễn Du giúp cho thế giới phương Tây ấy hiểuđược cái nhìn sâu sắc về bộ mặt tinh thần của dân tộc ta Cho họ thấy rõ hơn
về con người và tâm hồn Việt Nam Nguyễn Du đã làm rạng danh cho nonsông đất nước, làm phong phú hơn cho văn hóa của dân tộc như thế Người ta
biết đến Việt Nam, biết đến Truyện Kiều như một tài sản văn hóa tinh thần
quý báu của dân tộc.Điều đó đã chúng minh rõ nhất, tác phẩm văn học nóichung, thơ trữ tình nói riêng mang đậm dấu ấn của văn hóa cộng đồng Vănhọc Việt Nam ta, với chiều dài hàng ngàn năm văn hiến đã có nhiều tác phẩmvăn học in đậm dấu ấn của văn hóa tạo nên diện mạo của một nền văn chươngđặc sắc, góp phần làm phong phú cho nền văn học dân tộc
Tuy vậy, mỗi cá nhân lại tạo ra bản sắc cá nhân trên nền văn hóa chung
Đó chính là việc nhà văn “thâm canh” ở một vùng đất nào đó Nghĩa là họ tạođược dấu ấn riêng mang bản sắc của một địa phương nào đó trong sáng táccủa mình: dấu ấn địa văn hóa Nơi đó có thể là quê hương hay mảnh đất màtác giả đã sống, gắn bó thân thuộc và trở thành đề tài, nguồn cảm hứng và nguyên mẫu nhân vật trong tác phẩm của họ Ta bắt gặp Nguyễn Đình Chiểuvới vùng đất Nam Bộ; Tú Xương với Thành Nam; Tản Đà, Ngô Quân Miệnvới xứ Đoài; Hoàng Cầm với Kinh Bắc; Nguyễn Bùi Vợi, Mai Hồng Miênvới xứ Nghệ… Nghiên cứu những sáng tác của họ dưới góc nhìn địa văn hóa,chắc chắn sẽ khám phá được nhiều điều thú vị và sâu sắc
Nghiên cứu tác phẩm văn học nói chung, thơ trữ tình nói riêng, muốnhiểu đúng, hiểu sâu sắc và tòa diện cần đặt nó trong mạch nguồn văn hóa địaphương, dân tộc và giai đoạn lịch sử mà nó sinh ra Hơn thế hiểu biết về vănhóa nói chung và văn hóa vùng nói riêng không bao giờ là thừa Văn hóa địa
Trang 21phương, vùng miền đã tạo nên nét đặc sắc riêng trong phong cách tác giả đểlại dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc Bởi vậy, dù phản ánh tình cảm tiêubiểu, khái quát nhưng kết hợp với cái hay, cái đẹp của địa văn hóa thì tácphẩm ấy càng có ý nghĩa và sống lâu bền hơn trong tâm trí độc giả Điều đócũng giúp ta khẳng định: Thơ trữ tình chính là sự kết tinh các giá trị địa vănhóa của dân tộc, vùng miền
1.2.2 Nghiên cứu giá trị địa văn hóa của thơ trữ tình
Thơ trữ tình thường gợi lên cho người đọc những hình ảnh sống động vềđời sống tâm hồn, tình cảm, tinh thần của nhà thơ trong một hoàn cảnh, tìnhhuống cụ thể, riêng biệt Nhưng tình cảm riêng ấy chỉ có ý nghĩa khi nó thốngnhất, nằm trong tình cảm chung, mang ý nghĩa khái quát Cái chung ấy chính
là cội nguồn địa văn hóa trong thế giới nghệ thuật của nhà thơ Các nhà thơphải tự vượt lên những cảm xúc vụn vặt, những tâm trạng lạc lõng để nângcảm xúc, suy nghĩ,tâm trạng ấy trở nên tiêu biểu để ở đó bạn đọc cảm nhậnđược những tình cảm cao thượng, sâu sắc của nhà thơ, vừa riêng tư lại cũng
có nét chung, sự tương đồng Bạn đọc nhớ đến thơ Tố Hữu bởi giọng điệungọt ngào tha thiết Giọng điệu ấy như là tài sản “trời phú” cho Tố Hữu do thừa hưởng tâm hồn của quê hương và con người xứ Huế mà ông yêu thathiết Chính Tố Hữu đã xác nhận: “Người ta nói thơ tôi có giọng hò, tiếng ca
xứ Huế Đúng vậy, tôi rất thích ca nhạc quê hương tôi” Rõ ràng thơ Tố Hữumang đậm dấu ấn của cội nguồn văn hóa địa phương xứ Huế Để rồi từ cộinguồn văn hóa truyền thống ấy Tố Hữu dã tạo cho mình cái giọng tâm tình,ngọt ngào, đằm thắm vừa riêng lại vừa chung, vừa hấp dẫn, lay động lại vừatha thiết, thân quen đến vậy Đọc thơ Nguyễn Bùi Vợi người đọc lại bắt gặptính cách và con người của tiểu vùng văn hóa Nghệ Tĩnh trong thơ ông Làngười xứ Nghệ gốc nên ông gắn bó với quê hương, bạn bè, làng xóm Ông hiểusâu sắc miền đất,tính cách con người nơi đây Tình yêu máu thịt của ông với xứ
Nghệ được biểu hiện ngay trong những vần thơ mang đậm hơi thở quê hương:
Trang 22“Vẫn tím trong tôi đồi sim cằn rú mít Nhớ cái chuôm sâu ở đồng Hới, đồng Chùa Nay quê mình đã xanh trùm bóng mát Bao ân tình mình xin gửi vào thơ…”
Rồi những câu thơ ông viết về nét riêng của quê mình:
“Gió Lào thổi rạc bờ tre Chỉ qua giọng nói đã nghe nhọc nhằn Chắt từ đá sỏi đất cằn
Nên yêu thơ mới sâu đằm đó em”
Nguyễn Bùi Vợi đã đem tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ của quê hương mình vàothơ, từ địa phương khá nhiều Đó là địa văn hóa, là chất địa phương hoà lẫnvới cách nhìn của con người cá nhân tạo ra sự đa dạng trong văn học NguyễnBùi Vợi tuy không phải là người viết nhiều về xứ Nghệ nhất nhưng thơ ôngđậm chất Nghệ nhất Tính cách xứ Nghệ biểu hiện ở giọng thơ chân thực màđằm thắm, cách nói trực tiếp mà lại cuốn hút Có lẽ đó là sức cuốn hút của địavăn hóa với thơ ca thời hiện đại?
Nghệ thuật ngôn từ dưới sự sáng tạo của người nghệ sĩ còn kết tinhnhững quan niệm nghệ thuật của dân tộc Góc nhìn địa văn hóa cho thấy cái nhìn nghệ thuật trong thơ trữ tình chính là sự khúc xạ giá trị văn hóa của cáctộc người Tìm hiểu đôi nét về thơ của các tác giả dân tộc thiểu số sẽ thấyđược điểm này Thơ của họ giàu tính biểu tượng và có sức ám ảnh, các tác giảluôn bám sát truyền thống thơ ca của dân tộc mình Họ âm thầm sáng tạo,khám phá và học hỏi để tìm ra cái mới, cái lạ mà hấp dẫn, lôi cuốn người đọc.Đọc những dòng thơ của tác giả Bùi Thị Tuyết Mai bạn đọc sẽ bắt gặp đờisống sinh hoạt phong phú của người Mường với tiếng hát ru da diết qua cáinhìn độc đáo của tác giả:
Trang 23“Ngủ đi Con ong ra nhiều mật Cho con gà mơ cục tác Con lợn to như đống gạch Ngủ đi
Cho mẹ ôm cha…”
(Hát ru)
Rồi lời thơ tự nhiên, dân dã mà lại hấp dẫn, lôi cuốn trong những câu thơcủa Lò Ngân Sủn:
“Người đẹp trông như tuyết
Chạm vào lại thấy nóng
Người đẹp trông như lửa
Sờ vào lại thấy mát
Người không khát – nhìn người đẹp cũng khát
Người không đói – nhìn người đẹp cũng đói
Người muốn chết – gặp người đẹp lại không muốn chết nữa”
(Con của núi nhất)
Rõ ràng trong thơ của các tác giả miền núi, dấu ấn địa văn hóa thật đậmnét Đó là sự độc đáo, riêng biệt, khác lạ không tìm thấy ở bất cứ một phongcách thơ nào Những cái riêng ấy là sự kết tinh giá trị địa văn hóa để làm giàuvốn văn hóa của dân tộc, làm phong phú cho nền văn học nước ta Đồng thời
họ cũng đang làm cho chính cộng đồng, vùng miền của họ phát triển trên cơ
sở tiếp thu, học hỏi, giao lưu với cái mới Chính những thành quả, bản sắcriêng của mỗi vùng đất cộng hưởng với sáng tạo cá nhân sẽ tạo ra được nhũngtác phẩm văn chương như thế Góc nhìn địa văn hóa khi nghiên cứu thơ trữtình cho phép người đọc tìm hiểu được khả năng làm giàu các giá trị văn hóacủa cộng đồng
Trang 24Cần tìm hiểu sự liên hệ giũa các biểu tượng văn hóa và hệ thống mô tip,hình ảnh trong thơ trữ tình bởi hệ thống biểu tượng hàm chứa trong bản thân
nó những giá trị tư tưởng sâu sắc của dân tộc, cộng đồng trong việc thể hiệnnhững ứng xử, quan hệ trong đời sống văn hóa xã hội Hệ thống hình tượng,hình ảnh trong thơ trữ tình cũng góp phần hình thành phong cách cá nhân của
nhà thơ Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa: “Phong cách nghệ thuật là
phạm trù thẩm mỹ chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hìnhtượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu vănhọc dân tộc” Như vậy, những hình ảnh, biểu tượng trong thơ có thể làm chongười đọc cảm thấy thỏa mãn những nhu cầu về trí tuệ, cảm xúc thẩm mỹ.Thế nên để đi tới cội nguồn của vấn đề trong tác phẩm văn học không thể bỏqua vai trò của hệ thống hình ảnh, biểu tượng trong tác phẩm
Tóm lại, tìm hiểu văn chương nói chung, thơ trữ tình nói riêng từ gócnhìn địa văn hóa sẽ giúp bạn đọc đánh giá được đúng giá trị của tác phẩm, vịtrí, tầm vóc của nhà thơ ấy trong quá trình phát triển của nền thơ ca dân tộc ởmột giai đoạn lịch sử nhất định Hơn thế, đó còn là cách đi tìm sự ảnh hưởngsâu xa của truyền thống văn học dân tộc, địa phương đối với tác phẩm vănchương Một tác phẩm chỉ được đánh giá một cách sâu sắc và toàn diện khiđặt nó trong dòng chảy văn hóa của dân tộc, vùng miền và thời đại nó sinh ra
1.3 Địa văn hóa Kinh Bắc – cội nguồn thẩm mỹ trong thơ Hoàng Cầm
1.3.1 Kinh Bắc – mảnh đất địa linh nhân kiệt
Nhắc tới Kinh Bắc, người ta nhớ ngay đến mảnh đất “địa linh nhân kiệt”được coi là nơi khai mở nền văn minh Đại Việt, là miền đất màu mỡ nuôidưỡng văn hóa của người Việt Đây là vùng đất đậm đặc những di tích gắnvới nhiều huyền thoại lịch sử, lại say đắm lòng người bởi nhiều nét văn hóatruyền thống rất đặc trưng
Trang 251.3.1.1 Vị trí địa lý
Nằm ở trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng, Kinh Bắc xưa thuộckhu vực hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và một phần của Hà Nội, xứ Kinh Bắcđược hình thành từ khi lập quốc với một lịch sử lâu đời nhất
Ở thời Hùng Vương, đất nước dưới sự thống trị của nhà Tần (214 – 209 trước Công nguyên) thì Kinh Bắc thuộc bộ Vũ Ninh Về sau, nhà Hán thốngtrị (110 – 210 trước Công nguyên) thì Kinh Bắc cũng thay đổi nhiều cả về têngọi và cương vực địa lý
Thời Lý – Trần theo sử sách ghi chép gọi là “Bắc Giang lộ” và “NhưNguyệt giang lộ” Ở thời Trần lại thấy chép là “Kinh Bắc”, lộ Bắc Giang đếngiờ cũng gọi là lộ Kinh Bắc Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428) Lý Thái Tổchia đất nước ra thành 5 đạo, trong đó Bắc đạo chính là vùng Kinh Bắc Năm
1466 khi vua Lê Thánh Tông tổ chức đất nước thành Thừa tuyên rồi chia cảnước ra thành 13 đạo thì thấy có thừa tuyên Bắc Giang hay Kinh Bắc với 4phủ và 19 huyện
Đến 1490, năm Hồng Đức thứ 21, đất nước lại được vua Thánh Tông tổchức lại,lúc này “Kinh Bắc đạo” trở thành “Kinh Bắc xứ” Cách tổ chức nàygiữ nguyên đến cuối triều Lê Thời vua Gia Long của triều Nguyễn (1802) lạichia đất nước thành 24 trấn, 4 doanh và 2 thành Kinh Bắc lúc này có tên là
“Kinh Bắc trấn” Về sau vua Minh Mệnh (1831) đổi lại là “Bắc Ninh phủ”với 4 phủ, 2 phân phủ và 20 huyện
Giai đoạn sau, từ những năm đầu của thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XIXcũng có nhiều thay đổi Năm Đồng Khánh thứ hai (1887) các huyện SiêuLoại, Gia Lâm, Lang Tài và một số tổng của Bắc Ninh phủ được tách ra vàsát nhập về với tỉnh Hưng Yên Sau đó năm Thành Thái thứ bảy (1895) thêm một số huyện của Kinh Bắc là Hiệp Hòa,Yên Dũng, Lục Ngạn, Yên Thế, ViệtYên và Hữu Lũng tách ra thành tỉnh Bắc Giang cùng phủ lạng Giang Năm
Trang 26Thành Thái thứ 14 (1902) tiếp tục thay đổi khi một số huyện như Đa Phúc vàKim Anh cắt về tỉnh Phúc Yên Phần còn lại là khu vực tỉnh Bắc Ninh
Trải qua nhiều thay đổi với nhiều tên gọi khác nhau nhưng Kinh Bắc vẫn
là vùng đất trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ, một trong tứ trấn quanh kinhthành Thăng Long về 4 phía Đây là nơi cư trú của những cư dân Việt cổ,cũng là vùng đất yên bình, màu mỡ, phì nhiêu, là nơi tinh hoa tụ họp ở đâynên có biết bao danh thần xuất thân từ nơi này
Với ba con sông chính chảy qua là sông Cầu, sông Thương, sông LụcNam hợp thành hệ thống sông Thái Bình, có thêm nhánh sông Đuống từ sôngHồng đổ về tạo nên vẻ duyên dáng, nên thơ và cũng mang theo sự trù phú,màu mỡ cho những cư dân nơi này sinh sống và làm ăn Chẳng thế màNguyễn Trãi trong “Dư địa chí” đã viết về vùng đất này như sau: “…Ở vùng
đất ấy, đất thì trắng, mềm, ruộng thì vào hàng thương thượng …” Nơi này
còn nổi tiếng với biết bao làng nghề truyền thống như: gốm Thổ Hà, gốm làngNgòi, tranh Đông Hồ, múa rối nước Bùi Xá… Có thể nói, từ xa xưa Kinh Bắc
là địa bàn trọng yếu để triển khai các chính sách bảo vệ đất nước, phát triểnvăn hóa của các triều đại phong kiến Việt Nam
Thời Pháp thuộc, vùng Kinh Bắc còn lại hai tỉnh là Bắc Ninh và BắcGiang Nếu Kinh Bắc xưa nổi tiếng là vùng đất văn hiến, là mảnh đất địa linhnhân kiệt thì Kinh Bắc nay vẫn là vùng đất mang trong mình truyền thống vănhóa tốt đẹp, đâu đâu cũng là những dấu tích huyền thoại minh chứng cho lịch
sử ngàn xưa, những lễ hội truyền thống, những câu hát quan họ làm say lòng
người… Về với Kinh Bắc, về với vùng địa văn hóa mang đậm dấu ấn của vănhóa và lịch sử, về với cội nguồn dân tộc và văn hóa Việt Nam
1.3.1.2 Về lịch sử, văn hóa xã hội
Trải qua nhiều thăng trầm và biến đổi của lịch sử, vùng Kinh Bắc xưanay chỉ còn thuộc địa phận của vùng Bắc Ninh – Bắc Giang Dù vậy vùng đất
Trang 27này còn lưu giữ lại nhiều những di tích lịch sử và những giá trị văn hóa cổtruyền vô giá Nơi này là thành cổ Luy Lâu xưa, một trung tâm kinh tế, chínhtrị, tôn giáo cổ xưa nhất Việt Nam
Từ mấy nghìn năm trước người Việt cổ đã lập làng ở ven sông Cầu, sôngDâu, sông Đuống, sông Ngũ Huyện Khê, sông Tiêu Vương, họ sống chủ yếubằng canh tác nông nghiệp cùng với việc làm nghề thủ công Ở Kinh Bắc,người ta đã tìm thấy hàng loạt các di vật của người xưa như; trống đồng, daogăm, rìu, giáo… Ở các di tích Lãng Ngâm, Đại Trạch, Qủa Cảm, Đại Lai.Những mảnh khuôn đúc trống đồng trong thành cổ Luy Lâu đã chứng tỏ người
xứ Bắc rất tinh xảo trong nghề đúc đồng, chế tác, làm gốm, làm trang sức… Ngoài việc nổi tiếng với những sản phẩm tinh xảo của các làng nghề, giátrị tinh thần tư tưởng của người Kinh Bắc cũng rất phong phú Đó là cáchuyền thoại về ông Đùng, bà Đùng, về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân –
Âu Cơ, Thánh Gióng, An Dương Vương, Mỵ Châu – Trọng Thủy… Cùng vớinhững huyền thoại, truyền thuyết là những di tích lịch sử tiêu biểu như lăng
mộ Kinh Dương Vương, đền thờ Lạc Long Quân, Âu Cơ, đên thờ Phù ĐổngThiên Vương ở Thuận Thành, Từ Sơn, Tiên Du…
Truyền thống yêu nước của vùng Kinh Bắc xưa còn được nhắc đến bởitên tuổi của những vị tướng tài ba được lưu danh sử sách như nữ tướng ẢTắc, Ả Dị, Thánh Thiên dưới thời đại Hai Bà Trưng, thời vua An DươngVương được biết đến với tướng Cao Lỗ, thái úy Lý Thường Kiệt dưới triềunhà Lý… Sử sách còn nhắc đến mảnh đất này với với thành tích là nơi cónhiều trạng nguyên nhất Việt Nam Trong các kì thi đình của các triều đạiphong kiến Việt Nam xưa, cả nước có 47 trạng nguyên và 2991 tiến sĩ thìriêng vùng Kinh Bắc có tới 17 trạng nguyên và 622 tiến sĩ Đến nỗi dân giancòn truyền nhau câu ca về nơi này như sau:
Trang 28“Một giỏ ông đồ Một bồ ông cống Một đống ông nghè Một bè tiến sĩ Một bị trạng nguyên Một thuyền bảng nhãn…”
Đó là niềm tự hào của biết bao thế hệ người Kinh Bắc về truyền thốngthi cử, hiếu học của quê hương mình
Kinh Bắc còn là cái nôi của văn hóa, văn nghệ dân gian, vùng đất nàyđầy ắp những giai thoại, truyền thuyết, thơ ca, hò vè… thể hiện quan niệmcủa con người về thiên nhiên, xã hội trên mọi góc độ như lao động, đấu tranh,chinh phục thiên nhiên và sản xuất… Trên mảnh đất này đã nảy nở những loạihình nghệ thuật như hát đúm, hat ghẹo, hát trống quân, hát chèo… nhưng đặcbiệt nhất chính là dân ca quan họ Lời ca quan họ gắn với cuộc sống, sinhhoạt, với phong tục tập quán của người Kinh Bắc Quan họ là cuộc sống, ước
mơ, khát vọng cũng là linh hồn của những con người nơi đây Quan họ đã kếttinh thành địa văn hóa của quê hương Kinh Bắc Người ta hát quan họ để cầucho mưa thuận, gió hòa, hát để mời khách, mời trầu làm say lòng, níu chânbao tâm hồn khách đến, hát khi hái dâu, chèo thuyền, hát để thể hiện lối sống,giao tiếp Hát trong những ngày hội làng, hội đình, nghè… người ta hát suốtngày này sang ngày khác, chính điều đó đã tạo nên vẻ đẹp riêng, đặc trưngcủa những lễ hội vùng địa Kinh Bắc Lời ca quan họ là thứ ngôn ngữ giàu tínhhình tượng, giàu giá trị thẩm mỹ, đó là thứ ngôn ngữ được chắt lọc từ ngônngữ dân gian đằm thắm, trữ tình, gần với ca dao, tục ngữ cộng với vần điệucông phu đã tạo nên sức hút riêng cho loại hình nghệ thuật này Có cái gì mộcmạc, gần gũi mà lại rất trau chuốt trong câu từ quan họ, làm lời ca cứ nồngnàn mà da diết, tự nhiên mà thấm thía vô cùng Phải chăng thiên nhiên, con
Trang 29người và những câu hát quan họ ấy như bầu sữa mẹ, như chất phù sa của dòngsông Đuống, sông Cầu đã bồi đắp nên tình cảm, nhiệt huyết của biết bao tráitim tài năng của xứ Kinh Bắc này Trong số đó, Hoàng Cầm cũng khôngngoại lệ, để rồi người đọc đã may mắn được thưởng thức một hồn thơ KinhBắc tinh tế, sâu sắc mà lại mềm mại, duyên dáng đến thế
Kinh Bắc còn được sử sách và dân gian truyền tụng, ca ngợi là xứ sở củađình chùa, lễ hội “Với gần hai ngàn di tích, trong đó có những ngôi đình nổitiếng như đình Đình Bảng, đình Diềm… Đó là những toà đại đình, mái ngóiđao cong uốn lượn bồng bềnh, bộ khung gỗ to khoẻ chạm trổ “rồng bay,phượng múa” Những ngôi chùa nổi tiếng như: Hệ thống chùa Tứ Pháp(huyện Thuận Thành) từng là trung tâm Phật giáo đầu tiên của nước ta Songhành với lịch sử, những ngôi chùa nổi tiếng của Bắc Ninh còn đó là những disản văn hoá vô giá như chùa Dạm, chùa Phật Tích, chùa Tiêu từng là nhữngđại danh lam thời Lý (thế kỷ XI-XII) Tiêu biểu về giá trị kiến trúc nghệ thuật
là Đình Bảng (Từ Sơn) và chùa Bút Tháp (Đình Tổ - Thuận Thành) là nhữngcông trình kiến trúc điêu khắc nghệ thuật đặc sắc của thời Lê - Nguyễn cònbảo lưu đến nay Đặc biệt, chùa Bút Tháp với cây tháp Báo Nghiêm nổi bậttrên những lớp mái ngói đao cong, cây cối tươi tốt, sóng nước dập dềnh bên
bờ Nam sông Đuống, tựa như cây bút khổng lồ vẽ lên nền trời xanh những nétvăn hiến đặc sắc của quê hương Đình chùa xứ Kinh Bắc còn nổi tiếng vớinhững lễ hội lớn như: hội Dâu, hội Lim, hội Diềm, hội Thập đình, hội TứYên… đã kết tinh ở đó hàng ngàn năm những nét tinh hoa văn hoá của xứKinh Bắc
Con người là nhân tố chủ thể của mỗi nền văn hóa Và về với Kinh Bắc,người ta bắt gặp được những nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa của con ngườinơi đây, từ đó có thể thấy được phẩm chất, tính cách của họ hiện lên rõ nhất
Về với văn hóa Kinh Bắc chính là trở về với cội nguồn văn hóa Mẹ - cái nôi văn hóa lớn của người Việt ta
Trang 30Dù vậy, văn hóa địa Kinh Bắc cũng mang trong mình những nét riêng,
đó là đặc trưng về tự nhiên, xã hội, con người được quy định bởi mỗi vùngmiền khác nhau, để rồi người ta gọi chất riêng của nơi này là “cá tính xứBắc”, là “sắc thái Kinh Bắc” (Trần Quốc Vượng) Xứ sở huyền thoại này đãtrở thành một vùng thẩm mỹ lớn của văn hóa dân tộc, nơi đây đã thai nghén,sản sinh, nuôi dưỡng cho đất nước bao nghệ sĩ lớn Tắm mình trong mảnh đấtvăn hóa thơ mộng, huê tình ấy Hoàng Cầm đã mang đến cho thơ ca Việt Nammột phong cách mới lạ, độc đáo mà quyến rũ Thơ Hoàng Cầm mang đậmdấu ấn của văn hóa địa Kinh Bắc, thấp thoáng hơi thở của mảnh đất và conngười Kinh Bắc Hồn thơ Hoàng Cầm là hồn thơ Kinh Bắc Tìm hiểu thơHoàng Cầm, yêu thích thơ Hoàng Cầm chắc chắn người đọc sẽ phải tìm hiểu
về quê hương Kinh Bắc, về văn hóa địa Kinh Bắc bởi đó chính là gốc rễ, là
cội nguồn cảm hứng trong thơ Hoàng Cầm
1.3.2 Văn hóa địa Kinh Bắc – miền nghệ thuật hấp dẫn trong thơ Hoàng Cầm
Hoàng Cầm tên khai sinh là Bùi Tằng Việt, quê cha ở thôn Lạc Thổ, xãSong Hồ, Huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh và quê mẹ ở làng Bựu Xim,huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Vùng đất Kinh Bắc hào hoa ấy thấm đẫmtrong thơ ông Nơi đây, từ xưa đã nổi tiếng với những đền chùa, miếu mạogắn với nhiều truyền thuyết huyền thoại, với những lễ hội dân gian nổi tiếngnhư: Hội Gióng, hội chùa Lim, chùa Dâu… Bắc Ninh cũng là quê hương củanhững làn điệu quan họ giao duyên tình tứ, thanh lịch làm say lòng người.Mảnh đất phù sa màu mỡ của dòng sông Đuống, sông Cầu xanh ngút ngànnhững bãi ngô, bãi dâu đã nhuộm thắm, thoa mịn làn da của các cô gái quan
họ làm xao xuyến trái tim của bao bậc quân vương… Dòng sữa ngọt ngào ấy
đã nuôi dưỡng thơ ông, thấm sâu vào máu thịt ông tạo nên một Hoàng Cầmcủa Kinh Bắc
Trang 31Vốn có năng khiếu về văn chương nên ngay từ lúc còn là cậu bé tám tuổiHoàng Cầm đã sang tác được một bài thơ lục bát để bày tỏ tình cảm với ngườicon gái hơn mình tám tuổi – chị Vinh Người con gái Kinh Bắc có giọng hátquan họ ngọt lịm, có mái tóc buông dài và đôi mắt đen thăm thẳm ấy đã cuốnhút cậu bé, để đến mãi sau này, trở thành một nhân vật trữ tình đặc biệt trongthơ Hoàng Cầm, và suốt đời em “đi đầu non cuối bể” cầm lá Diêu Bông tìm chị Dấu ấn tuổi thơ cộng với tài thơ thiên bẩm và tình yêu Kinh Bắc đã tạonên một Hoàng Cầm tài ba
Trước Cách mạng Tháng 8, Hoàng Cầm đóng góp đáng kể cho phongtrào kịch thơ Bắt đầu bằng “Hận Nam Quan” (1942) và đặc biệt là với “KiềuLoan” (1942) Hoàng Cầm thực sự tỏa sáng
- Thơ Hoàng Cầm thời kháng chiến chống Pháp
Có thể nói thời kháng chiến chống Pháp chính là thời kì vàng son nhấtcủa thơ Hoàng Cầm Kháng chiến bùng nổ, Hoàng Cầm tham gia kháng chiếnvới tư cách một nghệ sĩ sáng tác và biểu diễn Đây là khoảng thời gian thật sôinổi và đáng nhớ của ông Hoàng Cầm mang bầu máu nóng vào trong thơ,mang cả sự nhiệt huyết và say sưa, chân thành của một trái tim yêu nước, sâu
nặng với quê hương Những tác phẩm như “Đêm liên hoan”, “Tiếng hát sông
Lô”… và đặc biệt là “Bên kia sông Đuống” đã trở thành đỉnh cao của thơ cakháng chiến, và cũng là đỉnh cao của thơ ca Hoàng Cầm về Kinh Bắc
Thơ kháng chiến của Hoàng Cầm có một sức truyền cảm, lay động lớnđối với người đọc Âm hưởng hào sảng thể hện niềm tin lớn lao vào nhân dân,cách mạng Nhiều người đọc, chép và chuyền tay nhau những bài thơ của
Hoàng Cầm Lê Đạt nhận xét: “Trong hàng ngũ các nhà thơ kháng chiến,
ngoài Tố Hữu có lẽ ít người nổi tiếng như Hoàng Cầm”(“Tôi vẫn chưa hết
bênh Hoàng Cầm”,1997)
Trang 32- Thơ Hoàng Cầm thời kì “Nhân văn – giai phẩm”
Có một thời kỳ đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc đời và sự nghiệp thơ
Hoàng Cầm Đó là khoảng thời gian 1959: Vụ “Nhân văn – giai phẩm” đã khiến cho ông gặp nhiều khó khăn Hoàng Cầm bị khai trừ khỏi Hội nhà văn
và không được phép xuất bản trong ba năm Tuy vậy, Hoàng Cầm vẫn bền bỉsáng tác và rút ruột mình để cho ra đời những đỉnh cao nghệ thuật như “VềKinh Bắc”, “Lá Diêu Bông”…
Tưởng rằng Hoàng Cầm có thể gục ngã trước sóng gió của cuộc đời thìngược lại, trước những thử thách, giữa cơn ác mộng kinh hoàng ấy thơ Hoàng Cầm vẫn toát lên niềm tin yêu với đời Người nghệ sĩ ấy vẫn sáng tạo,khám phá, vẫn tự mình bước qua những cay đắng, đớn đau của cuộc đời Thơnhư là thứ linh dược chữa lành những buồn đau và cô đơn của kiếp người Về
Kinh Bắc chính là viên ngọc kết tinh những sáng tạo ấy
- Thơ Hoàng Cầm thời kỳ đổi mới
Sau những ngày tháng khó khăn, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới thơHoàng Cầm không còn bị cấm đoán nữa Con “chim oanh vàng” đất Kinh Bắclại cất cao tiếng hót say sưa
Tác phẩm của Hoàng Cầm lần lượt được xuất bản lại Thời gian đã tìmlại giá trị đích thực cho thơ Hoàng Cầm Bạn đọc vẫn yêu mến Hoàng Cầm,
có nhiều nhà phê bình, nhiều công trình nghiên cứu về thơ ông Như vậy, thếgiới nghệ thuật trong thơ Hoàng Cầm đã toát lên những giá trị văn hóa vĩnhcửu khiến người đọc trân trọng
Nhìn tổng thể, nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm nhiều tác giả đã nhắc đếnyếu tố văn hóa trong thơ ông Có lẽ, Hoàng Cầm đã dựng lên một thế giớiKinh Bắc lạ và riêng không lẫn với bất cứ một ai Địa văn hóa Kinh Bắc đã
tạo nên nét riêng ấy, sức hút ấy, giá trị ấy trong thơ Hoàng Cầm
Trang 331.3.2.2 Địa văn hóa Kinh Bắc - vùng nghệ thuật hấp dẫn trong thơ Hoàng Cầm
Hoàng Cầm là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ Việt Nam hiện đại Nhắcđến Hoàng Cầm người ta nghĩ ngay đến vùng quê Kinh Bắc, bởi địa văn hóaKinh Bắc chính là ngọn nguồn thế giới nghệ thuật trong thơ Hoàng Cầm.Haynói khác đi chính mảnh đất Kinh Bắc là nơi nuôi dưỡng tâm hồn thơ HoàngCầm, để rồi đọc thơ ông người ta cảm nhận những vần thơ ấy đã mã hóa được
cả hồn điệu của quê hương, xứ sở Kinh Bắc huyền diệu ấy
Cũng viết về Kinh Bắc, nhưng đọc thơ của Bàng Bá Lân và Anh Thơchắc chắn bạn đọc sẽ nhận ra sự khác biệt Bàng Bá Lân là “thi sĩ của thôn
quê” như cách nói của Nguyễn Nhược Pháp, ông “chỉ chú ý đến cảnh quê”(Hoài Thanh), còn Anh Thơ lại gợi được không khí, nhịp sống của nơi đồngquê, “vẽ được bức tranh quê” Còn với Hoàng Cầm, văn hóa quê hương KinhBắc hiện lên đậm đặc với những cảnh vật, những di tích lịch sử, đền đài, miếumạo, với bao truyền thuyết, huyền thoại Những hội Gióng, hội Lim, hội chùaDâu, những làn điệu dân ca quan họ quan họ mượt mà, tranh dân gian ĐôngHồ…, tất cả hiện lên như linh hồn ngàn xưa của dân tộc Rõ ràng, địa văn hóa
Kinh Bắc đã thấm vào máu thịt, hơi thở ông để rồi từ đó thơ ông gợi lên cảmảng hồn Kinh Bắc, làm giàu thêm nhũng giá trị văn hóa của đất nước, quêhương Chính Hoàng Cầm đã nói về sự chìm đắm tâm hồn, thể xác mình vào
hồn phách quê hương qua lời Vĩ thanh trong tập thơ Về Kinh Bắc: “Tất cả, tất cả… tôi bơi, chìm trong da thịt quê hương, hồn phách quê hương Kinh Bắc”
Hay khi viết những lời đầu tiên cho tập thơ Về Kinh Bắc Hoàng Cầm viết một
lời cầu khấn từ đáy tâm hồn mình: “Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc”
Cuộc hôn phối của linh hồn ông với quê hương đã sinh hạ ra những đứa
con tinh thần mang vẻ đẹp của địa Kinh Bắc Đó là Mưa Thuận Thành, Men
đá vàng… Nhưng có lẽ với Bên kia sông Đuống Hoàng Cầm mới chính thức
đánh dấu sự bừng thức của quê hương trong thơ mình Sông Đuống là quê
Trang 34hương, là hy vọng, niềm tin, niềm tự hào, sông Đuống hiền hòa nhưng ẩnchứa sức sống mãnh liệt, là hồn thiêng của Kinh Bắc muôn đời Và nỗi nhớ vềsông Đuống chính là nhớ về một thế giới Kinh Bắc với truyền thống văn hóa
ngàn năm, là nhớ về hội Lim, hội Dâu, hội Gióng, hát quan họ… Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm đã để lại ấn tượng sâu sắc về những dư vị da diết,
nồng nàn về một vùng quê trù phú, một vùng văn hóa đắc sắc, một miền đấtthơ mộng, hữu tình Đó là Kinh Bắc ngọt ngào, hài hòa thấm đẫm trong hồnthơ Hoàng Cầm Với tác phẩm này Hoàng Cầm dường như hiểu ra một điều:Quê hương Kinh Bắc chính là điều kì diệu nhất mà tạo hóa ban tặng ông, là
“thiên mệnh” đời thơ ông Về sau, bạn đọc được tận hưởng những thi phẩm
khác như Tiếng hát quan họ, Trương Chi, Men đá vàng , Mưa Thuận Thành,
cột sống của đời thơ Hoàng Cầm
Tuy vậy, thơ Hoàng cầm lại cuốn hút người đọc ở một khía cạnh khác,
đó là chữ “lạ” Người ta thích thơ ông, ngưỡng mộ ông nhưng không phải aicũng thể hiểu được thơ Hoàng Cầm Thơ ông siêu thực, ông dẫn người đọc
“bồng bênh” đi vào cõi mê, ngẩn ngơ chìm đắm trong ảo giác, trong thế giớicủa hư thực, vô định:
“Hư vô tràn hơi ấm Cõi thực lạnh trăm chiều
Mê lộ khép đìu hiu Khi nửa mình vắng bóng”
(Vào đường mê)
Người ta thấy hiện ra trong thơ ông những hình ảnh mơ hồ, lung linh, kỳ
bí, hấp dẫn đấy mà cũng khó nắm bắt vô cùng Phải chăng đó là quái chiêuriêng của Hoàng Cầm để rồi khi nghiên cứu, người ta phải thốt ra rằng: “ThơHoàng Cầm là một phạm trù siêu thơ…”, thứ thơ hướng nội, đi sâu vào cõitiềm thức, vô thức của con người và có lẽ là ở độ sâu thẳm nhất
Trang 35Hư và thực cứ đan cài vào nhau rồi nhập vào tâm hồn ông, khiến ông mêđắm và bật thành tiếng thơ Cái thực ấy là những con sông, triền núi, những gò đồi, bến, thuyền, chùa chiền… của miền Kinh Bắc cổ kính Những cô gái KinhBắc cũng là những con người thực, đó là cô Tấm Ỷ Lan, bà chúa chè Đặng ThịHuệ, Chiêu Thánh, là Mẹ, là chị Vinh… Có lẽ, Mẹ là hiện thân trọn vẹn nhất,sinh động nhất của quê hương xứ sở Hình ảnh Mẹ in đậm trong tâm thức tácgiả, đó là cô gái Kinh Bắc xưa có nhan sắc, có đôi mắt lúng liếng, tình tứ với
dáng đi thanh tao, đài các Khi bà mặc chiếc váy kiểu Đình Bảng, “mép váy buông đến tận mu bàn chân khiến ai trông thấy trước mặt đều tưởng như người
con gái này đang đi trên sóng dập dờn”(Vĩ thanh, trang 150)
Thiên nhiên Kinh Bắc cũng để lại ấn tượng đậm nét trong lòng bạn đọc,người ta sẽ không thể quên một dòng “sông Đuống nghiêng nghiêng”, dòngsông Thương thơ mộng hữu tình, sông Cầu nước chảy lơ thơ Còn vang vọngmãi khúc ca hào hùng “Nam quốc sơn hà” năm xưa, rồi những dòng sông,nương dâu năm nào còn in đậm những truyền thuyết, huyền thoại xa xưa.Hoàng Cầm đã có cái nhìn sâu rộng và toàn diện về thiên nhiên, lịch sử, vềcon người, văn hóa và phong tục tập quán nơi đây Tất cả được phản chiếuqua tâm hồn của người nghệ sĩ đa tình, đa cảm để nó trở thành một bức tranhsống động về vùng địa Kinh Bắc mà ông yêu thương, gắn bó
Như vậy, trong thơ Hoàng Cầm người đọc cảm nhận một cách sâu sắccái hồn cốt của địa Kinh Bắc được kết tinh, thăng hoa Ở đó, Hoàng Cầm đãthổi được cái linh hồn, cái hơi thở của thiên nhiên, văn hóa, phong tục và conngười xứ sở này vào trong thơ mình Mỗi bài thơ của ông đều như một “mã”nghệ thuật riêng Đi giải mã chúng chắc chắn bạn đọc phải đi lý giải nhữngtín hiệu thẩm mỹ độc đáo trong thơ, mà nguồn gốc của chúng, điểm khởinguồn của chúng chính là địa văn hóa Kinh Bắc Thơ Hoàng Cầm chính là một ví dụ điển hình về địa văn hóa khi văn hóa đã trở thành tâm hồn người và
Trang 36lại được tài năng thơ chắp cánh thành những thi phẩm tuyệt bút Để rồi khiđọc thơ ông chúng ta thấy ấm lòng, thấy gần gũi và yêu thương biết bao nhiêukhi được sống lại không khí xưa, được tiếp xúc với bản nguyên của người
Việt trong cái nôi văn hóa của đồng bằng Bắc Bộ
Trang 37CHƯƠNG 2 THƠ HOÀNG CẦM - SỰ KẾT TINH CÁC GIÁ TRỊ ĐỊA VĂN HÓA
2.1 Thiên nhiên địa Kinh Bắc – Biểu tượng in đậm trong thơ Hoàng Cầm
Nghiên cứu về những giá trị địa văn hóa Kinh Bắc trong thơ HoàngCầm, nhiều nhà nghiên cứu chỉ rõ những biểu tượng đặc sắc nổi lên trong thơông là thiên nhiên Kinh Bắc Đó là những biểu tượng như dòng sông, đồi núi, cây cỏ,… được nhắc đến với tần suất cao Có lẽ đó chính là những sản phẩmtinh thần minh chứng cho việc gắn kết tương giao “sơn thủy hữu tình”của vănhóa phương Đông và cảm quan người Việt Hoàng Cầm viết về dòng sôngquê mình như là cách ông thể hiện cảm xúc thẩm mỹ của riêng mình, là cách ông trở về với quê hương, với tình yêu tồn tại cả trong vô thức Những dòngsông bao quanh uốn lượn bên những làng quan họ ấy như là một nét riêng tạonên vẻ đẹp nên thơ, trữ tình của vùng quê này Đó cũng là nơi chốn bình yên
để con người trở về sau những lo toan, bộn bề Dòng sông quê bình yên, hiềnhòa xoa dịu bao nỗi niềm của những đứa con Nhận xét về thơ Hoàng Cầm,
nhà thơ Nguyễn Thành Kim đã nói: “Chính ba con sông, sông Cầu, sông
Thương và sông Đuống tạo nên một vùng trù phú, màu mỡ phù sa, tấp nậptrên bến dưới thuyền hun đúc tính cách kiên gan của người Việt chống giặcngoại xâm, một dân tộc hết mực tài hoa phong nhã phóng dọi vào thơ Hoàng
Trang 38“Trong các ngõ người đi ra từng đụm Những đàn ông vào điếm họp quân bài Các cô gái ra bờ sông hát đúm
Mấy bà già cõng cháu đến nhà chơi”
(Đêm xuân)
Những con sông cũng mang trong mình khí thế thời đại của cuộc chiếntranh giữ nước:
“Nắng hè đỏ hoa gạo Nước sông Thương trôi nhanh Trên bờ đê bước rảo
Gió nham giỡn lá cành…
… Tu hú ơi tu hú Kêu hoài chi vườn xanh
Ta còn đi đi nữa Như dòng sông trôi nhanh”
(Tiếng chim tu hú)
Trong thơ Bàng Bá Lân, sông Thương cũng hấp dẫn lạ lùng:
“Non nước sông Thương kỳ thú lạ Một trời hiu hắt gió đưa chân”
Có thể thấy sông Thương qua con mắt của mỗi thi nhân đều có cáchcảm, cách nhìn khác nhau Với Hoàng Cầm, một con người mang trong mìnhđầy những nỗi niềm, sự buồn thương nên thơ ông, dòng sông có lẽ cũng mangtâm trạng u uất ẩn chứa sau vẻ thơ mộng, hữu tình Mối tình Chị - Em lạicàng nghẹn ngào trong từng câu chữ:
“Ngày Chị bảo Em quên Tắm sông Thương không mát Lên ngọn Kỳ Cùng vục nước rửa chân
Trang 39không mát
Về đuôi mắt xưa treo suối Cam Lồ không mát”
(Nước sông Thương)
Hay có lẽ trước sông Thương con người thường mang nặng tâm trạngnhư chính khởi nguồn tên của dòng sông Bởi từ xa xưa người ta kể rằng dòngsông ấy là nơi ly biệt, đưa tiễn những người lính khi phải rời quê hương đi gìngiữ biên cương Họ được gia đình, vợ con, những người thân yêu đưa tiễn đếnnơi này thì chia ly Tình cảm, niềm thương nỗi nhớ được trao gửi ở đây, vì thế
mà dòng sông ấy có tên là sông Thương Kỳ lạ hơn là dòng sông Thươngkhông giống những con sông khác một điểm nữa, ấy là khi nước chảy thànhhai dòng bên đục, bên trong Chẳng thế mà ca dao xưa có câu rằng:
“Sông Thương nước chảy đôi dòng Đèn khêu đôi ngọn em trông ngọn nào?”
Dòng sông Thương uốn lượn quanh núi đồi, đồng bãi, bồi đắp và nuôidưỡng, tưới tắm cho những cánh đồng trĩu hạt mang lại mùa vàng no đủ chovùng Kinh Bắc này Bên dòng sông Thương còn có những bãi dâu xanh ngútngàn càng tô đậm thêm vẻ thơ mộng, hữu tình cho làng quê Kinh Bắc SôngThương xuất hiện trong thơ Hoàng Cầm dường như không nhiều như sôngĐuống, sông Cầu song không vì thế mà nó nhạt nhòa Ngược lại dòng sông ấyvẫn giúp Hoàng Cầm thể hiện được tấm lòng yêu thiên nhiên, đất nước, yêuvùng đất mà mình sinh ra Dòng sông Thương vẫn độc đáo vô cùng qua cáchnhìn của Hoàng Cầm:
“Em vắt quả cam đầu ngọn sông Thương Mắt tròn cối xay
Chẳng bao giờ ngủ trước sao Mai”
(Nước sông Thương)
Trang 40Cách diễn tả tinh tế ấy có lẽ chỉ có ở thơ Hoàng Cầm Câu thơ vừa khiếnngười đọc trầm trồ về sự lạ, sự độc trong thơ, lại vừa dẫn người đọc đến vớidòng sông Thương kỳ thú của Kinh Bắc quê hương ông – nơi khơi nguồn cảmhứng nghệ thuật cho biết bao thi nhân khi đến với xứ Kinh Bắc thơ mộng, huêtình ấy
Ngoài sông Thương, thơ Hoàng Cầm còn dẫn người đọc đến với dòngsông Cầu nổi tiếng Dòng sông gắn với miền đất quan họ xứ Bắc, với baochiến tích lịch sử của một dân tộc anh hùng trong công cuộc chống kẻ thùxâm lăng của nhân dân ta Ở triều vua Lý Nhân Tông năm nào nổi tiếng vớitên tuổi của thái úy Lý Thường Kiệt cùng bài thơ thần “Nam quốc sơn hà”vẫnđời đời in trong tâm trí mỗi người dân đất Việt Ngày nay, đền thờ Lý ThườngKiệt được nhân dân xây dựng to đẹp ngay gần bến Như Nguyệt năm xưa để tỏlòng biết ơn công lao của vị anh hùng này Trải qua bao thăng trầm dòng sôngCầu vẫn bình yên êm đềm uốn lượn trải dài qua 49 làng quan họ cổ của vùngKinh Bắc Người ta còn gọi dòng sông này là sông Thị Cầu hay sông NhưNguyệt nhưng quen thuộc, dân dã và gắn bó nhất vẫn là cách gọi sông Cầu Trong thơ ca, sông Cầu lơ thơ nước chảy đã để lại cho người đọc, ngườinghe biết bao cảm tình Những câu thơ trong bài thơ Đêm sông Cầu mà ĐỗTrung Lai viết tặng vợ mình sau này đã gợi hứng cho nhạc sĩ Phan Lạc Hoa
viết thành ca khúc bất tử Tình yêu trên dòng sông quan họ
“Sông Cầu khi đầy khi vơi Chảy ngang qua câu quan họ Ướt đầm vạt áo bao người Vạt thương ướt cùng vạt nhớ”
Nữ sĩ Anh Thơ của quê hương Kinh Bắc cũng nặng lòng với dòng sôngCầu thơ mộng: