1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cơ cấu kinh tế xã hội việt nam thời thuộc địa 1858 1945

205 526 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 4,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cơ cấu theo ngành kinh tế - kỹ th u ậ t, cơ cấu theo vùng, cơ cấu theo đơn vị h à n h chính - lãnh thổ, cơ cấu theo th àn h phần kinh tế; trong đó cơ cấu theo ngành kinh tế-kỹ th u ậ t m

Trang 2

N G U Y Ễ N V Ả N K H ÁN H

THỜI THUỘC ĐỊA (1858 -1945)

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI -1999

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Cơ c â u k i n h t ế - x ã h ô i là một khái niệm kép bao gồm

bai bộ p h ận : cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội, có quan hệ biệii chứng vối nhau

Cơ cấu kin h tế gồm tổng th ể các Iigành, lĩnh vực, bộ phận

kinh tế có quan hệ hữ u cơ tưdng đôl ổn định hỢp thành Có các loại cđ cấu kinh tế khác nhau: cơ cấu nền kinh tê quốc dân cơ cấu theo ngành kinh tế - kỹ th u ậ t, cơ cấu theo vùng, cơ cấu theo đơn vị h à n h chính - lãnh thổ, cơ cấu theo th àn h phần kinh tế; trong đó cơ cấu theo ngành kinh tế-kỹ th u ậ t mà trước hêt là

cơ cấu công - nông Iigỉiiệp là quan trọng n h ất

Cơ cấu xã hội là tổng hoà những mốì quan hệ tương đôl ổn

địiih giữa các yếu tô' cấu th à n h hệ thốiig xã hội Troiig những giai đoạn p h á t triển n h ấ t định của xã hội, các quan hệ trong sản x u ất là cơ sở cho sự hình th àn h , vận động và p h át triểii

nh ữ n g th à n h phầu của cơ cấu xã hội Tuy biến đổi cùng vối phương thức sản xuất, cơ cấu xã hội vẫn có tính ổn định và độc

lập tương đối Trong cơ cấu chung của xã hội thì cơ cấu giai cấp

xã hội có vị trí quan trọng hàng đầu; nó gắn liền trực tiêp vối

q u a n hệ sản xuất, qviy địiih bản chất những mối quan hệ xã

hội, chính trị, đạo đức, pháp lý của mỗi th à n h viên trong xã

hội

và 612

Trang 5

2 Theo cách quan niệm trên, cơ cấu kinh tế - xã hội là nền tảng, và cơ sở tồn tại của inột đất nước Đối với Việt Nam, việc

nghiên cứu đề tài này tníớc hết Iihằm góp phần làm sáng tỏ đặc

điểm, bản chất của xã hội Việt Nam thời kỳ thuộc Pháp

ở Việt Nam lâu nay người ta vẫn dùng khái niệm thuộc địa

nửa phong kiến để chỉ giai đoạn bị Thực dân P háp cai trị

Nhưng bản chất của khái Iiiệin xã hội thuộc địa nửa phong kiến

là gì; và xã hội Việt Nain dưói thòi Pháp thuộc loại hình kinh

tế- xã hội nào trong lịch sử?, câu hỏi đó đến nay v ẫn chưa có lời

giải đáp cụ thể và rõ ràng Vối lý do đó, nghiên cứu cơ cấu kinh

tê - xã hội Việt Nam dưối thòi kỳ Pháp thuộc sẽ góp p h ần chỉ ra

tính chât, nội dung của kỈLái niệm xã hội thuộc đia nửa phong

kiến ở nước ta.

Việc triển khai nghiên cứu chủ đề này còn nhằm lý giải và

làm sáng tỏ cơ sở lịch sử của niột sô hiện tượiig và phong trào

chính trị, một số trào lưu tư tưởng đã xu ất hiện và tồn tạ i ở

Việt Nam trong thời kỳ này

Có một vấn đề đ ặt ra là vì sao phong trào giải phóiig dân

tộc Việt nam từ cuối thể kỷ XIX đến khi đảng Cộng sản Việt

Nam (CSVN) ra đời (1930) luôn luôn bị chia sẻ, phân tá n th àn h

nhiều bộ phận, nhiều khuynh hướng khác nhau, m à không thể

thống n h ấ t lại th àn h một dòng, một phong trào có quy mô toàn

quốc Ciiối tliế kỷ XIX tồn tạ i đồng thời cả phong trào Cần

Vương, phong trào nông dân tự phát, phong trào yêu nưóc

m ang m àu sắc tôn giáo Đầu th ế kỷ XIX, phong trào d ân tộc tư

sản đã xuất hiện nhưng lại chia th à n h hai khuynh hưốug có

đường lối và phương pháp hoạt động gầu như đôl lập nhau, Dó

là chưa kể bên cạnh phong trào tư sản, còn tồn tại các loại hìiih

Trang 6

Để làm sáng tỏ những hiệii tượiig lịch sử nói trên, ngoài

việc tìm hiểu ảiih hưởng của các yếu tô' tií tưởng, tâm lý, còn phải lý giải th ậ t th ấ u đáo và khoa học những yếu tô v ật chất,

uhững cd sỏ kinh tế, xã hội làm nảy sinh hoặc chi phôi các hiện tượiig lịch sử đó,

Thêm vào đó, cho đến nay việc xem xét và đánh giá sự hiện

diện và ảnh hưởng của Chủ Iighĩa Tư bản Pháp (CNTB) đôl vối xã

hội Việt Nam dưối thời thiiộc địa vẫn chưa đầy đủ và khách quan

Ngitòi ta mới chỉ tập trung nghiên cứii và chỉ ra mặt tiêu cực

(khủng bôn và tàn sát áp bức và bóc lột) của Chủ ugliĩa Thực dân

(CNTD) mà chưa qiian tâm tìm hiểu và đánh giá một cách khách

quan Iihữiig ảnh hiíởng và tác động có tính chất tích cực của quá

trìiih tit bản hóa của Iigiròi Pháp đốì vối đất nưốc ta Nói cách khác

là cần có sự đánh giá kháck quan và toàn diện cả mặt tiêu cực và

tích cực của công cuộc tư bản hóa đó của người Pháp và phiíơiig

Tây trên cơ sở các cứ liệu cụ thê về tình hình kinh tê, xã hội Việt

N am dưới thời thuộc đm (1858 -1945).

3 T ừ trưốc 1945 và n h ấ t là từ sau ngày hoà bình lập lại trê n m iền Bắc (1954) đến nay, đã xuất hiện một số công trìn h nghiên cứii về tìiih hìiih kinh tế, xã hội Việt Nam dưói thòi

P háp thuộc

Dưới thòi thuộc địa có một sô" học giả ngưòi Pháp đã tiến

h à n h nghiên cứu thực trạn g kinh tê và xã hội Việt Nam từ các

góc độ và chuyên môn khác nhau Ví dụ xihư Y Henry vối Kinh

tế nông nghiệp Đông Dương, (H, 1932), Reué Dumont Trồng

lúa ở đồng bằng Bắc kỳ (Paris, 1935), p Bernard Vấn đề kinh

t ế Đông Dương, (Paris, 1934), A D uinarest S ự hình thành các

giai cấp xã hội ở A n N am , (Paris, 1935) Đặc biệt là nhà địa lý

học p Gourou có hai tác phẩm rấ t quan trọng và nổi tiếng liên

quan đến kinh tê và xã hội Việt Nam thời kỳ này là Nông dân

Trang 7

đồng bằng Bắc Kỳ, (HN, 1937) và s ử d ụ n g ruộnq đ ấ t ở Đông Dương thuộc Pháp, (HN, 1940).

Sau cách mạng tháng Tám, n h ấ t là từ saii 1954 đã có niột sô^ công trình khảo cứ\i đề cập tới một hay một vài lĩnh vực của nền kinh tế và xã hội Việt Nain ỏ giai đoạn thuộc Pháp Đó là

công trình Nền kinh tế làng xã Việt Nam (Vũ Quốc Thúc, HN, 1950) N hững thủ đoạn bóc lột của đ ế quốc Pháp ở Vi.ệt N am (Nguyễn Kliắc Đạm, HN, 1957), Tỉm hiểu giai cấp tư sản Việt

N am dưới thời Pháp thuộc (Nguyễn Công Bìiih, HN, 1959), Thực trạng giới nông dân Việt N a m dưới thời Pháp thuộc

(Thạm Cao Dương, Sài Gòn, 1965), S ơ thảo p h á t triển của thủ

công nghiệp Việt N am (Phan Gia Bền, Văn Sử Địa, HN, 1957) Chủ nghĩa đ ế quốc Pháp và tinh h ỉn h công nghiệp Việt N am dưới thời Pháp thuộc, (Phạm Đình T â n S ự th ậ t, HN, 19Õ9)

Đặc biệt đã xuất hiện một sô^ chuyên khảo k há sâu về giai cấp

công nhân Việt Nam, như Giai cấp công nhăn Việt N a m (Trần Văn Giàu Svĩ th ật, HN, 1961), Giai cấp công nhân Việt N am

những năm trước khi thành lập Đ ảng (Ngô Văn Hoà, Dưđng

Kinh Quốc, KHXH, HN, 1978), Một s ố vấn đ ề về lịch sử giai cấp

công nhân Việt N am (Viện Sử học, HN, 1974), Giai cấp công nhân Việt N am thời kỳ 1936 - 1939 (Cao Văn Biền, KHXH, HN,

1979) v.v

Nói chung, trong sô^ các công trìn h đã được công bô" chưa có công trình nào chuyên nghiên cứu về cớ cấu kinh tế - xã hội, Iiay quá trìn h biến đổi của cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam dưổi thời thuộc địa, kể từ khi thực dân P háp xâm lược đến cách mạiig tháng Tám nám 1945

4 Xuất p h át từ tình liìiih nói trêu, đề tài muốii đặt ra và giải quyết các yêu cầu khoa học sau đây :

Trang 8

- Trùih bày các điềvi kiện và nguyên n h ân dẫn đến những biến đổi của nền kinli tế và xã hội Việt Nam troiig từng giai đoạn lịch sử cụ th ể vào cuôl th ế kỷ XIX, đợt khai thác thuộc địa

ần th ứ nhất, đợt k h ai thác thuộc địa lần hai và giai đoạn từ sau cuộc khủng hoảng kinh tê th ế giới (1929 - 1933) đến 1945

- Làm sáng tỏ thực trạ n g và sự biến đổi của cơ cấu kinh tế

và xã hội Việt N am dưới thòi thuộc địa Trên thực tế, đây là quá trìiih phá võ, th u hẹp của kết cấu và qiian liệ cổ truyền, và

đi liền vối nó là sự h ìn h th àn h , xác lập và mở rộng của các yếu tô" và quan hệ kinh tế, xã hội thuộc địa TBCN ở Việt Nam

- Từ thực tế biến đổi của nền kinh tế và xã hội Việt Nam dưới thòi thuộc địa, tiế n h à n h xem xét, đánh giá nhĩíng ảnh hưởng tích cực và h ạ n ch ế của công cuộc tư b ản hoá của CNTD

P háp trên đ ất nước ta trước đây

5 Để giải quyết các nhiệm vụ khoa học đ ặt ra, phương pháp tiếp cận triíóc h ế t đã sử dụng là phương pháp hệ thốiig cấu trúc Cần phải coi toàn bộ nền kinh tế cũng như xã hội Việt Nam là một hệ thổiig liên hoàn, bao gồm các yếu tô" hỢp th àn h

và có mốì liên hệ hữ u cơ với nhau Sự ra đời và tồn tại của :ác ngành kinh tế mổi làm điều kiện để tạo nên toàn bộ nền kinh tế thuộc địa Trên cơ sở các quan hệ kinh tế n h ấ t địiih đã làm

xuất hiện và p h á t triể n các lực lượng giai cấp xã hội tương ứng;

niỗi lực lượng xã hội h ay giai tần g xã hội là một th àn h tô', góp

phần tạo nên cơ cấu giai cấp xã hội thuộc địa

Tuy nhiên, các th à n h tô" kinh tế, xã hội, hay th ậm chí cả

nền kinh tế nói trê n cần phải đ ặ t trong xu hưóng vận động và

p h át triển Ngay chính sách khai thác và bóc lột của tví bản

Pháp ở Việt N am không phải bao giò cĩing giốiig nhau, mặc dù

inục đích CUỐI cùng đều là vì lợi n h u ận tối đa Ví dụ, khi mối

Trang 9

thôn tính đ ấ t nước ta vào ciiôi thê kỷ XIX, thực dân Pháp chỉ chú trọng và tập truiig khai thác vơ vét các nguồn nông sản, tà i nguyên để xuất khẩii kiếm lời; các hoạt động đầu tví, xây dựng các ngành kinh tế mới chỉ dừng ở mức th ể nghiệm, thăm dò Nhưng saiig đầii thê kỷ XX, đặc biệt là từ sau chiến tra n h thê giới thứ nhất, công việc đầu tư, mở maiig kiiih tế được tií b ản Pháp đẩy niạiih và tiến hành vối tôc độ và quỉ mô lốn.

Tiiy vậy trong đợt kliai thác lầii thứ Iiliất vào đầu tliế kỷ XK tư bmi

Pháp mới chỉ quan tâm ưu tiên đầu tư khai thác vào hai ngành

là khai niỏ và giao thông vận tải n hằm chuẩn bị các phương tiện cần th iêt cho công cuộc khai thác và bóc lột qui mô lốn

Đên đợt khai thác thuộc địa lần thứ hai, x u ấ t p h át từ mục tiêu lợi nhuận, tư b ản Pháp lại đặc biệt quan tâm tới nông nghiệp,

đưa nông nghiệp lên th àn h ngành ưu tiên hàiig đầu để đầu tư

và phát triển

ở từng giai đoạn, chịu tác động của các điều kiện lịch sử

khác nhau, tốc độ biến đổi của ngành kinh tế, của các lực lượng

giai cấp, cũng như toàn bộ cơ cấu kinh tế - xã hội cũng không

giốiig nhau Đồng thòi điều quan trọng là cần phải chỉ ra được

nguyên Iihâii nào đã tạo nên và qui định tín h chất biến đổi ấy

- Klii xem xét cơ cấu xã hội cần sử dụng có phương pháp lịch sử cụ thể Do cơ cấu xã hội là một khái niệm có nội hàm r ấ t

rộng nên ở đây chúng tôi chỉ h ạn chế trong việc tìm hiểu cơ cấu

giai cấp xã hội và sự biến đổi của nó trong thòi thuộc địa.

Theo quan niệm chính thốìig tồn tạ i từ trưốc nay, trong

mỗi chế độ xã hội bao giò cũng chỉ có h ai giai cấp cơ bản (như

chủ nô và nô lệ, phong kiến và nông dân, tư sản và vô sản) và

một tầng lốp tru n g gian đứng giĩía hai giai cấp đó Nhưng cách

phân tích này chỉ phù hỢp với một xã hội có sự phân hoá triệ t

Trang 10

dể (nh\í các nưỏc phương Tây), ranh giới giữa các giai cấỊ) xã hội

th ậ t rõ ràiig

CÒII ở Việt Nam từ trong lỊch sử cho đến nay chưa bao giò

có sự phản hoá xă hội triẹt các giai cấp xã hội cũng ít khi có 5ự tach biệt hoàn toàn, hoặc đưỢc phân biệt rạch ròi vối nhan

’ )ưói thòi phoiig kiên, ran h giối giữa các tập đoàn thông trị (địa chủ quý tộc) và các tầ n g lóp bình dân (nông dân, thợ thủ công) cũng không mang tính chất tiiyệt đôi giông nhií các nirôc phương Tâv Nói chung ổ các nưốc Châu Âu một Iigưòi xuất

th á n bình dân dù có đỗ đạt, tài cao đến mấy, cũng không thể trỏ th à n h quí tộc Trong khi đó ở Việt Nam (và ỏ cả Trung (ịiiôc) một người tuy x u ấ t th ân nghèo khổ nhưng Iiếu học giỏi,

đỗ cao thì vẫn có th ể đưỢc phong chức vụ lốn, nhận nhiêu đất dai bổng lộc và gia nh ập vào hàng ngũ giai cấp thông trị

Đặc điểm trên đây càng thể hiện rõ nét trong xã hội Việt Nain dưới thòi thuộc địa ơ niíớc ta, trong giai đoạn lịch sử nàv (tà xiuĩt hiện nhiều lực lượng, giai tần^’ xã hội mới như công Iihân tư sản tiểu tiỉ sản Nhưng Iigiíòi công nhân Việt Nam không giông mô hình ugiíòi công nhân gắii liền với nền đại cõng ughiệp, có ý thức tổ chức, kỷ luật cao ở các nưốc tư bản phùuiig

'rây Còn trí thức thì phần lón đềii xuất th â n từ nông dân và có môi liêu hệ r ấ t chặt cliẽ và thường xuyên vối nơi chôn nhau cắt

rốn ở nông thôn.

Nói như vậy để th ấ y không thể áp dụng một cách niáy móc, rập khiiôu các khái niệm, phạni trù hay công thức của các nưốc phiíơug Tây để xem xét xã hội Việt Nam tiền thuộc địa, cũng như ở thòi kỳ thuộc địa

Trang 11

Trên cd sở vận dụiig quan điểm của V.I Lêniii vể giai cấp vối ba tiêu chí tổ hỢp và thông n h ấ t lại trong “một tập đoàn người ” có chung :

- Q uan hệ đối vói tư liệu sản x u ất

- VỊ trí trong nền sản xiiât xã hội

- sả ii pliẩin và mức thu nhập;

đồng thòi kết hỢp với phương pháp phân tích của xã hội học hiện đại, chúng tôi chia xã hội th à n h nhiều giai tầng vối các

nhóm xã hội khác nhan Mỗi nhóm xã hội được phân biệt vối

Iihau bằng môi qiian hệ vối tư liệu sản xuất, vị trí trong quá trìn h sản xuất, tính chất nghề nghiệp và mức thu nhập Theo cách phân loại này thì xă hội Việt Nam thời thuộc địa gồm các giai tầng (nhóm) xã hội như công nhân, nông dâu, tư sản, địa chủ thợ thii công, tiểu thiíơng, trí thức, công chức, sinh viên và học sinh

Trang 12

Chương I

KINH TẾ - XÃ HỘI C ổ TRUYỂN VÀO NỬA SAU THẾ KỶ x r x

I- NHỮNG Đ IỂU KIỆN LỊCH sử MỚI

Sau khi chiếm xong ba tỉn h miền Tây Nam Kỷ, từ 1867 trở

đi, thực dân P háp vừa ra sức xây dựng, củng cố^ bộ máy cai trị trê u đ ấ t Nam Kỳ, đồng thòi vừa ráo riết chuẩn bị và sau đó liên tiếp thực hiện h a i cuộc h àn h quân đánh chiếm Bắc Kỳ (lần 1 vào n ăm 1873 và lần 2 vào năm 1882) tiến tói thôn tính cả Iiước Việt Nam Cho đến hiệp ưốc H arm and (1883) và hiệp ước

P aten ô tre (1884), nước ta chính thííc trở th à n h thuộc địa v,ủa thực dân Pháp Trong những năm cuôl th ế kỷ XIX, thvtc dân Pháp một m ặt tậ p tru n g binh lực đè bẹp các phong trào kháng chiến của n h ân dân ta ở các địa phương để ổn địiih tìiih hình,

m ặt khác từng bước tạo lập bộ máy chính quyển cai trị, tiến

h àn h đầu tư vơ v ét các nguồn tà i nguyên và nông sản của đất nước ta

1 S ự h ìn h th à n h L iên b a n g Đ ôn g D ương và m ột th ể

c h ế c h ín h trị m ới

Kể từ hiệp ưóc P atenôtre (hay còn gọi là hiệp ước Giáp

T hân ngày 6/6/1884), đ ấ t Nam Kỳ do Bộ Hải quân Pháp nắm

Trang 13

còn Bộ Ngoại giao Pháp phụ trách Bắc và Triing kỳ Song tùih trạn g thiếu thôlig n h ấ t trong khâu quản lý này đã gây cho bọn thực dân Pháp nhiều khó khăn, phức tạp.

Trước tình hình nói trên, ngày 17/10/1887 Tổng thống

Pháp ra sắc lệnh th à n h lập "Liên b an g Đ ôn g dương" (Union

mdocliinoise) Lúc đầu khi mới th àn h lập, Liên bang Đông

Dương mới chỉ có Việt Nam và Cao Miên Cho mãi tói năm

1899 (theo sắc lệnh ngày 19/4/1899 của Tổng thông Pháp), Lào

niối sáp nhập vào Liên bang Đông Dương'-^\

Theo qui địiih của thực dân Pháp, Việt Nam bị chia th à n h

ba khu vực gọi là 3 kỳ, trong đó Nain kỳ là đ ấ t thuộc địa, Bắc

kỳ là đ ất uửa bảo hộ (semi - protectorat) và Trung kỳ là đất

"bảo hộ" (Protectorat) Vói chính sách "chia để trị" này, tên nưốc Việt Nam cũng như Lào và Cao Miên đã biến m ất trên bản đồ thê giới, mà th ay th ế vào đó là sự ra đòi của Liên bang Đông Dương Từ năm 1894, ba nitốc Đông Dương do Bộ thuộc địa Pháp trực tiếp quản lý

Cùng vâi việc th à n h lập Liên bang Đông Dương, thực dân Pháp b ắ t đầu thực hiện chế độ toàn quyền Đứng đầu Liên bang là một viên chức cao cấp ngưòi Pháp, gọi là Toàn quyềii (Gouverneur général) Đôiig Dương‘^’ Giúp việc cho Toàn quyền

Đông Dvíơng có Hội đồng tối cao Đống Dương (Conseil

Supérieur de Llndochiiie), và một số tổ chức phụ trách các công

Dương Kinh Quôc Việt N am nỉiững sự kiện lịch sử 1858 * 1945, Tl (1858

Trang 14

việc thuộc các ngành chức năng, như chính trị, kinh tế, giáo dục

Như đã nói ở trên, dưới Liên bang là cấp "kỳ" hay "xứ" Nưốc Việt N am gồm ba kỳ vối ba chê độ cai trị khác nhau

Bắc kỳ là xứ "nửa bảo hộ" do phủ T hống'sứ, đứng đầu là viên Thốiig sứ quản lý Còn hệ thông quan lại người Việt do

Triều H uế điều hành Thống sứ Bắc kỳ sẽ thông qua viên K inh

lược Bắc kỳ (chức kinh lược này đến 1897 th ì bị bãi bỏ) để chỉ

đạo các q u an lại ngiíòi Việt

Giúp việc cho viên Thốiig sứ và phủ Thốiig sứ Bắc kỳ là các phòng thương mại, phòng canh nông, Hội đồng bảo hộ Bắc kỳ.Dưói "kỳ" là cấp tỉn h do viên Công sứ ngưòi P háp đứng đầu Điều đáng chú ý là ở Bắc kỳ bên cạnh hệ thống chính quyền dân sự (chủ yếu ở miền trung du và miền núi) còn tồn

tại một hình thức cai trị song h àn h của quân đội, gọi là Đạo

quan binh Nguyên n h ân của việc th iết lập các Đạo q u an binh

à do tìn h hình p h á t triển của cuộc đấu tra n h vũ tra n g chốiig i^háp của n h â n dân Bắc kỳ cuối th ế kỷ XIX ớ những vùng có phong trào kháng chiến p h á t triển m ạnh th ì bị đưa vào các Đạo quan binh đ ặ t dưới sự cai tr ị trực tiếp của quân đội

Hìiih thức cai tr ị quân sự đầu tiên là các Q uân khu (Région militaire) Theo qui địiih của thực dân Pháp thì từ 1888, đ ấ t Bắc kỳ từ T h an h Hoá trở ra được chia th à n h 14 quân khu do một sĩ quan cao cấp chỉ huy Ví dụ Q uân khu I gồm Lào Cai và thượng du sôiig Đà, Q uân khu 5 là Hà Nội, Q uân khu 6 là N ain Định, Q uân khu 7 là T h an h Hoá, Q uân khu 10 là Bắc Ninh'^\ Đến ngày 6/8/1891, các quân khu theo Nghị địiih của Toàn

Dương Kinh Quôc, Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam , Sđd, trang 144.

Trang 15

quyền Đông Dưdiig đã bị bãi bỏ và th àn h lập Đạo quan bm h

(Territoire militaire) c ả Bắc kỳ có 4 đạo quan binh là Đạo quan binh 1 Phả Lại, Đạo quan binh 2 Sơn, Đạo quan binh 3

Yên Bái và Đạo quan binh 4 Sơn La Dưối Đạo quan binh có các Tiểu quân khu bao gồm địa bàn một sô'huyện.

ở T rung kỳ từ sau khi thực dân Pháp thực hiện "chế độ Toàn quyền" ở Đông Dương, bộ máy cai trị m ang tíiih chất

"song hành" hay "lưỡng thể"'^’tức là có sự tồn tại đồng thòi của hai hệ thốiig chính quyền của Pháp và của Nam Triều Tuy nhiêu, trê n thực tế, toàn bộ chính quyền triều Nguyễn đã bị thực dân P háp chi phối và điều khiển

ĐỐI với triều Huế, sau hai bản hàng ưốc H arm an d và

P atenôtre vào các năm 1883 và 1884 th ì quyền h àn h đã bị thủ tiêu hoàn toàn ở N am Kỳ Nliững quyền lực còn lại chỉ giổi hạn

ở đ ấ t T rung kỳ và Bắc kỳ, th ể hiện trong các cấp kỳ, tinh, huyện và xã

Tại triề u đìiih (cấp tru n g ương), trê n cùng có vua, dưới là

các tổ chức quan lại phụ tá như Hội đồng p h ụ chính hay T ứ trụ

triều đình, Viện cơ m ật (gồm 4 thượng th ư nắm giữ các bộ quan

trọng nhất), các bộ, Viện đô sát, P hủ tôn nhân.

Triều đình chỉ đạo các tìiih trở xuốiig Đứng đầu tỉiih lón là Tổng đốc và h ai phụ tá là Bố chánh và Áii sát, đứng đầu tủih vừa và nhỏ là một T uần phủ hoặc Bô" chánh pliỊi trách chung, bên cạnh đó còn có từ 1 đến 2 ngưòi phụ tá đặc trách về th u ế khoá và tư pháp

Bên cạnh chính phủ Nam triều, thực dân P háp đ ặ t hệ

thốiig cai tr ị riêng của mìiih Đứng đầu Trung kỳ là viên K hâm

P.R Peray Le Vietnam au X X è siècle, Presse Universitaire de Prance,

Paris, 1979, trang 70.

Trang 16

sứ (Résident supérieur) Giúp việc cho Kliâm sứ và toà Kliâm

sứ là các sỏ có chức năng phụ trách các ngành chuyên mồn như thương mại, canh nông, giáo dục

ở Nam kỳ, đứng đầu bộ máy cai trị là Thống đốc

(I^ieutenant - Gouveriieur) Thống đốc chỉ đạo từ cấp tỉiih trở xuông, và có quyên lập qui, quyền h àn h pháp và quyền tư pháp

ở N am kỳ P hụ tá cho Thống đốc N am kỳ gồm nhiều tổ chức như sở thương mại, sở canh nông, v.v

Cũng như bộ m áy cai trị của Pháp ở Bắc và T rung kỳ, đứng đầu cấp tỉn h ở Nam kỳ là các công sứ (Résident) ngưòi Pháp Toàn bộ hệ thốiig chính quyền dưới tỉn h là phủ, huyện, xã trên lãnh th ổ Việt Nam đều do người Việt quản lý, vối các chức tri phủ, tri huyện (ở Nam kỳ có nơi còn gọi là Đốc phủ sứ) tri châu (ở cấp phủ, huyện); chánh tổng (ở cấp tổng) và lý trưởng, xã trưởng (ở cấp xã)

Cùng vối việc thực hiện chính sách "chia để trị", thực dân Pháp còn tìm cách th u hẹp quyền lợi và phạm vi ản h bựởng của triều Nguyễn, v ề m ặt tà i chính, từ sau hiệp ưóc 1884, Pháp nắm toàn bộ ngành thương chính, đề ra và kiểm soát các qui địiih thu, chi về th u ế ỏ Trung kỳ v ề m ặ t quân sự, Pháp có quyềii chỉ huy cả quân đội triều đùili, nắm quyền tổ chức và chỉ huy lực lượng cảnh sá t ỏ các tỉiili

Hờn th ế nữa, từ 1887 Kliâm sứ Pháp có quyền th am dự các

phiên họp của Viện cơ m ật, đồng thòi cử các n h â n viên người

Pháp vào làm việc ở các bộ và các tỉiih Bằng Đạo dụ của Vua Đồng K liánh ngày 3/6/1887'^*, những quyền h ạn quan trọng cuối cùng của triề u đình Huê đã bị băi bỏ và ngưòi Pháp nắm toàn quyền các công việc nội trị và ngoại giao của Việt Nam

Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử cận đại Việt Nam^ J, II, Nxb

Giáo dục, HN, 1961, trang 190

Trang 17

2 Các c h ín h sá c h vể văn hoá, giáo d ụ c

Về m ặ t giáo dục, trong những thập Iiiên cuốỉ của thê kỷ XIX, thực dân P háp tậ p tru n g vào hai mục đích ; 1) đào tạo đội ngũ thông dịch viên và những lagưòi phục vụ trong bộ máy chính quyền thực dân và 2) bưốc đầu mở trường truyền bá chữ

P háp và chữ quốc ngữ, h ạn chế ản h hưỏng của chữ Hán Các trường học đưỢc P háp mở ở Nam kỳ nhiêu hớn so với ở Bắc kỳ

và Trung kỳ Tính đến năm 1886, tổng sô' các trường học trêu

đ ấ t Nam kỳ từ cấp xã đếu tỉnh là 343; sô' giáo viên có 600 người, trong đó 97 là ngưòi Pháp, sô' học siiih là 18.231 ngiíòi” ’

N ầư vậy, nếu tín h theo tỷ lệ dân cư ở Nam kỳ lúc đó là 1,6 triệ u người th ì tỷ lệ học sinh đ ạt khoảng trên 1% Trong khi đó các trường chữ H án v ẫn tồn tạ i vối 9000 học sinh và 426 th ầv đồ

Bên cạnh các trưòng nói trên, tháng 11 nám 1896, Pháp cho thàiili lập trưòng Quốc học H uế đặt dưới quyền kiểin soát của K hâm sứ T rung kỳ để th u n h ận con quan lại cao cấp vào học, nhằm đào tạo m ột đội ngũ tay sai trung th à n h cho bọn thực dân

Về văn hoá, thực dân Pháp dùng sách và báo chí để biện

m inh cho h à h h động xâm lược của chúng, đồng thồi bưóc đầu

du nhập văn m inh phương Tây, hạn chế ảnh hưởng của Nlio giáo trọng u h â n dân Để thực hiện âm mưu đó, ngày 3/7/1886,

P au l B ert (Tổng tr ú sứ Bắc và Trung kỳ) đã ký nghị địiila thành

lập Viện hàn lâm Bắc kỳ, bao gồm 40 nhà khoa bảng Việt Mam

Phan Trọng Báu, Giáo dục Việt Nam thời cận đại, Nxb Giáo dục, HN,

1994, trang 51.

® Phan Trọng Báu Giáo dục Việt Nam Sđd, trang 51

Trang 18

và 10 người Pháp'" Viện có nhiệm vụ truyền bá văn miuh nilốc Pháp, đồng thòi giúp cho ugưòi P háp hiểu được văn hoá Việt Nam để dễ bề cai trị Trước đó, năm 1883 , Hội Đông Dường học

ra đòi tại Sài Gòn Bằng sự xuất hiện của các tổ chức này, thực dân P háp đã tạo điều kiện khuyên khích ngưòi Pháp táng cưòng tiếp xúc và tìm hiểu phong tục tập quán văn hoá Việt Nani

Trong thời giaii này, với sự trỢ giúp của Pháp, ở Nam kỳ

Triídng Vĩnh Ký đã đứng ra làm chủ b ú t tò Gia Đ ịnh báo, xuất

bản từ 1865 Học giả họ Trương còn cho in nhiều tập sách giối

th iệu phong tục tập quán của n h â n dân ta như Gia huấn ca (1882), Phép lịch sự A n nam (1883), về ván học có Lục Vân

Tiên, Phan Ti'ần (1889) Bêu cạnh đó còn x u ất bản một sô" sách

hỗ trợ học tiếng Pháp, học chữ nho và chữ quốc ngữ như các

cuốn từ điển Pháp - Việt từ điển (1884), Việt - Pháp từ điển (1887), T ừ điển địa lý A n nam (Dictionnaire Géographiqiie Annam ite) Đại N a m nhân vật bị khảo (Dictionnaire

Biographique Aiinamite)'^’

Dù ít nliiều phục vụ mục đích thực dân, các hoạt động trong lĩnh vực văn hoá và giáo dục nói trê n đã góp phần nâng cao hiểu biết của một bộ phận n h â n dân, làm rạ n nứ t nền giáo dục Nho học và các giá tr ị văn hoá Nho giáo tru y ền thốiig ở nước ta

Mói chung, sau khi hoàn th à n h công cuộc xâm lược Việt Nam, từ 1885 trở đi nghĩa là trong 15 năm cuối cùng của thê kỷ

Trần Văn Giàu, Đinh Xviân Lâm , Lịch sử cận đại Việt Nam, T II, Sđd, trang 196

Bằng Gianịĩ - Sương mù trên tác pliâm Tri/ơìig Vỉnh Ký Nxb Văii học, Hà

Nội, 1993, trang l ‘!2.

Trang 19

XIX, thực dâii Pháp tập triing trước hết vào mục đích bình định

về q u ân sự để m au chóng ổn định tình hình trong niíớc Tiiy nhiên, trong giai đoạn này, kể cả triíớc khi đánh chiếm cả nước Việt Nam, Pháp đã đề ra và bưóc đầu thực hiện nhiều chính sách khác n h au trên các lĩnh vực chính trị văn hoá, giáo dục

Về m ặ t kinh tế, thực dân Pháp tiến hành vơ vét tài nguyên, nông sảii của nưỏc ta để tiêu dùng và xuất khẩu kiêm lòi

II - NHỬNG BIẾN ĐỐI TRONG CẤU KINH TÊ'

Trong bối cảnh lịch sử Iiói trên, vào nửa sau thê kỷ XIX, liền kinh tế Việt Nam b ắ t đầu có những biên động n h ấ t địiih Tuy nhiên cd cấu kinh tế về cơ bản vẫn chưa thay đổi, bao gồm các n g àn h kinh tế tru y ền thông là nông nghiệp và th ủ công nghiệp

1 về n ô n g n g h iệp

Vào các th ập kỷ 60, 70 của th ế kỷ XIX, nhà Nguyễn vẫn tiếp tục thực hiện chủ triíơng khai lioang, phục hoá xây ấp, lập

đồn điều Trưốc đó, ngay từ 18Õ0, khi nhận chức Kinh lược sứ 6

tủ ih N am kỳ, Nguyễn Tri Phương đã để ughị : "liọp dân làm đồn điền để giúp sinh kế Chủ trưdng lập đồn điền nhằm "giữ giặc, vên dân" của ông đã được một số quan lại trong Triểu Huô như P h an T hanh Giản, P hạm T hế Hiển đồiig tình Thực hiện chii trương nói trê n của Nguyễn Tri Phương, hàng ngàn dân nghèc từ Q uảng Nam trở vào đưỢc đưa đến Nam kỳ để khai hoang lập ấp

Tíiili đến 1854 ở đây đã xây dựng đưỢc 124 ấp, vối 21 cơ

Cụ th ể là Gia Định 6 cơ, An Giaiig 2 cơ, Định Tưòiig 3 cd, Vĩnh

Trang 20

Long 7 cơ, Hà Tiên 2 cơ Riêng ở An Giang năm 1858 đã lập đvíỢc 23 ấp

Saii khi thực dân P háp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ,

a h à nưốc còn cho áp dụng chính sách Doanh điền Năm 1.866

theo báo cáo của các Doanh điền sứ địa phưdng thì liai dnh Aii

G iang và Hà Tiên đã lập được 149 thôn vỏí 8.333 m ẫu rviộiig Vìiih Long lập đưỢc 41 thôn vổi 2700 m ẫu ruộng

Bên cạnh đó, Nhà nưốc còn đê ra và thay đổi một sô" chúih sách n hằm khuyên khích dân tích cực tổ chức kh a i hoang Theo qui định năm 18ÕÕ, ruộng khai hoang được cho làm ruộng tư và

có quyền th ừ a kế Năm 1864, Nhà nước lại địiih lệ ban thưởng cho những người có công khai hoang, khẳng định quyền tư hữu đỐl vối ruộng khai khẩn đưỢc, và cho chuyển một nửa thành

ruộng tư nếu phải vay tiền của Nhà niíớc

Klii thực dân Pháp âm mưu mở rộng phạm vi đánh chiếm

ra Bắc và T rung kỳ, triều đìiih Nlià Nguyễn buộc phải khuyến

khích khẩn hoang theo cả 3 hùih thức đồn điền, doanh điền và

đồn sơn phòng Bên cạnh biện pháp khai hoang, phục hoá, nhà

nưốc còn tổ chức đào thêm kênh rạch, cải tạo đ ấ t nhằm tăn g thêm diện tích canh tác Riêng ở Nam kỳ, trong 30 năm cuôl

th ế kỷ XIX, thực dân Pháp đã cho đào đắp một số kênh mới,

a h ư kênh Cột Cò (1875), kênh T rà ô n (1876), kênh Chợ Gạo (1877), kênh Phú Túc (1879), kênh Xanh Ta (1880y2'

Nhờ đó, diện tích đ ấ t tăn g lên n h an h chóng Nếu năm

1847, tổng diện tích đ ấ t trực trưng đo đạc được là 4,2 triệvi m ẫu

Trương Hữu Quýnh Nhìn lại tính hình xã hội Việt Nam nửa sau thê kỷ

XIX - Nghiên cứu lịch sử, số 3, 1998, tr 29 - 30.

Ijê Quốc Sử Một sô vấn để vê lịch sử kinh t ế Việt Nam, Nxb Chính trị

Qiiôc gia, HN, 1998, tr 91

Trang 21

th ì đến giữa năm 1860, diện tích đó đã tăng lên tới 4,6 tn ệ u

Tính riêng ở Nam kỳ, trong khoảng 10 năm từ 1881 đến

1890 diệu tích ruộng đ ấ t đã tăng thêm klioảng SOO.OOOha (tức

từ 1.192.404 mẫu'^’ = 596.202 ha lên 932.000ha'’' )

Tuy nhiên, việc gia tàn g ruộng đ ất cũng không th ể bù lại đưỢc vối tình trạn g dân lưu tán ruộng đất bị bỏ hoang do thiên tai, m ất mùa, và n ạn giặc ngoại xâm Năm 1866, tlieo báo cáo của các tỉnh, cả uưốc có 900.000 mẫu ruộng bỏ hoang Năni

1882, riêng ỏ T hanh Hoá diện tích đ ất bỏ hoaug lên tới 36.522

m ẫu (chiếm khoảng 18% diện tích)

Thêm vào đó, n ạn đê võ thường xuyên xảy ra, n h ất là ở Bắc

kỳ N ăm 1871 đê ỏ 5 tỉn h Hà Nội, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, N am Địiih bị vỡ Cho đến nám 1883, hầu nhií năm nào cũng có vỡ đê Vì th ế hàng vạn m ẫu ruộng bị bỏ hoang, hàng vạn nông dân phải cầm nhtíỢiig ruộng đất, hoặc bỏ làng bỏ ruộng ra đi th a phương cầu thực

Tùih trạn g trê n đây đã tác động không nhỏ tối tốc độ phâii hoá ruộng đất Tuy nhiên so vối hồi đầu th ế kỷ XIX, tỷ lệ ruộng công (công điền công thổ) vào thời kỳ này lại tăng lên Nếu vào những năm 30 của th ế kỷ XIX, ruộng công trong cả nước chỉ còn 17%'^’ th ì đến cuối th ế kỷ này, tỷ lệ đó đạt vào khoảng từ

Trương Hữu Quýnh Nhin lại tình hình Tài liệu đã dẫn, tr 29

® Coquerel Paddỵs et riz de Cochinechine, Lyon, 1911, Bàiig III, (lãn theo Nguyễn Đình Đầu Chẽ độ công điền công thố trong lịch sử khân hoang

lập ấp ở Nam kỳ lục tỉnh Hội s ử học Việt Nam, HN, 1992

Lê Quôc Sử, Một sô vân đ ề về lịch sử kinh tê Việt Nam, Sdci, Irantỉ 94

Theo Ngiiyễn Công Tiệp trong S ĩ /ỉoạn tu tri thì mộng (1A'| tư vào đầu Ihế

kỷ XIX chiếm 81%, còn ruộng công và các loại riiộiiR khác chiếm 19%,

xem Phan Huy Lê Thiết chế chính trị : Di sàn và kế thừa H Nghiên cứu

Việt N am : Một sô' vấn đề lịch sử - kinh tê - xã hội - uăìi hoá, Nxb Thê giới, HN, 1998, trang 42

Trang 22

25 - 30% T hậm chí ở một số vùng mối khai hoang (ven sông, ven biển), diện tích công điền công thổ còn lên tối 40 - 50%.

H iện tưỢng gia tăng tỷ lệ ruộng công vào nửa sau th ế kỷ XIX có n h iều nguyên n h ân khác nhau Thứ n h ấ t có th ể là do sự chi phôi của chính sách hạn điền và quân điền cùa Triều Nguyễn N ăm 1839, vua Minh M ệnh đã cho th í điểm tlníc hiện chính sách Iiày ở Bình Định nhằm h ạn chế diệu tích sở hữu của

tư n h â n và chuyển một bộ phận ruộng đ ấ t của tư n h â n th à n h công điền rồi cấp cho dân nghèo Kết quả của việc thực hiện chính sách này là tỷ lệ công điền đã tăng từ 10% lên đến 50% Sau Iiày, chính sách quân điền có thể đã được được thực th i ở nhiều k h u vực trong nước, vổi thòi hạn 6 năm hoặc 3 năm chia ruộng lại m ột lần

N guyên n h â n th ứ hai là do thực hiện chính sách đổi đồn điền th à n h công điền của Triều Nguyễn Theo chính sách này, diện tích đồn điền càng p h á t triển th ì diện tích công điền công thổ càng lốn, vì tư n h â n khai hoang th ì được chuyển th à n h tư điền, còn khai hoang bằng vôn n hà nưóc th ì th à n h công điền một khi N lià nước giao cho làng để quân cấp'^^

N guyên n h â n th ứ ba b ắ t nguồn từ h ậu quả chiến tra n h xâm lược của thực dân Pháp, cũng như do th iên tai, võ đê, m ất mùa triề n miên vào nửa sau th ế kỷ XIX đã đẩy hàng chục vạn nông d ân rơi vào cảnh đói nghèo, buộc phải bỏ ruộng bỏ Ịàng đi tha phương cầu thực Nliững phần ruộng bỏ hoang chủ (của những nông d ân lưu tán) lâu ngày đã bị biến th à n h ruộng công, khiến cho tỷ lệ ruộng công tăn g n h an h trong nhiều làng xã

Nguyên n h â n th ứ tư, theo chúng tôi, có th ể do tác động của chính sách th u ê ruộng của Triều Nguyễn Vào đầu th ế kỷ XIX thuê ruộng công n ặn g hơn thuê ruộng tư Nliưng về sau ,'ĩrit '

Nguyễn Đình Đầu - Chê độ công điền công thố , Sđd, tr.l43.

Trang 23

Nguyễn đã n ân g mức th u ế ruộng tư lêu ngang vối ruộng công

Sách Đại nam thực lục ghi năm Tự Đức thứ 28, tháng 7 (tức

8/1875), Triều H u ế đã quyết định thay đổi luật thuế điền thổ

L u ật này "áp diing cho t ấ t cả các tỉnh ngoài Bắc kể từ Hà Tĩnh trở ra, biểu thviế điền th ổ đã thi hành trong Nam kể từ Q uảng Nam trở vào Sang đ ầu năm mới tính theo biểu mới So với tình hình miền Nam, th ì ở miền Bắc, th u ế công điển nặng hơn và

th u ế tư điền lại nhẹ hơn Nay thay đổi để cho cân bằng nhau""* Dưối đây là biểu th u ế điền thổ vào thòi kỳ trưóc và sau khi thực hiện lu ậ t th u ế đ ấ t mối (187Õ)

Bảng 1: Biểu thuế điển thổ trong các tỉnh miền Bắc từ Hà Tĩnh trở ra

Hạng đất Công điển (Đơn vị ; mẫu) Tư điền (Đơn vị : mẫu)

Trước 1875 Sau 1875 Trước 1875 Sau 1875 Nhất 80 thăng^^^ 40 thăng 25 thâng 40 thăng

D ân tìn h lúc đó cho rằng theo luật th u ế này tức là "tăng thuế", bởi vì mức th u ế trê n riiộiig tư tăng tối 50%'^’ Chính Thượng th ư bộ Hộ khi tr ả lời Bô' chánh tỉnh Bắc Ninh P hau

Đ ăng Bình cũng đã th ừ a n h ận : "Mục đích của triều đình khi lập biểu th u ế duy n h ấ t cho toàn quốc là chỉ miiôn có sự thống

Dẫn t.heo Yoshiharu Tsuboi - Nước Đại Nam đối diện với Pháp uà Trung

Hoa - Hội Sừ học Việt Nam, liN 1993, lr.313.

® Theo đơn vị đo krờng ở Eìắc I3ộ vảo ciiôi thế kỷ XỈX đần thế kỷ XX thì 1 thăi)gw2,93 lít

® Đại N am thực lục chính biên, Dân theo Y.Tsuboi, Nước Đại Nam đổi diện

với Pháp và Trung Hoa, Sđd, tr.314.

Trang 24

n h ấ t và sự bình đẳng trong nềii hành chính Việc cải cách này

nâng cao mức th u ế trên tư điền, nhưng đồng thời lại giảm mức

th u ế trên công điền (NVK n h ấn m ạnh)“’ Đây là một lý do

khiến cho các hào mục lợi dụng chức quyền biến một phần đ ất

địa b ạ để giảm mức th u ế điền thổ

Nói chung, so vối đầu thê kỷ XIX, tìn h hìiih ruộng đ ấ t và nông nghiệp Việt Nam có những biến đổi n h ấ t định Diện tích rviộng đ ấ t tăn g lên khoảng 500.000 ha, nhồ hoạt động khai hoang, phục hoá của n h ân dân ở cả m iền Bắc và miền Nam Tuy nhiêii, iìiứi trạng phân hoá ruộng đ ấ t diễn ra chậm chạp,

lu ẩn quẩn Diện tích công điền v ẫn chiếm tỷ lệ cao, th ậ m chí còn cao hơn thồi kỳ đầu th ế kỷ XIX Số điền sản lốn không nhiều, và chủ yếu tập tru n g ở các tỉn h miền Nam

S ản x u ấ t nông nghiệp m ang nặng tín h ch ất độc canh, tu y ệt đại bộ p h ậ n diện tích canh tác được đem trồng lúa Do kỹ th u â t canh tác lạc hậu nên năng suất lúa đạt mức thấp, klioảng

9 tạ/lia'^’ Đến những nám cuối th ế kỷ XIX, bên cạiili cây lúa đã

x u ấ t hiện m ột sô" cây trồng mói như thuốc lá, th ầ u dầu, và đặc biệt là cây cao su Tuy vậy, những cây trồng mói du nhập này chỉ b ắ t đ ầu được trồng th í điểm, chứ chưa mở rộng đại tr à như các loại cây trồng truyền thống

Đây là sô' liệu do chúng tôi ước tính trên cơ sở các tàỉ liệu của

Ch.Robequain ƯEvolution économique de ưỉndochine, Pak*ifi 1939, tr.253 - 254 và J.Aumiphm - S ự hiện diện , Sđd, tr.l37.

Trang 25

xu hướng tách khỏi nông nghiệp để hình thành uhữiig làng

nghề, hay p h ố nghề Ví dụ nghề gôm ỏ Bát Tràng (Gia Lâm),

Thổ H à (Bắc Ninh), Đườiig Yêu, Chu Đậu (Hải Dvtơng); nghề

dệt ở Vạn Phúc, La Kliê (Hà Đôiig), Bảo An (Quảiig Nani),

Bùng (Sơn Tây); nghề đúc ồ Đại Bái (Bắc Niiih), nghề kim hoàn

ở C hâu Kliê (Hải Dương), Đồng Xâm (Thái Bìiih); nghề làm

giấy ở Yên T hái (Hà Nội), Phong Kliê (Bắc Ninh); nghề dệt chiếu ở làng Hói (Thái Bình), P hát Diệm (Ninh Bình)**’.

Từ khi thực dân P háp nổ súng đánh chiếm Nam Kỳ, rồi cả

T rung Kỳ, th ì th ủ công nghiệp Việt Nam b ắ t đầu chịu tác động

và chi phối của chiến tranh Để đôl phó với âm mưu xâm lược của Pháp, Triều Nguyễn rấ t quan tâm củng cố các xưởng đúc súng Ví dụ, nám 1873, Triều đình đã giao cho xưởng đúc Nghệ Aii sản x u ấ t 2.250 viên đạn gang, 12.500 quả đạn chì, 2.500 ông ph u n lửa, 5.000 cân thuốc súng và 250 quả đạn pháo phi

Bên cạnh các xưỏng th ủ công do Nhà nưốc quản lý, một số xưỏng th ủ công của tư n h â n cũng có những biến động Do tác

Xem Bùi Văn Vương - Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam - Nxb

Văn hoá dân tộc, Hà Nội 1997, 522 tr.

® Vũ Huy Phúc - Tĩểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858 - 1945- Nxb Khoa

học xã hội, HN, 1996, tr 51.

Trang 26

động của chính sách vơ vét và x u ất cảng lúa gạo của tư b ản Pháp, các cơ sở chế biến gạo, nhất là ở Nam Kỳ có cơ hội phát triển

m ạnh Vào đầu những năm 1860, riêng ở khu vực Chợ Lốn và Bình Tây có khoảng 240 nhóm thợ hàng xáo, chuyên xay, giã gạo bằng chân mà không có sự hỗ trợ của b ấ t cứ một phương tiệ n máy móc nào

Cùng với nghề xay x á t lúa gạo, nghề gôm và n h ấ t là nghề làm gạch ngói và các v ậ t liệu xây dựng cũng có điều kiện mở

m ang hdn so vói trưốc đây, n h ằm cỊáp ứng nhu cầu xây dựng

n h à cửa, dinh th ự và các công trìiih công cộng của ngưòi Pháp,

ở Sài Gòn - Chợ Lón, nghề nung gạch ngói khá p h á t triển Trước năm 1882, mỗi lò gạch ở Chợ Lớn sản x u ất được tru n g

b ìn h 480.000 viên gạch/năm Tổng sô' gạch sản xuất ở khu vực

n ày hàng năm là 14 triệ u viên, ớ Nam Kỳ, ngoài Sài Gòn - Chợ Lớn còn có nhiều cd sở tạ i các tỉn h Mỹ Tho, Sa Đéc, Châu Đốc,

Bà Rịa, T rà Vinh

Tuy nhiên, do tìn h hình chiến sự diễn ra ngày càng ác liệt

n ên một sô ngành nghề bị đìiih trệ, th ậm chí sa sút, trong đó có nghề trồng dâu, chăn tằm , dệt vải Nhiều sản phẩm vải lụa làm

ra không có th ị trưòng tiêu thụ Đó là chưa kể tối những khó

k h ă n về th u ế má n ặn g n ể và về nguồn nguyên liệu ngày càng

k h a n hiếm

Nhìn chung lại, vào nửa sau th ế kỷ XIX, nền th ủ công nghiệp nước ta b ắ t đ ầu có những th ay đổi do tác động của chiến tra n h và các chính sách xâm lược của thực dân Pháp Mặc dù vậy, về cơ b ản cơ cấu, kỹ th u ậ t và phương thức sản x u ất và tiêu

th ụ vẫn giốiig như ỏ thòi kỳ nửa đầu th ế kỷ XIX Nliững xưởng

th ủ công có quy mô lốn, và có tín h chất tiền tư bản chủ nghĩa chưa x u ất hiện Đa sô" các h o ạt động th ủ công còn gắn ch ặt vối nông nghiệp, và tồn tạ i vổi tvf cách là nghề phụ gia đình Tuy nhiên, đây là thời kỳ tru n g gian, có ý nghĩa quan trọng để nền

Trang 27

th ủ công nghiệp truyền thôiig cliiiẩn bị biíốc sang một giai đoạn

diện : nguồn nguyên liệu, kỹ th u ậ t sản xiiất và thị trường tiê\i thụ

3 S ự x u ấ t h iệ ii bộ p h ậ n k in h tê m ới TBCN

3.1 Các cơ sở c ô n g n g h iê p

Sự ra đòi của các vếu tô" kinh tế, cũng như các Iigành kinh tê" mối sau này, gắn liền với chính sách khai thác và bóc lột của thực dân Pháp ở Việt Nam

Thòi kỳ trưốc khi ký hiệp ưốc H arm and (1883), hoạt động chủ yếu của thực dân Pháp là tiến hành xâm lược do đó Pháp chưa có chínli sách kinh tế lâu dài và hệ thông Tuy nhiêu, thực dân Pháp cũng b ắ t đầu đầu tư vôn nhằm xây dựng một số cơ sở công thương nghiệp để phục vụ cho công cuộc xâm chiêm toàn

bộ lãnh thổ Việt Nam Dưối đây là tình hình đầu tư vốii của tư bản tư nhân Pháp vào Đông Dương, chủ yếu là Việt Nam từ khi đánh chiếm Nam Kỳ đến năm 1903*'’ ;

B ắ n g 2 : Phân bô' vốn đầu tư ở Đông Dương từ 1859 - 1903

Khu vực Tổng số tiền (Triệu Fr) Tỷ lê (%)

<], Aumiphin - Sự hiện diện tài chính và kinh tê của Pháp ở Đông Dương

(1859 - 1939) - Hội sử học Việt Nam xuâ't bàn, HN, 1994, tr 52.

Trang 28

Cơ sở công nghiệp đầu tiên x u ất hiện ở Việt Nam là binh công xưởng Ba Son (Sài Gòn), được th à n h lập năm 1864 Cđ sở này do q u ân đội P háp quản lý chuyên làm các việc về hàn, tiện, sửa chữa th u y ền máy Để tran g bị cho bến cảng Sài Gòn, cũng trong năm 1864“ ' Pháp cho xâv dựng một cầu tàu dài

1800 m ét và n h ập một sô" máy inóc, ca nô, xà lan sắt Nhò đó, Sài Gòii dần dần trở th àn h nơi thii h ú t và sửa chữa phần lớn

th u y ền bè của P h áp hoạt độiig ở Viễn Đông

Ngoài cơ sở sửa chữa tà u ở Sài Gòn từ những năm 1870,

P háp b ắ t đ ầu xây dựng một sô' cơ sở công nghiệp chế biến Năm

1874, lập h ãn g rượu bia ở khu vực Sài GÒII, Chợ Lốn Năm

1875, chúng lập n h à máy cưa; năm 1876 lại xây dựng n hà máy kéo sợi'^'

Sau khi thôn tíiih xong toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, thực dân Pháp b ắ t đ ầu tiến h àn h đầu tif xây dựng m ột sô' cơ sở xay

x á t gạo, chê biến gỗ, giâ'y và lập các cơ sở khai mỏ khoáng sản

N gành kh a i mỏ

Cơ sở khai mỏ được th àn h lập sóin n h ấ t là Công ty th an Bắc Kỳ (SFCT) ra đòi vào ngày 4/4/1888, đ ặ t tr ụ sỏ tạ i Paris Công ty q u ản lý và tổ chức hoạt động khai mỏ trê n diện tích 21.932ha, với sô' vốii ban đầu là 4 triệu Fr Tiếp đó các mỏ th an

ở Hòn Gai, ở Q uảng Nam cũng lần lượt được th à n h lập Tính

thổ Đông Dương, chủ yếu ở Việt Nam đã lên tới hàng trám ngàn tấn

Trần Văn Giàu - Giai cấp công nhân Việt N am - (XB lần thứ ba) - Nxb

Sự thật, HN, 1961, tr.46.

® Trần Văn Giàu - Giai cấp công nhân Việt Nam , Sđd tr.48.

Trang 29

B ảng 3 : sản lượng than khai thác vào cuối thế kỷ XIX.<”

x u ất k h ẩu đưỢc khoảng 12.000 tấ n th a n ‘^^ các loại Rõ ràng, khai mỏ là m ột n g àn h công nghiệp được hình th àn h từ r ấ t sốm

và có vị trí q u an trọng trong nền kinh tê thuộc địa ỏ Việt Nam

Statistique général de rindochine Résumé statistique relatif aux années

1913 à 1946, tr 14 Dân theo Cao Văn Bền, Công nghiệp than Việt N am thời kỳ 1888 - 1945 Nxb Khoa học xã hội, HN, 1998, tr.l09.

® Trần Văn Giàu - Giai cấp công nhân Việt Nam - Sđd, tr.53

Trang 30

Công nghiệp chê biến

Do n ắm đưỢc th ế m ạnh của Việt Nani là một nưốc nông nghiệp nên Iigay sau khi chiếm xong Nam Kỳ, thực dân Pháp

đã tiến h à n h đầu tư xây dưng các cơ sở chê biến nông sản và cơ

sở công nghiệp Cho đến 189Õ riêng ỏ Nam Kỳ đã có tối 200 xiíởiig xay x á t gạo vối các quy mô lớn nhỏ khác nhau, chuyên chế biến gạo x u ấ t khẩu Bên cạnh các xưởng thủ côiig, vào nhữiig năm cuôl thê kỷ XIX ở Sài Gòn đã x u ất hiện 2 nhà niáy xay x á t gạo bằng hơi nưóc Tuy nhiên, ở Bắc và Trung Kỳ chưa

có n h à máy xay gạo nào

Ngoài nghề xay x át gạo, thực d ân P háp b ắ t đầu cho xây dựng m ột sô' cơ sở n ấu rượu, sản x u ấ t diêm, xưởng làm giấy, nung gạch ngói Đặc biệt năm 1891, P h áp lập Iihà máy dệt tại

Hà Nội Đây là cơ sở dệt bằng m áy móc đầu tiên xuất hiện ở Bắc Kỳ, vối 170 công nhâu Một vài công ty cơ khí phục vụ công việc làm cầu, sửa và đóng tà u nhỏ, tiêu biểu Iihư Công ty Mácty Apđuđi (M arty Abdudie) đã ra đòi N ăm 1893 Nlià máy Điện Hải Phòng, và tiếp đó đến năm 1895 là Nlià m áy Điện Hà Nộ' lần lượt được xây dựng và b ắ t đầu đi vào hoạt động

3.2 K ỉn h tê đồn điên p h á t triển

Trưốc khi bị thực dân Pháp xâm lược, nưốc ta đã có nhiều loại đồn điền khác nhau nhưng quy mô nhỏ Sau khi đánh chiếm cả nước Việt Nam, bọn P háp ra sức tìm cách chiếm đoạt ruộng đ ấ t ; bao gồm các vùng đ ấ t trốiig, bãi bồi, thậm chí các phầxi ruộng đ ấ t của tư nhân để lập đồn điền Theo Nghị định Iigày 5/10/1889 và 15/10/1890 th ì bọn thực dân có quyền xin cấp m ột lần 500ha đ ất đai Vì th ế đã b ắ t đầu xuất hiện nhiều đồn điền có diện tích rộng lốn Theo thông kê của thực dân

Trang 31

Pháp, tín h đêu 1890 đã có 116 đồn điển của ngưòi Áu Tiiy nhiên, diện tích đồn điền chủ yếii tập tru n g ỏ các tỉnh Nam Kỳ

và Bắc Kỳ Cho đên năm 1900 tổng diện tích các đồn điền của Pháp đã lên tối 322.000ha'" trong đó ở Nam Kỳ có 78.000ha.Tại các đồn điền phưdng thức kinh doanh chủ yếu vẫn là cho nông d ân cấy rẽ, rồi nộp tô (phát canh th u tô), Bọn chủ đồn điền còn b ắ t nông dâu th u ê cả nông cụ (cày, cuốc) và vay thóc giống với lãi suâ't cao Trong các đồn điền của Pháp, lúa là cây trồng chính Nliưng từ 1888 trở đi, Pháp b ắ t đần cho trồng cà phê, rồi cao su* N ăm 1893 sản phẩm chè của Việt N am lần

Đại chiến I, nghê trồng chè cũng như cao su mói đưỢc mở rộng trên quy mô lốn ở Việt Nam

3.3 N g o ạ i thư ơn g

So vói nửa đầu th ế kỷ XIX, quan hệ buôn bán của nước ta

có phần mở rộng hơn Do những khó k h ăn trong nông nghiệp,

n h ấ t là s a u khi N am Kỳ rơi vào tay Pháp nên Nhà Nguyễn phải

bỏ dần chủ trương “ức thương” Năm 1866, theo đề nghị của Đặng H uy Trứ, vua Tự Đức đã cho lập ty Bình c h u ẩ n vì th ấy việc buôn b á n m ang lại lợi ích thực sự cho đ ất nưốc Tiếp đó, năm 1869, Tự Đức cho phép dâu thường ra nưốc ngoài tu ô n báii N hậu thức đưỢc lợi ích của việc mở rộng quan hệ thông thương với nưốc ngoài, năm 1876, đình th ầ n l>3ià Nguyễn vận động Tự Đức bỏ lệnh cấm buôn bán đưòng biễn vối tinh th ầ n

“ai có vô'n đi buôn nước ngoài th ì thu th u ế 5%, từ nước ngoài chở (hàng) về cũng th u 5% Nếu chỏ hàng cấm th ì p h ạ t”'^’ Tự

Theo Moniteur officiel du comnicrce et de 1'Industrie, No] 159 (4/10/1945),

Cây cao su đưỢc chính thức đưa vào trồng ỏ nước ta từ năm 1897.

Đại Nam thực lục chính biên, tập 33, Hà Nội 1976, t.r 282.

Trang 32

Đức còn cùng Viện Cơ m ậ t b àn bạc phương thức thông thương, lập công ty đi Hương cảng buôn b á n ” ’.

Tuy cho ngưòi V iệt N am được phép đi ra ngoài buôn bán, làm ăn, Triều Nguyễn v ẫn cự tu y ệt các q u an hệ thương m ại với người nước ngoài, h ạ n chê ii^ười nước ngoài lập thương điếm ở Việt Nam Đến khi Triều Nguyễn b ắ t đ ầu thức tỉn h th ì hiệp ước

H arm and (1883) và P aten ô tre (1884) đã hoàn toàn th ủ tiêu cơ hộỉ mở cửa, thvíc hiện q u an hệ thông thương vói bêu ngoài của Việt Nam

Trong khi T riều Nguyễn tiếp tục chủ trương bảo th ủ th ì thực d ân Pháp lại h ế t sức năng động và thực dụng trê n lĩnh vực thưdng mại Để thực hiện mục đích lợi n h u ậ n sau khi chiếm được ba tỉnh m iền Đông N am Kỳ, thực d ân P h áp vội v àn g tăn g cường các hoạt động buôn bán, vơ vét các nguồn nông sả n x u ất khẩu

N ăm l859, Gia Đ ịnh bị chiếm th ì ngay n ăm sau 1860, Pháp

đã x u ất khẩu 58.000 tấ n gạo từ cảng Sài Gòn Bẩy n ă m sau, vào năm 1867, sô' lượng gạo x u ấ t k h ẩ u lên tói 98.000 tấ n , năm

1870 đ ạ t 230.000 tấn Chỉ trong vòng 10 n ăm (1860-1870), S(' lượng gạo x u ấ t k h ẩ u đã tăn g gấp 4 lần

Trong hoạt động buôn bán, thòi kỳ đ ầu tư b ản P h áp còn vấp phải sự cạnh tr a n h của thưdng n h â n Hoa Kiều và Ân Kiều

N ăm 1883, P háp mối có 8 cửa hiệu ở H à Nội, H ải Phòng, trong khi đó ngưòi Hoa có 138 cửa hiệu^^^ Sô" h à n g hoá n h ập k h ẩ u do thưdng n h ân Hoa Kiều đảm nhiệm chiếm 2/3 tổng sô" hàng nhập H àng hoá của P háp n h ập k h ẩ u vào Việt N am khó cạnh

Đại N am thực lục chính biên, tập 34, tr 167, 169.

® Lê Quốc Sử - Một sô'vấn đ ề về lịch sử kinh tế V iệ t N am , Sđd tr,445

Trang 33

tra n h vối hàiig Truiig Quốc, Ấi-1 Độ và Đông Nam Á vì giá

th à n h cao (do tiên thuê n h ân công và tiền vận chuyển cao hơn)

Để đôi phó vói tình hình đó, từ 1887 thực dân Pháp bắt đầii thực hiện chính sách bảo hộ thương m ại bằng cách baii hành chính sách thuê quan Theo đạo lu ậ t thuê quan này, hàng Pháp nhập vào Việt Nam chỉ đóng th u ế 2,5%, troiig khi đó hàng các nitốc khác phải đóng 5% giá trị hàng lioá Tiêp đó, ngày 11/1/1892, Pháp lại ra một đạo lu ậ t mối quy địiih hàng Pháp được miễn thuế, còn hàng các laiíớc khác phải đóng th u ế

từ 25% đến 120% giá trị hàng hoá khi n h ập khẩu vào Việt Nam Vối chính sách này, P háp thực hiện mục đích độc quyền thương mại, tạo điều kiện đưa h àn g P háp ồ ạ t trà n vào thị trường Việt Nam, buộc n h ân dân Việt Nam phải mua hàng của

P háp vói giá cắt cổ

Tóm lại, ngay trong quá trìn h xâm lược và đặt ách đô hộ

lên đất nước ta, bên cạnh các cuộc đàn áp, bìiib địiih về quân

sự, thực dân Pháp b ắ t đầu đề ra và thực hiện một số chính sách

về kinh tế, văn hoá và giáo dục Tuy nhiên, hoạt động trên các lĩnh vực này mối chỉ có tín h chất th ăm dò, th ể nghiệm bưóc đầu ỏ Nam Kỳ, P háp xây dựng m ột sô' cơ sở xay xát gạo, sửa chữa và lắp ráp tà u thuỷ ỏ Bắc Kỳ, một vài công trường khai

mỏ (chủ yếu là mỏ than), n ấ u rượvi, xí nghiệp dệt vải, các xưởng

cơ khí cũng đã được th à n h lập Mặc dù vậy, bộ phận kinh tế mổi (bao gồm các ngành công nghiệp và kinh tế đồn điền) do tư

b ản Pháp du u h ập vào, mối chiếm một tỷ trọng rấ t nhỏ trong nền kinh tế Việt Nam

Do những h ạn chế đó nên nền kinh tế Việt Nam vào nửa savi th ế kỷ XIX về cơ bản vẫn là một nền kinh tế nông nghiệp

m ang tín h chất tự cung tự cấp Trong cơ cấu kinh tế, bộ phận kinh tế truyền tliốiig vối h ai ngành cơ b ản là nông nghiệp và

Trang 34

th ủ công nghiệp v ẫn đóng vai trò chủ đạo Một sô" ngành kinh

tê mới, chủ yếu là công nghiệp và kinh tế đồn điền đang trên đưòng m anh n h a hình th à n h , song song với quá trìn h đẩy

m ạn h đ ầu tư của tư b ản nvíóc ngoài trê n đ ấ t nưốc ta

III- T ÌN H H ÌN H PH Â N HOÁ CÁC GIAI CẤ P XÃ H ỘI

T rên nền tả n g cơ cấu kinh tế tiềii tư b ản ấy, cấu trúc xã hội trê n căn bản v ẫn giữ nguyên như trưốc vối các giai cấp và tầng lốp xã hội như địa chủ và nông dân, thợ th ủ công và thương

n h ân , cùng các tầ n g lớp 3Ĩ phu văn th â n và quan lại

Về dân số, theo các tác giả P.Brocheux và D.Hémery'^* thì vào n ăm 1880, ỏ yiệt N am có 10.500.000 ngưòi, được phân bô'

ở các miền nEứ sau :

B ả n g 4 : Dán s ố Việt Nam vào năm 1880

nông d ân lao động còn chiếm tới 95%, tức gồm khoảng 10 triệu

P.Brocheux, D.Héưiery- Indochine la coloriisation am biguẻ (1858 ■ 1954) -

Découverte, Paris, 1995, t.r!248

Trang 35

ngưòi Lực lượiig địa chủ chiếm khoảng 3% dân sô', nhưng lại nắm trong ta y 40% diện tích ruộng đ ất canh tác Nlióm xã hội lớn th ứ ba là tần g lớp quan lại và văn th â n (nhân sĩ và th â n hào) Đây là bộ phận “rường cột” của cliê độ phong kiến, bởi vì

aó gau liền vối chế độ và Nhà nưốc trên các m ặt chúih trị xã hội và kiiah tế Sau khi đỗ đạt, những Iigưòi được bổ làm quan

{quan lại) làm việc trong bộ máy chính quyền; nhân sĩ làin côiig

việc dạy học, chuyên chú truyền bá đạo lý Kliổng - M ạnh; còn

các th â n hào ò xã thôn có trách nhiệm thu thuế, tuyển mộ binh

lính theo sự p h ân bổ của Nhà nưốc

Bộ p h ận qua n chức đưỢc hìiih th à n h qua con đưòiig thi cử

và tiến cử, thông qua các kỳ th i Hương (ở địa phương) và thi Hội, Đìiih (ở kinli đô) Số người đỗ Tiến sĩ trong các kỳ thi Hội

và th i Đìiih chiếm tỷ lệ r ấ t thấp Ví dụ, trong khoảng 70 năm

từ 1822 đến 1892, vối 30 kỳ thi Hội, triều Nguyễn chỉ tuyển chọn được 229 Tiến sĩ và 277 Plì^ bảng, tín h tru n g bìiih mỗi kỳ thi chỉ lấy đỗ 6, 7 tiến DưốiTriều Nguyễn, các Tiến sĩ được giao cho một chức vụ trong triểu đình hay ở các Bộ; còn Phó bảng đưỢc bổ làm Tri phủ hay các chức vụ tương đương Tuy nhiên, theo tác giả Y.Tsubôi, trong nền h àn h chính V iệt Nam,

giối cử nhân (được tuyển chọn trong các kỳ th i Hương) giữ vai

trò trọng yếu hơn ỏ Trung Hoa Trong khi các cử n h â n Trung

Hoa chỉ giữ các chức vụ bìiih thường th ì các cử nhân Việt N am

có nhiều khả năng lên nắm những chức vụ cao'^\ như trường hỢp T rần Đìiili Túc - Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội - N inh BìBh), Mguyễn V ăn Tvíòng (phụ chính đại thần)

A.VVoodside - Vietnam and the Chincse Modeỉ : a comparative Study of

Vietnamese and Chincse Government in the h a ỉf o f the Nineteenth Century - Cambrige, 1977, p.l78.

Trang 36

Còn tầng lớp văn thân sĩ p h u để chỉ Iihững người có học

thức, đưỢc đào luyện (qua con đường chính quy hay tự học)

b ằn g các giáo lý Kliổiig - M ạnh, biết đọc và viết chữ Hán v ề vị

tr í xã hội, tầ n g lớp này lại bao gồm hai nhóm là nhân sĩ

t h â n h à o

Giới nhân sĩ bao gồm chủ yếu là các tú tài, hoặc những

Iigưòi đang học th i hay làm nghề dạy học ở các làng mạc Họ

đảm nhiệm công việc dạy chữ ỏ làng quê và làm thư lại tại địa

phương Nlióm thân hào hay hào mục là khái niệm dùng để chỉ

những người có uy tín trong làng xã (vối các tiêu chí có tuổi,

giàu có hay đỗ đạt), đồng thòi là th à n h viên của Hội đồng kỳ

mục Lực lượng này trực tiếp th am gia quản lý các xã thôn, và

có địa vị quan trọng tro n g làng xã

Nói chung vào nử a sau th ế kỷ XIX, tần g lớp sĩ phu văn

th âii còn khá đông đảo và có vị trí cao trong xã hội Tầng lớp

“s ĩ ’ v ẫn được xếp ở vị tr í h àn g đầu trong bôn đẳng cấp ; Sĩ - Nông - Công - Thương Tuy nhiên, do bị tác động bỏi tư tưởng Nho giáo nên tầ n g lớp “S ĩ’ xem nhẹ lao động chân tay, coi thường các h o ạt động sảii x u ất và buôn bán Đây là lý do g'iải thích vì sao người tr í thức Việt Nam lại non kém trong lĩnh vực kinh doanh buôn b áu ” ’ T ầng lổp thợ th ủ công, tiểu thương,

n h ấ t là bộ p h ận chuyên nghiệp r ấ t ít ỏi H ầu h ế t các nhà buôn lốn là Hoa Kiều hoặc Ấii Kiều P h ần đông thợ th ủ công Việt Nam đều th a m gia sả n x u ấ t nông nghiệp, coi nông nghiệp là nguồn th u n h ập chính Đó là chưa kể do việc nhập khẩu ồ ạ t hàng hoá của P háp vào th ị trường Việt Nam mà hàng loạt thợ

th ủ côiig, n h ấ t là nghề ươm tơ dệt vải, và th ủ công tinh xảo bị

Y Tsuboi, Nước Đại Nam , Sđd, Ir 232.

Trang 37

th u a lỗ hay phá sản, buộc phải ngừng hoạt động để trở lại với nghề nông.

2 Bên cạnh các tần g lốp giai cấp đại biểu cho xã hội Việt

N am truyền thông nói trên, vào cuôl th ế kỷ XIX ở nước ta đã

b ắ t đầu x u ất hiện niột số lực lượng xã hội mối Trong một sô"

xưởng máy và công trường khai mỏ của người Pháp đã có hàng

nghìii công n h ân Việt Nam làm việc Nhà máy Xi m ăng Hải

Phòng đuỢc th à n h lập năm 1899 có 600 công nhân''* Nám

1900 có 4000 công n h â n làm việc trong ngành khai mỏ'^’ Riêng

ở mỏ th an Bắc Kỳ, theo báo cáo của Công sứ Q uảng Yên vào

đ ầu năm 1899, đã có trê n 2000 công n h â n làm việc tại các hầm

lò'®’ Sự x u ất hiện của đội ngũ công n h ân đầu tiên gắn liền với

các hoạt động đầu tư, mở m ang kỹ nghệ của tư bản Pháp, đã

chứng tỏ sự chuyển biến n h ấ t địiih của cơ cấu xã hội cổ truyền

Ngoài ra, còn phải kể tới sự hiện diện của bộ p h ận người

nước ngoài, chủ yếu là người P h áp ở nưốc ta thòi kỳ này Họ

h o ạt động trê n nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm các n h à tư

bản, chủ đồn điền, n h ân viên kỹ th u ậ t, công chức, nhưng đông

đảo n h ấ t là binh lính và cảnh sát, lực lượng đại diện cho đội

q u ân viễn chinh xâm lược và là công cụ của chính quyền thực

dân Cùng với các hoạt động đầu tư về kinh tế, sự có m ặt của

hàn g nghÌB người Âu ở Việt Nam vào thòi kỳ này đã tác động

m ạnh tói sinh hoạt v ậ t ch ấ t và đòi sống tin h th ầ n của ngưòi

Việt Nam, làm tă n g thêm các biến động về m ặt xã hội

A.Dumarest - La formation des classes sociales en pays enriamites

Paris, 1935, tr 30.

® Trần Văn Giàu - Giai cấp công nhân Việt Nam , Sđd, tr 54

® Báo cáo của Công sứ Quảng Yên ngày 41111899.

Trang 38

Mặc dù vậy, Iihĩíiig biến đổi trong cd cấu kinh tê và xã hội Việt Nam vào nửa sau th ế kỷ XIX còn r ấ t chậm chạp Trong xã hội, tr ậ t tự đẳng cấp Sĩ - Nông - Công - Thương và các quaii hệ gia đình dựa trê n tư tưởng Nho giáo, về cơ b ả n vẫn giũ nguyên như trưốc, và vẫn tiếp tục giữ vai trò chi phối đòi sốiig lảng xã cũng như cộng đồng dân tộc Phải đợi đến đ ầu thê kỷ x>v, cùng với cuộc khai thác thuộc địa trên quy mô lón của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam mới có những chuyển biến cơ b ản và lớn lao hơn.

Trang 39

Chương II

KINH TẾ - XÃ HỘI THUỘC ĐỊA ở VIỆT NAM

Q uan s á t quá trìiih vận động của nền kinh tê Đông Dương thời kỳ thuộc địa, n h à kinh tê học Ch.Robequain vào năm 1939

đã khái q u á t th à n h ba chu trìiih vối các nội dung khác nhau

Đó là chu trm h x u ấ t k h ẩu lúa gạo, b ắ t đầu từ những năm

Trang 40

1860; chu trìn h thứ hai b ắ t đầvi từ năm 1897 với việc thực hiện chiến lược p h át triển các n g àn h công nghiệp, khai mỏ và đồn điền; và cuôi cùng là thòi kỳ suy sụp kéo dài của liền kinh tế thuộc địa từ sau năm 1930^^’ Nliư vậy, thồi kỳ hoàng kim của

nền kinh tê thuộc địa chính là 3 th ập kỷ đầu của th ế kỷ XX

Điều này được thể hiện trưốc h ế t trong việc gia tán g n h a n h

chóng tốc độ và sô^ vốn đ ầu tư vào các ngành kinh tế của Việt

N am trong thòi kỳ này

Trong đợt khai thác I đầu th ế kỷ XX, riêng vốii đầu tư tư

n h â n ở Việt Nam và các nưóc khác trê n bán đảo Đông Dương là

238 triệu F r vàiig^^* Sô" vôn đó được p h ân bô" giữa các ngành như sau

B ả n g 5 : Tình hình phân bố vốn của tư bản tư nhân Pháp ở Đông Dương

D.Hémery lại đưa ra con sô' của J.Marseille trong Empire coỉonỉal et

ca p ìta lism e fran ọaise (années 1880 - années 1950 HistX)ire d’un divorce,

triệu Fr vàng, tính đến năm 1914 Xem P.Brocheux, D.Hémery -

Indochine, ỉa coỉonisatioĩi a m biguẻ (1858 - 1954) - Découverte, Paris,

1995, tr.356.

Ngày đăng: 29/12/2019, 13:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w