Qua thực tế dạy học có thể dễ dàng nhận thấy những điểm ưu việt trong sách giáo khoa và chương trình Tiếng Việt hiện hành tác động mạnh mẽđến kết quả học tập c a học sinh như: phát huy t
Trang 1NGHỆ GIÁO DỤC (CGD)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoaGiáo dục Tiểu học - trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình giúp đỡ,chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành khóa luận
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Lê Thị Lan Anh
- người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thu thâp tài liệu, nghiêncứu, tổng hợp và hoàn thiện đề tài
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Phạm Quỳnh Tâm
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả các số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóaluận là hoàn toàn trung thực, chưa từng có ai sử dụng và công bố trong bất kìcông trình nghiên cứu khoa học nào Các thông tin, tài liệu trích dẫn đều đượcghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Phạm Quỳnh Tâm
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1: Thời lượng học c a m i bộ sách 24Bảng 2.2: Cách bố trí bài học âm - vần từng bộ sách 26Bảng 3.1: Thống kê sự yêu thích các phần trong bài Học vần c a học
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Đối tượng nghiên cứu 6
5 Phạm vi nghiên cứu 6
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
7 Phương pháp nghiên cứu 7
8 Cấu trúc khóa luận 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Một số khái niệm liên quan 8
1.2 Mục tiêu dạy học c a phân môn Học vần 9
1.3 Nhiệm vụ c a phân môn Học vần 9
1.4 Cơ s tâm lí học - sinh lí học c a việc dạy Học vần lớp 1 10
1.4.1 Sự hình thành hoạt động có thức trẻ lớp 1 10
1.4.2 Đặc điểm c a hoạt động tư duy trẻ lớp 1 11
1.4.3 Năng lực vận động c a trẻ lứa tuổi lớp 1 12
1.5 Cơ s ngôn ngữ học c a việc dạy Học vần 12
1.5.1 Những đặc điểm ngữ âm c a tiếng Việt và dạy Tiếng Việt lớp 1 12
1.5.2 Cơ chế việc đọc, viết 13
1.5.3 Đặc điểm c a chữ viết tiếng Việt
15 1.5.4 Vấn đề dạy viết chữ cho người Việt trong các hệ thống dạy vần 15
1.6 Chương trình Tiếng Việt tiểu học 18
1.7 Sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học 19
Trang 7CHƯƠNG 2 SO SÁNH ĐỐI CHIẾU CHƯƠNG TRÌNH HỌC VẦN
GIỮA SÁCH GIÁO KHOA HIỆN HÀNH VÀ SÁCH CÔNG NGHỆ
GIÁO DỤC 21
2.1 Điểm giống nhau giữa sách giáo khoa hiện hành và sách Công nghệ giáo dục 21
2.1.1 Về nội dung 21
2.1.2 Về hình thức 21
2.2 Điểm khác nhau sách giáo khoa hiện hành và sách Công nghệ giáo dục 22 2.2.1 Số tập sách c a m i bộ sách giáo khoa 22
2.2.2 Cách thiết kế sách giáo khoa 23
2.2.3 Phân bổ thời lượng học c a m i bộ sách 24
2.2.4 Cách bố trí bài học dạy âm - vần c a từng bộ sách 26
2.2.5 Về phần Học vần mới 27
2.2.6 Về cách lập vần 28
2.2.7 Về hình thức tổ chức dạy học 29
2.2.8 Thời gian tiết dạy 30
2.2.9 Về giáo án c a giáo viên 31
2.2.10 Phần trình bày bảng c a giáo viên 43
CHƯƠNG 3 NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA MỖI CHƯƠNG TRÌNH TỚI NHẬN THỨC VÀ TRÌNH ĐỘ CỦA HỌC SINH 45
3.1 Điều tra thực trạng tâm lí học tập c a học sinh phân môn Học vần 45
3.1.1 Địa điểm tiến hành điều tra 45
3.1.2 Phương pháp điều tra 45
3.1.3 Cách thức tiến hành 46
3.1.4 Kết quả điều tra 46
3.2 Tác động tích cực c a từng bộ sách đến tâm lí học tập c a học sinh 46
3.3 Điều tra thực trạng kết quả học tập phân môn Học vần c a học sinh 49
Trang 83.3.1 Đối tượng điều tra 49
3.3.2 Nội dung kiểm tra 49
3.3.3 Thời gian và cách tiến hành kiểm tra 52
3.3.4 Kết quả khảo sát 52
3.3.5 Nhận xét kết quả 54
KẾT LUẬN 58
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 9tiếng Việt và rèn luyện bốn kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết Những kĩ
năng này được rèn luyện đặc biệt trong chương trình Tiếng Việt tiểu học, cấphọc nền tảng, nhờ đó mà học sinh có kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt
Đó cũng là lí do mà Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như các nhà nghiên cứugiáo dục thực sự quan tâm đến việc xây dựng chương trình sách giáo khoaTiếng Việt tiểu học Sự quan tâm này thể hiện trong các đợt cải cách chươngtrình và sách giáo khoa c a Bộ Giáo dục và Đào tạo trong thời gian qua c anước ta
Việc đổi mới sách giáo khoa và chương trình Tiếng Việt là một thực tếđáp ứng nhu cầu xã hội đặc biệt là trong xã hội có những bước phát triểnmạnh mẽ như ngày nay, những đổi mới là một bước tiến quan trọng theo
hướng phát triển giáo dục toàn diện và quan điểm dạy học “Lấy học sinh làm
trung tâm” Qua thực tế dạy học có thể dễ dàng nhận thấy những điểm ưu việt
trong sách giáo khoa và chương trình Tiếng Việt hiện hành tác động mạnh mẽđến kết quả học tập c a học sinh như: phát huy tính tích cực ch động c a họcsinh, nâng cao thức học tập c a học sinh (trực quan sinh động, phong phú).Hơn nữa nội dung sách giáo khoa và chương trình còn đảm bảo chất lượng
Trang 10giáo dục học sinh đáp ứng nhu cầu xã hội đó là: năng động, tích cực, sáng tạo,tạo cơ s nền tảng tốt cho học sinh các cấp học tiếp theo.
Sự đổi mới này thể hiện cả chương trình và sách giáo khoa TiếngViệt tuy nhiên các nhà cải cách luôn đặc biệt quan tâm tới phân môn Học vần
b i đây là phần kh i đầu giúp học sinh chiếm lĩnh chữ viết, một công cụ mới
để giao tiếp và học tập – công cụ giúp học sinh nhận thức một cách đầy đ hơn về thế giới xung quanh mình Làm ch chữ viết học sinh có thể đọc sáchgiáo khoa và tài liệu tham khảo, ghi chép bài giảng c a thầy cô giáo, từ đó tạođiều kiện học tốt hơn các môn học khác
Tuy nhiên trong tất cả các lần cải cách chúng ta chưa thể khắc phụcđược hết, đó là sự đồng nhất chương trình sách giáo khoa trên toàn quốc Sựkhác nhau về vùng miền, về tiếng nói, về trình độ văn hóa và cơ s vật chất đãtạo nên sự khó tiếp thu được kiến thức một số nơi (nhất là những vùng xaxôi, hải đảo, vùng núi) nơi mà cơ s vật chất, trang thiết bị không đáp ứngđược yêu cầu bài dạy như các thành phố lớn
Hiện nay trên toàn quốc đã có khá nhiều bộ sách, và trong tương lai sẽcòn phát triển thêm nhiều bộ sách nữa Tới thời điểm đó, việc lựa chọn sáchgiáo khoa cho học sinh không còn là nhiệm vụ c a các cấp lãnh đạo mà chính
là các giáo viên trực tiếp giảng dạy học sinh Điều này đòi hỏi người giáo viênphải đi sâu vào tìm hiểu và so sánh giữa các chương trình để chọn ra bộ sáchgiáo khoa phù hợp với trình độ, cơ s vật chất - trang thiết bị c a nhà trường,trình độ văn hóa chung c a vùng miền nơi giáo viên đó đang giảng dạy và cótác động tích cực nhất tới nhận thức c a học sinh Hơn nữa hiểu và nhận thứcđúng đắn hơn về từng bộ sách giáo khoa cũng giúp giáo viên luôn đảm bảođược các yêu cầu c a chương trình đặt ra, bên cạnh đó biết cách sử dụng vàkhai thác sách giáo khoa được tốt hơn
Trang 11Hiện tại trên toàn quốc đã có những bộ sách giáo khoa như: sách giáokhoa hiện hành (là bộ sách chính thống c a nhà xuất bản giáo dục, được đưavào dạy học đại trà), sách giáo khoa công nghệ giáo dục, sách giáo khoa theo
mô hình trường Tiểu học Việt Nam mới… Và tới năm nay, đã có rất nhiềutỉnh thành đưa vào thử nghiệm sách giáo khoa công nghệ giáo dục Chúng tôi
đã nhận thức sâu sắc được vai trò c a việc nắm vững điểm khác biệt c achương trình sách giáo khoa Tiếng Việt hiện hành so với các sách giáo khoaTiếng Việt công nghệ giáo dục, vì lí do đó chúng tôi đã chọn nghiên cứu sâuhơn về những vấn đề này Tuy nhiên trong khuôn khổ khóa luận, chúng tôichỉ xin nghiên cứu những điểm giống và khác nhau giữa hai chương trìnhsách giáo khoa hiện hành và sách giáo khoa công nghệ giáo dục trong phân
môn Học vần, chính vì vậy chúng tôi lựa chọn đề tài: “So sánh đối chiếu
chương trình Học vần giữa sách giáo khoa hiện hành và sách công nghệ giáo dục(CGD)”
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề việc đổi mới, chỉnh lí nội dung chương trình, sách giáo khoaluôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm Đặc biệt với sáchgiáo khoa và chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học
Kể từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chương trình Tiểu học trảiqua ba lần cải cách (1951, 1965, 1981) với khoảng thời gian giữa hai lần kiêntiếp nhau trung bình khoảng 15 năm Sau đó qua một số đánh giá các chươngtrình (chương trình 165 tuần, chương trình 100 tuần, chương trình công nghệgiáo dục), từ năm 1995, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định tổ chức soạnthảo một chương trình Tiểu học thống nhất và duy nhất, gọi tên là chươngtrình Tiểu học hiện hành Trong chương trình này có nhiều sự thay đổi vềphân môn Học vần đem lại hiệu quả giáo dục cao
Trang 12Đánh giá về vấn đề này, tác giả Trần Bá Hoành đã có bài viết trên tạp
chí Thông tin khoa học giáo dục số 111/1004 về thời lượng học tập, chương
trình và sách giáo khoa phổ thông Trong bài viết này tác giả đã thống kê và
so sánh thời lượng học tập, chương trình và một số ưu điểm c a sách giáokhoa hiện hành Qua những số liệu và căn cứ đánh giá, tác giả Trần Bá Hoành
đã đưa ra nhận xét về chương trình sách giáo khoa hiện hành Theo tác giả,chương trình đã đảm bảo sự thống nhất c a bốn chương trình Tiểu học tồn tại
từ năm 1980, chương trình có tính linh hoạt và đổi mới được cách đánh giákết quả học tập c a học sinh, bám sát mục tiêu cấp học, phù hợp với tâm sinh
lí và trình độ tư duy c a đa số học sinh
Tiếp cận nội dung chương trình, sách giáo khoa Tiếng Việt hiện hành
một góc độ khác, tác giả Trần Mạnh Hư ng trong bài viết “Quán triệt tinh
thần chỉ đạo của Bộ về giảng dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng” - Tạp chí giáo dục Tiểu học - đã đưa ra điểm ưu
việt c a chương trình, sách giáo khoa hiện hành đó là kiến thức được thể hiệntrong sách giáo khoa, riêng lớp 1 ch yếu là kiến thức về ngữ âm - chữ viết vàtập đọc được cung cấp dưới dạng thực hành và mang tính tiết thực (giúp họcsinh rèn luyện các kĩ năng), vì vậy chỉ yêu cầu học sinh có khả năng nhận biết(qua các ví dụ cụ thể) và vận dụng kiến thức đã học vào việc thực hành nghe,nói, đọc, viết tiếng Việt Trong bài viết, tác giả cũng đưa ra những kĩ năng có
thể đạt được c a học sinh như nghe hiểu, ghi nhớ nội dung, kĩ thuật đọc (từ
các thao tác đơn giản như nhận biết kí hiệu chữ viết biết phát âm đúng, biết cách đọc từ, câu đến các đoạn bài), viết đẹp, đảm bảo tốc độ theo quy định.
Đáng chú có bài viết c a tác giả Nguyễn Thế Lịch về “Nội dung và
trật tự dạy vần trong Tiếng Việt lớp 1” - Ngôn ngữ trong nhà trường số 7 - đã
đưa ra khá đầy đ các giải pháp dạy vần như dạy vần theo cấu trúc và kiểuloại vần: dạy vần chỉ có âm thanh, dạy vần không có âm đệm, dạy vần chỉ có
Trang 13âm chính, dạy các loại vần có âm cuối Hơn thế nữa tác giả còn đưa ra cơ s ngôn ngữ học và cơ s tâm lí học c a việc không dạy hết tổng số vần.
Trong cuốn “Giải đáp 88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học”
[3;trang 85] tác giả Lê Hữu Tỉnh - Trần Mạnh Hư ng đã đề cập đến những
đổi mới c a “Chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học năm 2000” và sách
giáo khoa lớp 1 tập 1, tập 2
Ngoài ra còn có những bài viết về tác động tích cực c a chương trình,sách giáo khoa hiện hành với tính tích cực ch động c a học sinh trong giờ
học Tiếng Việt như bài: “Phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong
giờ học Tiếng Việt”, tác giả Trần Thị Hiền Lương trong tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 5 Thông qua bài viết này tác giả đã nêu lên thực trạng việc dạy
và học Tiếng Việt chưa đáp ứng được việc khai thác điểm ưu việt c a sáchgiáo khoa hiện hành đó là giáo viên chưa thực sự phát huy được vai trò ch đạo c a mình trong lớp học nên chưa thể nâng cao được khả năng tự phát hiện
và ch động trong học tập c a học sinh
Trong bài “Tính ưu việt của chương trình Tiếng Việt lớp 1 công nghệ
giáo dục (CDG)” - Tạp chí giáo dục Tiểu học - c a tác giả Nguyễn Thị Chín
đã đưa ra rất nhiều nhận xét về chương trình Tiếng Việt 1 công nghệ giáo dụcnhư: chương trình Tiếng Việt là hệ thống phát triển và phù hợp với tiến triển
c a khoa học Tiếng Việt từ trừu tượng đến cụ thể Quá trình này cũng là cơ s tạo ra sự phát triển c a học sinh trong quá trình giáo dục Chương trình côngnghệ giáo dục đã hướng tới toàn bộ quá trình dạy học và nhu cầu vào lợi ích,khả năng c a học sinh với mục đích là phát triển học sinh kĩ năng và nănglực độc lập trong học tập cùng việc giải quyết các vấn đề Trong bài viết này,tác giả tập trung ch yếu vào sách công nghệ giáo dục, tuy nhiên những pháthiện này rất nghĩa b i chương trình sách giáo khoa hiện hành được xây
Trang 14dựng dựa trên kế thừa những điểm ưu việt c a sách giáo khoa công nghệ giáodục.
Bên cạnh những bài viết trên còn có rất nhiều bài viết khác xung quanhviệc bàn về chương trình sách giáo khoa hiện hành và sách công nghệ giáodục Tuy nhiên hầu hết các tác giả đều bàn về chương trình, sách giáo khoaTiếng Việt phân môn Học vần c a m i chương trình nói chung, chưa tác giảnào đi sâu và so sánh những điểm khác biệt c a hai bộ sách giáo khoa Chính
vì vậy, trong khóa luận c a mình, chúng tôi xin được so sánh, đối chiếuchương trình Học vần c a sách giáo khoa hiện hành và sách giáo khoa Côngnghệ giáo dục
3 Mục đích nghiên cứu
Qua so sánh đối chiếu giữa phân môn Học vần giữa sách giáo khoaTiếng Việt hiện hành và sách giáo khoa Công nghệ giáo dục để đưa ra nhữngđặc điểm ưu việt c a hai bộ sách, tìm hiểu những tác động tích cực tới việcdạy phân môn Học vần lớp đầu cấp Tiểu học, từ đó người giáo viên chọnlựa ra loại sách giáo khoa phù hợp nhất với trình độ nhận thức c a học sinh,phù hợp với điều kiện và cơ s vật chất c a nhà trường
4 Đối tượng nghiên cứu
Những điểm giống và khác nhau về thiết kế bài học, khi giảng dạy c achương trình Học vần giữa sách giáo khoa hiện hành và sách công nghệ giáodục, đồng thời tìm hiểu những tác động tích cực c a m i bộ sách tới nhậnthức c a học sinh
5 Phạm vi nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi đi vào tìm hiểu sự giống và khác nhau
c a hai bộ sách Học vần trong sách giáo khoa hiện hành và sách công nghệgiáo dục Do thời gian và điều kiện có hạn nên chúng tôi chỉ có thể điều trathực tế tại hai trường tiểu học:
Trang 15- Trường Tiểu học Hà Hồi, Thương Tín, Hà Nội - học theo sách giáokhoa hiện hành.
- Trường Tiểu học Nguyễn Văn Tr i, TP Nam Định - học theo tài liệuthí điểm sách Công nghệ giáo dục
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ s lí luận c a đề tài
- So sánh, đối chiếu chương trình học vần giữa sách giáo khoa hiệnhành và sách công nghệ giáo dục
- Tìm hiểu các tác động tích cực và hạn chế c a m i bộ sách tới trình
độ và nhận thức c a học sinh tiểu học trong phân môn Học vần
7 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp như:
8 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần M đầu và Kết luận, khóa luận còn bao gồm:
Chương 1: Cơ s lí luận c a đề tài
Chương 2: So sánh đối chiếu chương trình học vần giữa sách giáo khoa hiệnhành và sách công nghệ giáo dục
Chương 3: Các tác động c a từng loại sách giáo khoa tới nhận thức và trình
độ c a học sinh
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 M t số khái niệm liên quan
Theo từ điển Tiếng Việt (2008), N B Đà N ng
- So sánh: Nhìn vào cái này mà xem xét cái kia để thấy sự giống nhau,khác nhau hoặc sự hơn kém [11,tr 830]
- Đối chiếu: So sánh cái này với cái kia để từ những ch giống nhau vàkhác nhau mà biết được rõ hơn hai vật được so sánh [11,tr.325]
- Chương trình: Toàn bộ nội dung học tập, giảng dạy được quy địnhchính thức cho từng môn học , từng cấp học, bậc học, nêu vắn tắt [11,tr.250]
- Sách giáo khoa: Sách soạn theo chương trình giảng dạy và học tập trường học Sách giáo khoa là sự cụ thể hoá, hiện thực hoá chương trình.[11,tr.1043]
- Công nghệ: Là các công cụ hoặc máy móc kĩ thuật bao gồm phươngpháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình để giúp con người giải quyết một vấn
đề [11,tr.246]
- Công nghệ giáo dục: Là một cách làm giáo dục có công nghệ, đượcdiễn giải b ng một hệ thống khái niệm khoa học đi liền với kĩ thuật, đây làmột cách làm giáo dục được kiểm nghiệm b ng thực tiễn
Theo giáo sư Hồ Ngọc Đại: bản chất c a Công nghệ giáo dục là tổ chức
và kiểm soát quá trình dạy học b ng một số quy trình kĩ thuật được xử lí b nggiải pháp nghiệp vụ hay nghiệp vụ sư phạm [14,tr.4]
Và bộ sách Công nghệ giáo dục chính là tâm huyết c a ông, theo ôngCông nghệ giáo dục được viết tắt là CGD
Trang 171.2 Mục tiêu dạ học của ph n m n Học vần
Môn Tiếng Việt có mục tiêu quan trọng là rèn cho học sinh các kĩ năng
nghe, nói, đọc, viết Quá trình đọc, viết chữ phải thông qua âm, do vậy giữa
chữ và âm tiếng Việt có m i quan hệ rất chặt chẽ Chữ viết trong Tiếng Việt
là chữ ghi âm (về cơ bản là đọc thế nào viết thế ấy) cho nên lớp 1 phải kếthợp cả hai mục tiêu cơ bản là dạy chữ và dạy âm: dạy chữ trên cơ s dạy âm,dạy âm để dạy chữ
Tuy nhiên, với phần lớn trẻ em người Việt học tiếng Việt thì vấn đề cơbản đầu tiên là học sinh dùng kí hiệu (chữ viết) để mã hoá ngôn ngữ, âmthanh và hệ thống âm tiết mà các em đã sử dụng thành thạo trước khi đếntrường, nhận biết đ và ghi nhớ các kí hiệu đó B i vậy nội dung và chươngtrình, sách giáo khoa cũng như phương pháp dạy học Tiếng Việt lớp 1 phảithoả mãn yêu cầu một cách nhanh nhất giúp học sinh làm quen với hệ thống
kí hiệu mới là chữ viết, để các em có thể mau chóng sử dụng hệ thống tín hiệunày một cách hiệu quả trong giao tiếp, học tập Với yêu cầu này, có thể coimục tiêu đặc biệt cần đạt được c a phân môn Học vần chính là chữ viết
1.3 Nhiệm vụ của ph n m n Học vần
Nhiệm vụ chính c a phân môn Học vần chính là rèn các kĩ năng nghe,nói, đọc, viết cho học sinh lớp 1 Học vần là môn kh i đầu giúp các em chiếmlĩnh chữ viết, một công cụ mới để giao tiếp và học tập - công cụ giúp học sinhnhận thức một cách đầy đ hơn về thế giới xung quanh mình Làm ch chữviết, học sinh còn có thể đọc sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo, ghichép lại bài giảng c a thầy cô giáo, từ đó có điều kiện học tốt hơn các mônhọc khác trong chương trình B ng việc rèn luyện cho học sinh bốn kĩ năngnghe, nói, đọc, viết, phân môn Học vần còn góp phần nâng cao trình độ c ahọc sinh - những mầm non c a đất nước Trong chương trình Tiếng Việt lớp 1quan niệm trên đây về nhiệm vụ c a Học vần thể hiện rất rõ ràng trong toàn
bộ sách cũng như trong từng bài học M i bài học thực hiện trong khoảng thời
Trang 18gian 70 phút c a hai tiết học nhưng đã thể hiện đ cả bốn kĩ năng mà học sinhcần luyện tập Thông qua những nhiệm vụ học tập cụ thể, các bài học luôn tạođiều kiện để học sinh tham gia vào các tình huống nói năng gần gũi và giaotiếp hàng ngày.
Thông qua dạy chữ gắn liền với các kĩ năng lời nói, phân môn học vần
còn có những nhiệm vụ khác là: phát triển vốn từ cho học sinh, tập cho các
em nói - viết đúng những m u câu ng n, bồi dư ng niềm yêu thích thơ văn,
mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên hội và giáo dục đạo đức, tư cách, tình cảm, tâm hồn cho các em
1.4 Cơ sở t m lí học - sinh lí học của việc dạ học vần ở l p 1
1 4 1 S hình thành hoạt đ ng c th c tr p 1
Các nhà khoa học đã chỉ rõ r ng về mặt sinh lí trẻ em 6 - 7 tuổi thìkhối lượng não bộ đã đạt tới 90 khối lượng não bộ c a người lớn Sự chínmuồi về mặt sinh lí cùng với sự phát triển c a những quá trình tâm lí (cảmgiác, tri giác, nhớ, tư duy ) đã tạo điều kiện để các em có thể thực hiện mộthoạt động mới - hoạt động học tập Chơi cũng là một hoạt động mang tính kếhoạch, có mục đích, đó là hoạt động có thức
Tuy vậy, giai đoạn đầu lớp 1, những hoạt động này còn khá mới mẻ,khác hoàn toàn với trường mẫu giáo Khi còn học mẫu giáo, hoạt động chđạo c a các em là hoạt động chơi, còn khi bước chân vào lớp 1, hoạt độngchính c a các em là hoạt động học, đến lớp các em phải ngồi ngay ngắn, phảilàm bài tập, phải thực hiện các yêu cầu c a giáo viên Vì vậy dễ dẫn tới việccác em không chú , làm việc riêng trong giờ, chán nản, không muốn học.Hơn nữa trong nhận thức c a các em địa vị c a giáo viên lớp 1 cũng khác xavới địa vị c a giáo viên mẫu giáo, cô có những yêu cầu và các em phải hoànthành chứ không phải các em được khuyến khích như còn học mầm non
Trang 19Những điều này làm cho các em rụt rè, không dám phát biểu, không dám đọc, dần dần dẫn tới đọc sai, làm ảnh hư ng đến hiệu quả giờ học.
Những hiểu biết về tâm sinh lí trên đây định ra cho hoạt đông học tậplớp 1 (ch yếu là học vần) những mục đích và kích thích hứng thú học tập chotrẻ
1 4 2 c đi m c a hoạt đ ng tư du tr p 1
Trên cơ s thức đã hình thành, khả năng tư duy b ng tín hiệu trẻcũng phát triển Chính khả năng tư duy b ng tín hiệu là cơ s để các em lĩnhhội được chữ viết, là những tín hiệu thay thế ngữ âm độ tuổi 6 - 7 tuổi, khảnăng phân tích, tổng hợp trẻ khá hoàn chỉnh, từ đó cho phép các em có khảnăng tập tách từ thành tiếng, thành âm và con chữ
Tuy nhiên trong cảm nhận, không riêng gì trẻ em mà con người nóichung, lúc đầu sẽ tri giác, nhận biết sự vật trên tổng thể, khái quát sau đó mới
đi vào từng chi tiết nhỏ, tách bạch: “Những hình ảnh trọn vẹn này lại đượcxác định trên cơ s khái quát những hiểu biết về tính chất và đặc trưng riêngbiệt c a từng đối tượng đã tiếp nhận được dưới dạng những cảm giác khácnhau”
Trong giáo trình tâm lí học đại cương, A.V Pêtrovxkiy cho biết: “Ở
tuổi m u giáo, tư duy cơ bản mang tính trực quan hành động Đứa bé phân tích và tổng hợp những đối tượng cần nhận thức trong quá trình nó dùng tay tách ra, chia c t rồi ghép lại những sự vật khác nhau mà nó tri giác được trong lúc đỏ Trong quá trình phân tích và tổng hợp đối tượng cần nhận thức không phải bao giờ cũng phải sờ đến vật nó quan tâm nhưng trong mọi trường hợp đều cần phải em ét và hình dung một cách trực quan đối tượng
đó ” Nghiên cứu việc vận dụng âm thanh phân tích tổng hợp trong dạy vần
các trường ô Viết cũ, L'vov cho biết: “Những khảo cứu chuyên biệt và khảo
Trang 20nghiệm chỉ rõ trẻ em vào lớp 1 đ sẵn sàng tri giác các ngữ âm tách biệt, đ sẵn sàng thể hiện các hoạt động tư duy phân tích và tổng hợp”
Trang 21Như vậy, trẻ em lứa tuổi lớp 1 tư duy phân tích tổng hợp còn mangtính sơ đẳng cả nội dung và hình thức nhưng đã có mức độ cao thấp khác nhau.
1 4 3 Năng c vận đ ng c a tr l a tuổi l p 1
lứa tuổi 6 - 7 năng lực vận động c a trẻ cũng đạt được những bướcphát triển đáng kể Các em có thể ch động điều khiển các hoạt động c a cơthể như tay, mắt, đầu, cổ có thể phối hợp các hoạt động khác nhau Đây cũng
là điều kiện cần thiết để các em có thể học viết, một hoạt động đòi hỏi phải
ch động trong các hoạt động c a cánh tay, ngón tay, bàn tay trong sự phốihợp c a mắt nhìn, tai nghe, tay viết
thời kì này, thức về cấu trúc không gian c a trẻ cũng đã hình thành
Sự phân biệt bên phải, bên trái, bên trên, bên dưới không còn là điều khókhăn với các em Dựa vào đặc điểm này giáo viên có thể hướng dẫn các emđịnh hướng nét bút trên tranh giấy và tập viết các chữ cái, các kiểu chữ khácnhau
Những đặc điểm tâm, sinh lí trên đây đưa đến kết luận: lứa tuổi 6 - 7tuổi sự phát triển tâm sinh l c a trẻ đảm bảo đ điều kiện để các em bướcvào quá trình học âm- chữ, học vần
1.5 Cơ sở ng n ngữ học của việc dạy học vần
1.5.1 Những đ c đi m ngữ âm c a Tiếng Việt và dạy Tiếng Vỉêt l p 1
Đặc trưng loại hình c a tiếng Việt thể hiện ch tiếng Việt là thứ ngônngữ đơn lập Đặc trưng này thể hiện tất cả các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữpháp nhưng thể hiện rõ nhất mặt ngữ âm
ét từ góc độ ngữ âm, tiếng Việt thứ ngôn ngữ có nhiều thanh điệu vàđộc lập mang nghĩa Vì thế, trong chu i lời nói, ranh giới giữa các âm tiếtđược thể hiện rõ ràng, các âm tiết không bị nối dính vào nhau như trong cácngôn ngữ biến hình Đây là điều kiện thuận lợi cho quá trình dạy âm - dạychữ
Trang 22Về cấu tạo, âm tiết tiếng Việt là một tổ hợp âm thanh có tổ chức chặtchẽ Các yếu tố cấu tạo âm tiết kết hợp với nhau theo từng mức độ lỏng chặtkhác nhau Phụ âm đầu, vần và thanh kết hợp lỏng, các yếu tố c a vần kết hợpvới nhau khá chặt chẽ Vần có vai trò rất quan trọng trong tiếng Việt Âm tiết
có thể không có phụ âm đầu nhưng không thể thiếu vần Người Việt ưa thíchnói vần và nhạy cảm với vần Điều này thể hiện rõ trong hiệp vần thơ và cáchnói lái c a người Việt
Cách miêu tả âm tiết như một cấu trúc hai bậc là cách miêu tả phù hợpvới cảm thức tự nhiên c a người bản ngữ Việc phân điệu âm tiết ra thành các
bộ phận: âm đầu, vần, thanh điệu, do vậy cũng là điều dĩ nhiên Có thể nóithái độ này c a người bản ngữ là một xác nhận chắc chắn việc miêu tả âm tiết
c a các nhà khoa học Nói lái không phải là lối nói “lóng" c a một số người
mà là một trò chơi vì nó phổ biến và quen thuộc với trẻ em từ tuổi mẫu giáo
Một người nước ngoài dù thạo tiếng Việt, gặp phải trường hợp nói lái
sẽ lúng túng và không thể khôi phục được từ mà người nói thông báo Trái lại,một em bé bình thường lứa tuổi lớp 1 cũng nắm được điều này một cách tựnhiên
Rõ ràng, với người Việt ấn tượng về vần rất đậm nét Điều này cũng lí
giải tại sao các sách dạy tiếng Việt đầu tiên cho trẻ đều gọi là sách Học vần.
1 5 2 Cơ chế việc đọc, viết
Trong giao tiếp b ng ngôn từ người ta nảy sinh ra một , rồi dùng ngônngữ để lồng đó và phát triển thành lời Khi tiếp nhận lời nói, người nghe lạirút trong từ trong câu nghe được các c a người nói để biết người ta muốnnói gì Để chuyển thành lời người ta phải sử dụng một mã chung c a xã hộigọi là ngôn ngữ (bao gồm các từ và những quy tắc ghép từ thành câu) lựachọn sắp xếp các yếu tố c a mã đó tr thành lời cụ thể Công việc vận dụng
mã để lồng mà tạo nên lời như thế gọi là sự mã hoá Ngược lại, khi chuyển
Trang 23lời thành từ những từ, câu nghe được, người nghe phải rút ra nội dung chứađựng bên trong lời nói Công việc đó chính là sự giải mã.
Ngôn ngữ âm thanh là một mã biểu hiện dưới dạng một hệ thống tínhiệu, khi chuyển thành ngôn ngữ viết thì chữ viết lại thay thế ngôn ngữ âmthanh, làm thành hệ thống những tín hiệu c a tín hiệu, một loại mã mới dùng
để truyền đạt c a mã ngữ âm tự nhiên Nếu ngôn ngữ âm thanh là mã bậc mộtthì chữ viết là mã bậc hai Khi viết thành chữ, thực chất đã có sự chuyển đổi
từ mã một sang mã hai Khi đọc thì quy trình sẽ ngược lại Đứng trước vănbản viết (sử dụng mã hai) người đọc, trước hết phải chuyển lại thành lời, lúc
đó sẽ thực hiện giải mã bậc hai trước, rồi sau đó mới rút ra , tức là tiến hànhgiải mã bậc một
Mục đích c a Học vần là trang bị cho học sinh bộ mã 2 (chữ viết) và kĩ
năng chuyển mã (từ m 1 sang m 2 hoặc ngược lại từ m 2 sang m 1) Cho
nên trong hai quy trình viết và đọc, đã phân tích, trọng tâm dồn chú là các
khâu có liên quan đến mã 2 tức là mã hoá (viết) và giải mã 2 (đọc) Tất nhiên
cũng phải quan tâm đến việc hiểu , nhưng dù sao, vấn đề cho học sinh họcnhững lời hay đẹp trong khi dạy vần trước phải nhường ch cho mục tiêu
c a công việc này là trang bị cho các em bộ mã mới (chữ viết) và kỹ năng vận
dụng bộ mã đó trong sự truyền mã Chữ viết có tính chất là mã c a mã, là kíhiệu dùng để ghi lại ngôn ngữ âm thanh cho nên khi dạy học vần không thểtách tập đọc (đánh vần) với tập viết được
Tổ chức tập viết trong khi học vần có tác dụng c ng cố hình ảnh về chữviết mà các em nắm được qua học vần Mặt khác, b i vì việc giải mã bậc 2
(đọc) và mã hoá bậc 2 (viết) chỉ là hai mặt c a quá trình thống nhất, dạy đánh
vần phải gắn liền với tập viết Đó là một khâu không thể thiếu được trong tiếtdạy vần
Trang 241.5.3 c đi m c a chữ viết tiếng Việt
Chữ viết tiếng Việt là chữ ghi âm Nói chung đó là một hệ thống chữviết tiến bộ Nguyên tắc cơ bản c a kiểu chữ này là nguyên tắc ngữ âm học
Về cơ bản, nguyên tắc đảm bảo sự tương ứng một - một giữa âm và chữ, tức
là m i âm chỉ ghi lại một chữ, m i chữ chỉ có một cách phát âm mà thôi.Ngoài ra về mặt chữ viết, các âm tiếng Việt đều rời, có cấu tạo đơn giản nênviệc đánh vần không phức tạp lắm
Dạy học vần, dạy viết (nhất là những tiết đầu) có một số khó khăn nhấtđịnh do nguyên nhân sau:
Cấu tạo c a hệ thống chữ viết tiếng Việt còn tồn tại một số bất hợp l
như một ghi âm b ng nhiều con chữ (âm / k / ghi b ng ba con chữ c, k, q ) hoặc một chữ dùng để ghi nhiều âm (chữ g ghi âm / z / và / y /) trong từ gì và
gà Tình hình đó lúc đầu làm cho các em lẫn lộn khi viết, ví dụ: gì viết thành ghì, kẻ viết thành cẻ.
Chữ viết phân biệt theo hệ thống ngữ âm chuẩn nhưng cách đọc c a
học sinh lại thể hiện ngữ âm c a phương ngôn (nơi các em sinh sống) Học
sinh người miền Bắc thường không đánh vần được các âm quặt lưỡi, học sinhmiền Trung, miền Nam không phân biệt được chính xác các thanh hỏi, ngã
hay các phụ âm đầu /d/ với /z/, phụ âm cuối /n/ với /n g / v à / t / với /k/
ở miền Nam loại l i này khó khắc phục hơn với cách phát âm toàn dân để
trên cơ s đó dạy phát âm chuẩn
Tuy nhiên, chữ viết tiếng Việt có cấu tạo đơn giản và tiếng Việt có tínhthống nhất cao nên việc dạy đối với học sinh lớp 1 Việt Nam có thể họcthuộc trọn vẹn trong vòng hai đến ba tháng
1.5.4 Vấn đề dạy viết chữ cho người Việt trong các hệ thống dạy vần
a Khuynh hướng dạy vần theo khuynh hướng đánh vần chữ cái (dựa vào thứ tự các chữ cái trong bảng chữ cái gọi là La méthode Alphabétique)
Trang 25Nghiên cứu về khuynh hướng này chúng ta phải nói đến các tác giảnhư: Trương Vĩnh Kí (năm 1887); Đ Thận (1990); Nguyễn Hiệt Chi, LêThước (1915), Nguyễn Văn Vĩnh (1927), Phạm Như Tấn (1927), Trần MỹNguyên (1928), Trần Cành Hào (1934) Nhìn chung, tài liệu học vần c a cáctác giả trên đều có những điểm chung là:
Nội dung các sách dạy vần trên thường giống nhau, nghĩa là đều dạybảng chữ cái, các vần b ng, vần trắc, đi từ chữ ghi nguyên âm rồi ghép vớicác chữ phụ theo kiểu: ba, bà, bã, bi, bo, be…
Ngoài ra, các tác giả chú trọng tới việc dạy học chữ theo lối chữ in, viếtthường và viết hoa Do việc dạy vần lớp đồng ấu chưa phân hóa thành cácgiai đoạn dạy học vần và dạy tập đọc, nên các bài đọc phụ thường xen kẽ vớihọc vần và để phục vụ cho học vần Các sách thực hành về vần thường lựachọn bài đồng dao, ca dao gần gũi với đời sống c a trẻ, làm tăng hứng thú chotrẻ học vần
Nhìn chung, các sách dạy vần cuối thế kỉ I cho đến những năm 20
c a thế kỉ đề coi bộ chữ cái là cơ s dạy và theo hướng chữ tổng hợp.Nghĩa là muốn đọc được các từ trước hết phải biết chữ cái, biết rồi thì ghépvần Ban đầu ghép 2 chữ cái liên tiếp đến 3, 4, 5 chữ cái, việc ghép này gọi làđánh vần Phương pháp theo thứ tự bảng chữ cái đã từng sử dụng từ thời cổ
Hi Lạp và tồn tại trong trường kì lịch sử nhưng rồi cũng phải nhường ch chocác phương pháp dạy vần khác hiệu quả hơn vì nó có nhiều điểm chưa hợp lí.Học theo lối này người học không thực sự đánh vần mà thực chất chỉ là họcvẹt, ghi nhớ tiếng này gồm những âm gì ghép vào mà thành chứ thực sựkhông hiểu bản chất tại sao lại thế các chữ viết ghi âm theo nguyên tắc ngữ
âm tiếng Việt không phải bao giờ quan hệ âm - chữ cũng tương ứng 1- 1, khánhiều trường hợp một âm ghi b ng 2 - 3 kí hiệu, 1 kí hiệu b ng 2 - 3 âm, rồi 2
Trang 26kí hiệu ghép lại để biểu thị một âm Trong tình hình đó càng không thể dùngtên các chữ cái để đánh vần thành hai âm tiết.
Cách dạy vần theo hướng này do quan tâm nhiều đến việc dạy đánh vầnnên không coi trọng dạy tập viết Bộ chữ cái được giới thiệu đầu m i cuốnsách chỉ được coi như cái cớ để ghép âm, đọc vần Muốn dạy vần có hiệu quảcần coi trọng việc dạy viết chữ (mã hoá) trong quan hệ với đọc (giải mã).Điều này hệ thống dạy vần theo khuynh hướng đánh vần chưa làm được
b Khuynh hướng dạy âm g n liền với chữ cái dựa vào quan hệ âm chữ (b t đầu từ Hoàng Xuân H n)
Các tác giả nghiên cứu theo khuynh hướng này là Hoàng uân Hãn và
hệ thống dạy vần sau Cách mạng tháng Tám- 1945 c a tác giả NguyễnBình(1951); Nguyễn Hữu Đang (1953); Thanh Vân (1951); Phan Khôi(1949); Nguyễn Quang Bình, Trần Ngọc Chụ, Hoàng Đình Tuất (1950);Nguyễn Giang (1951); hệ thống dạy vần trước cải cách giáo dục c a NguyễnVăn Triệu, Nguyễn Thượng Luyến (1969,1973); Nam Hùng, Trần Văn Hơn(1972)
Những nhận xét chung về các sách dạy vần theo khuynh hướng này là:thứ nhất, phương pháp dạy đọc - viết từ sau Cách mạng tháng Tám - 1945theo khuynh hướng rút ngắn thời gian học và giúp người học nhanh chóng
biết chữ (nhất là các sách “i - tờ v lòng” trong phong trào Bình dân học vụ
c a Hội truyền bá chữ Quốc ngữ) Có thể nói việc coi trọng vấn đề dạy chữtheo nhóm chữ có nét giống nhau và dạy trên trật tự từ dễ đến khó là mộttrong những ưu điểm đáng kể c a hệ thống vần từ sau Cách mạng tháng Tám-1945
Thứ hai, từ hệ thống dạy vần c a Nguyễn Văn Triệu, Nguyễn ThượngLuyện tập viết đã được coi như một phân môn bên cạnh và theo sát sách Học
vần lớp vỡ lòng Nêu như sách Học vần v lòng thời kỳ này có cấu tạo trên
Trang 27cơ s dạy xen kẽ nguyên âm với phụ âm, dạy vần xen với các từ mang vầntrong đó (eo - mèo, êu - kêu) Điều này chứng tỏ các nhà soạn sách đã có
thức gắn âm với chữ, dạy âm để dạy chữ và chữ biểu thị âm Lần đầu tiên
những yêu cầu về kĩ thuật viết chữ được đặt ra, nhất là những năm 70, khi
miền Bắc dấy lên phong trào "vở sạch chữ đẹp” Tuy vậy do chưa đưa ra
những hướng dẫn cụ thể nên việc dạy tập viết vẫn dạy học sinh chép theo mẫuchú trọng nhiều đến yêu cầu thẩm mĩ mà coi nhẹ việc dạy viết theo quy trình.Tiếp theo đó là các sách dạy Học vần theo hướng cải cách giáo dục và CGD
1.6 Chương trình Tiếng Việt tiểu học
Theo đánh giá chung thì việc thiết kế chương trình đã dựa trên một sốnhận thức đầy đ hơn, cập nhật với quan niệm thế giới về chương trình giáo
dục Trước đây thường quan niệm chương trình (program) là văn bản xác
định nội dung học vần được nhà trường trang bị, nhờ vào đó người giáo viên
biết phải truyền đạt những kiến thức gì cho học sinh Curriculum là khái niệm
hướng về quá trình giáo dục đào tạo diễn ra tại cơ s giáo dục chứ không phảichỉ là văn bản thiết kế nội dung Nó quan tâm không chỉ hoạt động học -khám phá, chiếm lĩnh, không chỉ quan tâm nội dung mà đặc biệt quan tâm kết
quả giáo dục đào tạo Ngày nay do thuật ngữ program (chương trình với nội
hàm như trên) và thuật ngữ Curriculum là văn bản chứa nội dung cần thiết về
mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục, đồng thời cả về phương diện, tổchức thực hiện đánh giá kết quả giáo dục ây dựng chương trình là quá trìnhxác định những thành tố nói trên về quá trình giáo dục, trong đó cốt lõi vẫn lànội dung nhưng đã được thiết kế trong mối quan hệ qua lại với các thành tố
khác c a quá trình giáo dục (mục tiêu, phương pháp, phương tiện, tổ chức,
đánh giá) Đây là lần đầu tiên trong giáo dục nước ta việc biên soạn chương
trình đã xuất phát từ việc thể hiện quan điểm như vậy về chương trình
Trang 28Theo sự đánh giá qua thực tế giảng dạy thì chương trình Tiếng ViệtTiểu học và chương trình Tiểu học nói chung đã bám sát mục tiêu cấp học,phù hợp tâm sinh lí và trình độ tư duy c a đa số học sinh, đã giảm bớt tínhhàm luận, tăng thực hành ứng dụng, bảo đảm tính cơ bản, hiện đại, thực tiễn.Chương trình có cấu trúc hợp lí, bảo đảm tính hệ thống và mối liên hệ giữacác môn học Nhìn chung chương trình hiện hành đã quán triệt được địnhhướng và về cơ bản đã chú đến tính vừa sức và thích hợp với tâm lí nhậnthức c a học sinh Tiểu học.
Năm 2014 này, đề án xây dựng chương trình mới sau năm 2015 đangđược triển khai theo quy trình chặt chẽ, được sự quan tâm c a đông đảo dưluận cả nước Hiện tại đề án này vẫn chưa được quốc hội thông qua nhưng nóvẫn đang trong quá trình biên soạn, xây dựng chương trình một cách chặt chẽ,dưới sự chỉ đạo trực tiếp c a Bộ Giáo dục và Đào tạo, thu hút sự tham gia c amột lực lượng đông đảo các nhà khoa học, nhà sư phạm, thu hút sự đóng gópkiến tham gia c a giới khoa học, cán bộ quản lí và các giáo viên c a từngcấp học, phụ huynh học sinh, các tầng lớp nhân dân Điều này làm cho chúng
ta hi vọng chương trình mới này sẽ là sự kết tinh c a những kiến hay nhất,chính xác nhất, giúp các em học sinh dễ dàng tiếp thu tri thức nhân loại, đưanền giáo dục nước ta ngày một phát triển
1.7 Sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học
Sách giáo khoa là nơi cụ thể hoá những đơn vị kiến thức đã quy địnhtrong chương trình Nội dung và cấu tạo sách giáo khoa được xác định b inhiệm vụ môn học và đặc điểm đối tượng học sinh Sách giáo khoa cần đảmbảo các yêu cầu sau:
Trình bày các kiến thức l thuyết cơ bản về tiếng Việt, những quy tắc
và các định nghĩa bảo đảm tính khoa học, hệ thống, dễ hiểu đối với học sinh
Trang 29Góp phần giáo dục tư tu ng bồi dưỡng cho học sinh thế giới quan duy vậtbiện chứng, phát triển các em tư duy logic và lòng yêu mến sự giàu đẹp c atiếng Việt.
Đưa vào một số lượng vừa đ các bài tập sao cho chúng vừa phong phúvừa hiệu quả thiết thực và được sắp xếp một cách hợp lí
Hay về nội dung và hấp dẫn về hình thức (chữ in, giấy, khuôn, bìa, màu
s c phải được quan tâm)
Như vậy, trong chương 1, chúng tôi đã đưa ra những vấn đề liên quanđến đề tài c a khoá luận như: các khái niệm, các mục tiêu, nhiệm vụ c a phânmôn Học vần, chương trình Học vần và yêu cầu về sách giáo khoa Tiếng Việt.Tất cả những vấn đề nêu trên là những cơ s cần thiết mà chúng tôi căn cứvào để tìm ra được những điểm giống và khác nhau, những điểm ưu việt c a
m i bộ sách trong chương trình Học vần giữa sách giáo khoa Tiếng Việt hiệnhành so với sách giáo khoa Tiếng Việt CGD
Trang 302.1.1 Về n i dung
- Nội dung các bài học phù hợp với trình độ phát triển, đặc điểm nhận
thức c a học sinh, đảm bảo rèn luyện đầy đ cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc,
viết
- Nội dung SGK thể hiện tương đối đầy đ kiến thức cần cung cấp vàyêu cầu cần rèn luyện cho học sinh
- Việc sắp xếp thứ tự các âm, vần cũng tương đối hợp lí Âm, vần sau
có cấu tạo chữ viết gần giống với các âm, vần bài trước
2.1.2 Về hình th c
- SGK in ấn khá đẹp, có kênh hình phong phú, màu sắc tương đối hàihòa, phù hợp với tâm sinh lí học sinh, tạo được sự hứng thú c a các em tronghọc tập
Trang 31- Các ngữ liệu được chọn đưa vào chương trình đảm bảo tính phổthông, điển hình, phù hợp với đặc điểm nhận thức c a học sinh Những bài tậpđọc tuy ngắn nhưng rất hay, thể hiện sự giàu đẹp c a ngôn ngữ tiếng Việt.
- Các bài tập nh m giúp học sinh viết đúng chính tả được đưa vàochương trình một cách hợp lí, bài tập phong phú phù hợp với các vùng miền
Từ đây ta có thể nhận thấy r ng cả hai bộ sách giáo khoa đều được xây
dựng nh m mục tiêu rèn luyện đầy đ cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.
Kênh hình, kênh chữ c a cả hai bộ sách giáo khoa đều được in ấn cẩn thận,màu sắc phong phú, tạo hứng thú học tập, khám phá cho các em học sinh.Hơn nữa cả hai bộ sách đều thể hiện một cách đầy đ và hài hòa các kiến thứccần trang bị cho các em học sinh lớp 1 Các em phải đọc và viết được cáctiếng mang âm, vần, thanh điệu đã học Bước đầu đọc và viết đúng các từ,chép đúng nghĩa các câu ngắn theo đúng thời gian quy định
Quá trình học là quá trình nhận mặt chữ một cách thụ động, chỉ nhờ ghinhớ nên các em dễ quên, chính vì thế việc sắp xếp thứ tự các âm, vần: âm,vần sau có cấu tạo chữ viết gần giống với các âm, vần bài trước là một điểmsáng nổi bật trong cả hai bộ sách Điều này vừa giúp các em học thêm các âm,vần mới lại vừa c ng cố lại kiến thức về âm, vần đã học các bài trước Hơnnữa, cả hai bộ sách giáo khoa đều sử dụng những từ ngữ, các câu ngắn, đoạnngắn, tục ngữ, ca dao… phù hợp với nhu cầu học chữ và rèn kĩ năng Ngữliệu phù hợp với lứa tuổi học sinh lớp 1, có tác dụng giáo dục và m rộng sựhiểu biết, thể hiện tốt sự giàu đẹp c a tiếng Việt, làm cho các em thêm yêu và
tự hào về ngôn ngữ Việt Nam
2.2 Điểm khác nhau sách giáo khoa hiện hành và sách CGD
2.2.1 Số tập sách c a m i sách giáo khoa
Đối với sách giáo khoa hiện hành được chia thành 2 tập, tươngứng với học kì I và học kì II c a năm học
Trang 32 Đối với sách giáo khoa công nghệ giáo dục (CGD) được chia thành
3 tập (tập 1: âm - chữ, tập 2: vần, tập 3: tự học)
- Chúng ta có thể nhận thấy ngay ưu điểm lớn khi chia bộ sách thành 2tập sách giáo khoa hiện hành sẽ dễ dàng và thuận tiện cho giáo viên trongkhâu ôn tập và kiểm tra giữa kì, cuối kì Các bậc phụ huynh cũng dễ dàng hơntrong việc theo dõi và kèm cặp con em họ, khi học gần hết quyển sách cũng
có nghĩa là sắp kết thúc 1 học kì, cần sát sao và kèm cặp hơn để các em có kếtquả các bài kiểm tra, bài thi tốt nhất
- Còn sách công nghệ giáo dục, việc chia bộ sách thành 3 tập cũngmang tới những ích lợi nhất định, như việc phân chia rõ ranh giới giữa âm vàvần, sau khi học hết các âm và vần, học sinh sẽ học tiếp đến tập 3 là luyệnđọc đây học sinh sẽ có một khoảng thời gian khá dài để ôn luyện lại cáckiến thức đã được học, c ng cố thêm các âm, vần khó
2.2.2 Cách thiết kế sách giáo khoa
Sách giáo khoa hiện hành, m i bài học đều được thiết kế liền 2trang, kèm theo các tranh ảnh minh hoạ, điều này thuận tiện cho việc học, m mang kiến thức xã hội cho các em học sinh lớp 1
Tuy nhiên sách công nghệ giáo dục, m i bài học được thiết kế saocho đ lượng kiến thức cần thiết, một bài học có thể kéo dài từ 2 đến 4 tranggiấy, bài sau nối tiếp bài trước cho liền mạch Trong sách tập 1, sau m i bài
có hệ thống các âm đã học cuối m i trang sách giúp học sinh dễ nhớ bài vàvận dụng tốt các âm đã học để tạo tiếng mới Sách giáo khoa tập 2 thì có cáccâu ca dao, tục ngữ, thành ngữ cuối m i trang chứa vần vừa học Đặc biệttất cả các âm, các câu được thể hiện b ng kiểu chữ viết thường, đây chính làđiểm nổi bật c a sách CGD
- Việc thiết kế 1 bài học liền 2 trang như sách giáo khao hiện hành rấtthuận tiện cho học sinh theo dõi toàn bộ kiến thức cần đạt c a bài học ngày
Trang 33hôm đó, rất thuận tiện cho việc tìm kiếm, tra cứu Tuy nhiên không phải bàihọc nào cũng đều có lượng kiến thức vừa đ để trình bày trong 2 trang sách,điều này đòi hỏi sự cân nhắc thật kĩ lưỡng xem nên đưa vào sách giáo khoanhững phần nào là phù hợp và cần thiết nhất, bỏ đi những chi tiết không liênquan tới bài học.
- Còn về việc bố trí bài học trong sách CGD sẽ dễ dàng hơn trong khâubiên tập sách, tuy nhiên một số bài học lại bố trí khá dài ( từ 3 đến 4 tranggiấy) dễ khiến cho học sinh thấy chán, không muốn học Hơn nữa tập 3, sốlượng hình ảnh giảm đi rất nhiều (m i bài chỉ còn từ 1 - 2 hình ảnh), thay vào
đó kênh chữ tăng lên đáng kể, điều này làm giảm hứng thú học tập c a các emhọc sinh, hơn nữa đã hạn chế phần nhìn, khiến các em không được quan sát
và m mang thêm nhiều hình ảnh về tự nhiên - con người - xã hội
2.2.3 Phân ổ thời ượng học c a m i sách
Bảng 2.1: Thời lượng học của m i sách
Sách giáo khoa hiện hành Sách giáo khoa CGD
Số tiết ôn tập / năm 30 48
- Dựa vào bảng trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy r ng với bộ sáchCGD, các em học sinh sẽ có thêm 1 tuần học nữa so với các em học sách giáokhoa hiện hành Tuy nhiên nội dung kiến thức vẫn chỉ được gói gọn trong 35tuần - cũng giống với sách giáo khoa hiện hành S dĩ có sự chênh lệch này
b i bộ sách CGD có thêm tuần 0 đầu năm học, tuần học này các em sẽ
Trang 34được làm quen với bạn bè, cô giáo, làm quen với môi trường mới, làm quenvới các đồ dùng học tập, vị trí (trên - dưới, trước - sau), làm quen với các tròchơi c ng cố kĩ năng sẽ sử dụng khi học phân môn Học vần, làm quen với các
kí hiệu trong sách Hết 10 tiết c a tuần học đầu tiên với phương châm: học
mà chơi - chơi mà học, các em bước vào tuần học thứ hai là “tuần 1”, từ đâycác em mới thực sự tiếp cận với việc học vần một cách nghiêm túc
- Bước từ trường Mầm non lên trường Tiểu học, chắc hẳn các em cònrất nhiều bỡ ngỡ, sợ hãi, thậm chí là khóc lóc, không dám dời xa bố mẹ thìcác em còn tâm trí đâu để tập trung vào những bài học Học vần đầu tiên - đơngiản nhưng vô cùng quan trọng Nhất là đầu năm 2014 này, Bộ Giáo dục vàĐào tạo đã ra chỉ thị: nghiêm cấm dạy trẻ trước tuổi đến trường dưới mọi hìnhthức với phạm vi trên toàn quốc thì việc nên đưa thêm một tuần học đầu tiên
để các em có thể làm quen với môi trường mới, s n sàng học tập là điều vôcùng cần thiết Một tuần học, xét về thời gian thì không phải là quá dài để gọi
là các em phải học nhiều đến mức quá tải, nhưng nếu có thì hiệu quả to lớnthế nào chắc chúng tôi và các bạn đều có thể hiểu được
- Hơn nữa, sách giáo khoa hiện hành, luật chính tả chỉ được dạy lồngghép trong các bài học, còn sách CGD lại tách riêng 6 tiết để dạy cho học sinh
về luật chính tả (chưa kể các tiết luyện tập) Nếu là các âm - vần thì lại lànhững kiến thức mang tính cụ thể khi các em được nhìn, được phát âm, đượcviết hàng ngày Nhưng luật chính tả lại là kiến thức mang tính trừu tượng cao,các em phải ghi nhớ trong đầu, nếu không được nhắc đi nhắc lại nhiều lầnchắc chắn sẽ quên Vì vậy việc xây dựng các tiết học riêng về luật chính tả làrất phù hợp và cần thiết với lứa tuổi học sinh lớp 1, các em còn quá nhỏ, cáckiến thức khác nhau nên để riêng thành các tiết học nhỏ, tăng khả năng ghinhớ và thực hành luyện tập, thuận tiện cho việc ôn tập và hệ thống lại các bàihọc
Trang 35Âm bắt đầu /e/ /a/, /b/
Âm kết thúc /y/, /tr/ /y/
Vần bắt đầu /ia/ /an/
Vần kết thúc /uynh/, /uych/ /uau/, /uêu/, /uyu/
- Thông qua bảng thống kê trên, chúng ta nhận thấy có sự chênh lệchgiữa số lượng âm - vần c a 2 bộ sách Về phần âm, sách giáo khoa hiệnhành, ngoài việc dạy đầy đ 29 âm trong bảng chữ cái tiếng Việt, bộ sách còn
đưa ra các âm ghép (nh, ng, qu, th…) Còn đối với sách CGD, bộc sách đã đưa ra hệ thống âm theo phiên âm quốc tế, chính vì vậy âm /k/ sẽ có 3 cách viết là “c, k, q” Cách sử dụng các âm này được đưa trực tiếp vào bài luật
chính tả Vì vậy số lượng âm trong sách CGD ít hơn sách giáo khoa hiệnhành, nhưng về bản chất thì hoàn toàn giống nhau ét về vần thì hoàn toàn