nhập cùng xu hướng thế giới phát triển xanh và bền vững và giúp chính quyền thị xã có công cụ quản lý, nên việc chọn đề tài: “Nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch mạng lưới đường bộ đô thị N
Trang 2Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHAN CAO THỌ
Phản biện 1: PGS.TS CHÂU TRƯỜNG LINH
Phản biện 2: TS PHAN LÊ VŨ
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Chuyên ngành Kỹ thuật Xây dựng Công trình Giao thông họp tại Trường Đại
học Bách khoa Đà Nẵng vào ngày 18 tháng 08 năm 2018
* Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Học liệu và Truyền thông Trường Đại học Bách khoa
Đại học Đà Nẵng
- Thư viện Khoa Xây dựng Công trình Giao thông, Trường Đại học
Bách khoa - ĐHĐN
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết lựa chọn đề tài
Thị xã Ninh Hòa nằm phía Bắc tỉnh Khánh Hòa và nằm trong một phần diện tích thuộc Khu kinh tế Nam Vân Phong có vị trí thuận lợi về giao lưu trong nước và quốc tế, trong đó có giao thông đường bộ, đường thủy và đường sắt Ngày 11/3/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 51/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt quy hoạch Khu kinh tế vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020, trong đó xác định Khu kinh tế vịnh Vân Phong có các ngành kinh tế chủ đạo là dịch vụ cảng trung chuyển quốc tế, dịch vụ du lịch, công nghiệp và các ngành kinh tế biển và xác định mục tiêu đến năm 2020 xây dựng đô thị Ninh Hòa thành đô thị loại III với quy mô dân số khoảng 241 nghìn dân [1] đã tạo ra những tiềm năng cơ hội phát triển rõ nét hơn cho đô thị Ninh Hòa, hình thành một trung tâm kinh kế tổng hợp khu vực phía Bắc tỉnh Khánh Hòa
Từ năm 2005, thị xã Ninh Hòa đã thực hiện dự án “Quy hoạch giao thông vận tải Ninh Hòa đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” và đến năm 2008 thực hiện đồ án “Điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng đô thị Ninh Hòa đến năm 2020”
Từ đó đến nay, hệ thống giao thông vận tải thị xã Ninh Hòa đã phát triển hơn mở đường cho phát triển kinh tế - xã hội của thị xã Tuy nhiên, đồ án quy hoạch giai đoạn này mới chỉ tập trung vào quy mô đầu tư mạng lưới đường phố, hạ tầng kỹ thuật của
đô thị vừa và nhỏ giữa loại IV và loại III dẫn đến việc triển khai thực hiện quy hoạch
ở giai đoạn này (những năm 2015 - 2020) không còn phù hợp, hầu hết các đồ án quy hoạch chỉ quan tâm đến bề rộng lòng đường, vỉa hè v.v trong khi đó vấn đề kết nối tuyến, sử dụng không gian mặt cắt ngang theo hướng tích hợp phát triển GTCC, đậu
đỗ, dừng xe chưa được quan tâm Đặc biệt trong bối cảnh các đô thị ven biển nước ta chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu dẫn đến tình trạng ngập úng, ùn tắc và tai nạn giao xảy ra thường xuyên hơn
Ngày 25/10/2010 tại Nghị quyết số 41/NQ-CP của Chính phủ phê duyệt huyện Ninh Hòa trở thành thị xã, đô thị loại IV, những quy hoạch cũ nói chung trong đó có qui hoạch GTVT không còn phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thị
xã, công tác quản lý, đầu tư hạ tầng và phương tiện giao thông vận tải được các cấp chính quyền thị xã và tỉnh Khánh Hòa quan tâm, tuy nhiên đơn vị tư vấn đã gặp khá nhiều lúng túng khi triển khai các dự án hạ tầng vì lý do chưa có quy hoạch hoàn chỉnh về GTVT đô thị mà vẫn đang phải dùng các quy hoạch cũ từ 2005 trong đề án nâng cấp đô thị lên loại III, chính vì vậy để kịp thời triển khai các dự án đầu tư hòa
Trang 4nhập cùng xu hướng thế giới phát triển xanh và bền vững và giúp chính quyền thị xã
có công cụ quản lý, nên việc chọn đề tài: “Nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch mạng
lưới đường bộ đô thị Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 và tầm nhìn năm
2030 theo hướng phát triển xanh và bền vững” là vô cùng cần thiết và cấp bách hiện
nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
a Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm mục tiêu phát triển hệ thống giao thông xe buýt, xe đạp và bộ hành hướng đến phát triển xanh và bền vững cho đô thị Ninh Hòa định hướng đến năm 2030
b Mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu mạng lưới đường bộ hiện trạng, phân tích đánh giá thực trạng về
hạ tầng kỹ thuật phục vụ giao thông, thu thập số liệu về tăng trưởng xe, đưa ra dự báo
về giao thông vận tải trong tương lai
- Đề xuất các giải pháp về quy hoạch sử dụng đất có xét đến định hướng phát triển vận tải xanh trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thị xã
- Đề xuất các giải pháp về hạ tầng theo hướng phát triển xanh và bền vững
- Đề xuất các giải pháp về cơ chế, chính sách, các giải pháp thuận lợi để người tham gia giao thông tự nguyện lựa chọn phương án giao thông bằng xe đạp và đi bộ trong khu vực nội thị và khu vực ngoại thị sử dụng phương tiện GTCC là xe buýt giảm thiểu số lượng người sử dụng phương tiện cá nhân
3 Đối tượng nghiên cứu
Mạng lưới giao thông đường bộ khu vực phường trung tâm thị xã Ninh Hòa: Phường Ninh Hiệp, Ninh Hà, Ninh Giang, Ninh Đa, Ninh Diêm, Ninh Hải và Ninh Thủy Phương tiện xe buýt chất lượng cao, xe đạp và người đi bộ trên địa bàn 07 phường
Người dân trên địa bàn thị xã Ninh Hòa trong đó có xét đến người dân nơi khác đến công tác và làm việc như: công nhân nhà máy tàu biển Hyunhdai Vinashin, nhà máy Nhiệt điện Sumitomo, Khu công nghiệp Ninh Thủy v.v
4 Phạm vi nghiên cứu
a Về không gian: Khu vực tập trung dân cư tại các phường trung tâm của thị
xã Ninh Hòa là: phường Ninh Hiệp, Ninh Hà, Ninh Giang, Ninh Đa, Ninh Diêm, Ninh Hải và Ninh Thủy
b Về thời gian: Đến năm 2020 và tầm nhìn năm 2030
Trang 55 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận văn sử dụng một số phương pháp chủ yếu như:
- Phương pháp khảo sát, thu thập thông tin và phân tích bằng thống kê toán học
+ Đánh giá mạng lưới đường bộ đô thị Ninh Hòa thông qua quan sát, thị sát và thu thập số liệu từ các đồ án quy hoạch liên quan đến ngành giao thông vận tải đã được phê duyệt
+ Khảo sát nhu cầu người dân sử dụng xe buýt
+ Khảo sát nhu cầu sử dụng sử dụng xe đạp và bộ hành tại các phường trung tâm đô thị
- Tìm hiểu cơ sở lý thuyết quy hoạch, thiết kế phố đi bộ: Sưu tầm, diễn dịch các kết quả nghiên cứu, tài liệu trong và ngoài nước có liên quan đến luận văn để tổng hợp, phân tích các kết quả nghiên cứu rút ra các kết luận cần thiết
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUY HOẠCH GIAO THÔNG ĐÔ THỊ THEO HƯỚNG
PHÁT TRIỂN XANH VÀ BỀN VỮNG
1.1 Các khái niệm phát triển xanh và bền vững
- Phát triển xanh hay tăng trưởng xanh
- Phát triển bền vững
- Giao thông xanh
1.2 Các khái niệm đô thị phát triển xanh và bền vững
Để phát triển giao thông theo hướng xanh và bền vững, thành phố Curitiba đã tiến hành thực hiện quy hoạch tổng thể trong thập niên 60 và 70 trên cơ sở quy hoạch tích hợp giao thông và sử dụng đất Trong số các thành phố sử dụng xe buýt của Brazil thì thành phố Curitiba có tỉ lệ người sử dụng phương tiện này cao nhất, đây là một chiến lược phát triển mạng lưới GTCC hợp nhất theo trục chính và các tuyến nhánh, một thành phố tuyến tính, một hệ thống tích hợp các vấn đề nhà ở, khu vực thương mại phức hợp, khu bảo tồn lịch sử và không gian công cộng, sử dụng đất, mạng lưới đường bộ để hướng đến phát triển giao thông xanh và bền vững
1.4.2 Thành phố Vancouver – Canada
Thành phố Vancouver để đạt được thành phố xanh hướng tới năm 2020, chính quyền thành phố đã đặt ra tiêu chí giảm phát thải khí nhà kính khoảng 33% và chủ động trong lĩnh vực giao xanh, thành phố đặt 2 mục tiêu chính là hướng tới 50% dân
số đi bộ, đi xe đạp hoặc GTCC và giảm sử dụng xe cơ giới 20%
1.4.3 Hà Lan
Để phát triển giao thông xanh và bền vững, góp phần duy trì sức khỏe của người dân, bảo vệ môi trường bằng loại hình xe đạp, Hà Lan đã đầu tư cơ sở hạ tầng
Trang 7tương đối tốt và hệ thống cho thuê xe rất phổ biến rất tiện lợi, giúp cho người dân tiếp cận loại hình giao thông này dễ dàng và được mệnh danh là “thiên đường xe đạp” trên thế giới
hệ thống; phát triển hệ thống kiểm soát tín hiệu giao thông GLIDE; kiểm soát giao thông sử dụng dữ liệu hệ thống định vị toàn cầu v.v… nhằm phục vụ người dân dễ tiếp cận các loại phương tiện, đi lại thuận tiện và an toàn theo xu hướng phát triển xanh và bền vững
1.5 Quy hoạch giao thông đô thị theo hướng phát triển xanh và bền vững của các đô thị lớn Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng
1.5.1 Thành phố Hà Nội
Thành phố Hà Nội, việc phát triển giao thông công cộng ít gây ô nhiễm môi trường theo hướng phát triển xanh và bền vững đã có từ thập niên 80 đó là xe điện bánh sắt và xe điện bánh hơi, do giai đoạn lịch sử có những thay đổi cho nên loại hình giao thông này không còn hoạt động Đến nay, với sự phát triển kinh tế - xã hội của một thành phố đầu tàu của cả nước đang trong thời kỳ kinh tế hội nhập quốc tế, cùng hòa nhập chung với xu hướng phát triển của thế giới, việc phát triển hệ thống giao thông công cộng bằng các loại hình giao thông như: tàu điện, xe buýt nhanh (BRT), xe đạp, đi bộ v.v đang được thành phố triển khai theo đề án quy hoạch giao thông vận tải thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt nhằm hướng đến xây dựng thủ đô xanh, văn hiến, văn minh hiện đại
1.5.2 Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị có dân số lớn nhất cả nước trên 8 triệu dân,
để giảm ùn tắc giao thông hạn chế người dân sử dụng phương tiện cá nhân, hạn chế ô nhiễm môi trường, lãnh đạo thành phố đã triển khai nhiều dự án giao thông như: tuyến xe buýt nhanh (BRT) dọc hành lang Đại lộ Võ Văn Kiệt – Mai Chí Thọ, tuyến
xe buýt xanh chạy bằng khí nén thiên nhiên (CNG) và tuyến Metro chợ Bến Thành –
Trang 8Suối Tiên được khởi công tháng 8/2012 dự kiến đưa vào khai thác sử dụng năm 2020 v.v Các tuyến phố đi bộ đã được hình thành, phục vụ cho người dân, khách du lịch đến tham quan và vui chơi nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thành phố Để hướng đến một đô thị văn minh, hiện đại, lãnh đạo UBND thành phố đã quan tâm đến công tác lập quy hoạch, triển khai, thực hiện các dự án giao thông phát triển theo hướng xanh và bền vững
1.5.3 Thành phố Đà Nẵng
Mụctiêu của thành phố là xây dựng hệ thống giao thông vận tải đồng bộ, bền vững, hiện đại và phân kỳ đầu tư hệ thống giao thông vận tải theo các giai đoạn, xác định các dự án thứ tự ưu tiên, để có cở sở triển khai các mục tiêu này, UBND thành phố đã ban hành Bộ chỉ số phát triển xanh và bền vững, đây là công cụ đo lường, giám sát, nhằm giúp lãnh đạo thành phố trong quá trình định hướng và điều chỉnh các mục tiêu phát triển đô thị nhằm ứng phó tốt với rủi ro, cải thiện môi trường và giảm nhẹ biến đổi khí hậu và có thể xây dựng Đà Nẵng trở thành một thành phố môi trường, cung cấp một môi trường an toàn và lành mạnh cho người dân
1.6 Quy hoạch giao thông đô thị theo hướng phát triển xanh và bền vững của các đô thị loại I, II, III của các tỉnh, thành phố
1.6.1 Thành phố Biên Hòa
Để thực hiện phát triển giao thông vận tải theo hướng phát triển xanh và bền vững đối với thành phố Biên Hòa, lãnh đạo thành phố chỉ mới nghiên cứu ở bước đầu, trong thời gian đến, chính quyền thành phố Biên Hòa sẽ phát triển thí điểm tuyến
xe buýt sử dụng nhiên liệu sạch CNG thay thế xe buýt diesel trong hệ thống vận tải công cộng sao cho phù hợp với mô hình giao thông xanh trong định hướng phát triển bền vững giao thông đô thị thành phố
1.6.2 Thành phố Nha Trang
Đối với thành phố Nha Trang việc phát triển giao thông công cộng theo hướng xanh và bền vững còn nhỏ lẻ chủ yếu là các công ty, tư nhân đứng ra tổ chức thực hiện nhằm phục vụ cho khách du lịch đến tham quan tại thành phố Đối với các dự án lớn như: xe buýt nhanh (BRT), xe buýt sử dụng nhiên liệu sạch (CNG) v.v thành phố Nha Trang chưa có
1.6.3 Thành phố Hội An
Về ý tưởng giao thông xanh thành phố đã tổ chức nhiều chương trình, trò chơi hùng biện “Ý tưởng giao thông xanh” nhằm tuyên truyền đến mọi người tham gia giao thông bằng những phương tiện xanh và Hội An là thành phố đầu tiên trên cả nước ký cam kết sự kiện “Ngày không khói xe” do thế giới được tổ chức hàng năm
Trang 9Việc đưa xe điện, xe đạp vào hoạt động trong thành phố cũng là một cách để hướng đến sử dụng “giao thông xanh” trong tương lai, phù hợp với điều kiện tự nhiên, môi trường và xã hội của vùng đất di sản
1.6.4 Các thị trấn, thị xã là đô thị loại III, IV
Hầu hết đồ án quy hoạch mạng lưới giao thông vận tải chỉ mới tập trung vào quy mô đầu tư mạng lưới đường phố, hạ tầng kỹ thuật của đô thị vừa và nhỏ, hầu hết các đồ án quy hoạch chỉ quan tâm đến bề rộng lòng đường, vỉa hè v.v trong khi đó vấn đề kết nối tuyến, sử dụng không gian mặt cắt ngang theo hướng tích hợp phát triển GTCC, xe đạp và bộ hành theo hướng phát triển xanh và bền vững chưa được quan tâm
1.7 Nhận xét, kết luận
1.7.1 Nhận xét
- Đối với các nước phát triển trên thế giới: phát triển hoàn thiện hệ thống mạng lưới giao thông vận tải; đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào thiết kế, xây dựng khai thác, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông theo hướng thân thiện với môi trường; phát triển mạng lưới VTHKCC; kiểm soát khí thải từ phương tiện giao thông Bên cạnh đó, thực hiện xây dựng các tuyến phố đi bộ, khuyến khích cộng đồng tham gia giao thông bằng các phương tiện phi cơ giới như
xe đạp, xe điện và đi bộ, đồng thời khuyến khích việc đầu tư phương tiện vận tải công cộng khối lượng lớn sử dụng năng lượng sạch, ít gây ô nhiễm môi trường như tàu điện ngầm, tàu điện trên cao và xe buýt nhanh v.v… giúp cho người dân của mỗi quốc gia di chuyển nhanh, an toàn, thuận tiện, dễ dàng tiếp cận các loại hình giao thông và yếu tố an toàn luôn đặt lên hàng đầu
- Đối với đô thị lớn của nước ta như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng v.v… xây dựng hệ thống giao thông vận tải phát triển theo hướng xanh và bền vững mới ở giai đoạn đầu như Hà Nội đầu tư đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông, tuyến
xe buýt nhanh BRT v.v… thành phố Hồ Chí Minh đầu tư tuyến xe buýt nhanh BRT dọc hành lang Đại lộ Võ Văn Kiệt – Mai Chí Thọ, dự án Metro Bến Thành – Suối Tiên, phố đi bộ Đại lộ Nguyễn Huệ v.v… thành phố Đà Nẵng đã xây dựng Bộ chỉ số phát triển xanh và bền vững từng bước phát triển mạng lưới giao thông vận tải đa dạng, hiện đại, thân thiện môi trường, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân thành phố
- Đối với các đô thị thuộc các tỉnh, thành phố: Phát triển giao thông xanh một
số thành phố chỉ mới triển khai thí điểm hoặc mới triển khai thực hiện các đề án như thành phố Biên Hòa đề xuất phát triển thí điểm tuyến xe buýt sử dụng nhiên liệu sạch
Trang 10CNG thay thế xe buýt diesel, thành phố Hội An khuyến khích người dân sử dụng xe đạp, thành phố Nha Trang xây dựng mô hình cho thuê xe đạp đối với khách du lịch v.v…
- Đối với các thị xã là đô thị loại IV, III: Mạng lưới giao thông vận tải chỉ mới tập trung vào quy mô đầu tư mạng lưới đường phố, hạ tầng kỹ thuật của đô thị vừa và nhỏ, hầu hết các đồ án quy hoạch chỉ quan tâm đến bề rộng lòng đường, vỉa hè v.v trong khi đó vấn đề kết nối tuyến, sử dụng không gian mặt cắt ngang theo hướng tích hợp phát triển GTCC, xe đạp và bộ hành theo hướng phát triển xanh và bền vững chưa được quan tâm
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MẠNG LƯỚI GIAO THÔNG
VẬN TẢI ĐƯỜNG BỘ ĐÔ THỊ NINH HÒA
2.1 Giới thiệu chung về mạng lưới giao thông vận tải Ninh Hòa
Thị xã Ninh Hòa đã xây dựng được hệ thống giao thông đối ngoại phát triển khá toàn diện gồm đường bộ, đường sắt và đường thủy có tác động tích cực đến sự phát triển của thị xã Cụ thể như sau:
Để có cơ sở thực tế, tác giả thống kê, phân tích và đánh giá lại thành phần dòng
xe, lưu lượng, tốc độ, mật độ giao thông trên truyến và tại các nút giao và đánh giá lại
Trang 11đồ án quy hoạch giao thông năm 2005 của UBND tỉnh Khánh Hòa phê duyệt Từ đó, tham chiếu và xem xét những vấn đề bổ sung trong quá trình khảo sát để có cơ sở thực hiện điều chỉnh quy hoạch giao thông theo hướng phát triển xanh và bền vững
2.2.1 Đánh giá hiện trạng
a Điều kiện đường
Để có cơ sở điều chỉnh lại quy hoạch giao thông đô thị Ninh Hòa, tác giả tập trung phân tích, đánh giá điều kiện đường bao gồm một số yếu tố chính như sau:
- Phân loại đường: Đề tài phân chia thành 02 nhóm đường: nhóm đường đô thị
và nhóm đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện và đường xã
- Khảo sát, đánh giá lại tổng chiều dài, loại mặt đường, bề rộng lòng đường, bề rộng vỉa hè, dải phân cách, hệ thống cây xanh, hệ thống điện chiếu sáng và hệ thống thoát nước, chỉ giới xây dựng, chỉ giới đường đỏ để làm cơ sở xem xét điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp
* Nhóm đường nội thị
Gồm các tuyến đường trục chính dài 70km, chỉ giới đường đỏ từ 13m – 30m, mặt đường bê tông nhựa, có dải phân cách, vỉa hè dành cho người đi bộ, có hệ thống thoát nước, điện chiếu sáng, hệ thống cây xanh dọc theo các tuyến đường
* Nhóm đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện và đường xã
- Đường Quốc lộ: Có tổng chiều dài 76km, gồm 03 đường: Quốc lộ 1A dài 30km, Quốc lộ 26 dài 32km và Quốc lộ 26B dài 14km
- Đường tỉnh lộ: Với chiều dài 144,9km, đường tỉnh lộ có cấp đường từ cấp IV đến cấp III bề rộng mặt đường từ 7,0m, nền đường rộng từ 9,0 – 12m, mặt đường bằng kết cấu bê tông nhựa và thấm nhập nhựa, các đoạn qua khu dân cư bố trí rãnh thoát nước, điện chiếu sáng và cây xanh
- Đường huyện: Tổng chiều dài các tuyến đường liên xã là 95,8km Từ năm
2015 đến nay thị xã đã thực hiện đầu tư mới, mở rộng, nâng cấp mạng lưới đường liên xã các xã, phường Chất lượng mặt đường đã được cải thiện đáng kể, đặc biệt là các tuyến đường liên xã, bề rộng mặt trung bình 3,5m – 7,0m Phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân trong vùng, kết nối trung tâm thị xã với trung tâm các xã, phường
- Đường xã: Tổng chiều dài 458,3km, được sự quan tâm của chính quyền địa phương, sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau, các tuyến đường giao thông nông thôn liên thôn, liên xóm, đã được đầu tư mặt đường bằng bê tông xi măng, láng nhựa, cấp phối đá dăm trên 70%, diện tích mặt đường, còn lại mặt đường cứng hóa bằng đá dăm, gạch đá và các đường nội đồng chủ yếu là đường đất
Trang 12* Hệ thống bến, bãi
Thị xã Ninh Hòa có 01 bến xe liên tỉnh, nằm trên trục đường Quốc lộ 1A, thuộc địa bàn phường Ninh Giang, với diện tích 5.000m2
và 01 bến xe Ninh Hòa vận chuyển hàng hóa với diện tích 2.500m2 Hai trạm điều hành tuyến xe buýt (bố trí quay đầu xe, xưởng bảo dưỡng phương tiện v.v…) diện tích mỗi trạm 1.500m2
Như vậy, điều kiện đường của thị xã Ninh Hòa tương đối hoàn thiện, mặt đường được đầu từ bê tông nhựa hoặc bê tông xi măng, bề rộng lòng đường, vỉa hè tuân thủ theo TCXDVN 104 – 2007 và bố trí đầy đủ hệ thống cây xanh, điện chiếu sáng, thoát nước và hệ thống bến bãi Tuy nhiên, về hạ tầng một số tuyến còn thiếu, chưa đầu tư kịp thời như: vỉa hè dành cho người đi bộ, hệ thống cây xanh, chiếu sáng
b Điều kiện giao thông
Tác giả tiến hành thống kê, khảo sát lưu lượng, tốc độ, thành phần dòng xe lưu thông tại các nút giao thông, lần lượt là những điểm giao cắt giữa các trục đường chính đô thị, đường phố gom và đường phố nội bộ đã được phân loại và xác định trong mạng lưới giao thông đô thị Ninh Hòa để làm cơ sở xem xét điều chỉnh quy hoạch, mở rộng số làn xe tăng khả năng thông hành đảm bảo mức độ phục vụ
- Thành phần dòng xe: (thời gian quan sát trong 1 giờ, tại 03 tuyến đường: Trần Qúy Cáp, đường 2 tháng 4 và đường Nguyễn Huệ)
+ Xe ô tô tải: 97 xe (chiếm tỷ lệ 4,48%)
+ Xe ô tô con: 182 xe (chiếm tỷ lệ 8,4%)
- 2007
N = (97 + 24) x 2 + 182 x 1 + 1.225 x 0,3 + 639 x 0,2 = 1.343xcqd/h
- Tốc độ trung bình của các loại phương tiện khi tham gia giao thông trong khu vực nội thị là 30km/giờ (kết quả sử dụng máy đo tốc độ của Đội Cảnh sát giao thông thị xã Ninh Hòa, tại các vị trí đường Trần Qúy Cáp, đường 2 tháng 4 và đường Nguyễn Huệ)
Trang 13Như vậy, cơ cấu phương tiện tham gia giao thông mất cân đối (trong khu vực nội thị, thành phần xe máy chiếm tỷ lệ cao 56,53%), tình trạng kẹt xe, ùn tắc giao thông vào giờ cao điểm chưa xảy ra, nhưng với tình hình phát triển các loại phương tiện như hiện nay, chính quyền địa phương không có giải pháp chiến lược để xem xét điều chỉnh lại quy hoạch và tổ chức lại giao thông tại một số tuyến đường, khu vực thì việc xảy ra kẹt xe, ùn tắc giao thông tại đô thị Ninh Hòa là điều khó tránh khỏi trong thời gian đến
c Điều kiện tổ chức và điều khiển giao thông
Như vậy, qua khảo sát tác giả nhận thấy vào giờ cao điểm lưu lượng xe lưu thông rất lớn, với nhiều thành phần dòng xe khác nhau Hiện tại hình thức tổ chức điều khiển giao thông chủ yếu vẫn là sử dụng các vòng đảo bán kính lớn hoặc các hình thức đảo dẫn hướng khác nhau kết hợp với điều khiển bằng tín hiệu đèn
d An toàn giao thông
Theo số liệu tai nạn giao thông phòng Cảnh sát giao thông Ninh Hòa cung cấp, số liệu tai nạn giao thông qua các năm từ năm 2013 đến năm 2017, cụ thể như sau:
Bảng 2.1 Bảng thống kê số vụ tai nạn xảy ra các năm xảy ra trên địa bàn thị
Số vụ tai nạn (vụ) 41 42 30 36 26
Số người chết (người) 44 49 31 40 26
Số người bị thương (người) 21 9 10 16 8
Như vậy, mặc dù chính quyền địa phương đã tập trung và thực hiện quyết liệt các giải pháp trong công tác bảo đảm trật tự ATGT như: đầu tư nâng cấp mở rộng các tuyến đường, cải tạo nút giao, lắp đặt thêm hệ thống biển báo, biển chỉ dẫn cho người