Hai con đường trên có những ưuthế riêng với việc đánh giá chế độ sinh hoạt cho trẻ, góp phần giáo dục, hoànthiện trẻ.Vì thế, là một giáo viên mầm non tương lai, chúng tôi đặc biệt rất qu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC -
TRỊNH THỊ SEN
ĐÁNH GIÁ CHẾ ĐỘ SINH HOẠT CỦA TRẺ 4 - 5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON HÙNG VƯƠNG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
nhất đến cô giáo - người hướng dẫn khoa học: Th.S Nguyễn Thị Việt Nga đã
tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học,các thầy cô trong khoa Sinh - KTNN đặc biệt là các thầy cô trong tổ phươngpháp dạy học sinh học đã tận tình giúp đỡ, đóng góp kiến thức qu báu để tôi
có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các cô giáo trong trườngmầm non Hùng Vương - Phúc Yên - Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện giúp đỡ tôitrong việc cung cấp các số liệu về trường
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôitrong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Đây là bước đầu tiên tôi làm quen với công tác nghiên cứu khoa họcnên không tránh khỏi sự thiếu sót Tôi mong sẽ nhận được sự góp của cácthầy cô và toàn thể bạn đọc để khóa luận của tôi ngày càng hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Trịnh Thị Sen
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài: “Đánh giá chế độ sinh hoạt của trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương - Phúc Yên - Vĩnh Phúc” là kết quả nghiên cứu của riêng
tôi dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Thị Việt Nga không trùng với kết
quả nghiên cứu nào khác
Các số liệu, kết quả thu thập được trong khóa luận là: trung thực, rõràng, chính xác
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Trịnh Thị Sen
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BGDĐT : Bộ Giáo dục và đào tạo
ĐCQG : Đạt chuẩn quốc gia
HĐNT : Hoạt động ngoài trời
NIH : Viện sức khỏe quốc gia MỹNxb : Nhà xuất bản
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1 L do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu đề tài 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2
4 Khách thể nghiên cứu của đề tài 3
5 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3
6 Giả thuyết khoa học của đề tài 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
7.1 Phương pháp nghiên cứu l thuyết 3
7.2 Phương pháp quan sát sư phạm 3
7.3 Phương pháp đàm thoại 3
7.4 Phương pháp thống kê toán học 3
8 Đóng góp của đề tài 4
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Tổng quan những nghiên cứu về chế độ sinh hoạt của trẻ mầm non 5
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 7
1.2 Cơ sở lí luận 9
1.2.1 Đánh giá 9
1.2.1.1 Khái niệm đánh giá 9
1.2.1.2 Ý nghĩa 10
1.2.1.3 Mục tiêu 11
1.2.2 Chế độ sinh hoạt cho trẻ ở trường mầm non 12
Trang 61.2.2.1 Khái niệm chế độ sinh hoạt 12
1.2.2.2 Những yêu cầu của chế độ sinh hoạt cho trẻ ở trường mầm non 13
1.2.2.3 Các hoạt động trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ ở trường mầm non 15
1.2.2.4 Chế độ sinh hoạt chung của trường mầm non 16
1.2.2.5 Tổ chức các chế độ sinh hoạt cho trẻ 17
1.2.2.5.1 Đón trẻ, thể dục sáng, điểm danh 17
1.2.2.5.2 Hoạt động học 18
1.2.2.5.3 Chơi hoạt động ở các góc 19
1.2.2.5.4 Chơi hoạt động ngoài trời 19
1.2.2.5.5 Ăn, ngủ, vệ sinh 21
1.2.2.5.6 Chơi hoạt động chiều 22
1.2.2.5.7 Trả trẻ 23
1.2.2.6 Mục tiêu đánh giá chế độ sinh hoạt 24
1.2.3 Đặc điểm tâm - sinh lí của trẻ 4 - 5 tuổi 24
1.3 Vài nét về trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc 28
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ CHẾ ĐỘ SINH HOẠT CỦA TRẺ 4-5 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON HÙNG VƯƠNG - PHÚC YÊN 30
2.1 Nội dung tổ chức chế độ sinh hoạt cho trẻ mầm non 30
2.1.1 Tổ chức giấc ngủ cho trẻ 30
2.1.2 Tổ chức bữa ăn cho trẻ 32
2.1.3 Tổ chức hoạt động học tập cho trẻ 33
2.1.4 Tổ chức dạo chơi ngoài trời cho trẻ 36
2.1.5 Tổ chức hoạt động độc lập cho trẻ 37
2.2 Thang đánh giá chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường mầm non 38
2.3 Phương pháp tiến hành đánh giá 40
Trang 72.4 Kết quả đánh giá dựa trên quan sát 42
2.5 Kết quả đánh giá dựa trên phiếu điều tra giáo viên 57
CHƯƠNG 3 NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP 70
3.1 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng chế độ sinh hoạt cho trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương - Phúc Yên - Vĩnh Phúc 70
3.2 Giải pháp, khắc phục 71
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
1 Kết luận 73
2 Kiến nghị 74
PHỤ LỤC 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 8PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình là tương lai của mỗi dântộc, đất nước Bảo vệ và chăm sóc trẻ em là trách nhiệm của toàn Đảng, toàndân, toàn xã hội và của mỗi gia đình Trong việc giáo dục mầm non quantrọng là giáo dục được chế độ sinh hoạt cho trẻ một cách nề nếp, trật tự Tục
ngữ Việt Nam có câu “Uốn cây từ thủa còn non - Dạy con từ thủa con còn thơ ngây” Vì vậy, đối với trẻ thơ việc hình thành dấu ấn ban đầu có nghĩa
to lớn vì nó là mầm mống, mấu chốt sau này của trẻ
Trong xu thế hội nhập có tính toàn cầu của đất nước, các chính sách vàchủ trương của Đảng và Nhà nước đều hướng tới xây dựng con người mới, xãhội chủ nghĩa trong một xã hội hiện đại và văn minh cần phải có văn hoá,luôn giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc mà thế hệ ông cha ta đã dày công vunđắp Vì vậy, công tác giáo dục ngày càng được quan tâm, chú trọng Đặc biệt,
là bậc học mầm non, bởi đây là bậc học nền tảng, nhằm hình thành cho trẻnhững kiến thức, kĩ năng đầu tiên cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạođức, thể chất, thẩm mĩ và những kĩ năng cơ bản để trẻ học tiếp bậc học phổthông Ở bậc học này, công việc của giáo viên không chỉ đơn thuần là việcdạy trẻ kiến thức mà còn chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ từng bữa ăn, giấc ngủ Vìvậy, việc chăm sóc, giáo dục sinh hoạt hàng ngày cho trẻ là rất cần thiết vàquan trọng Giáo viên cần giáo dục sinh hoạt hàng ngày cho trẻ và kết hợp vớiđánh giá sinh hoạt hàng ngày cho trẻ trong tất cả hoạt động mà trẻ tham gia
Từ đó hình thành cho trẻ các kĩ năng cơ bản
Ở trẻ 4 - 5 tuổi nói riêng và trẻ ở các độ tuổi mầm non khác nói chung,mọi phẩm chất và nhân cách được hình thành, phát triển trong những điềukiện ổn định, trên nền tảng thói quen Do vậy, cần tạo ra tình huống ổn định
Trang 9để hình thành phẩm chất, nhân cách tốt Đồng thời, cũng phải thay đổi điềukiện sống để củng cố chế độ sinh hoạt hàng ngày phù hợp trong điều kiệnmới Đây là để tạo ra những mẫu người linh hoạt để thích ứng với mọi hoàncảnh khác nhau trong cuộc sống Đánh giá chế độ sinh hoạt cho trẻ có tầmquan trọng đặc biệt đối với trẻ: Bằng nhiều phương pháp đánh giá đa dạng,phong phú thông qua các hoạt động như vui chơi, lao động, sinh hoạt hàngngày, ăn, ngủ, học tập… Trẻ được rèn luyện các kĩ xảo, phát triển những xúccảm thẩm mĩ tốt của trẻ với quá trình thực hiện Bằng hoạt động dạy học,thông qua các tiết học như làm quen với môi trường xung quanh, văn học, âmnhạc, tạo hình, các hoạt động vui chơi Trẻ sẽ lĩnh hội được những biểu tượngđúng về quá trình sinh hoạt và nghĩa của nó Hai con đường trên có những ưuthế riêng với việc đánh giá chế độ sinh hoạt cho trẻ, góp phần giáo dục, hoànthiện trẻ.
Vì thế, là một giáo viên mầm non tương lai, chúng tôi đặc biệt rất quan
tâm tới vấn đề sinh hoạt hàng ngày cho trẻ nên chúng tôi chọn đề tài “Đánh giá chế độ sinh hoạt của trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương - Phúc Yên - Vĩnh Phúc” nhằm đánh giá chế độ sinh hoạt cho trẻ, tìm ra
nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp cần thiết nhằm nâng cao chất lượngsinh hoạt cho trẻ mầm non
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đánh giá tình hình về chế độ sinh hoạt cho trẻ ở trường mầm non HùngVương ở Phúc Yên - Vĩnh Phúc Từ đó, đưa ra các biện pháp kiến nghị đểnâng cao hiệu quả việc chăm sóc - giáo dục chế độ sinh hoạt cho trẻ ở trườngmầm non
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở l luận về đánh giá
- Tìm hiểu nội dung chế độ sinh hoạt cho trẻ
Trang 10- Tìm hiểu thang đánh giá chế độ sinh hoạt của trẻ.
- Đánh giá tình hình chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường mầm non
- Đưa ra các giải pháp nâng cao chế độ sinh hoạt của trẻ mầm non
4 Khách thể nghiên cứu của đề tài
Trẻ 4 - 5 tuổi trường mầm non Hùng Vương - Phúc Yên - Vĩnh Phúc
5 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Chế độ sinh hoạt của trẻ 4 5 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương Phúc Yên - Vĩnh Phúc
-6 Giả thuyết khoa học của đề tài
Nếu đánh giá chính xác chế độ sinh hoạt cho trẻ 4 - 5 tuổi trường mầmnon Hùng Vương - Phúc Yên - Vĩnh Phúc thì chúng ta sẽ tìm được các giảipháp tốt nhất để góp phần nâng cao chế độ sinh hoạt hàng ngày cho trẻ giúptrẻ có thể phát triển một cách toàn diện
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu cơ sở l thuyết về đánh giá chế độ sinh hoạt cho trẻmầm non
- Nghiên cứu nội dung về chế độ sinh hoạt cho trẻ mầm non
7.2 Phương pháp quan sát sư phạm
- Tiến hành quan sát hoạt động của trẻ 4 - 5 tuổi thông qua chế độ sinhhoạt hàng ngày
7.3 Phương pháp đàm thoại
- Tiến hành trao đổi đàm thoại với giáo viên học sinh (trẻ 4 - 5 tuổi)trường mầm non Hùng Vương - Phúc Yên - Vĩnh Phúc lúc đón và trả trẻ
7.4 Phương pháp thống kê toán học
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm xử l , sử dụng số liệunghiên cứu của việc điều tra thực nghiệm
Trang 11- Sử dụng công thức và thống kê như công thức tính %, giá trị trung bình.
8 Đóng góp của đề tài
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về đánh giá và chế độ sinh hoạt
- Đánh giá tình hình về chế độ sinh hoạt và đưa ra các giải pháp
Trang 12PHẦN II NỘI DUNGCHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan những nghiên cứu về chế độ sinh hoạt của trẻ mầm non
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Việc nghiên cứu một cách khoa học về chế độ sinh hoạt cho trẻ mầmnon có từ rất sớm như tổ chức về giấc ngủ, bữa ăn, hoạt động học tập, tổ chứcdạo chơi… Đặc biệt, về giấc ngủ đã được bắt đầu từ giữa thế kỉ XIX Vớinhững nghiên cứu về l thuyết của giấc ngủ Trong đó, có l thuyết vỏ nãocủa I.P.Paplôp mang nghĩa đặc biệt quan trọng
Theo I.P.Paplôp thì thời gian và nhịp điệu sinh hoạt có một tầm quantrọng lớn lao trong chế độ sinh hoạt Trong học thuyết và hoạt động thần kinhbậc cao ông đã chỉ ra rằng “Dưới ảnh hưởng của hệ thần kinh trung ương, cơthể sống và hoạt động rất chính xác và nhịp nhàng: tim đập nhịp nhàng, nhịptuần hoàn của máu và tiêu hóa thức ăn, nhịp tăng giảm năng lượng và sự mệtmỏi của cơ thể được biểu hiện ở sự lên xuống của đường cong sinh l hoạtđộng ngày và đêm của cơ thể sống” [1]
Theo kết quả nghiên cứu của Viện sức khỏe quốc gia Mỹ (NIH) thìnhững đứa trẻ ngủ đủ thời gian mỗi ngày sẽ ít bị béo phì, ít bị tai nạn bấtthường, có tâm trạng vui vẻ thoải mái và kết quả học tập tốt hơn Những đứatrẻ ngủ ít thường bị hiếu động thái quá thiếu tập trung tư tưởng trong học tập,hay cáu kỉnh vô cơ và đôi khi có biểu hiện rối loạn hành vi Ông Carl Hunt –Giám đốc trung tâm nghiên cứu về rối loạn giấc ngủ thuộc NIH còn khẳngđịnh: “Bất kể làm việc gì trẻ em cũng sẽ làm tốt hơn nếu chúng có một giấcngủ tốt” [9]
Theo báo cáo của bác sĩ Brett R.Kuln - Trường Đại học Nebraska tạihội nghị thường niên của Hiệp hội nghiên cứu giấc ngủ: khuyến khích trẻ ngủ
Trang 13nhiều có thể trừ ác mộng và mộng du Mặc dù người ta cho rằng tình trạngnày có liên quan đến một số yếu tố di truyền nhưng tác giả cho rằng những trẻ
bị rối loạn này có thể bị giảm các biểu hiện bệnh l nếu tăng tổng số thời gianngủ Tác giả khuyên các bậc cha mẹ, các cô giáo nên cho trẻ ngủ trưa, cần chotrẻ ngủ nhiều hơn bằng cách không để ti vi và trò chơi điện tử trong phòngngủ của trẻ Tăng tổng số thời gian ngủ làm giảm rõ rệt tần suất các cơn ácmộng [9]
Trong thời gian gần đây bác sĩ Mare Weissbluth – chuyên gia hàng đầu
về giấc ngủ của Mỹ đã đưa ra những tư liệu, nghiên cứu của mình ông đã đềcập đến những vấn đề: “Để trẻ có giấc ngủ ngon” với phương pháp tìm ranguyên nhân và giả thuyết những rối loạn giấc ngủ [9]
Nói về ảnh hưởng của sự ăn uống đối với sức khỏe của trẻ S Freud(1835 - 1993) nhà tâm lí học người Áo thấy rằng: Sự ăn uống có ảnh hưởngrất lớn đến cân nặng của trẻ Ông khẳng định trong trường hợp thiếu ăn cácxương cốt vẫn dài ra, trái lại cân nặng đứng nguyên hay sụt đi
Như ở nhà trẻ Brom – Lây Hít (Bromley Heath ) một nhà trẻ nổi tiếng
ở Mỹ, người ta đã tiến hành có kết quả một chương trình nuôi dạy trẻ dưới 3tuổi, trong đó có việc dạy nói ngay trong bữa ăn như: “Cà rốt màu đỏ”, “đậucôve màu xanh” và khuyến khích trẻ nhắc lại những câu ấy Cô chỉ vào mộtcháu rồi nói: “Rôbe đang ăn”, rồi chỉ vào cháu khác “Anixa cũng đang ăn” vàkhuyến khích trẻ nhắc lại Một bữa ăn có sự giao tiếp vui vẻ giữa người lớn vàtrẻ con như vậy sẽ rất sinh động làm cho trẻ ăn thêm ngon mà lại học nói mộtcách thoải mái [1]
Mãi đến năm 1967, trong cuốn “Cán bộ giữ vườn trẻ và nhóm trẻ nhỏ của vườn trẻ Mẫu giáo” của tác giả M.Đ Côvryghina mới đưa ra một số vấn
đề lưu khi tổ chức bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non: cho trẻ ăn tùy thích,không được bắt buộc trẻ ăn như thế dạ dày tiết dịch mạnh, giữa các bữa ăn
Trang 14không bao giờ cho ăn bánh kẹo ngọt, cho trẻ ăn không đúng lúc sẽ làm giảmkhẩu vị làm ức chế trung tâm điều khiển ăn uống và làm phá hoại chế độ ănuống đúng đắn.
Với những nghiên cứu trên ta thấy được các tác giả quan tâm từ rất sớmsong đối tượng của họ thường là những trẻ em có vấn đề về giấc ngủ, bữa ăncùng với hoàn cảnh kinh tế khác nhau Chính xuất phát từ lí do trên mà việcđưa ra một số biện pháp đảm bảo giấc ngủ ngon, chế độ ăn hợp lí là cần thiết
Chứng tỏ rằng trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cóliên quan tới lứa tuổi mầm non Mỗi tác giả nghiên cứu một hướng khác nhaunhưng tất cả hướng tới một mục tiêu việc chăm sóc, giáo dục trẻ từ giấc ngủ,bữa ăn, học tập, vui chơi cho trẻ
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng thì sự ăn uống có ảnh hưởng rấtlớn đến sức khỏe của trẻ.Trẻ được nuôi dưỡng tốt ăn uống đầy đủ thì da dẻhồng hào, thịt chắc nịch và cân nặng đảm bảo Sự ăn uống không điều độ sẽảnh hưởng đến sự tiêu hóa của trẻ
Danh y Việt Nam, Tuệ Tĩnh (XIV) đã từng nói “Thức ăn là thuốc,thuốc là thức ăn”, khoa học dinh dưỡng cũng cho chúng ta biết: Thức ăn, cácchất dinh dưỡng làm vật liệu xây dựng cơ thể Các vật liệu này thường xuyênđổi mới và thay thế thông qua quá trình hấp thụ và chuyển hóa các chất trong
cơ thể Ngược lại cơ thể không được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ gây
Trang 15đề cập đưa ra các biện pháp: chọn lựa trò chơi phù hợp nhằm phát triển thể lực, lập kế hoạch, tạo môi trường phong phú, đánh giá trẻ trong HĐNT.
- Đặng Hồng Phương với nghiên cứu “Thực trạng sử dụng biện pháp tổ chức hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi” công bố kết quả khảo
sát nhận thức của giáo viên về các trường mầm non ở Hà Nội, Hà Tây (cũ),Thái Bình, Nghệ An về nội dung tổ chức các hoạt động ngoài trời cho trẻ
- Báo cáo “Kết quả điều tra tình hình giấc ngủ của trẻ ở một số nhà trẻ
ở Hà Nội ”– Vũ Thị Chín, Nguyễn Thị Thanh Vân, Nguyễn Văn Lai, Nguyễn
Sinh Thảo – 1986
- “Tổ chức ăn, ngủ trưa ở trường Mẫu Giáo” - Đỗ Xuân Hòa – Khoa
giáo dục Mẫu giáo – 1982
- “Sự cần thiết đảm bảo giấc ngủ cho trẻ ” - Lê Thị Ngọc Ái – Tập san
Giáo dục Mầm Non 4/1990
“Báo cáo tổng kết phần: Vệ sinh chăm sóc và vệ sinh phòng bệnh ”
-Lê Thị Ngọc Ái
- “Khảo sát khẩu phần ăn trưa và bữa phụ” - Lê Thị Khánh Hòa
(1983) có đưa ra khảo sát khẩu phần ăn trưa năng lượng của trẻ ở trường mầmnon
- Tác giả Hoàng Thị Phương với giáo trình “Vệ sinh trẻ em” đã nghiên
cứu và giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc bảo vệ và củng cố sứckhỏe của trẻ lứa tuổi mầm non, hướng dẫn cho mọi người kĩ năng chăm sóctrẻ, cách thức tổ chức và đánh giá hiệu quả giáo dục trẻ
- “Điều tra tình trạng dinh dưỡng của trẻ mẫu giáo ở một số trường phía Bắc”- Nguyễn Thị Ngọc Trâm và “Tình hình cung cấp dưỡng chất cơ bản cho trẻ ở một số trường Mẫu giáo” - Võ Thị Cúc (1992) cũng cho thấy
việc cung cấp dưỡng chất cơ bản (Gluxit, Lipit) cho trẻ mẫu giáo ở các trườngmầm non của nước ta hiện nay còn thấp Hai tác giả cùng nhấn mạnh việc
Trang 16nâng cao hơn nữa kiến thức khoa học về dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo đối vớicác cơ sở nuôi dạy trẻ, tránh tình trạng cho trẻ ăn theo kinh nghiệm hoặc tổchức dinh dưỡng thiếu lí luận toàn diện, chặt chẽ và kém hiệu quả.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong nước về vấn đề này khôngnhiều mà chủ yếu là tổng kết, đánh giá tình hình giấc ngủ trưa, dinh dưỡng,khẩu phần ăn, vui chơi của trẻ ở trường mầm non chưa quan tâm, đi sâu vàocách thức tổ chức ngủ trưa, tổ chức bữa ăn như thế nào để đạt hiệu quả cao.Hơn thế nữa là những nghiên cứu được thực hiện từ những năm 1975 - 1991cho nên giá trị thực tiễn cũng giảm dần
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Đánh giá
1.2.1.1 Khái niệm đánh giá
Đánh giá (evaluation) là quá trình hình thành những nhận định, phánđoán về kết quả của công việc, dựa vào những phân tích thông tin thu được,đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyếtđịnh thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng vàhiệu quả công việc [8]
Đánh giá không đơn thuần là sự ghi nhận thực trạng mà còn là đề xuấtnhững quyết định làm thay đổi thực trạng.Vì thế, đánh giá được coi là mộtkhâu quan trọng, phải được quan tâm ngay từ khâu làm kế hoạch và trongsuốt quá trình triển khai công viêc (sơ đồ sau) [8]
Trang 171.2.1.2 Ý nghĩa
* Đối với giáo viên [8]:
Như đã nói ở phần trên, việc kiểm tra, đánh giá trẻ em cung cấp chogiáo viên những thông tin “Liên hệ ngược ngoài” giúp người dạy điều chỉnhhoạt động dạy
Kiểm tra, đánh giá kết hợp với theo dõi thường xuyên tạo điều kiện chogiáo viên nắm được một cách cụ thể và khá chính xác năng lực trình độ củamỗi trẻ phụ trách để có biện pháp giúp đỡ riêng thích hợp
Kiểm tra đánh giá một cách công phu sẽ cung cấp cho giáo viên khôngchỉ những thông tin về trình độ chung của cả lớp và khối lớp mà còn tạo điềukiện cho trẻ em nắm được những trẻ có tiến bộ rõ rệt hoặc sút kém đột ngột đểđộng viên hoặc giúp đỡ kịp thời Người giáo viên có trách nhiệm và kinhnghiệm thường xem kiểm tra đánh giá như một biện pháp cá nhân hóa dạy học,giúp cho mỗi trẻ tự đánh giá để tự quyết định cách học phù hợp với mình
Kiểm tra đánh giá tạo cơ hội cho giáo viên xem xét hiệu quả của nhữngcải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mà mình đang theođuổi, nhất là những giáo viên đang tâm huyết muốn hoàn thiện việc dạy họccủa mình bằng con đường thực nghiệm nghiên cứu khoa học giáo dục
Trang 18* Đối với cán bộ quản lý giáo dục [8]:
Kiểm tra đánh giá trẻ cung cấp cho cán bộ quản lý giáo dục các cấpnhững thông tin cơ bản về thực trạng dạy và học trong một đơn vị giáo dục để
có những chỉ đạo kịp thời, kịp thời uốn nắn những lệch lạc, khuyến khích hỗtrợ những sáng kiến hay bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục
Tóm lại, việc kiểm tra đánh giá trẻ em có nghĩa về nhiều mặt trong đóquan trọng nhất là bản thân của mỗi học sinh
1.2.1.3 Mục tiêu
Làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được về các mục tiêu dạyhọc, tình trạng kiến thức, kỹ năng thái độ của trẻ đối chiếu với yêu cầu củachương trình phát hiện những nguyên nhân, sai sót, giúp trẻ em điều chỉnhhoạt động học [8]
Công khai hóa các nhận định về năng lực và kết quả học tập của mỗi trẻ
em và của tập thể lớp, tạo cơ hội cho trẻ phát triển kỹ năng tự đánh giá, giúptrẻ em nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên thúc đẩy việchọc tập
Giúp cho giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh điểmyếu của mình tự điều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt động dạy phấn đấu khôngngừng nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học [8]
Việc đánh giá trẻ không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng vàđịnh hướng điều chỉnh hoạt động của học trò mà còn đồng thời tạo điều kiệnnhận định thực trạng và định hướng điều chỉnh hoạt động dạy của thầy [8]
Trong nhà trường việc đánh giá kết quả học tập của trẻ em được thựchiện chủ yếu thông qua việc tổ chức kiểm tra và quan sát sinh hoạt hàng ngàymột cách cũng có hệ thống theo những quy định chặt chẽ Vì thế kiểm tra vàđánh giá là hai việc đi liền nhau tuy rằng không phải mọi việc kiểm tra đềuhướng tới mục đích đánh giá [8]
Trang 191.2.2 Chế độ sinh hoạt cho trẻ ở trường mầm non
1.2.2.1 Khái niệm chế độ sinh hoạt
- Theo tác giả Hoàng Thị Phương nói: Chế độ sinh hoạt là sự luânphiên rõ ràng và hợp lí các dạng hoạt động và nghỉ ngơi của trẻ trong mộtngày, nhằm thỏa mãn đầy đủ nhu cầu về ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân, hoạt động
và nghỉ ngơi của trẻ theo lứa tuổi, đảm bảo trạng thái cân bằng của hệ thầnkinh, giúp cơ thể phát triển tốt Thời gian cho từng hoạt động có thể linh hoạt
từ 5 - 10 phút [2]
Chế độ sinh hoạt là điều kiện quan trọng để giáo dục cho trẻ có kết quả.Khi chế độ sinh hoạt đã trở thành thói quen thì nó giúp trẻ pháp triển tính độclập tích cực sáng tạo của trẻ giúp trẻ có những phẩm chất đạo đức, sinh hoạt
có nề nếp theo trật tự thời gian
- Trong “Chương trình Giáo dục mầm non” – Ban hành theo thông tưsố17/2009/TT/BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáodục và Đào tạo do Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã k với khái niệm: Chế
độ sinh hoạt là sự phân bổ thời gian và các hoạt động trong ngày ở cơ sởgiáo dục mầm non một cách hợp lí nhằm đáp ứng nhu cầu về tâm lý vàsinh lý của trẻ, qua đó giúp trẻ hình thành thái độ, nề nếp, thói quen vànhững kỹ năng sống tích cực [9]
- Ngoài ra theo tác giả Nguyễn Thị Oanh: Chế độ sinh hoạt của trẻ ởtrường mầm non được hiểu là sự sắp xếp trình tự các hoạt động của trẻ trongmỗi ngày và phân bố thời gian cho các hoạt động căn cứ vào đặc điểm pháttriển tâm - sinh lí lứa tuổi của trẻ và điều kiện thực tiễn của từng địa phươngnhằm thực hiện có hiệu quả quá trình chăm sóc - giáo dục trẻ ở trường mầmnon [4]
Như vậy, chế độ sinh hoạt là sự phân bổ thời gian hoặc luân phiên rõràng và hợp lí các dạng hoạt động và nghỉ ngơi của trẻ trong một ngày ở các
Trang 20qua đó giúp trẻ hình thành thái độ, nền nếp, thói quen và những kỹ năng sốngtích cực Đặc biệt, việc phân bố thời gian cho các hoạt động căn cứ vào đặcđiểm phát triển tâm - sinh lí lứa tuổi của trẻ và điều kiện thực tiễn của từngđịa phương.
* Ý nghĩa về chế độ sinh hoạt cho trẻ ở trường mầm non.
- Chế độ sinh hoạt có nghĩa giáo dục đối với trẻ Do sự thường xuyênlặp lại các thao tác, các hoạt động trong thời gian nhất định và theo một trình
tự nhất định làm cho trẻ nắm được những sinh hoạt hợp lý những kỹ năng vănhóa - vệ sinh và hoạt động
- Chế độ sinh hoạt cũng giúp trẻ có những phẩm chất và thói quen đạođức sinh hoạt có nề nếp trật tự theo trật tự thời gian.Thói quen giờ nào việcnấy, thói quen điều chỉnh hành vi bản thân cho phù hợp với tập thể, thói quentuân thủ quy tắc chung của tập thể
- Việc thực hiện nghiêm túc, đúng đắn chế độ sinh hoạt của trẻ sẽ làđiều kiện quan trọng để phát triển cân đối giữa thể lực và tâm lí cho trẻ Trẻđược sống trong trạng thái thăng bằng của hệ thần kinh, trẻ cảm thấy vui vẻ, sảng khoái
Ví dụ: Đón trẻ là hoạt động mang tính chất tĩnh, cho nên tiếp theo hoạtđộng này là thể dục sáng - hoạt động mang tính chất động
- Thực hiện nghiên túc chế độ sinh hoạt hàng ngày còn là điều kiệntích cực để giáo dục hình thành cho trẻ một số nét tính cách tốt như: tính kỷluật, tinh thần tự giác, tính khoa học và giáo dục trẻ biết kiềm chế, biết phốihợp hoạt động trong tập thể
1.2.2.2 Những yêu cầu của chế độ sinh hoạt cho trẻ ở trường mầm non
Chế độ sinh hoạt đúng sẽ đưa trẻ vào nề nếp, thúc đẩy quá trình tiêuhóa, làm cho trẻ ăn ngủ ngon hơn có khả năng làm việc cao hơn tạo cho sựphát triển thể chất diễn ra bình thường và sức khỏe của trẻ được củng cố Việc
Trang 21tổ chức tốt chế độ sinh hoạt hàng ngày cho trẻ chính là tạo điều kiện để cho hệthần kinh trẻ phát triển, hoạt động bình thường, đề phòng trạng thái hưngphấn không thích hợp của hệ thần kinh giúp trẻ hoạt động và nghỉ ngơi tốt.
- Chế độ sinh hoạt cần đảm bảo yêu cầu sau:
+ Chế độ sinh hoạt ở trường mẫu giáo được xây dựng trên cơ sở nhữngđặc điểm sinh, tâm lí của trẻ trên cơ sở đó những nhiệm vụ giáo dục và điềukiện sinh hoạt quyết định
+ Chế độ sinh hoạt phải thể hiện rõ các hoạt động trong ngày của trẻđược sắp xếp theo trình tự nhất định, phù hợp với chức năng cơ thể với môitrường sống
+ Chế độ sinh hoạt cần đảm bảo theo thời gian cần thiết cho mỗi hoạtđộng trong ngày phù hợp với nhu cầu sinh lí và khả năng hoạt động của các
độ tuổi
Ví dụ: Theo lứ tuổi, số bữa ăn của trẻ cũng tăng lên: trẻ 1 tháng tuổi ăn
7 bữa trong ngày, trẻ từ 1- 5 tháng ăn 6 lần trong ngày, trẻ từ 5 - 12 tháng ăn 5lần trong ngày, trẻ từ 12 - 72 tháng ăn 4 lần trong ngày Thay vào đó khoảngthời gian giữa các bữa ăn tăng theo lứa tuổi từ 3,5 đến 4 giờ và 4,5 giờ một lần[2]
+ Chế độ sinh hoạt phải đảm bảo sự cân bằng giữa các hoạt động vànghỉ ngơi, giúp trẻ có thể tiến hành hoạt động dưới nhiều dạng khác nhau vàtránh quá sức đối với trẻ
+ Chế độ sinh hoạt phải được lặp đi lặp lại không được xáo trộn nhiều
để tạo thói quen, nề nếp cho trẻ
+ Chế độ sinh hoạt phải được tổ chức một cách linh hoạt và phù hợpđối với mọi trẻ, đồng thời chế độ sinh hoạt cần chú tới những đặc điểmriêng của từng trẻ: với những trẻ yếu, hệ thần kinh dễ bị kích thích thì cầntăng cường thời gian ngủ, nghỉ ngơi nhiều hơn các trẻ khác
Trang 22Việc chấp hành nghiêm chỉnh chế độ sinh hoạt một ngày từ đầu đếncuối với tất cả các yếu tố cấu thành của nó luôn luôn dẫn tới hình thành mốiliên hệ có điều kiện bền vững ở trẻ, làm cho quá trình luân chuyển từ hoạtđộng này sang hoạt động khác ở cơ thể trẻ diễn ra một cách dễ dàng Bởi vì,
cơ thể trẻ trong mỗi thời điểm nhất định giống như được chuẩn bị trước chodạng hoạt động mà chúng cần phải thực hiện và tất cả quá trình sống (tiêu hóathức ăn, hưng phấn, ức chế …) diễn ra nhanh hơn, tiết kiệm hơn với sự tiêutốn năng lượng ít hơn Chế độ sinh hoạt đúng đưa trẻ vào nề nếp, thúc đẩyquá trình tiêu hóa, làm cho trẻ ăn ngủ ngon hơn, có khả năng làm việc caohơn, tạo điều kiện cho sự phát triển thể chất diễn ra bình thường và sức khỏecủa trẻ được củng cố [2]
1.2.2.3 Các hoạt động trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ ở trường mầm non
Để đảm bảo chế độ sinh hoạt đúng ở trường mầm non cần phải chiathành các nhóm khác nhau theo lứa tuổi Mỗi nhóm tuổi là một lớp và có chế
độ sinh hoạt riêng nhằm đảm bảo cho việc giáo dục trẻ diễn ra thuận lợi và dễdàng giúp cơ thể phát triển tốt Các hoạt động diễn ra trong một ngày của trẻ
là ngủ, vui chơi, dạo chơi Các hoạt động này được được phân định rõ ràngtrong chế độ sinh hoạt theo trình tự theo thời gian khác nhau theo lứa tuổi
Chế độ sinh hoạt của trẻ được chương trình chăm sóc do Bộ giáo dục –Đào tạo ban hành cụ thể như sau [1]:
Trang 23Việc thực hiện chế độ không cứng nhắc, khi áp dụng với mỗi em cần có
sự linh hoạt Có thể xê dịch thời gian biểu sao cho phù hợp với điều kiện,hoàn cảnh Vì vậy, các hoạt động trong chế độ sinh hoạt của trẻ cần đảm bảođược tổ chức một cách hợp lí, khoa học nhất
1.2.2.4 Chế độ sinh hoạt chung của trẻ ở trường mầm non
Trang 241.2.2.5 Tổ chức các chế độ sinh hoạt cho trẻ
- Chơi tự do: Cho trẻ chơi tự do tại các góc hoặc cùng trẻ trò chuyện vềnhững điều liên quan đến chủ đề đang tiến hành, về bản thân trẻ và những sựkiện xảy ra hàng ngày xung quanh trẻ
- Thể dục sáng (6 - 8 phút): Bắt đầu trước giờ học 15 phút và được tiếnhành thường xuyên hàng ngày, có thể cho trẻ tập trong lớp hoặc ngoài sân phụthuộc vào điều kiện của phòng lớp và thời tiết Nên cho trẻ tập theo nhạc là tốtnhất Nếu sân trường rộng có thể tạo điều kiện cho toàn trường tập cùng mộtthời điểm, tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc với không khí trong lành đồng thờitắm nắng ban mai góp phần nâng cao sức đề kháng của cơ thể
- Điểm danh: Cần thực hiện dưới nhiều hình thức, giúp trẻ biết tên vàquan tâm đến nhau: giáo viên có thể gọi tên lần lượt từng trẻ hoặc làm chomỗi trẻ một thẻ tên - kí hiệu Khi đến lớp trẻ tự gắn lên bảng thành dãy theo tổhoặc theo chữ cái đầu của tên Sau đó, trẻ đếm tên - kí hiệu, phát hiện trẻ vắngmặt hoặc cũng có thể cho trẻ trong tổ quan sát, phát hiện bạn vắng mặt
* Trò chuyện với trẻ đầu mỗi ngày: Để chuẩn bị cho trẻ bước vào mộtngày mới ở trường mầm non sau khi điểm danh cô giành một thời gian ngắn
Trang 25(5 - 7 phút) để trò chuyện với trẻ giúp trẻ được sống trong tâm trạng thoải mái, vui vẻ.
Ví dụ: Hôm nay thời tiết đột ngột thay đổi tất cả trẻ đều cảm nhận đượcđiều đó có thể nội dung thời tiết có thể trở thành nội dung trò chuyện của cô
và trẻ, qua đó cô có thể nhắc nhở trẻ về cách ăn mặc cho phù hợp với sự thayđổi của thời tiết định hướng cho trẻ cách quan sát và cảm nhận sự thay đổi củathời tiết
1.2.2.5.2 Hoạt động học
Mang tính tích hợp và được dự kiến theo kế hoạch tuần phù hợp vớicác lĩnh vực, nội dung giáo dục trong chương trình và theo chủ đề Các tiếthọc được tổ chức một cách có hệ thống và có kế hoạch trong chế độ sinh hoạtvào buổi sáng Thời gian tổ chức tiết học tăng dần theo lứa tuổi mỗi tiết họckhông quá 20 - 25 phút Giữa các tiết học cần cho trẻ nghỉ ngơi ít nhất là từ
5 - 10 phút
Mỗi ngày trẻ được học một nội dung trọng tâm (Phát triển nhận thức,phát triển ngôn ngữ, phát triển thẩm mĩ, phát triển thể chất, âm nhạc, tạo hình)tích hợp với một hoặc hai nội dung khác mang tính chất bổ trợ Đây là phần ta
có thể tích hợp giáo dục thói quen vệ sinh, kĩ năng xã hội… cho trẻ một cáchhiệu quả và đem lại hiệu quả Thông qua các môn học ta có thể giáo dục sinhhoạt hàng ngày cho trẻ
Ví dụ: Với tiết học “Làm quen với tác phẩm văn học”, có thể dạy trẻcác bài thơ, câu chuyện Thông qua câu chuyện,bài thơ, ca dao, câu đố mà trẻhọc được những bài học nhất định Giáo viên chủ động lồng ghép các kiếnthức hàng ngày cho trẻ, giúp trẻ nhận thức các kiến thức một cách dễ dàng,thuận lợi
Với tiết học “Làm quen với môi trường xung quanh”, đây là tiết học dễdàng lồng ghép nhất, giáo viên vừa cung cấp kỹ năng cho trẻ mà còn cho trẻ
Trang 26thực hành ngay Thông qua, các chủ đề giáo viên có thể lồng ghép sinh hoạt hàng ngày một cách khéo léo và chủ động giúp trẻ hình thành kiến thức,
kĩ năng
Tương tự, trong tất cả các tiết học của trẻ như làm quen với biểu tượngtoán, tạo hình, âm nhạc đều có thể xen kẽ các nội dung giáo dục sinh hoạt chotrẻ nhiều hay ít
1.2.2.5.3 Chơi hoạt động ở các góc
- Xây dựng môi trường, sắp xếp các góc chơi theo hướng mở tạo điềukiện để cho trẻ được tự do các nhóm chơi, tham gia vào các trò chơi và hoạtđộng theo thích ở các góc Trò chơi đóng vai, trò chơi lắp ghép, xây dựngđóng vị trí trung tâm với trẻ 4 - 5 tuổi
Giáo viên khuyến khích trẻ tham gia trò chơi sáng tạo như vẽ, nặn, cắt,
xé, dán, ôn lại các bài hát múa, vận động Nội dung chơi phù hợp với độ tuổi
và đảm bảo an toàn cho trẻ, giúp trẻ ôn lại kiến thức kĩ năng sinh hoạt hàngngày một cách tự nhiên, thoải mái nhất, đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủđề
- Kết thúc chơi cô hướng dẫn trẻ tự cất đồ chơi, sắp xếp đồ chơi, đồdùng gọn gàng, ngăn lắp, đúng nơi quy định để chuẩn bị sang hoạt động khác.1.2.2.5.4 Chơi hoạt động ngoài trời
Ở thời điểm này, giáo viên tổ chức cho trẻ chơi và tham gia vào cáchoạt động ngoài phạm vi của lớp học với mục đích: Tạo điều kiện cho trẻđược tiếp xúc với không khí trong lành của thiên nhiên, rèn luyện sức khỏe,thiết lập mối quan hệ giữa trẻ với môi trường xung quanh, góp phần mở rộngvốn hiểu biết của trẻ về môi trường tự nhiên - xã hội, thỏa mãn nhu cầu chơi
và hoạt động theo thích của trẻ [6]
- Tùy thuộc và nội dung của chủ đề trong tuần, điều kiện của trườnglớp, hoạt động ngoài trời có thể được tiến hành với một số nội dung, hình thức
Trang 27+ Chơi tự do với các thiết bị, đồ chơi ngoài trời, làm đồ chơi và chơivới các vật liệu thiên nhiên như cây, quả, hoa, lá, cát, sỏi, nước.
Trang 28+ Chơi những trò chơi vận động, trò chơi dân gian mà trẻ yêu thíchnhằm tăng cường khả năng vận động cơ thể như chạy nhảy, leo trèo, nắm bắt
+ Quan sát một số sự thay đổi của các hiện tượng thiên nhiên, âmthanh, thời tiết cây cối, hoa lá, hoạt động của con người, con vật
+ Tham gia vào các hoạt động chăm sóc ở góc thiên nhiên như tướicây, lau lá, nhặt lá, chăm sóc và cho các con vật yêu thích ăn
+ Dạo chơi trong sân trường, thăm các khu vực trong trường (thăm nhàbếp, phòng y tế và các nhóm lớp học khác ) hoặc tham quan ngoài khu vựctrường như: công viên, sở thú, cánh đồng, cửa hàng…thuộc cộng đồng dân cưgần trường
- Khi thực hiện kế hoạch tuần và tổ chức cho trẻ chơi, hoạt động ngoàitrời nên lưu :
+ Tùy theo tình huống, điều kiện cụ thể của trường lớp mỗi ngày nênlựa chọn và tổ chức cho trẻ thực hiện 1 đến 2 nội dung mang tính tập thể theonhóm và những nội dung tùy theo thích của trẻ
+ Khi tổ chức thực hiện những nội dung trên cần tổ chức phối hợp, hợp
lí hoạt động có tính động (chạy, nhảy, leo, trèo) với những nội dung mangtính chất tĩnh (ngồi nghe kể chuyện, hát )
+ Những ngày cho trẻ đi ra ngoài khu vực sân trường cần chuẩn bị chuđáo, lên kế hoạch cụ thể và liên hệ từ trước
+ Những ngày thời tiết mưa quá lạnh không thể tổ chức cho trẻ chơi vàtham gia các hoạt động ở ngoài trời nên cho trẻ chơi trò chơi vận động, tròchơi dân gian nhẹ nhàng trong lớp hoặc trò chơi học tập, quan sát hiện tượngthay đổi của thời tiết Nên lưu nhắc nhở hướng dẫn trẻ biết cách mặc thêm
áo hoặc cởi bớt khi thời tiết thay đổi
- Trước khi ra ngoài nên nhắc nhở trẻ tự mặc quần áo, đi dày dép phùhợp với thời tiết Chú tới thể trạng của trẻ để gợi , khuyến khích trẻ tham
Trang 29gia và những hoạt động phù hợp Giáo viên nên giới thiệu và nói rõ khu vựcchơi của lớp Tập cho trẻ làm quen với hiệu lệnh khi cần tập trung trẻ lại mộtchỗ hoặc chuẩn bị vào lớp.
- Trong quá trình chơi cô luôn bao quát tất cả nhóm chơi trong sântrường, nhắc nhở trẻ không chơi quá khu vực quy định của lớp, giữ gìn vệ sinh…và chú ý quan sát kịp thời giải quyết những xung đột của trẻ, xử l nhanh nhạy những tình huống xảy ra trong quá trình chơi đảm bảo an toàncho trẻ
- Kết thúc hoạt động nên tập trung trẻ, hướng dẫn trẻ vào lớp, tự cấtgiày dép đúng nơi quy định tự rửa tay, lau mặt nghỉ ngơi một vài phút vàchuẩn bị cho hoạt động tiếp theo
1.2.2.5.5 Ăn, ngủ, vệ sinh
* Vệ sinh, ăn trưa
Sắp xếp công việc một cách hợp lí từ khâu chuẩn bị ăn đến khâu vệsinh sau khi ăn Trẻ mẫu giáo đã có khả năng làm một số công việc tự phục
vụ, vì vậy tùy vào lứa tuổi cô giáo nên tạo điều kiện cho trẻ cùng chuẩn bị bữa
ăn trưa như ở lứa tuổi 4 - 5 tuổi trẻ có thể kê bàn, sắp bát vào bàn bưng cơmcho các bạn Trước giờ ăn, cô tổ chức cho trẻ vệ sinh cá nhân như đi vệ sinhtrước khi ăn, rửa mặt, rửa tay Làm được điều đó, một mặt cô giúp trẻ thỏamãn nhu cầu tự phục vụ để khẳng định mình, mặt khác kết hợp hình thànhcho trẻ một số thói quen văn hóa vệ sinh và kĩ năng lao động tự phục vụ Côgiáo nên xếp những trẻ ăn chậm, lười ăn, trẻ mới ốm dậy, mới đi học ngồi vàonhững bàn nhất định để thuận lợi cho việc chăm sóc trẻ
Để giúp trẻ ăn ngon miệng, hấp thụ thức ăn tốt, trước bữa ăn, cô giáogiới thiệu các món ăn tạo cho trẻ tâm trạng hào hứng, chờ đợi món ăn Khigiới thiệu món ăn cô giáo kết hợp cho trẻ nói về lợi ích của các món ăn Nhắcnhở trẻ mời cô và các bạn trước khi ăn, khi ăn không nói chuyện riêng
Trang 30Khi trẻ ăn xong trẻ tự biết cất bát thìa, cất ghế và bàn giúp cô nhắc nhởtrẻ vệ sinh sạch sẽ, không cho trẻ chạy nhảy nhiều sau khi ăn.
* Ngủ trưa
+ Trước khi ngủ trưa
Nhắc trẻ đi vệ sinh lấy gối, chăn
Bố trí chỗ ngủ sạch sẽ, gọn gàng, ấm vào mùa đông, mát vào mùa hè.Giảm bớt ánh sáng vào phòng ngủ bằng cách tắt đèn, buông rèm
Cho trẻ nghe hát ru, không gian yên tĩnh, vỗ về để trẻ cảm thấy an toàn
+ Trong khi trẻ ngủ
Phân công giáo viên trực khi trẻ ngủ để phòng kịp thời các tình huốngxảy ra khi trẻ ngủ
Chú nhiệt độ, ánh sáng, tiếng ồn khi trẻ ngủ
Khi ngủ cho trẻ mặc quần áo vừa phải, thoáng mát
+ Sau khi trẻ ngủ dậy
Trẻ nào dậy trước cô cho dậy trước, không đánh thức đồng loạt trẻ Cho trẻ yếu ngủ thêm giấc
Hướng dẫn trẻ tự cất gối, xếp chăn, đi vệ sinh
+ Ăn phụ chiều
Sau khi trẻ ngủ dậy, nhắc nhở trẻ tự đi vệ sinh lau mặt và rửa tay sạch
sẽ trước khi ăn bữa phụ
1.2.2.5.6 Chơi hoạt động chiều
Cô tự lên kế hoạch cho phù hợp với tình hình của lớp mình Nội dungcủa sinh hoạt chiều có thể là:
+ Hướng dẫn trò chơi mới (vận động, học tập, xây dựng)
+ Tổ chức cho trẻ trò chơi sáng tạo
+ Củng cố nội dung của các môn học mà trẻ chưa nắm vững
Trang 31Mỗi buổi chiều chỉ nên thực hiện một nội dung chính, thời gian còn lạicho trẻ chơi tự do.
* Nêu gương bé ngoan
Để kịp thời động viên những hành vi tốt và giúp trẻ hào hứng tham giacác hoạt động có thể nêu gương theo 3 thời điểm:
+ Sau giờ học
+ Sau giờ chơi
+ Sau buổi sinh hoạt chiều
Có thể nêu gương dưới nhiều hình thức khác nhau ở các thời điểm khácnhau Còn các thời điểm khác thì nêu gương nên đi vào bản chất sự việc, giảithích cho trẻ hiểu thế nào là hành vi tốt, xấu
1.2.2.5.7 Trả trẻ
+ Trước khi cho trẻ ra về: Cô trò chuyện cùng với trẻ, khuyến khíchnêu gương tốt trong ngày, tạo cho trẻ tâm trạng hào hứng vui vẻ, có những ấntượng tốt với lớp, với cô, với bạn để trẻ hôm sau lại thích đến trường
+ Hướng dẫn trẻ làm vệ sinh cá nhân: lau mặt, rửa tay, sửa sang quần
áo, đầu tóc gọn gàng, sạch sẽ Trong thời gian chờ đợi bố mẹ đến đón, nêncho trẻ chơi tự do với một số đồ chơi dễ cất hoặc cho trẻ cùng nhau xemtruyện tranh, đọc thơ kể chuyện, chơi các trò chơi dân gian Tùy theo điềukiện, có thể cho trẻ chơi với các đồ chơi thiết bị ngoài trời không nên để trẻngồi chời một chỗ chờ bố mẹ đến đón
+ Khi bố mẹ đến đón, hướng dẫn trẻ tự cất đồ chơi đúng nơi quy định,chào bố mẹ, chào cô giáo, chào các bạn trước khi ra về và giáo dục trẻ các kỹnăng tự phục vụ Nên giành thời gian trao đổi với bố mẹ một số thông tin cầnthiết trong ngày về cá nhân trẻ cũng như một số hoạt động của lớp cần có sựphối hợp với gia đình Tuyệt đối không trả trẻ cho người lạ và trẻ em chưa cókhả năng bảo đảm an toàn cho trẻ
Trang 32- Lưu kiểm tra điện, nước, đóng cửa cẩn thận trước khi ra về.
1.2.2.6 Mục tiêu đánh giá chế độ sinh hoạt
Đánh giá chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường mầm non nhằm xác địnhthực trạng chăm sóc và giáo dục trẻ ở trường mầm non Trên cơ sở đó có thểđiều chỉnh việc tổ chức các hoạt động và sinh hoạt của trẻ cho phù hợp vớilứa tuổi, đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh hệ thần kinh
1.2.3 Đặc điểm tâm - sinh lí của trẻ 4 - 5 tuổi
* Đặc điểm sinh lí:
Sự phát triển cơ thể diễn ra chậm hơn giai đoạn trước về số lượng:chiều cao trung bình hàng năm tăng từ 5cm - 8cm, cân nặng trung bình hằngnăm tăng được từ 1 kg - 1,5 kg Ở lứa tuổi này đây là thời kì thuận lợi để trẻtiếp thu và củng cố các kỹ năng cần thiết Trẻ em ở lứa tuổi này lớn nhanh,cảm thấy như gầy hơn, mất vẻ tròn trĩnh, mập mạp đã có ở tuổi nhà trẻ Đặctrưng của trẻ em lứa tuổi này là cơ thể phát triển chưa ổn định và khả năngvận động còn hạn chế
Đặc điểm chủ yếu của trẻ ở thời kì này:
- Biến đổi chủ yếu về số lượng hơn là biến đổi về chất lượng
- Trẻ chậm lớn hơn so với thời kì bú mẹ Cường độ của quá trìnhchuyển hóa năng lượng yếu đi, chuyển hóa cơ bản giảm hơn
- Các chức năng của cơ thể dần dần hoàn thiện Đặc biệt là chức năngvận động phối hợp động tác Cơ lực phát triển nhanh.Vì vậy, trẻ làm đượcnhững động tác khéo léo hơn, gọn gàng hơn, có thể làm được những côngviệc tương đối khó, phức tạp hơn và một số công việc tự phục vụ như ăn, tựmặc quần áo, tự đi tất, tự tắm rửa
- Hệ thần kinh tương đối phát triển, hệ thần kinh trung ương và ngoạibiên đã biến hóa, chức năng phân tích, tổng hợp của vỏ não đã hoàn thiện, sốlượng các phản xạ có điều kiện ngày càng nhiều, tốc độ hình thành phản xạ có
Trang 33điều kiện nhanh Do đó, trẻ có thể nói được những câu dài, có biểu hiện ham học có ấn tượng sâu sắc đối với những người xung quanh.
- Đến thời kì mẫu giáo, thể chất, trí tuệ và tính khéo léo phát triển hơn.Lúc này trẻ đã biết chơi tập thể với nhau, đã học được những bài hát ngắn Vìvậy, tác dụng tốt hay xấu của môi trường xung quanh dễ tác động đến trẻ.+ Hệ thần kinh: Từ lúc trẻ mới sinh, hệ thần kinh của trẻ chưa chuẩn bịđầy đủ để thực hiện các chức năng của mình Trẻ em từ 4 - 5 tuổi quá trình
ức chế tích cực dần dần phát triển, trẻ đã có khả năng phân tích, đánh giá,hình thành kỹ năng, kỹ xảo, vận động và phân biệt được các hiện tượng xungquanh Vì vậy, ở lứa tuổi này hệ thần kinh ngày càng phát triển, khả nănghoạt động của các tế bào thần kinh tăng lên, quá trình cảm ứng ở vỏ não pháttriển, trẻ có thể tiến hành hoạt động trong thời gian lâu hơn
+ Hệ vận động: bao gồm hệ xương, hệ cơ và khớp [3]
Hệ xương của trẻ chưa hoàn toàn cốt hóa, thành phần hóa học, xương
của trẻ có chứa nhiều nước và chất hữu cơ hơn chất vô cơ so với người lớn, nên có nhiều sụn xương, xương mềm dễ bị cong, gãy Vận động cơ thể hợp l
có thể làm cho hình thái cấu trúc xương của trẻ em có chuyển biến tốt như: thành xương dày lên, đường kính to ra, tăng được công năng chống đỡ áp lực, chống cong vẹo, chống gãy xương
Hệ cơ của trẻ em phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ
mảnh, thành phần nước trong cơ tương đối nhiều, nên sức mạnh cơ bắp cònyếu, cơ nhanh mệt mỏi Khi trẻ được thường xuyên tham gia vận động thể lựchợp l sẽ tăng cường hiệu quả công năng các tổ chức cơ bắp, làm cho sứcmạnh và sức bền của cơ bắp phát triển
Khớp của trẻ có đặc điểm là ổ khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp
mềm yếu, dây chằng còn lỏng lẻo, tính vững chắc của khớp tương đối kém
Trang 34Hoạt động vận động phù hợp với lứa tuổi của trẻ sẽ giúp khớp được rèn luyện, từ đó tăng dần tính vững chắc của khớp.
+ Hệ tuần hoàn: Hệ tuần hoàn là một hệ thống đường ống khép kín dotim và mạch cấu tạo thành còn gọi là hệ tim mạch Vận động của tim chủ yếudựa vào sự co bóp của cơ tim Trẻ càng nhỏ thì tần số mạch đập càng nhanh.Điều hòa thần kinh tim ở trẻ còn chưa hoàn thiện, nên nhịp co bóp dễ mất ổnđịnh, cơ tim dễ hưng phấn và chóng mệt mỏi khi tham gia vận động kéo dài.Nhưng khi thay đổi hoạt động, tim của trẻ em nhanh hồi phục Để tăng cườngcông năng của tim, khi cho trẻ luyện tập nên đa dạng hóa các bài tập, nângdần hệ vận động cũng như cường độ vận động, phối hợp động và tĩnh mộtcách nhịp nhàng
+ Hệ hô hấp: Hệ hô hấp được cấu thành bởi đường hô hấp gồm mũi,mồm, họng, khí quản nhánh phế quản và phổi Phổi của trẻ em lớn dần theo
độ tuổi, nhịp thở của trẻ 4 tuổi là 25 - 30 lần/phút, đối với trẻ 5 tuổi 25 - 25lần/phút Số nhịp thở của trẻ giảm dần theo lứa tuổi Đường hô hấp của trẻtương đối hẹp, niêm mạc đường hô hấp mềm mại, mao mạch phong phú, dễphát sinh nhiễm cảm Do đó, nên tiến hành thể dục ở ngoài trời nơi không khíthoáng mát
+ Hệ trao đổi chất: Cơ thể trẻ đang phát triển đòi hỏi bổ sung liên tụcnăng lượng tiêu hao và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và
mô Qúa trình hấp thu ở trẻ vượt cao hơn quá trình phân hủy và đốt cháy Do
đó, cần thường xuyên thay đổi vận động của các cơ, chọn hình thức vận độngphù hợp với trẻ
Qua phân tích trên, ta thấy các hệ cơ quan của cơ thể mặc dù đảm nhậnnhững nhiệm vụ khác nhau và có các chức năng khác nhau nhưng chúng cóảnh hưởng lẫn nhau, phối hợp chặt chẽ lẫn nhau làm thành một thể thống nhất
Trang 35để tồn tại Cơ thể vận động dưới sự chi phối và điều tiết của hệ thần kinh, dựa
và sự hợp tác chung của cơ bắp, khớp dây chằng để thực hiện
Việc thực hiện chế độ vận động hợp l cho cơ thể trẻ em sẽ giúp quátrình phát triển của cơ thể tốt hơn, nếu ngược lại sẽ có hại cho sức khỏe của
+ Trẻ mong muốn làm được những việc như người lớn nhưng bản thântrẻ lại chưa đủ khả năng để thực hiện, nên trẻ tham gia vào trò chơi đóng vaitheo chủ đề và ướm mình vào các công việc như người lớn
+ Trẻ có khả năng lao động tự phục vụ bản thân và mong muốn giúp đỡngười khác, hòa nhập cộng đồng, vui chơi đoàn kết với bạn bè, biết thể hiệntình cảm với mọi người xung quanh một cách đúng mực
+ Trẻ biết nói câu dài, nói lời hay, thích ca hát, nghe hát, nghe nhạc,biết bộc lộ cảm xúc trước vẻ đẹp của các sự vật, hiện tượng xung quanh
+ Động cơ hành vi của trẻ mẫu giáo nhỡ đã có nhiều màu, nhiều vẻ:Động cơ tự khẳng định mình, động cơ nhận thức, muốn khám phá thế giớixung quanh
Trẻ độ tuổi 4 - 5 tuổi có những tiến bộ rõ nét về mọi mặt: Thể chất, nhậnthức, ngôn ngữ, tình cảm, kĩ năng xã hội và xúc cảm thẩm mĩ so với trẻ lứa
Trang 36tuổi trước đó Và trẻ 4 - 5 tuổi có những tiềm năng để phát triển hơn nữa ởnhững lứa tuổi sau.
1.3 Vài nét về trường mầm non Hùng vương, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Trường mầm non Hùng Vương thành lập ngày 30/6/2006, thuộc tổ 10 phường Hùng Vương, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuy mới thành lậpđược gần 8 năm nhưng cho đến nay, trường đã có những thay đổi hết sứcđáng chú : Trường đã được công nhận là “trường chuẩn quốc gia độ 1” vàhiện nay quy mô của trường đã được mở rộng hơn rất nhiều
Với tổng số 478 trẻ với 17 nhóm lớp trong đó:
+ Khối nhà trẻ gồm 2 lớp
+ Khối 3 - 4 tuổi gồm 5 lớp: từ 3 - 4A1 đến 3 - 4A5
+ Khối 4 - 5 tuổi gồm 5 lớp: Từ 4 - 5A1 đến 4 - 5A5
+ Khối 5 - 6 tuổi gồm 5 nhóm lớp: Từ 5 - 6A1 đến 5 - 6A5
- Tất cả 17/17 nhóm lớp đều thực hiện tốt chương trình “đổi mới hìnhthức chăm sóc và giáo dục trẻ”
- Sau hơn 8 năm xây dựng và phát triển số lượng cán bộ giáo viêngiảng dậy và quản lí của trường hiện nay là 45 cán bộ Đội ngũ giáo viên hiệnnay có 100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn nghiệp vụ sư phạm, số lượnggiáo viên giỏi các cấp đều tăng hằng năm, hiện nay trường có 2 giáo viên giỏicấp tỉnh và đã tham gia vào các chương trình dự thi giáo viên dậy giỏi củatỉnh đem lại vinh dự cho trường với rất nhiều giải nhất, nhì….Đội ngũ giáoviên tâm huyết với nghề, chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ, luôn đoàn kết giúp đỡlẫn nhau cùng tiến bộ, giúp đỡ nhau để tìm ra các phương pháp giảng dạy tốtnhất, nâng cao trình độ chuyên môn của mình
Về điều kiện vật chất, trang thiết bị dạy học: Trẻ được học trong ngôitrường khang trang, thoáng mát, sạch sẽ với đầy đủ phòng học, trang thiết bị
Trang 37nhằm phục vụ công tác chăm sóc và giáo dục trẻ Trẻ được đến trường đầy
đủ, được học tập và vui chơi cùng bạn bè và cô giáo Các cháu ngoan khỏe,tích cực tham gia các hoạt động do cô tổ chức, tỷ lệ bé ngoan bé chuyên cầnđạt 98% (số liệu năm 2013 - 2014) Đến trường mầm non trẻ được các cô tậntình dạy dỗ, chăm sóc từ việc học hành, ứng xử trong giao tiếp trong mốiquan bạn bè đến việc chăm lo cho các con từng giấc ngủ, đó chính là người
mẹ hiền thứ hai của trẻ
Trang 38CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ CHẾ ĐỘ SINH HOẠT CỦA TRẺ 4 - 5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON HÙNG VƯƠNG - PHÚC YÊN
2.1 Nội dung tổ chức chế độ sinh hoạt cho trẻ mầm non
2.1.1 Tổ chức giấc ngủ cho trẻ
Giấc ngủ của trẻ có nghĩa to lớn trong việc phục hồi khả năng làmviệc của các tế bào thần kinh Ngủ là nhu cầu sinh lí không thể thiếu được củacủa cơ thể Trẻ sơ sinh ngủ 20 giờ trong ngày, người lớn ngủ 7 - 8 giờ Trungương thần kinh của trẻ hoạt động còn rất yếu và rất dễ bị mệt mỏi khi trẻ thức
Để có thể khôi phục lại trạng thái bình thường của các tế bào thần kinh, việc
tổ chức giấc ngủ tốt (đúng và đủ thời gian cần thiết ) cho trẻ là rất cần thiết và
có nghĩa lớn đối với việc bảo vệ sức khỏe của trẻ
Nhu cầu ngủ của trẻ mầm non phụ thuộc vào lứa tuổi, trạng thái, sứckhỏe và đặc điểm hoạt động thần kinh của trẻ Đối với những trẻ có sức khỏe
và thần kinh yếu, cần tạo cho trẻ ngủ nhiều hơn những trẻ khác từ 1-1,5 giờ
Để hình thành ở trẻ thái độ tích cực đối với quá trình ngủ cần chú đếnphương pháp tổ chức ngủ cho trẻ
* Phương pháp tổ chức giấc ngủ cho trẻ
Muốn vậy khi tổ chức cho trẻ ngủ chúng ta cần lưu ý những công việc sau:
Vệ sinh trước khi ngủ: Cần vệ sinh phòng ngủ và vệ sinh cá nhân [2].
- Vệ sinh phòng ngủ:
+ Chế độ không khí: Thông thoáng, phòng ngủ sạch sẽ, yên tĩnh, códiện tích phù hợp, phù hợp theo mùa thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùađông
+ Chế độ ánh sáng: Hạn chế ánh sáng trong phòng ngủ của trẻ, tránhtrói mắt trẻ không ngủ được
Trang 39+ Các trang thiết bị trong phòng: giường ngủ phải có kích thước phùhợp với lứa tuổi, gối mỏng, có độ cứng vừa phải.
- Vệ sinh cá nhân cho trẻ:
+ Mặc quần áo phù hợp với thời tiết, tạo ra cảm giác thoải mái, dễ chịucho trẻ ngủ, hình thành phản xạ “chuẩn bị ngủ”, làm cho giấc ngủ của trẻ diễn
ra nhanh hơn, trẻ ngủ sâu hơn
+ Không cho trẻ ăn quá no, vận động quá nhiều, uống các chất kíchthích trước khi ngủ
+ Cho trẻ vệ sinh cá nhân, mặc quần áo phù hợp với thời tiết
Vệ sinh trong khi ngủ [2]:
+ Giáo viên phải có trong phòng ngủ để theo dõi quá trình trẻ ngủ: tưthế, nhiệt độ, độ ẩm, không khí, ánh sáng, tiếng ồn và xử lí các trường hợpcần thiết xảy ra trong giấc ngủ của trẻ
+ Cho trẻ ngủ đúng thời gian nhất định trong ngày
+ Cho trẻ nghe hát ru hay nghe nhạc nhẹ có tác dụng làm cho trẻ ngủnhanh hơn, nếu được lặp lại thường xuyên
+ Không để trẻ nằm ở một tư thế lâu, cần thay đổi vài lần trong mộtgiấc ngủ, không được kéo chăn chum kín đầu, không được nằm sấp, úp mặtvào gối, không nằm cả người lên gối
+ Theo dõi không khí trong phòng, khi thấy ngột ngạt cần thông khítừng phần ngay cả khi có trẻ trong phòng
+ Cần giữ yên tĩnh cho trẻ ngủ, tránh cười nói to, gây ra chấn độngmạnh, làm trẻ thức giấc
Vệ sinh sau khi ngủ [2]:
+ Cho trẻ thức dậy khi đã ngủ đủ giấc Cho trẻ dậy và đi vệ sinh cánhân một cách trật tự, nề nếp, cho trẻ vận động nhẹ nhàng và ăn bữa phụ
Trang 40+ Do sự khác biệt cá nhân mà nên cho trẻ ngủ và thức dậy theo nhóm,chứ không đồng loạt Tốt nhất là nên rèn luyện cho trẻ tự thức dậy trong vòng
30 - 45 phút
2.1.2 Tổ chức bữa ăn cho trẻ
Trước khi ăn [2]:
+ Chuẩn bị phòng ăn sạch sẽ, thoáng mát Bàn ghế sắp xếp thuận tiệncho trẻ đứng lên, ngồi xuống
+ Dụng cụ ăn uống đảm bảo sạch sẽ, kích thước phù hợp và được sắpxếp hợp l
+ Không cho trẻ vận động quá nhiều, ăn vặt trước khi ăn Cho trẻ rửatay, rửa mặt trước khi ăn
+ Cho trẻ ăn vào những thời điểm nhất định trong ngày tạo phản xạ cóđiều kiện, kích thích cảm giác ngon miệng
Trong khi ăn [2]:
+ Cho trẻ ăn theo nhu cầu của cơ thể, cần tạo ra bầu không khí thoảimái, dễ chịu trong phòng ăn
+ Cần rèn luyện cho trẻ ăn hết suất ăn của mình và các hành vi ăn uống
có văn hóa Không ăn vội vàng, nhai kỹ, không nói chuyện đùa nghịch khi ăn,cầm thìa bát đĩa đúng cách
+ Khi ăn cần quan sát xem trẻ ăn có ngon miệng không, trẻ có ăn hếtsuất không, trẻ có biểu hiện gì khác thường không… Từ đó tìm hiểu nguyênnhân và đề ra biện pháp khắc phuc
Sau khi ăn [2]:
+ Cho trẻ lau miệng, rửa tay, uống nước, xúc miệng bằng nước muối.+ Cho trẻ nghỉ ngơi và ngủ sau khi ăn