1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển năng lực giải toán cho học sinh lớp 4 thông qua việc giải các bài toán có lời văn (2017)

49 180 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 822 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC=====o0o===== NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA VIỆC GIẢI CÁC BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN KH

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

=====o0o=====

NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA VIỆC GIẢI CÁC BÀI

TOÁN CÓ LỜI VĂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: PPDH Toán ở Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học ThS Nguyễn Văn Đệ

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Thạc sĩ NguyễnVăn Đệ - người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoànthành khóa luận tốt nghiệp.Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáotrong khoa Giáo dục Tiểu học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạođiều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Hà Nội, ngày tháng 4 năm 2017

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Huyền Trang

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những sốliệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực

Đề tài chưa được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác

Hà Nội, ngày tháng4 năm 2017

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Huyền Trang

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng nghiên cứu 2

5 Phạm vi nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Cấu trúc khóa luận 3

PHẦN NỘI DUNG 4

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

1.1 Tầm quan trọng và vai trò của bài tập toán 4

1.2 Một số vấn đề về phát triển năng lực giải toán cho học sinh Tiểu học 5

1.2.1.Năng lực 5

1.2.2 Năng lực toán học 5

1.2.3 Năng lực giải toán 6

1.2.4 Phát triển năng lực giải toán cho học sinh Tiểu học 7

1.3 Phương pháp dạy học giải toán có lời văn 7

1.4 Nội dung triển khai dạy học giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4 9

1.5 Khảo sát thực trạng của việc day học giải toán có lời văn ở Tiểu học

10 1.5.1 Thực trạng chung 10

1.5.2 Những thuận lợi và khó khăn gặp phải khi dạy học giải toán có lời văn ở trường Tiểu học 11

Kết luận chương 1 12

Trang 6

Chương 2 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA VIỆC GIẢI CÁC BÀI TOÁN CÓ

LỜI VĂN 14

2.1 Mục đích của việc đề xuất các biện pháp phát triển năng lực giải toán cho học sinh lớp 4 thông qua việc giải các bài toán có lời văn

14 2.2 Biện pháp phát triển năng lực giải toán cho học sinh lớp 4 thông qua việc giải các bài toán có lời văn 14

2.2.1 Biện pháp 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh giải bài toán bằng nhiều cách khác nhau 14

2.2.2 Biện pháp 2: Bồi dưỡng động cơ tự học Toán cho học sinh Tiểu học 19 2.2.3: Biện pháp 3: Giáo viên tổ chức cho học sinh thói quen tự kiểm tra, đánh giá kết quả giải toán có lời văn, phát hiện và sửa chữa những sai lầm mắc phải trong quá trình giải toán có lời văn 23

2.3 Một số bài tập giải toán có lời văn nhằm phát triển năng lực giải toán cho học sinh lớp 4 24

2.3.1 Dạng 1: Các bài toán đơn 24

2.3.2 Dạng 2: Các bài toán hợp 28

2.3.3 Dạng 3: Các bài toán điển hình 30

2.3.3.1 Dạng toán “Tìm số trung bình cộng” 30

2.3.3.2 Dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” 32

2.3.3.3 Dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó” 33

2.3.3.4 Dạng toán “Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ của hai số đó” 36

2.3.4 Các bài toán có nội dung hình học 38

Kết luận chương 2 41

KẾT LUẬN 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

Trang 7

Trong chương trình ở Tiểu học môn Toán có vị trí và ý nghĩa quantrọng Nhiệm vụ cơ bản của môn Toán là giúp học sinh nắm được hệ thốngkiến thức và kĩ năng về toán học để từ đó phát triển năng lực trí tuệ cho họcsinh.

Từ vị trí trên, môn Toán đặt ra vấn đề cho người dạy là làm thế nào đểgiờ dạy học Toán có hiệu quả cao, học sinh phát triển được tính tích cực, chủđộng, sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức Toán học Người giáo viên cần

có phương pháp dạy học như thế nào để truyền đạt kiến thức và kĩ năng khoahọc của bộ môn này tới học sinh Tiểu học?

Trong chương trình môn Toán Lớp 4, hoạt động giải các bài toán nóichung chiếm một vị trí hết sức quan trọng Thông qua việc giải toán các emthấy được nhiều khái niệm Toán học như các số, các phép tính, các đại lượng,

…đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực Riêng mạch kiến thức giảitoán có lời văn được trình bày trong sách giáo khoa Lớp 4, vẫn tập trung vàokiến thức và kĩ năng cơ bản nhưng ở mức sâu hơn, trừu tượng, khái quát hơn

so với Lớp 1, 2, 3

Hiện nay ngành giáo dục nói chung và giáo dục Tiểu học nói riêngđang thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng pháthuy tính tích cực của học sinh làm cho hoạt đông dạy học trên lớp “nhẹnhàng, tự nhiên, hiệu quả” Để đạt được yêu cầu đó giáo viên phải có phươngpháp và hình thức dạy học để nâng cao hiệu quả dạy học nhằm đáp ứng vớicông việc đổi mới của đất nước nói chung và ngành giáo dục Tiểu học nóiriêng

Trang 8

Tuy nhiên, thực tế cho thấy năng lực giải toán của HS còn nhiều hạnchế như HS không biết cách giải một bài toán có lời văn, các em không biếttrình bày một lời giải, thường chỉ giải bằng một cách,… Về phía giáo viên thìchưa nắm vững quy trình hướng dẫn học sinh giải toán, chưa chú ý sử dụngmột số biện pháp nhằm phát triển năng lực giải toán ở học sinh Từ đó dẫnđến chất lượng dạy và học giải toán chưa cao Vì vậy, nhiệm vụ cấp thiết làphải xây dựng các biện pháp nhằm phát triển năng lực giải toán cho học sinh.

Xuất phát từ những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Phát triển

năng lực giải toán cho học sinh lớp 4 thông qua việc giải các bài toán có lời văn” để tìm hiểu, nghiên cứu nhằm nâng cao năng lực giải toán cho học sinh.

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển năng lực giảitoán cho học sinh lớp 4 thông qua việc giải các bài toán có lời văn

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực giảitoán cho học sinh Lớp 4

- Tìm hiểu nội dung, chương trình dạy học giải toán có lời văn ở Lớp 4

- Điều tra thực trạng dạy-học giải toán có lời văn Lớp 4

- Đề xuất các biện pháp để phát triển năng lực giải toán cho học sinhLớp 4 thông qua việc giải các bài toán có lời văn

- Xây dựng hệ thống bài tập giải toán có lời văn lớp 4 phù hợp nhằmphát triển năng lực giải toán cho HS

4 Đối tượng nghiên cứu

Một số biện pháp phát triển năng lực giải toán cho học sinh lớp 4 thôngqua việc giải các bài toán có lời văn

5 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu một số biện pháp phát triển năng lực giải toán cho học sinhLớp 4 thông qua việc giải các bài toán có lời văn

Trang 9

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu cơ sở lí luận

+ Nghiên cứu các tài liệu về giáo dục học môn Toán, tâm lí học, lí luậndạy học môn Toán

+ Các sách báo, các bài viết về khoa học toán phục vụ cho đề tài

+ Các sách tham khảo, Toán tuổi thơ, Giúp em vui học Toán…

6.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm sư phạm với lớp học thực nghiệm và lớp họcđối chứng trên cùng một lớp đối tượng

6.3 Phương pháp điều tra - Quan sát

+ Trao đổi và thảo luận về những thuận lợi, khó khăn khi tổ chức hoạtđộng học tập giúp phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong việc học tậpmôn Toán ở Tiểu học

+ Dự giờ, quan sát việc dạy học của giáo viên và việc học của học sinhtrong quá trình khai thác các bài tập trong sách giáo khoa

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, đề tài gồm

2 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn.

Chương 2 Phát triển năng lực giải toán cho học sinh Lớp 4 thông qua

việc giải các bài toán có lời văn

Trang 10

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Tầm quan trọng và vai trò của bài tập toán

Với HS có thể xem giải toán là hình thức chủ yếu của hoạt động toánhọc Các bài tập toán ở trường Tiểu học là một phương tiện rất có hiệu quảtrong việc giúp học sinh nắm vững tri thức, phát triển các năng lực toán học,hình thành kĩ năng, kĩ xảo Thông qua việc giải các bài tập học sinh phải thựchiện những hoạt động nhất định, bao gồm cả nhận dạng và thể hiện địnhnghĩa, quy tắc hay phương pháp…Hoạt động học của học sinh liên hệ mậtthiết với mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học Chính vì vậy mà vai tròcủa bài tập toán được thể hiện trên cả 3 bình diện:

Thứ nhất: Trên bình diện mục tiêu dạy học, bài tập toán học ở trườngTiểu học là giá mang những hoạt động mà việc thực hiện các hoạt động đó thểhiện mức độ đạt mục tiêu

Thứ hai: Trên bình diện nội dung dạy học, những bài tập toán học làgiá mang hoạt động liên hệ với những nội dung nhất định để người học kiếntạo những tri thức, trên cơ sở đó thực hiện mục tiêu dạy học khác

Những bài tập toán còn là một phương tiện cài đặt nội dung để hoànchỉnh hay bổ sung cho những tri thức nào đó đã được trình bày trong phần lýthuyết

Thứ ba: Trên bình diện phương pháp dạy học, bài tập toán là giá manghoạt động để người học kiến tạo những tri thức nhất định, trên cơ sở đó thựchiện các mục tiêu dạy học khác nhau Khai thác tốt những bài tập toán sẽ gópphần giúp học sinh hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo Từ đó pháttriển được các năng lực toán học cần thiết

Trang 11

1.2 Một số vấn đề về phát triển năng lực giải toán cho học sinh Tiểu học

1.2.1.Năng lực

Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về năng lực:

Theo X.L Rubinxtein cho rằng: “Năng lực là toàn bộ các thuộc tính tâm

lí làm cho con người thích hợp với một hoạt động có lợi ích xã hội nhấtđịnh.” Theo nhà tâm lí học người Nga nổi tiếng V.A Cruchetxki thì:

“Nănglực được hiểu như là: Một phức hợp các đặc điểm tâm lí cá nhân của conngười đáp ứng những yêu cầu của một hoạt động nào đó và là điều kiện đểthực hiện thành công hoạt động đó”

Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấutrúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinhnghiệm, hiện thực hóa qua ý chí (John Erpenbeck 1998)

Năng lực nói lên người đó có thể làm được gì, làm đến mức nào, làmvới chất lượng ra sao? Thông thường người ta còn gọi là khả năng hay “tài”

(Phạm Minh Hạc,(1996), Tâm lí học, Nxb Giáo dục).

Năng lực là một trong ba thành tố tạo nên cấu trúc nhân cách (cùng với

xu hướng, tính cách và khí chất) Do là một thành tố của nhân cách nên nănglực chịu sự chi phối của các yếu tố: bẩm sinh di truyền, hoàn cảnh sống, sựgiáo dục và hoạt động cá nhân

Tóm lại, có thể hiểu năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiếnthức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ýchí… để thực hiện thành công một công việc trong bối cảnh nhất định Biểuhiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kĩ thuật trong một tìnhhuống có ý nghĩa, chứ không tiếp thu lượng tri thức rời rạc

1.2.2 Năng lực toán học

Theo V A Krutetxki: “Những năng lực toán học được hiểu là những đặcđiểm tâm lí cá nhân (trước hết là những đặc điểm của hoạt động trí tuệ) đáp

Trang 12

ứng những yêu cầu của hoạt động học tập toán, và trong những điều kiệnvững chắc như nhau thì là nguyên nhân của sự thành công trong việc nắmvững một cách sáng tạo toán học với tư cách là một môn học, đặc biệt nắmvững tương đối nhanh, dễ dàng, sâu sắc những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảotrong lĩnh vực Toán học” [4, tr.13].

“Năng lực toán học là tổ hợp các kĩ năng của cá nhân đảm bảo thựchiện đảm bảo thực hiện được một dạng hoạt động Toán học Năng lực toánhọc được hiểu là những đặc điểm tâm lí của cá nhân đáp ứng yêu cầu củahoạt động toán học” Theo “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Giáo dụcTiểu học” [2, tr.212]

Năng lực trong giáo dục toán học gồm:

- Năng lực tư duy toán học

- Năng lực giải quyết vấn đề toán học

- Năng lực giao tiếp

- Năng lực trình bày các vấn đề toán học

- Năng lực sử dụng kí hiệu, công thức, các yếu tố thuật toán

1.2.3 Năng lực giải toán

Năng lực giải toán là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩnăng, thái độ…phù hợp với lứa tuổi và vận hành chúng một cách hợp lí vàothực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt

ra cho trong cuộc sống

Thông thường, một người coi là có năng lực giải toán nếu người đónắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của hoạt động giải toán và đạt được kết quảtốt hơn, cao hơn so với trình độ trung bình của những người khác cũng tiếnhành hoạt động giải toán trong những điều kiện hoàn cảnh tương đương

Trang 13

1.2.4 Phát triển năng lực giải toán cho học sinh Tiểu học

Việc hình thành và phát triển các năng lực giải toán cho HS Tiểu học làviệc rất cần thiết và quan trọng trong cuộc sống hiện nay Tuy nhiên, mỗi HSkhác nhau thì năng lực giải toán cũng khác nhau Và các năng lực này đượchình thành và phát triển trong quá trình học tập và rèn luyện của mỗi HS Vìthế việc lựa chọn nội dung và phương pháp thích hợp sao cho mỗi HS đượcnâng cao dần về mặt năng lực là vấn đề quan trọng trong dạy học toán ở tiểuhọc

1.3 Phương pháp dạy học giải toán có lời văn

Muốn giải quyết tốt một bài tập toán cụ thể, thì ngoài việc nắm chắctừng phương pháp riêng lẻ, người giải toán còn phải rèn luyện năng lực phốihợp các phương pháp lại với nhau Nghiên cứu quá trình giải toán ở phần nàychúng ta sẽ nhận ra rõ hơn các bước của sự phối hợp nói trên

Trong lí luận về giải toán tùy theo mục đích nghiên cứu mà người tađưa ra các quy trình giải toán khác nhau Trong cuốn sách “Giải một bài toánnhư thế nào?”, tác giả G.polya đã tổng kết quá trình giải toán và nêu ra sơ đồ

4 bước, cụ thể các bước như sau:

Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán

Ở bước này, giáo viên hướng dẫn học sinh:

- Đọc kĩ đề bài, phát biểu đề bài dưới dạng các hình thức khác nhau đểhọc sinh hiểu rõ nội dung bài toán

- Xác định cái đã cho, cái phải tìm

- Giáo viên hướng dẫn học sinh thiết lập mối quan hệ giữa các dữ kiện

đã cho

- Tiến hành cho học sinh tóm tắt bài toán bằng lời, bằng sơ đồ đoạnthẳng…

Trang 14

- Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung đề bài, giáo viên có thểđưa ra những câu hỏi phát vấn dạng:

+ Đâu là cái phải tìm? Cái đã cho? Cái phải tìm có thỏa mãn các điềukiện cho trước hay không?

+ Em hãy vẽ hình, sử dụng kí hiệu thích hợp

Bước 2: Tìm tòi, lập kế hoạch giải toán

Để tìm được lời giải cho bài toán một cách hiệu quả thì bước tìm tòi,lập kế hoạch giải toán là bước quyết định, đồng thời cũng là bước khó nhất.Bước này đòi hỏi chúng ta phải huy động các kiến thức đã biết để tìm hiểucác hoạt động tư duy, các hoạt động nhận xét, so sánh, bác bỏ từ đó mới cóthể tiếp cận tới lời giải của bài toán

Thông thường bước này, giáo viên hướng dẫn học sinh thông quanhững câu hỏi:

- Bài toán đã cho thuộc loại toán điển hình nào?

- Em đã gặp bài toán này hay chưa? Hay đã gặp bài toán này ở mộtdạng hơi khác?

- Vận dụng những bài toán tương tự để giải bài toán này thì em sẽ vậndụng như thế nào?

- Em có thể phát biểu bài toán dưới dạng khác không?

- Em đã sử dụng hết cái đã cho chưa?

Bước 3: Trình bày lời giải bài toán

Đây là quá trình tổng hợp lại của bước 2, ta dùng các phép suy luậnlogic để thực hiện các phép tính đã nêu trong phần tìm tòi, lập kế hoạch giải

và tiến hành trình bày lời giải của bài toán

Để có một lời giải chặt chẽ, giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiệntheo các bước sau:

- Nắm lại toàn bộ cách giải đã tìm ra trong quá trình suy nghĩ ở bước 2

Trang 15

- Trình bày lại lời giải sau khi đã lược bỏ những yếu tố dự đoán pháthiện, những yếu tố lệch lạc và đã điều chỉnh những chỗ cần thiết.

Đối với lời giải một bài toán, HS có thể có nhiều cách trả lời khácnhau Vì thế câu trả lời trong bài toán là câu trả lời mở Vậy cùng một phéptính HS có thể trả lời bằng nhiều cách khác nhau

Bước 4: Kiểm tra lời giải và khai thác bài toán

Đây không phải là bước bắt buộc trong quá trình giải toán, nhưng lại làbước không thể thiếu trong dạy học toán

Thực hiện bước này nhằm mục đích:

- Kiểm tra, rà soát lại công việc giải bài toán

- Tìm kiếm cách giải khác của bài toán và so sánh các cách giải khácnhau

- Phát biểu các bài toán có liên quan từ bài toán ban đầu nhờ phéptương tự, khái quát, cụ thể…

Trên đây là các bước giải một bài toán, các bước này trên thực tế khôngtách rời nhau mà bước trước chuẩn bị cho bước sau, có khi đan chéo vào nhaukhông phân biệt rõ ràng Nhiều trường hợp không theo đầy đủ các bước trênvẫn giải được bài toán

1.4 Nội dung triển khai dạy học giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4

Trong chương trình môn Toán tiểu học, nội dung dạy học giải toán cólời văn được xây dựng như một “mạch” kiến thức xuyên suốt từ lớp 1 đếnlớp

5, mạch kiến thức đó có đặc điểm chung cho các chương trình, nhưng cũng cóđặc điểm riêng của từng lớp, đặc biệt là ở lớp 4, lớp mở đầu của giai đoạn

“học tập sâu” ở bậc Tiểu học Dạy học giải toán có lời văn trong Toán 4 baogồm những nội dung chủ yếu sau:

Trang 16

- Tiếp tục dạy học các dạng bài đã học ở lớp 1, 2, 3 đặc biệt là các bàitoán có lời văn liên quan tới các phép tính về phân số hoặc các số đo đạilượng mới học ở lớp 4.

- Giải các bài toán về: “Tìm số trung bình cộng” ; “Tìm hai số biếttổng (hiệu) và tỉ số của hai số đó” ; “Tìm phân số của một số”

- Giải các bài toán có nội dung hình học

- Giải các bài toán khác liên quan đến “biểu đồ”, ứng dụng “tỉ lệ bảnđồ”,…

1.5 Khảo sát thực trạng của việc day học giải toán có lời văn ở Tiểu học

1.5.1 Thực trạng chung

Thông qua hai đợt thực tập, đợt 1 tại trường Tiểu học Nam Hồng và đợt

2 tại trường Tiểu học Bắc Cường, tôi có một số nhận xét như sau:

- Về phía giáo viên:

+ Một số giáo viên khi hướng dẫn học sinh giải toán còn chưa nắm rõbản chất của bài toán, không làm rõ các mối liên hệ giữa cái đã cho, cái cầntìm của bài toán, chưa tạo cho các em thói quen tóm tắt bài toán, lập kế hoạchgiải toán

+ Một số giáo viên còn vội vàng tiến hành cho học sinh đọc đề rồi tìmlời giải ngay mà chưa chú trọng đến việc phân tích tìm lời giải cho bài toán.Khi đưa ra bài toán giáo viên thường hỏi “Bạn nào làm được bài toán này?”ngay lúc đó nếu học sinh giỏi làm được thì học sinh đó lên làm rồi giáo viênnhận xét, đánh giá và cho học sinh tự chữa bài vào vở Nếu không có học sinhnào làm được thì giáo viên sẽ chữa luôn lên bảng mà không đưa ra câu hỏigợi mở để từng bước giúp học sinh giải được bài toán

+ Giáo viên chưa thực sự chú tâm vào việc phát triển các năng lực giảitoán ở học sinh như: năng lực suy luận logic, năng lực giải quyết vấn đề, nănglực tìm ra lời giải hay…

Trang 17

Đây là vấn đề giáo viên cần quan tâm để có thể hướng dẫn học sinhgiải toán có lời văn một cách hiệu quả, qua đó có thể phát triển năng lực giảitoán cho học sinh.

- Về phía học sinh:

+ Vẫn còn một số HS có nhận thức kém, không nắm chắc kiến thứcdẫn tới việc hiểu sai, giải sai bài toán

+ Các em không biết hoặc lung túng khi áp dụng các quy tắc vào việctính toán có nội dung hình học

+ Một số học sinh còn mải chơi, chưa chăm chỉ học tập, ngại hỏi giáoviên, làm bài còn sai nhiều dẫn đến sự chán nản, thiếu tự tin, từ đó tạo nên lỗhổng kiến thức trong học tập của các em

+ Học sinh hiểu sai về các thuật ngữ toán học Ví dụ: học sinh luôn chorằng “nhiều hơn” là cộng, “ít hơn” là trừ…

1.5.2 Những thuận lợi và khó khăn gặp phải khi dạy học giải toán có lời văn ở trường Tiểu học

+ Thuận lợi:

- Lớp tôi chủ nhiệm gồm 38 em Trong đó có 19 em nam và 19 em nữ.Một số học sinh có nhận thức tốt, nắm chắc kiến thức Các em biết cách vậndụng để giải các bài toán có lời văn

- Trường đóng trên địa bàn thành phố Lào Cai, có nền kinh tế ổn địnhnên phụ huynh có sự quan tâm đến việc học tập của con em mình

- Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm chú trọng đến chất lượnggiảng dạy của từng khối lớp, đặc biệt là khối 4 Ngay từ đầu năm ban giámhiệu đã chỉ đạo khối tổ chức mở các chuyên đề về giải toán có lời văn để cácgiáo viên học hỏi trau dồi kinh nghiệm lẫn nhau góp phần nâng cao chấtlượng giáo dục

Trang 18

- Giáo viên rất nhiệt tình trong giảng dạy dạng toán có lời văn, yêunghề mến trẻ, thường xuyên trao đổi với phụ huynh về tình hình học tập củatừng học sinh.

+ Khó khăn:

- Việc tổ chức rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn cho HS thườngchỉ được tiến hành qua các tiết dạy bài toán có lời văn mà chưa được nghiêncứu sâu trong các tiết học khác

- Giáo viên mới chỉ tập trung vào việc dạy cho HS biết cách giải một

số bài toán có lời văn cụ thể mà chưa chú ý đến năng lực định hướng trongcác tình huống toán học khác nhau

- Học sinh còn chịu nhiều “sức ép”, học quá tải mà chưa phát huyđược trí lực của mình

- Quá nhiều các loại sách tham khảo trên thị trường, điều này khiếncho phụ huynh và học sinh gặp khó khăn trong việc lựa chọn những cuốnsách phù hợp

Kết luận chương 1

Trong chương này, tôi đã làm rõ cơ sở lí luận của việc phát triển nănglực giải toán cho HSTH trong đó trình bày các khái niệm: năng lực, năng lựctoán học, năng lực giải toán

Tôi đã tiến hành tìm hiểu nội dung chương trình giải toán có lời văn ởlớp 4, tìm hiểu những hạn chế và khó khăn khi dạy học giải toán có lời văn,thấy rõ được ý nghĩa của dạng toán này Do đó, việc phát triển năng lực giảitoán cho học sinh là rất quan trọng Việc làm này đòi hỏi một quá trình lâudài và được tiến hành trong tất cả các khâu của quá trình dạy học mà việc đềxuất các biện pháp nhằm phát triển năng lực giải toán có lời văn cho họcsinh là việc làm rất cần thiết

Trang 19

Chính vì vậy giáo viên cần phải trang bị cho mình những kiến thức nềntảng trong việc dạy học giải toán có lời văn để thông qua các hoạt động cụ thểgiúp rèn luyện và phát triển năng lực giải toán cho học sinh Tiểu học.

Trang 20

+ Giúp học sinh thực hiện thành thạo các thao tác, hoạt động giải toán

có lời văn

- Hình thành và bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức ở học sinh như: thóiquen kiểm tra, làm việc có kế hoạch, trách nhiệm,…

Về phía giáo viên

- Bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn

- Có các biện pháp phù hợp trong việc dạy học giải toán có lời văn ởlớp 4 qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học

2.2 Biện pháp phát triển năng lực giải toán cho học sinh lớp 4 thông qua việc giải các bài toán có lời văn

2.2.1 Biện pháp 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh giải bài toán bằng nhiều

cách khác nhau

2.2.1.1 Mục đích

- Giúp học sinh phát triển các năng lực giải toán

Trang 21

- Học sinh có thói quen tìm các cách giải khác nhau trong một bài toán

- Kích thích sự động não, suy nghĩ ở học sinh

2.2.1.2 Nội dung và tổ chức thực hiện biện pháp

Biện pháp này được xây dựng trên cơ sở một vấn đề Toán học có nhiềucách nhìn nhận theo các góc độ khác nhau Với một bài toán được giải bằngnhiều cách khác nhau, học sinh sẽ được tiếp nhận tri thức theo nhiều hướng,kiến thức rộng hơn sâu sắc hơn Từ các phương thức tiếp cận đó học sinh cóthể giải quyết được vấn đề một cách nhanh chóng, linh hoạt Tuy nhiên,không phải bài toán nào cũng được giải theo nhiều phương pháp, cách giảikhác nhau Chính vì thế sau khi giải xong một bài toán nào đó, giáo viên nênhỏi học sinh: “Với bài toán này bạn nào còn có cách giải khác không?” hoặc:

“Em hãy nghĩ cách giải khác cho bài toán này?” Khi giáo viên đặt ra các câuhỏi sẽ kích thích sự động não của học sinh về bài toán đang tìm hiểu Nếugiáo viên không đặt ra câu hỏi thì học sinh sẽ không có cơ hội để thể hiệnmình vì biết đâu các em có nhiều cách giải khác, phương pháp giải hay hơnnhiều cách giải vừa được trình bày Mỗi học sinh có khả năng liên tưởng, huyđộng kiến thức khác nhau tùy vào khả năng tư duy giải quyết vấn đề của cácem

- Biện pháp này đòi hỏi học sinh tiến hành liên tiếp các thao tác tưduy, đồng thời có khả năng di chuyển các thao tác tư duy một cách linh hoạt,mềm dẻo từ hướng này sang hướng khác Khi học sinh tìm được nhiều cáchgiải khác nhau cho một bài toán cũng là biểu hiểu rõ nét năng lực giải toán ởngười học Mỗi cách giải được tìm ra sẽ là một điều mới mẻ, độc đáo đối vớihọc sinh giúp các em có thể tích lũy được nhiều kinh nghiệm khi giải toán

- Việc tìm cách giải khác cho bài toán cũng là một trong những cáchlàm nhằm nghiên cứu sâu lời giải, giúp học sinh nắm chắc bài toán hơn

Ví dụ cụ thể:

VD1: Tìm 5 số lẻ liên tiếp biết tổng của chúng là 85

Trang 22

- Bài toán cho biết gì? (Bài toán cho biết 5 số lẻ liên tiếp có tổng là 85)

- Bài toán hỏi gì? (Tìm 5 số lẻ liên tiếp)

- Vì hai số lẻ liên tiếp hơn kém nhau 2 đơn vị nên nếu ta xem số tựnhiên thứ nhất là 1 đoạn thẳng thì số tự nhiên thứ hai là 1 đoạn thẳng như thế

và thêm 2 đơn vị Làm như vậy ta sẽ vẽ được sơ đồ đoạn thẳng biểu diễn các

Trang 23

Đáp số: 13, 15, 17, 19, 21.

Cách 2: Dùng phương pháp suy luận

Vì dãy có 5 số lẻ liên tiếp nên số ở giữa chính là trung bình cộng của 5số

VD2: Tìm hai số biết tổng của hai số bằng 158, biết rằng nếu xóa đi chữ số 4

ở hàng đơn vị của một số thì được số kia

Phân tích bài toán:

Bài toán cho biết 2 số có tổng bằng 158, biết rằng nếu xóa đi chữ số 4 ởhàng đơn vị của một số thì được số kia Tức là khi xóa đi chữ số 4 ở hàng đơn

vị của một số thì số đó giảm đi 4 đơn vị và giảm đi 10 lần Theo bài toán thì

số đó phải là số lớn và số kia phải là số bé hơn

Trang 24

Khi xóa chữ số 4 ở hàng đơn vị của một số thì số đó giảm đi 4 đơn vị vàgiảm đi 10 lần, ta gọi số đó là số bé, và số còn lại là số lớn.

Ngày đăng: 29/12/2019, 10:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Vũ Quốc Chung, (2007), Phương pháp dạy học toán ở Tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển giáo viên Tiểu học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học toán ở Tiểu học
Tác giả: Vũ Quốc Chung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[2]. G.Polya, (1995), Giải một bài toán như thế nào? (Bản dịch của Hồ Thuần và Bùi Tường), Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải một bài toán như thế nào
Tác giả: G.Polya
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1995
[3]. G.polya, (1997), Sáng tạo toán học (bản dịch), Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo toán học (bản dịch)
Tác giả: G.polya
Nhà XB: Nxb Giáo dục HàNội
Năm: 1997
[4]. Phạm Minh Hạc,(1996), Tâm lí học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
[5]. Trần Diên Hiển, (2008), Giáo trình chuyên đề rèn kĩ năng giải toán ở Tiểu học, Dự án phát triển giáo viên Tiểu học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chuyên đề rèn kĩ năng giải toánở Tiểu học
Tác giả: Trần Diên Hiển
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
[6]. Đỗ Trung Hiệu, Đỗ Đình Hoa, Vũ Dương Thụy, Vũ Quốc Chung (1995), Phương pháp dạy học môn Toán ở bậc Tiểu học, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán ở bậc Tiểu học
Tác giả: Đỗ Trung Hiệu, Đỗ Đình Hoa, Vũ Dương Thụy, Vũ Quốc Chung
Nhà XB: Nxb Đại học Sưphạm Hà Nội
Năm: 1995
[7]. Đỗ Đình Hoan (chủ biên), (2004), Toán lớp 4, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán lớp 4
Tác giả: Đỗ Đình Hoan (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
[8]. Nguyễn Bá Kim, (2002), Phương pháp dạy học môn Toán, Nxb Đại học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: NxbĐại học Sư Phạm
Năm: 2002
[9]. Hoàng Phê, (2002), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2002
[10]. Trần Thị Thanh Thủy (chủ biên), Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tích hợp phát triểnnăng lực học sinh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[11]. Phạm Đình Thực, (2007), 200 câu hỏi đáp về dạy toán ở Tiểu học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 200 câu hỏi đáp về dạy toán ở Tiểu học
Tác giả: Phạm Đình Thực
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w