1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH ĐÀ LẠT

136 309 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đầu tư mạnh đã dẫn đến ngày càng có nhiềuđiểm đến du lịch hấp dẫn, phương tiện vận chuyển ngày càng hiện đại vàthuận tiện, khách du lịch quan tâm nhiều hơn tới chất lượng vệ sinh, m

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhậnđược sự giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy côkhoa Du lịch và quý thầy cô thỉnh giảng tại khoa Du lịch Trường Đại họcKhoa học Xã hội & Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đặc biệt đến những quý thầy cô đãtận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Quang Vinh đã dànhrất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thànhluận văn tốt nghiệp

Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại họcVăn hóa thành phố Hồ Chí Minh cùng quí thầy cô trong khoa Sau đại học đãtạo rất nhiều điều kiện để tôi học tập và hoàn thành tốt khóa học

Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn quí anh, chị và ban lãnh đạo sở Văn hóa– Thể thao – Du lịch các tỉnh Lâm Đồng, Bà Rịa – Vũng Tàu, Kiên Giang,Khánh Hòa, Thừa Thiên Huế,… đã tạo điều kiện cung cấp số liệu cho tôi đểhòan thành luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệttình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rấtmong nhận được những đóng góp quý báu từ quý thầy cô và các bạn

Hà Nội, tháng 12 năm 2013

Học viên

Dương Ngọc Lang

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhântôi Mọi tài liệu tham khảo, trích dẫn khoa học đều có nội dung chính xác.Các kết luận khoa học chưa công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Học viên thực hiện luận văn

Dương Ngọc Lang

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC BẢNG 3

DANH MỤC CÁC HÌNH 4

MỞ ĐẦU 5

1 Đề tài và lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Cấu trúc của luận văn 14

Chương 1 ĐIỂM ĐẾN VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 15

1.1 Điểm đến du lịch 15

1.1.1 Du lịch 15

1.1.2 Khái niệm điểm đến du lịch 17

1.1.3 Phân loại điểm đến du lịch 18

1.1.4 Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch 20

1.2 Lý thuyết về cạnh tranh 24

1.2.1 Cạnh tranh ( 24

1.2.2 Phân loại cạnh tranh 26

1.2.3 Năng lực cạnh tranh 29

1.3 Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch 30

1.3.1 Khái niệm 30

Trang 5

1.3.2 Các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch 31

1.3.3 Các phương pháp xác định năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch 32

Chương 2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH ĐÀ LẠT 40

2.1 Tổng quan về điểm đến du lịch Đà Lạt 40

2.1.1 Các điều kiện phát triển của du lịch Đà Lạt 40

2.1.2 Các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt 47

2.2 Các đối thủ cạnh tranh chính của du lịch Đà Lạt 48

2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh thông qua phương pháp NPS (Net Promoter Score) 50

2.4 Đánh giá năng lực cạnh tranh dựa trên phương pháp Benchmarking 64

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH ĐÀ LẠT 85

3.1 Định hướng 85

3.2 Giải pháp 87

3.2.1 Nguồn nhân lực 87

3.2.2 Sản phẩm 90

3.2.3 Liên kết, hợp tác 100

3.2.4 Quảng bá, xúc tiến 102

3.2.5 Bảo tồn 105

3.2.6 Giải pháp khác 106

3.3 Kiến nghị 109

KẾT LUẬN 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

Trang 6

PHỤ LỤC 120

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Thu nhập của khách du lịch đến Đà Lạt 52

2.2 Độ tuổi của khách du lịch đến Đà Lạt 53

2.3 Mức độ hài lòng của khách du lịch khi đến Đà Lạt 55

2.4 Mức độ hài lòng của khách du lịch về các dịch vụ tại Đà

Lạt 56

2.5 Mong muốn quay trở lại Đà Lạt của khách du lịch 59

2.6 Mức độ hài lòng của du khách về đội ngũ nhân viên phục

2.10 Doanh thu du lịch của các tỉnh năm 2011, 2012 74

2.11 Doanh thu bình quân/khách của các tỉnh năm 2012 76

2.12 Thời gian lưu trú bình quân của du khách tại các tỉnh năm

2011 782.13 Xếp hạng năng lực cạnh tranh các điểm đến du lịch 80

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

2.1 Mức độ hài lòng của khách du lịch khi đến Đà Lạt 55

2.2 Mong muốn quay trở lại Đà Lạt của khách du lịch 60

2.3 Tổng lượt khách nội địa đến với các tỉnh năm 2012 66

2.4 Tổng lượt khách quốc tế đến với các tỉnh năm 2012 69

2.5 Doanh thu du lịch của các tỉnh năm 2012 74

2.6 Doanh thu bình quân/khách của các tỉnh năm 2012 77

2.7 Thời gian lưu trú bình quân của du khách tại các tỉnh năm 2011 78

2.8 Xếp hạng năng lực cạnh tranh các điểm đến du lịch 81

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Đề tài và lý do chọn đề tài

Trong những năm qua, sự nghiệp đổi mới đất nước đã đạt được nhữngthành tựu quan trọng, đặc biệt từ khi nước ta gia nhập và chính thức trở thành

thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Các ngành kinh tế, dịch

vụ đều có bước phát triển mới tích cực, diện mạo đất nước cũng dần thay đổi,đời sống của người dân được cải thiện, khả năng thanh toán và thời gian nhànrỗi tăng nên nhu cầu du lịch ngày càng tăng và nhanh chóng được hiện thựchóa bằng những tour du lịch cụ thể Khách du lịch ngày càng có nhiều kiếnthức, kinh nghiệm, linh hoạt và yêu cầu cao hơn về chất lượng các dịch vụtrong quá trình du lịch Việc đầu tư mạnh đã dẫn đến ngày càng có nhiềuđiểm đến du lịch hấp dẫn, phương tiện vận chuyển ngày càng hiện đại vàthuận tiện, khách du lịch quan tâm nhiều hơn tới chất lượng vệ sinh, môitrường của các cơ sở dịch vụ và điểm đến du lịch… Sự tăng trưởng du lịch cả

về cung và cầu đã làm gia tăng áp lực với các địa phương trong việc duy trì sựphát triển du lịch và nâng cao năng lực cạnh tranh Do đó, năng lực cạnh tranhtrở thành yếu tố quan trọng quyết định thành công mang tính dài hạn của mộtđịa phương, một điểm đến du lịch

Cùng với xu thế phát triển chung của du lịch toàn cầu và cả nước, trongnhững năm gần đây, du lịch Đà Lạt – Lâm Đồng đã tăng trưởng khá nhanh,trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh

tế - xã hội của địa phương Du lịch phát triển đã góp phần tạo công ăn việclàm, tăng thu nhập, cải thiện kết cấu hạ tầng và nhiều lĩnh vực trọng yếu khác.Mặc dù có nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú, song so vớimột số địa phương có hoạt động du lịch khá phát triển trong thời gian gần đâynhư: Phan Thiết, Nha Trang,… thì Đà Lạt có phần phát triển chậm hơn.Những địa phương trên dần trở thành những điểm đến thành công, có thương

Trang 10

hiệu trên thị trường du lịch trong nước, quốc tế và trở thành đối thủ cạnh tranhtrực tiếp đối với điểm đến du lịch Đà Lạt Những địa phương này cũng đã thuhút một lượng khách khá lớn từ thị phần khách du lịch trong nước và quốc tế,dẫn đến số lượng du khách đến Đà Lạt tăng nhẹ cả năm và giảm đi đáng kểvào những dịp lễ trong những năm gần đây

Các số liệu thống kê đã chỉ ra rằng, khách quốc tế chỉ chiếm khoảnghơn 10% trong tổng số lượt khách đến du lịch Đà Lạt và tỷ lệ này đang có xuhướng giảm Đây là một tỷ lệ khá thấp trong những điểm đến du lịch nổi tiếngcủa Việt Nam hiện nay Điều này cho thấy việc phát triển của du lịch Đà Lạtbộc lộ những nhân tố không bền vững và dẫn đến nội lực du lịch Đà Lạt chưathực sự vững chắc trước áp lực cạnh tranh ngày càng tăng từ các địa phươngkhác

Hiểu rõ về năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Đà Lạt, biết rõđược vị trí của du lịch Đà Lạt trên bản đồ du lịch Việt Nam sẽ là những căn

cứ quan trọng để đề xuất những giải pháp nhằm giúp ngành du lịch địaphương có những bước đi phù hợp để thu hút và phục vụ tốt hơn nữa nhu cầucủa du khách, tăng sức hấp dẫn và nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành du

lịch địa phương Với lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu năng

lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt” làm luận văn tốt nghiệp của mình.

Những nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở nâng cao nhận thức về thực lực pháttriển du lịch địa phương, kết quả của đề tài sẽ là một trong những cơ sở thiếtthực để củng cố cho những quan điểm về định hướng phát triển của du lịchLâm Đồng nói chung và du lịch Đà Lạt nói riêng, góp phần giúp những nhàquản lý du lịch làm cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển dài hạn chothành phố, nắm rõ hơn về những nội lực của mình để có những chính sáchthích hợp, thúc đẩy du lịch địa phương phát triển ở tầm cao hơn

Thông qua luận văn, tác giả hy vọng sẽ góp một phần ý kiến giúp nâng

Trang 11

cao năng lực cạnh tranh cho du lịch Đà Lạt, đưa Đà Lạt trở thành điểm đến dulịch quốc gia, quốc tế hấp dẫn và có vị thế cạnh tranh cao trong nước và trênthế giới, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong thời

kỳ hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích chính của luận văn là góp phần nâng cao khả năng cạnh tranhcủa du lịch Đà Lạt trước sự phát triển và đầu tư mạnh mẽ của nhiều điểm đến

du lịch khác trong nước Trong môi trường cạnh tranh gay gắt hiện nay, địaphương nào không chú trọng nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ khó thu hútđược khách du lịch và khó đảm bảo được sự phát triển ổn định trong dài hạn.Ngược lại, địa phương nào có chiến lược cạnh tranh toàn diện, biết đặt trọngtâm nâng cao năng lực cạnh tranh, vị thế cạnh tranh của địa phương đó sẽđược khẳng định, hiệu quả thu hút khách du lịch sẽ ngày càng cao Do vậy, đềtài được thực hiện nhằm xác định được năng lực cạnh tranh của Đà Lạt hiệnnay, biết được những điểm mạnh của địa phương để lấy đó làm trọng tâmtrong quá trình xúc tiến, hoạch định phát triển du lịch và nhận biết nhữngđiểm yếu để dần khắc phục và hạn chế Qua đó, biết hướng để tạo sự khácbiệt, xây dựng thương hiệu riêng và sử dụng các phương tiện marketing hiệnđại hiệu quả để thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế

Với việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt trênphương diện thực tiễn theo hướng tiếp cận cả định lượng và định tính, luậnvăn sẽ tiến hành giải quyết các nhiệm vụ chính sau:

- Tổng hợp lý thuyết về cạnh tranh và các phương pháp xác định nănglực cạnh tranh điểm đến du lịch, qua đó lựa chọn phương pháp xác định nănglực cạnh tranh phù hợp nhất

- Sử dụng phương pháp Benchmarking để xác định vị trí của du lịch ĐàLạt so với các đối thủ cạnh tranh khác trong nước

Trang 12

- Phân tích hiện trạng, các yếu tố nội sinh ảnh hưởng đến năng lực cạnhtranh của điểm đến du lịch Đà Lạt.

- Phân tích các số liệu tổng hợp từ việc thu thập ý kiến của du khách,căn cứ vào phương pháp NPS để nhận định rõ hơn những nhận xét, đánh giácủa họ về du lịch Đà Lạt

- Căn cứ vào áp lực cạnh tranh từ các điểm đến du lịch khác và xuhướng phát triển của thị trường để đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nângcao năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Đà Lạt

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Suốt thập niên vừa qua, các tài liệu nghiên cứu về du lịch ngày càngquan tâm nhiều hơn đến khái niệm “cạnh tranh điểm đến” Trong các thậpniên trước đây, sự cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch thường thể hiện qua yếu

tố giá cả và thường chỉ giới hạn ở tầm vóc vi mô Không thể phủ nhận rằngđối với một điểm đến cũng như một doanh nghiệp, giá cả là yếu tố quan trọngcủa sức cạnh tranh [19, 9-22] Tuy nhiên, từ đầu thập niên 90 (AIEST, 1993;Poon, 1993; Goeldner và những người khác, 2000), ngành du lịch và các nhànghiên cứu du lịch đã ý thức được rằng bên cạnh lợi thế cạnh tranh và giá cả,còn có nhiều biến số khác xác định sức cạnh tranh của một doanh nghiệp dulịch hay một điểm đến du lịch Ngày càng có nhiều tác giả tập trung vào điểmđến cạnh tranh Ý tưởng về điểm đến cạnh tranh bao gồm hai thành phần:điểm đến và sức cạnh tranh

Hiện nay trên thế giới có nhiều công trình đề cập tới vấn đề cạnh tranh

điểm đến du lịch như: “Yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh điểm đến

du lịch Châu Á – Thái Bình Dương: toàn diện và phổ quát” [24, Michael J.

Enright & James Newton], để tạo được các dữ liệu thực nghiệm mong muốn,một cuộc điều tra đã được tiến hành tại Hong Kong, Bangkok và Singaporevới mục đích liệt kê tất cả những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh

Trang 13

điểm đến du lịch Kết quả được phân tích phương sai và kiểm định giả thuyết

bằng ANOVA Tuy nhiên, phương pháp này rất khó áp dụng trong thực tế vì

yêu cầu dữ liệu rất nhiều và phải chính xác với thực tế mới cho nhận xét

đúng; “Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch: những thách thức thị trường

và hệ thống đánh giá” [22, Ines Milohnić & Dora Smolčić Jurdana, Croatia],

công trình cho rằng chất lượng đã trở thành một yếu tố quan trọng trong khảnăng cạnh tranh điểm đến du lịch, vì vậy cần phải so sánh thường xuyên vớicác đối thủ cạnh tranh tốt nhất trên thị trường với mục đích xác định được cácđiểm yếu cũng như tạo ra các yếu tố để tăng khả năng cạnh tranh cho điểm

đến Phương pháp Benchmarking (được sử dụng để so sánh tình hình hoạt

động giữa các tổ chức khác nhau nhưng hoạt động trong lĩnh vực tương tựnhau hoặc giữa các bộ phận trong cùng một tổ chức) được thực hiện sẽ đảmbảo phân loại và đánh giá kết quả, cùng với đó đề tài còn sử dụng các hệthống khác là IDES và BSC để đánh giá một địa điểm cụ thể, phương phápnày được triển khai dễ dàng nếu lựa chọn được những đối thủ có nhiều điểm

tương đồng để so sánh; “Kiểm tra năng lực cạnh tranh điểm đến từ du khách.

Quan điểm: mối quan hệ giữa kinh nghiệm du lịch và nhận thức năng lực cạnh tranh điểm đến” [21, Fang meng], nghiên cứu cũng xác định các yếu tố

có khả năng ảnh hưởng đến chất lượng kinh nghiệm du lịch và năng lực cạnhtranh điểm đến của du khách

Có thể nói, các nghiên cứu trên và nhiều nghiên cứu khác nữa đã trìnhbày khá đa dạng về cách thức xác định năng lực cạnh tranh của một điểm đến

du lịch, nhưng trong đó chủ yếu tập trung khảo sát điều tra từ khách hàng &nội lực bên trong của mình Ngoài ra, còn có thể so sánh với các đối thủ cạnhtranh tương đương để xác định những điểm yếu và thiết lập nên những lợi thếcạnh tranh cho riêng mình

Tại Việt Nam, hiện đã có một số công trình nghiên cứu về năng lựccạnh tranh, các nghiên cứu này thường được tiến hành theo hướng định lượng

Trang 14

với một nhóm các đơn vị theo ngành hoặc theo lĩnh vực hoạt động cho mộtvùng, một quốc gia Các công trình nghiên cứu này thường được tiến hànhtheo hướng định lượng và thường sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu.

Trong lĩnh vực du lịch, đáng chú ý nhất là đề tài “Nghiên cứu thực trạng và

giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế” do vụ Lữ hành, Tổng cục Du lịch

Việt Nam thực hiện năm 2007 Nội dung chính của đề tài này là phân tích,đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của toàn bộ lĩnh vực lữ hành quốc tếtrong mối tương quan với các nước trong khu vực, từ đó đề xuất các giải phápnhằm nâng cao sức cạnh tranh của cả hệ thống này trong điều kiện hội nhậpkinh tế quốc tế Về cơ bản, khuôn khổ phân tích của nghiên cứu này vẫn thiênnhiều về cạnh tranh điểm đến mà trong đó hoạt động của toàn bộ hệ thống lữhành quốc tế giữ vai trò trung tâm

Đối với cạnh tranh du lịch địa phương, hiện cũng có một số đề tài được

triển khai như “Nghiên cứu tính cạnh tranh trong du lịch của thành phố

Huế” (Thái Thanh Hà & Đặng Ngọc Hiệp, tạp chí khoa học, đại học Huế, số

60, 2010), Nghiên cứu này chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến tính cạnhtranh trong du lịch của thành phố Huế, vốn là một trong những điểm đến dulịch nổi tiếng ở miền Trung Bằng phương pháp phân tích nhân tố đối với 36nội hàm về tính cạnh tranh trong du lịch và sau đó là phương pháp kỹ thuật

phân tích số liệu đa biến hồi quy theo bước có trọng số Đề tài “nghiên cứu

năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Nẵng” (Nguyễn Thị Thu Vân, luận

văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, đại học Đà Nẵng, 2011), đề tài thu thập dữliệu bằng các bảng phỏng vấn Căn cứ vào mô hình tích hợp, 84 chỉ số cạnhtranh được xây dựng thành 84 câu hỏi khảo sát Hai đề tài trên mặc dù đã xácđịnh được năng lực cạnh tranh của địa phương theo các tiêu chí đánh giánhưng không so sánh được khách quan với các điểm đến du lịch khác, khôngbiết rõ được vị trí của địa phương đó trên bản đồ du lịch cả nước

Trang 15

Đối với du lịch Đà Lạt, hiện đã có một số công trình có nghiên cứu về

hoạt động du lịch của địa phương như: “Khảo sát ý kiến khách du lịch nước

ngoài về những điểm mạnh – điểm yếu của du lịch Đà Lạt – Lâm Đồng” (Chủ

nhiệm: Trương Thị Ngọc Thuyên (2009-2010, đề tài nghiên cứu khoa học cấp

bộ, trường Đại học Đà Lạt); “Khảo sát và đánh giá năng lực đáp ứng của hệ

thống nhà hàng phục vụ khách du lịch tại thành phố Đà Lạt” (Phạm Thị Thúy

Nguyệt, 2009, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, trường đại học Đà Lạt);

“Khảo sát năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng” (Nguyễn Duy Mậu, 2007, đề tài nghiên cứu khoa học, trường Đại học

Đà Lạt); “Môi trường du lịch Đà Lạt – Lâm Đồng” (chủ nhiệm: Nguyễn

Trọng Hoàng, 2005) Các đề tài trên đã tập trung nghiên cứu sâu về từngkhía cạnh của năng lực cạnh tranh, cho thấy rõ được những điểm yếu cũngnhư những lợi thế của Đà Lạt trong việc khai thác, thu hút khách du lịch Tuynhiên, các công trình chủ yếu phân tích theo hướng chủ quan của du lịch địaphương, chưa có công trình nghiên cứu trên phương diện so sánh với các đốithủ cạnh tranh khác trong nước Ngoài ra, tính toàn diện tất cả các mặt trongcạnh tranh lại rất ít được đề cập, có đề tài cập nhật toàn diện thì lại chú ý đếnkhía cạnh khách quốc tế Có thể nói, chưa có một công trình nào đề cập đếnkhía cạnh cạnh tranh của du lịch Đà Lạt trên phương diện tổng hợp nhiều yếu

tố Do vậy, luận văn nghiên cứu năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch ĐàLạt theo phương pháp NPS và so sánh với đối thủ cạnh tranh khác theophương pháp Benchmarking Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số lýthuyết cạnh tranh của Michael E Porter và năng lực cạnh tranh điểm đến củaKozak để dẫn chứng rõ hơn cho đề tài

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là năng lực cạnh tranh của

điểm đến du lịch Đà Lạt Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh là một khái niệmđộng, không đứng độc lập một mình mà được đặt trong so sánh tương quan

Trang 16

với các điểm đến du lịch khác Do vậy, ngoài đối tượng nghiên cứu chính,luận văn còn tập trung vào đối tượng là các đối thủ cạnh tranh khác trongnước

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn

 Về mặt không gian: bao gồm phạm vi toàn quốc nhưng tập trungchủ yếu tại thành phố Đà Lạt Bên cạnh đó, để có cái nhìnkhách quan hơn về hoạt động du lịch địa phương, tác giả đã tiếnhành thu thập các số liệu về du lịch của các điểm đến khác Lựachọn nhiều điểm đến thì kết quả sẽ chính xác và tốt hơn Tuynhiên, do thời gian có hạn nên tác giả chỉ lựa chọn những tỉnhtheo ba tiêu chí: các điểm du lịch nổi tiếng, có điểm tương đồng

và phân chia nguồn khách (xem thêm mục 2.2.), tác giả đã lựachọn những tỉnh sau: Quảng Ninh, Khánh Hòa, Bình Thuận, BàRịa – Vũng Tàu, Kiên Giang, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam,Lào Cai và Ninh Bình

 Về mặt thời gian: luận văn tiến hành khảo sát, thu thập số liệu về

du lịch Đà Lạt và các tỉnh khác từ năm 2010 đến 2012 Việcđiều tra du khách được tiến hành từ tháng 3 đến tháng 4 năm

2013.

 Phạm vi lý thuyết: đề tài chủ yếu tiếp cận theo 2 hướng: đánh giákhả năng nội tại của điểm đến du lịch Đà Lạt theo phương phápNPS và so sánh với đối thủ cạnh tranh khác theo phương phápBenchmarking Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng một số lýthuyết cạnh tranh của Michael E Porter và năng lực cạnh tranhđiểm đến của Kozak

Trang 17

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Các phương pháp thu thập, phân tích, xử lý số liệu

5.1.1 Phương pháp phân tích, so sánh

Phân tích là phương pháp tách một vật thể hoặc một hiện tượng phức tạp

ra thành những bộ phận, những yếu tố, những mặt đơn giản của nó Phươngpháp này giúp xem xét kĩ hơn từng khía cạnh của năng lực cạnh tranh điểmđến du lịch Từ đó kết hợp với phương pháp so sánh, so sánh giữa các địaphương du lịch khác, tìm ra được những vấn đề mới và có hướng giải quyếtphù hợp

Áp dụng phương pháp này vào đề tài, tác giả tiến hành so sánh, đốichiếu với các chỉ tiêu của du lịch Đà Lạt như: số lượng khách du lịch đến,doanh thu du lịch/năm, mức chi tiêu của khách du lịch, thời gian lưu lại củakhách du lịch so với các địa phương cùng cấp Qua đó nắm được vị trí củađiểm đến du lịch Đà Lạt so với các địa phương du lịch khác

5.1.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi

Bảng hỏi là hệ thống các câu hỏi được sắp xếp trên cơ sở của cácnguyên tắc: tâm lý, logic và theo nội dung nhất định nhằm tạo điều kiện chongười được hỏi thể hiện được quan điểm của mình với những vấn đề thuộc vềđối tượng nghiên cứu

Phương pháp được áp dụng vào luận văn nhằm điều tra các yếu tốkhách quan về du khách như: đặc điểm kinh tế - xã hội; nhân khẩu học củakhách du lịch; mức độ hài lòng, không hài lòng, phàn nàn của du khách; nhậnxét của các công ty lữ hành, các trung gian môi giới; chất lượng nguồn nhânlực du lịch; chất lượng các tiện nghi Các tiêu chí này được xây dựng thànhbảng hỏi, điều tra đối tượng khách du lịch quốc tế và nội địa đến với thànhphố Đà Lạt (bảng hỏi này được dịch sang ngôn ngữ phổ biến là tiếng Anh để

Trang 18

điều tra du khách quốc tế) Kết quả khảo sát được xử lý thống kê bằng phầnmềm SPSS (phần mềm trọn gói về thống kê trong nghiên cứu xã hội).

5.1.3 Phương pháp phỏng vấn trực tiếp

Đây là phương pháp thu thập thông tin trên cơ sở quá trình giao tiếpbằng lời nói có tính đến mục đích đặt ra Trong cuộc phỏng vấn, người phỏngvấn nêu lên những câu hỏi theo một chương trình được định sẵn để làm rõhơn một số khía cạnh cần điều tra

Trong khía cạnh đề tài, tác giả đã phỏng vấn điều hành, hướng dẫn viênmột số công ty du lịch lớn tại thành phố Hồ Chí Minh và Nha Trang thườngđưa khách lên Đà Lạt như Vietravel, Saigontourist, Pegas,… để nắm đượcnhận định của các công ty lữ hành khi đưa khách đến Đà Lạt Ngoài ra, khi cókết quả điều tra du khách, tác giả đã phỏng vấn một số cán bộ lãnh đạo của sởVăn hóa – Thể thao & Du lịch địa phương, các công ty du lịch trên địa bànthành phố Đà Lạt,… để biết được nguyên nhân tốt, xấu của một số dịch vụ dulịch tại Đà Lạt

5.2 Phương pháp xác định năng lực cạnh tranh

- Phương pháp Benchmarking (xem chi tiết tại mục 1.3.3)

- Phương pháp NPS (xem chi tiết tại mục 1.3.3)

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 Điểm đến và năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch.

Chương 2 Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt.

Chương 3 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch

Đà Lạt.

Trang 19

Chương 1 ĐIỂM ĐẾN VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM

ĐẾN DU LỊCH 1.1 Điểm đến du lịch

1.1.1 Du lịch

1.1.1.1 Khái niệm du lịch

“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người

ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [18, 2]

Từ khái niệm trên cho ta thấy du lịch là một hoạt động liên quan đếnmột cá nhân, một nhóm hay một tổ chức đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyêncủa họ bằng các cuộc hành trình ngắn ngày hoặc dài ngày ở một nơi khác vớimục đích chủ yếu không phải là kiếm lời Quá trình đi du lịch của họ đượcgắn với các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ, hiện tượng ở nơi họ đến

1.1.1.2 Các điều kiện phát triển du lịch

* Những điều kiện chung

- Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội: không khí chính trị hòa

bình bảo đảm cho việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật,văn hóa và chính trị giữa các dân tộc Trong phạm vi các mối quan hệ kinh tếquốc tế, sự trao đổi du lịch quốc tế ngày càng phát triển và mở rộng Du lịchnói chung, du lịch quốc tế nói riêng chỉ có thể phát triển được trong bầukhông khí hòa bình, ổn định, trong tình hữu nghị giữa các dân tộc Về phươngdiện quốc gia có thể dễ dàng nhận thấy, những đất nước ít xảy ra biến cốchính trị, quân sự thường có sức hấp dẫn đối với đông đảo quần chúng nhândân, các khách du lịch tiềm năng Ngược lại, sự phát triển của du lịch sẽ gặpkhó khăn nếu ở đất nước xảy ra những sự kiện làm xấu đi tình hình chính trịhòa bình và trực tiếp hoặc gián tiếp đe dọa sự an toàn của khách du lịch

Trang 20

- Điều kiện kinh tế: nền kinh tế phát triển là tiền đề cho sự ra đời và

phát triển của ngành kinh tế du lịch Những đất nước có nền kinh tế phát triển,

có điều kiện sản xuất ra nhiều của cải vật chất có chất lượng đạt các tiêuchuẩn quốc tế sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch Kinh tế phát triển

sẽ kéo theo sự phát triển của nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, côngnghiệp nhẹ phục vụ cho du lịch, hàng hóa, dịch vụ, khoa học kỹ thuật, thôngtin liên lạc, vận tải,… phát triển Từ đó sẽ tạo điều kiện cần để phát triển dulịch cho bất kì quốc gia, địa phương nào Ngược lại, một nền kinh tế kém pháttriển thì sẽ gặp nhiều khó khăn về chi phí để đầu tư vào các hoạt động, dịch

vụ, điểm tham quan du lịch

- Chính sách phát triển du lịch: hiện nay trên thế giới hầu như không

có một nơi nào không tồn tại một bộ máy quản lý xã hội Rõ ràng rằng bộmáy quản lý này có vai trò quyết định đến các hoạt động của cộng đồng đó,hoạt động du lịch không nằm ngoài quy luật chung ấy Một đất nước, một khuvực có tài nguyên du lịch phong phú, mức sống người dân không thấp nhưngchính quyền địa phương không yểm trợ cho các hoạt động du lịch thì hoạtđộng này cũng không thể phát triển được

* Các điều kiện tự thân làm nảy sinh nhu cầu du lịch

- Thời gian rỗi: rõ ràng rằng, con người không thể đi du lịch nếu không

có thời gian Do vậy, thời gian rỗi là điều kiện tất yếu cần thiết phải có để conngười có thể tham gia vào hoạt động du lịch

- Khả năng tài chính của khách hàng tiềm năng: nền kinh tế phát triển

sẽ làm cho người dân có mức sống cao, do đó họ có khả năng thanh toán chocác nhu cầu về du lịch trong nước cũng như ra nước ngoài Do vậy, thu nhậpcủa nhân dân là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có thể thamgia đi du lịch

- Trình độ dân trí: sự phát triển của du lịch phụ thuộc vào trình độ văn

Trang 21

hóa chung của nhân dân ở một đất nước Nếu trình độ văn hóa của cộng đồngđược nâng cao, nhu cầu tìm hiểu, khám phá,… cũng dần được tăng theo vàdẫn đến nhu cầu đi du lịch của nhân dân cũng tăng lên một cách rõ rệt.

* Khả năng cung ứng nhu cầu du lịch: những điều kiện đặc trưng như:môi trường tự nhiên, những giá trị văn hóa lịch sử, những thành tựu chính trị

và kinh tế, những sự kiện và hoàn cảnh đặc biệt có sức hút khách du lịch đếnđịa điểm nào đó Do vậy, những điểm đến du lịch đáp ứng càng nhiều mặtthuận lợi của những yếu tố trên thì sẽ có nhiều điều kiện, cơ hội để thúc đẩyngành du lịch địa phương phát triển ở tầm cao mới [9, 89]

1.1.2 Khái niệm điểm đến du lịch

Theo PGS TS Nguyễn Văn Mạnh và TS Nguyễn Đình Hòa: “Điểm

đến du lịch là một địa điểm mà chúng ta có thể cảm nhận được bằng đường biên giới về địa lý, đường biên giới về chính trị hay đường biên giới về kinh

tế, có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút và đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch” [6, 341].

Theo PGS.TS Trần Thị Minh Hòa, tập bài giảng Marketing điểm đến

du lịch: “Điểm đến du lịch là những điểm có tài nguyên du lịch nổi trội, có

khả năng hấp dẫn du khách, hoạt động kinh doanh du lịch có hiệu quả và đảm bảo phát triển bền vững”

Theo UN-WTO (2004): “Điểm đến du lịch là một không gian vật chất

mà du khách ở lại ít nhất là một đêm Nó bao gồm các sản phẩm du lịch như các dịch vụ hỗ trợ, điểm đến và tuyến điểm du lịch trong thời gian một ngày.

Nó có các giới hạn vật chất và quản lý giới hạn hình ảnh, sự quản lý xác định tính cạnh tranh trong thị trường Các điểm đến du lịch địa phương thường bao gồm nhiều bên hữu quan như một cộng đồng tổ chức và có thể kết nối lại với nhau để tạo thành một điểm đến du lịch lớn hơn” (trích dẫn lại từ tập bài

giảng môn Marketing điểm đến du lịch của PGS.TS Trần Thị Minh Hòa)

Trang 22

Tóm lại, một điểm đến du lịch phải bao gồm những yếu tố về khônggian vật chất, quản lý giới hạn hình ảnh, giới hạn không gian, có tài nguyên

du lịch nổi trội, có khả năng hấp dẫn du khách, hoạt động kinh doanh du lịch

có hiệu quả và đảm bảo phát triển bền vững được gọi là điểm đến du lịch

1.1.3 Phân loại điểm đến du lịch

Điểm đến du lịch đóng vai trò quan trọng và quyết định đến sự pháttriển du lịch của một đất nước, một địa phương, là nơi tạo ra sức thu hút đốivới khách du lịch trong và ngoài nước Điểm đến có tính hấp dẫn và có sứcthu hút khách du lịch càng cao thì lượng khách du lịch trong nước và quốc tếđến càng lớn Dịch vụ và hàng hóa phục vụ khách tiêu thụ càng nhiều về sốlượng, đa dạng về cơ cấu và chủng loại, chất lượng cao thì doanh thu càng lớn

và hiệu quả kinh tế - xã hội càng cao

Điểm đến du lịch là nơi đón tiếp và phục vụ khách du lịch trong thờigian họ nghỉ ngơi và tham quan du lịch Nơi mở rộng được các hoạt độngdịch vụ để thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch, thực hiện “xuất khẩu vôhình” các tài nguyên du lịch và “xuất khẩu tại chỗ” dịch vụ và hàng hóa củađịa phương với mục tiêu thu được nhiều ngoại tệ và tạo ra nhiều công ăn việclàm cho người dân địa phương

Có nhiều cách phân loại điểm đến du lịch, tuy nhiên theo tiêu chí phạm

vi địa lý thì các điểm đến thường được chia thành 3 cấp độ sau:

* Điểm đến du lịch mang tính chất khu vực

Trên thị trường du lịch thế giới, cạnh tranh nguồn khách trở nên rất gaygắt, các nước trong từng khu vực khác nhau đã hợp tác với nhau để cạnh tranhcác nguồn khách du lịch thông qua tuyên truyền, quảng cáo, xúc tiến du lịch

để thu hút khách đến khu vực này Ví dụ: ngành du lịch các nước ASEANthường xuyên hợp tác tổ chức các sự kiện để quảng cáo ASEAN như một

Trang 23

điểm đến du lịch hấp dẫn, trung tâm du lịch hội nghị và du lịch chữa bệnh củathế giới.

* Điểm đến du lịch mang tính quốc gia

Các nước trong khu vực vừa hợp tác với nhau để xây dựng hình ảnhđiểm đến của khu vực, nhưng cũng vừa cạnh tranh và thu hút nguồn kháchđến với đất nước mình Mỗi nước đẩy mạnh tuyên truyền, quảng cáo và xúctiến du lịch để xây dựng hình ảnh của đất nước trong tâm trí của mọi ngườitrên thế giới như một điểm đến du lịch “an toàn và thân thiện” Để thu hútđược nguồn khách quốc tế, ngoài việc tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến dulịch, mỗi nước phải tiến hành hoàn hiện các quy định pháp luật, một mặt tạođiều kiện thuận lợi và dễ dàng cho khách đến du lịch, mặt khác tạo môitrường kinhh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp du lịch kinh doanh cóhiệu quả Bên cạnh đó, các nước phải tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹthuật phục vụ cho sự phát triển du lịch như: sân bay, bến cảng, nhà ga, đường

xá, điện, nước, thông tin liên lạc,

* Điểm đến du lịch mang tính địa phương

Nhiều điểm đến du lịch không chỉ mang tính địa phương mà là thươnghiệu du lịch của quốc gia Nói đến Thái Lan người ta thường hình dung đếnPattaya, Phuket, nói đến Indonexia người ta nghĩ đến Bali, hoặc nói đến dulịch nước Mỹ người ta mong muốn đến du lịch Las Vegas… Các điểm đếnnày hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách quốc tế Nhắc đến du lịch ViệtNam thì không thể không nhắc tới Đà Lạt, Vũng Tàu, Nha Trang, Hạ Long,…

Để tăng thêm sức hấp dẫn du lịch của các địa phương này thì ngành du lịchcác địa phương cần phải có những chủ trương, chính sách để đáp ứng tốt hơncác nhu cầu của khách cũng nhưng tăng cường nhiều hoạt động du lịch phongphú, hấp dẫn khác

Trang 24

1.1.4 Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch

- Cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng có vai trò đặc biệt đối với việc thúc đẩy

phát triển các hoạt động du lịch Cơ sở hạ tầng bao gồm các yếu tố sau:

Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải Đây là những nhân tố

quan trọng hàng đầu Du lịch gắn với việc di chuyển con người trên phạm vinhất định Điều này phụ thuộc chặt chẽ vào giao thông vận tải Một đối tượng

có thể có sức hấp dẫn đối với du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được nếuthiếu yếu tố giao thông vận tải Thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện,nhanh chóng, du lịch mới trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội.Mỗi loại giao thông có những đặc trưng riêng biệt Giao thông bằng ô tô tạođiều kiện cho khách dễ dàng đi theo lộ trình lựa chọn Giao thông đường sắt

rẻ tiền nhưng chỉ đi theo những tuyến cố định Giao thông đường hàng khôngrất nhanh, rút ngắn thời gian đi lại nhưng đắt tiền Giao thông đường thủy tuychậm nhưng có thể kết hợp với việc tham quan giải trí… dọc theo sông hoặcven biển

Giao thông là một bộ phận của cơ sở hạ tầng kinh tế, tuy nhiên hiện nay

đã có một số phương tiện giao thông được sản xuất với mục đích chủ yếu

phục vụ du lịch Nhìn chung, mạng lưới giao thông vận tải trên thế giới và

từng quốc gia không ngừng được hoàn thiện Điều đó đã giảm bớt thời gian đilại, tăng thời gian nghỉ ngơi và du lịch

Thông tin liên lạc Đây là một bộ phận quan trọng của cơ sở hạ tầng

phục vụ du lịch Nó là điều kiện cần để đảm bảo giao lưu cho khách du lịchtrong nước và quốc tế Trong hoạt động du lịch, nếu mạng lưới giao thông vàphương tiện giao thông vận tải phục vụ cho việc đi lại của con người thì thôngtin liên lạc đảm nhiệm việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng vàkịp thời, góp phần tăng cường giao lưu giữa các vùng trong phạm vi cả nước

Trang 25

và quốc tế Trong đời sống hiện đại nói chung, cũng như ngành du lịch nóiriêng không thể thiếu được các phương tiện thông tin liên lạc.

Các công trình cung cấp điện, nước Khách du lịch khi rời khỏi nơi cư

trú thường xuyên đến du lịch tại một địa điểm khác, ngoài các nhu cầu về ăn,uống, ở, đi lại… họ còn có nhu cầu đảm bảo về điện, nước để cho quá trìnhsinh hoạt được diễn ra bình thường Cho nên yếu tố điện, nước cũng là mộttrong những nhân tố quan trọng phục vụ trực tiếp việc nghỉ ngơi, giải trí củakhách Như vậy, cơ sở hạ tầng là tiền đề, là đòn bẩy của mọi hoạt động kinh

tế, trong đó có du lịch

- Cơ sở vật chất - kỹ thuật Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò

hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch, cũngnhư quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầucủa khách du lịch Vì vậy, sự phát triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắnliền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật

Du lịch là ngành “sản xuất” nhiều và đa dạng về thể loại dịch vụ, hànghóa nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch Do vậy cơ sở vất chất kỹ thuật

du lịch gồm nhiều thành phần khác nhau Việc tiêu dùng dịch vụ, hàng hóa dulịch đòi hỏi phải có một hệ thống các cơ sở, công trình đặc biệt… Tài nguyên

du lịch chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong tiêu dùng của khách du lịch, việc

sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch đòi hỏi phải xây dựng một hệthống các công trình Căn cứ vào các đặc điểm trên có thể hiểu cơ sở vật chất

kỹ thuật du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất tham gia vào việctạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đóng góp mọi nhu cầu củakhách du lịch

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm cơ sở vật chất kỹ thuật củangành du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của một số ngành kinh tế quốc dântham gia phục vụ du lịch như: thương nghiệp, dịch vụ… cơ sở vật chất kỹ

Trang 26

thuật du lịch và tài nguyên du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tàinguyên du lịch ảnh hưởng tới công suất, thể loại, thứ hạng của hầu hết cácthành phần cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Khả năng tiếp nhận của tài nguyên

du lịch là cơ sở xây dựng công suất các công trình phục vụ du lịch Sức hấpdẫn của chúng có ảnh hưởng đến thứ hạng của các cơ sở này Sự kết hợp hàihòa giữa tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch giúp cho cơ sởphục vụ du lịch có hiệu quả, kéo dài thời gian sử dụng chúng trong năm Vị trícủa tài nguyên du lịch là căn cứ để bố trí hợp lý cơ sở vật chất kỹ thuật trêncác vùng lãnh thổ của đất nước và là tiền đề cơ bản để hình thành các trungtâm du lịch

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm nhiều thành phần, chúng cónhững chức năng và ý nghĩa nhất định đối với việc tạo ra, thực hiện các sảnphẩm du lịch Để đảm bảo cho việc tham quan du lịch trên qui mô lớn cầnphải xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tương ứng như các khách sạn, nhà hàng,camping, cửa hiệu, trạm cung cấp xăng dầu, trạm y tế, nơi vui chơi thể thao…Khâu trung tâm của cơ sở vật chất kỹ thuật là phương tiện phục vụ cho việc

ăn ngủ của khách, tức là nguồn vốn cố định của du lịch Việc đánh giá cơ sởvật chất kỹ thuật du lịch căn cứ vào 3 tiêu chí:

- Đảm bảo những điều kiện tốt cho nghỉ ngơi du lịch

- Đạt hiệu quả kinh tế tối ưu trong quá trình xây dựng và khai thác cơ

sở vật chất kỹ thuật

- Thuận tiện cho việc đi lại của khách từ các nơi đến

Khi tìm hiểu về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, cần chú ý các thànhphần chủ yếu sau: cơ sở phục vụ ăn uống và lưu trú, mạng lưới cửa hàngchuyên nghiệp, cơ sở thể thao, cơ sở y tế, các công trình phục vụ hoạt độngthông tin văn hóa, phục vụ du lịch, cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác:trạm xăng dầu, thiết bị cấp cứu, xưởng sửa chữa, phòng rửa tráng phim ảnh,

Trang 27

bưu điện… Nhìn chung, các công trình này được xây dựng chủ yếu phục vụnhân dân địa phương, còn đối với khách du lịch nó chỉ có vai trò thứ yếu.Nhưng tại các điểm du lịch, chúng góp phần làm tăng tính đồng bộ của hệthống dịch vụ du lịch.

- Sản phẩm và dịch vụ

Sản phẩm du lịch là một tổng thể phức tạp bao gồm nhiều thành phầnkhông đồng nhất cấu tạo thành, đó là tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhânvăn, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng dịch vụ và đội ngũ cán bộ nhânviên du lịch Sản phẩm du lịch bao gồm cả sản phẩm hữu hình và sản phẩm

vô hình Nội dung cơ cấu của sản phẩm du lịch rất phong phú, đa dạng, liênquan tới rất nhiều ngành nghề và có thể phân ra các thành phần chủ yếu như:những thành phần tạo lực hút (lực hấp dẫn đối với du khách), cơ sở du lịch(điều kiện vật chất để phát triển ngành du lịch) và dịch vụ du lịch Trong đódịch vụ du lịch được xem là hạt nhân của sản phẩm du lịch, việc thực hiệnnhu cầu chi tiêu của du khách không tách rời các loại dịch vụ mà nhà kinhdoanh du lịch cung cấp

Sản phẩm du lịch mà nhà kinh doanh du lịch cung cấp cho du kháchngoài một số sản phẩm vật chất hữu hình như ăn, uống, phần nhiều thể hiệnbằng các loại dịch vụ Dịch vụ du lịch là một quy trình hoàn chỉnh, là sự liênkết hợp lý các dịch vụ đơn lẻ tạo nên, do vậy phải tạo ra sự phối hợp hài hòa,đồng bộ trong toàn bộ chỉnh thể để tạo ra sự đánh giá tốt của du khách về sảnphẩm du lịch hoàn chỉnh

- Nguồn nhân lực và quản lý

Du lịch là ngành mang tính phi sản xuất vật chất, nó không mang lạisản phẩm vật chất mà thông qua cung cấp dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu của dukhách Vì vậy, việc cung cấp dịch vụ chất lượng tốt hay không là tiêu chí đểđánh giá trình độ phát triển của ngành du lịch, những yếu tố này được quyết

Trang 28

định bởi số lượng và tố chất của cán bộ nhân viên du lịch Việc quản lý độingũ nhân viên du lịch ở những mảng dịch vụ khác nhau để tạo thành mộtchỉnh thể thống nhất cũng là một công việc đòi hỏi tính chuyên môn và mức

độ tập trung cao của những nhà quản lý Nó quyết định đến sự thành bại củamột đơn vị hay một điểm đến du lịch hiện nay

Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch chủ yếu vẫn tập trung vào hainhân tố đầu là cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật, nó mang yếu tố tiênquyết cho bất kỳ một điểm đến du lịch nào Các nhân tố sau hỗ trợ giúp tăngsức hấp dẫn cho điểm đến cũng như phục vụ tốt hơn nhu cầu của du khách

1.2 Lý thuyết về cạnh tranh

1.2.1 Cạnh tranh (1)

Ngày nay, hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải thừa nhậntrong mọi hoạt động kinh tế đều phải có cạnh tranh và coi cạnh tranh khôngnhững là môi trường, động lực của sự phát triển, mà còn góp phần thúc đẩyviệc sản xuất kinh doanh và tăng năng suất lao động, hiệu quả của các doanhnghiệp, là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội

Các nhà nghiên cứu kinh tế thuộc trường phái kinh tế học tư sản cổđiển với đại diện tiêu biểu là Adam Smith, miêu tả cạnh tranh như là một cáchthức chống lại các đối thủ hay là “một quá trình bao gồm các hành vi phảnứng” Quá trình này tạo ra cho mỗi thành viên trong thị trường một phạm vihoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên này một phần lợi íchxứng đáng so với khả năng của chính họ Adam Smith cổ vũ cho sự tự docạnh tranh vì theo ông quá trình này có thể kết hợp một cách nhịp nhàng cáchoạt động của nền kinh tế, nâng cao khả năng người lao động, điều tiết cácyếu tố tư bản một cách hợp lý

Nguyễn Quang Vinh Luận án Tiến sĩ

Trang 29

Trong khi đó Các Mác lại đề cập nhiều đến cạnh tranh giữa nhữngngười sản xuất và cạnh tranh đó ảnh hưởng tới người tiêu dùng Theo ông,cạnh tranh của các nhà sản xuất diễn ra trên ba phương diện: cạnh tranh giáthành, cạnh tranh chất lượng và cạnh tranh giữa các ngành.

Lý luận cạnh tranh hoàn hảo của trường phái Tân cổ điển lại cổ vũ chocạnh tranh tự do với mô hình cạnh tranh hoàn hảo Trong đó, sản xuất do thịhiếu người tiêu dùng điều khiển thông qua cơ chế thị trường Muốn đạt lợi íchtối đa, doanh nghiệp phải tiến hành sản xuất theo nguyên tắc sao cho chi phíbiên (MC) ngang bằng với lợi ích cận biên của người tiêu dùng (MU) Môhình thị trường cạnh tranh hoàn hảo đề cao lựa chọn người tiêu dùng (thịtrường) vì nó thúc đẩy các công ty điều chỉnh quy mô sản xuất tới tối ưu(MR=MC)

Các trường phái của kinh tế học hiện đại thì phân tích cạnh tranh dướinhiều cấp độ khác nhau từ cạnh tranh quốc gia, cạnh tranh ngành, cạnh tranhgiữa các doanh nghiệp hay giữa các sản phẩm Tuy nhiên, dù tiếp cận dướigóc độ nào thì cạnh tranh cũng bao gồm các đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, cạnh tranh là một quá trình tất yếu của hoạt động kinh tế, về

cơ bản, cạnh tranh lành mạnh là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế vànâng cao hiệu quả xã hội

Thứ hai, nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua giữa các chủ thể

cạnh tranh Cạnh tranh chỉ diễn ra khi có nhiều chủ thể cùng tham gia vào mộtquá trình/hoạt động kinh tế

Thứ ba, trong một thời gian nhất định, các chủ thể tham gia cạnh tranh

nhằm hướng tới một mục tiêu cụ thể Các mục tiêu này có thể giống hoặckhác nhau giữa các chủ thể cũng như có tác động rất khác nhau tới các chủthể cạnh tranh nhưng mục đích chung vẫn là tìm kiếm hoặc tối ưu hóa lợi íchtrong ngắn hoặc dài hạn

Trang 30

Thứ tư, các hoạt động cạnh tranh được diễn ra trong một bối cảnh cụ

thể với các ràng buộc về luật pháp, cam kết, thông lệ, văn hóa mà các chủthể cạnh tranh đều phải thực hiện Về mặt lý thuyết, cạnh tranh lành mạnh sẽ

có được khi tất cả các chủ thể cạnh tranh đều tuân thủ các ràng buộc này

Thứ năm, xu thế của cạnh tranh hiện đại là chuyển từ đối kháng sang

việc tạo ra sự khác biệt Với sự mở rộng không ngừng của thị trường và sựtham gia ngày càng nhiều của các chủ thể cạnh tranh nên việc cạnh tranh đốikháng, tiêu diệt đối thủ đang dần mất đi ý nghĩa Việc cạnh tranh đối kháng

có thể làm suy giảm nguồn lực trong ngắn hạn và tạo cơ hội cho các đối thủkhác Do vậy, các chủ thể cạnh tranh đang có xu hướng giảm hoặc né tránhcách thức cạnh tranh này Cạnh tranh đối kháng thường xuất hiện nhiều hơntại các thị trường có ít chủ thể cạnh tranh như thị trường độc quyền nhóm.Các chủ thể cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ, biện pháp khác nhaunhằm tạo ra sự khác biệt được thị trường chấp nhận để đạt được các mục tiêu

đã đề ra

Dưới góc độ doanh nghiệp, cạnh tranh là việc đấu tranh hoặc giành giật

từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanhnghiệp nhằm thu lợi nhuận là một khái niệm được sử dụng rộng rãi và phảnánh khá đầy đủ các đặc điểm của cạnh tranh

1.2.2 Phân loại cạnh tranh

Cạnh tranh có thể được phân nhiều loại theo các tiêu chí khác nhau:

* Theo tiêu chí về đạo đức kinh doanh có thể phân cạnh tranh thành 2nhóm:

- Cạnh tranh lành mạnh: là loại cạnh tranh theo đúng quy định của phápluật, đạo đức xã hội, đạo đức kinh doanh Cạnh tranh có tính chất thi đua,thông qua đó mỗi chủ thể nâng cao năng lực của chính mình mà không dùngthủ đoạn triệt hạ đối thủ Phương châm của cạnh tranh lành mạnh là “không

Trang 31

cần phải thổi tắt ngọn nến của người khác để mình tỏa sáng” Ở Việt Nam cócâu “buôn có bạn, bán có phường” có nghĩa là không nhất thiết các doanhnghiệp cạnh tranh cùng một mặt hàng phải sống chết với nhau mà thôngthường phải liên kết với nhau thành các phố kinh doanh cùng một mặt hàngnhư phố hàng Trống, hàng Mã….

- Cạnh tranh không lành mạnh: là tất cả những hành động trong hoạtđộng kinh doanh trái với đạo đức nhằm làm hại các đối thủ kinh doanh hoặckhách hàng Và cũng gần như sẽ không có người thắng nếu việc kinh doanhđược tiến hành giống như một cuộc chiến Cạnh tranh khốc liệt mang tính tiêudiệt chỉ dẫn đến một hậu quả thường thấy sau các cuộc cạnh tranh khốc liệt là

sự sụt giảm mức lợi nhuận ở khắp mọi nơi Trong giai đoạn đầu của kỷnguyên công nghiệp, các công ty, doanh nghiệp thường xuyên phải cạnh tranhkhốc liệt trong tình huống đối đầu để duy trì sự phát triển và gia tăng lợinhuận Do đó các nhà kinh doanh cho rằng cạnh tranh thuộc phạm trù tư bản,nên quan điểm về cạnh tranh trước kia được hầu hết các nhà kinh doanh đềunhầm tưởng “cạnh tranh” với nghĩa đơn thuần theo kiểu “thương trường làchiến trường”

* Theo tiêu chí chủ thể tham gia cạnh tranh có thể phân loại cạnh tranhtheo các hình thức sau:

- Cạnh tranh giữa người sản xuất với nhau: đây là hình thức phổ biếnnhất của cạnh tranh Theo hình thức này, các nhà sản xuất đấu tranh với nhau

để giành chỗ đứng trên thị trường (thị phần, kênh phân phối, sản phẩm ) để

có thể đạt được các mục tiêu ngắn hạn của mình và qua đó đảm bảo sự pháttriển ổn định và bền vững

- Cạnh tranh giữa người mua với nhau: người mua ở đây không chỉ làngười tiêu dùng mà còn bao gồm cả các nhà sản xuất Theo hình thức này,những người mua sẽ đấu tranh với nhau để có thể tiếp cận được nguồn hàng

Trang 32

ổn định cả về số lượng và chất lượng với mức giá thấp nhất Cường độ củahình thức cạnh tranh này phụ thuộc nhiều vào mối quan hệ cung cầu và sẽtăng cao khi cầu lớn hơn cung Hình thức này rất phổ biến trong những ngànhkinh doanh mang tính thời vụ (như du lịch) khi vào thời vụ tiêu dùng.

- Cạnh tranh giữa người mua và người bán: hình thức cạnh tranh nàyluôn xảy ra trong các hoạt động kinh tế Theo đó người mua luôn tìm mọicách để mua được sản phẩm và dịch vụ tại mức giá thấp nhất với chất lượng,

số lượng, chủng loại và điều kiện giao hàng (thực hiện dịch vụ) thuận lợi nhấttrong khi người bán lại mong muốn ngược lại Lợi thế cạnh tranh trong trườnghợp này phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ cung cầu, số lượng các chủ thểtham gia giao dịch (người mua và người bán) cũng như mức độ quan trọngcủa sản phẩm, dịch vụ đối với người mua

* Theo tiêu chí cấp độ của cạnh tranh có các hình thức cạnh tranh chínhsau:

- Cạnh tranh của sản phẩm: đây là hình thức cạnh tranh phổ biến, diễn

ra đối với hầu hết các mặt hàng/dịch vụ có nhiều hơn một nhà cung cấp Theohình thức này, các doanh nghiệp sẽ cố gắng đầu tư từ khâu thiết kế, sản xuất(hoặc thực hiện) đến hoạt động xúc tiến, phân phối và bán hàng sao cho sảnphẩm của mình dễ dàng xâm nhập thị trường và có được chỗ đứng ngày càngvững chắc, ổn định trên thị trường so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại.Xét trên một số khía cạnh, hình thức cạnh tranh này có nhiều điểm tươngđồng với hình thức cạnh tranh giữa người bán với nhau

- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành: đây là quáđấu tranh hoặc giành giật từ một hoặc một số đối thủ về khách hàng, thị phầnhay nguồn lực của các doanh nghiệp trong cùng một ngành để có thể tồn tại

và phát triển trong ngành đó Trong một lĩnh vực kinh doanh, một doanhnghiệp có thể có nhiều sản phẩm nhưng việc cạnh tranh giữa các doanh

Trang 33

nghiệp không đơn thuần là tổng cạnh tranh của các sản phẩm mà nó còn baogồm các yếu tố hạ tầng của doanh nghiệp cũng như cách quản lý, khai thác vàphát triển các yếu tố này.

- Cạnh tranh giữa các ngành: hình thức cạnh tranh này diễn ra giữa cácngành trong nền kinh tế từ việc thu hút, phân bổ nguồn lực đến cả việc phânchia thị trường Một biểu hiện hay được nhắc đến của cạnh tranh ngành làviệc cạnh tranh của các sản phẩm thay thế Tuy nhiên nội dung đặc biệt quantrọng của cạnh tranh ngành là việc thu hút và phân bổ nguồn lực có thể dẫnđến sự thay đổi kết cấu ngành và thậm chí ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại

và phát triển của một ngành, một lĩnh vực trong nền kinh tế Về mặt lý thuyết,cạnh tranh ngành sẽ giúp xã hội phân bổ nguồn lực một cách hợp lý và hiệuquả

- Cạnh tranh quốc gia: hình thức cạnh tranh này thể hiện qua việc cácquốc gia nỗ lực để xây dựng môi trường kinh tế chung ổn định, đảm bảo phân

bổ hiệu quả nguồn lực và đạt/duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững mang lạilợi ích cho các doanh nghiệp và công dân của mình Vấn đề cạnh tranh quốcgia hiện rất được các chính phủ quan tâm và có ảnh hưởng sâu sắc tới cácdoanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa về kinh tế Các nghiên cứu về cạnhtranh quốc gia này được Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thực hiện thườngniên với 8 nhóm nhân tố chính

1.2.3 Năng lực cạnh tranh

Thuật ngữ năng lực cạnh tranh được sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàncầu, nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự nhất trí cao giữa các học giả, các nhàchuyên môn về khái niệm cũng như cách đo lường, phân tích năng lực cạnhtranh

- Theo từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: “Năng lực cạnh tranh

là năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, thậm chí một quốc gia

Trang 34

không bị doanh nghiệp khác, ngành khác hoặc nước khác đánh bại về năng lực kinh tế”

- Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học, (2001, NXB từ điển Bách khoa

Hà Nội, trang 349): “Năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần

lớn trước đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp”.

Những quan niệm trên cho thấy năng lực cạnh tranh chủ yếu dựa trêntiêu chí là thị phần Tuy nhiên, thực tế cho thấy, cạnh tranh của một doanhnghiệp, một ngành hay một quốc gia cần phải chú ý nhiều cả đến yếu tố lợinhuận Do vậy, cũng có thể hiểu rằng năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tạitrong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợinhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó

để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới

1.3 Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch

1.3.1 Khái niệm

Theo Nguyễn Anh Tuấn – Luận án tiến sĩ, 2010: “Năng lực cạnh tranh

điểm đến là khả năng của một điểm đến cạnh tranh với các điểm đến khác một cách hiệu quả trên thị trường du lịch khu vực và quốc tế, mang lại sự trải nghiệm thỏa mãn hơn cho khách du lịch và sự thịnh vượng bền vững hơn cho người dân bản địa”.

Do thời gian có hạn, tác giả đánh giá một cách sơ bộ và so sánh với cácđối thủ cạnh tranh khác thông qua các tiêu chí tổng số lượt khách quốc tế, nộiđịa, doanh thu du lịch, doanh thu bình quân/khách và số ngày lưu trú bìnhquân của khách, đồng thời đánh giá cảm nhận của du khách thông qua điều tra

bảng hỏi Tác giả không đánh giá theo nội dung cuối của khái niệm là “sự

thịnh vượng bền vững hơn cho người dân bản địa”.

Trang 35

Có thể thấy năng lực cạnh tranh điểm đến là sự thể hiện thực lực và lợithế của điểm đến này so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhấtcác đòi hỏi của du khách để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác,

sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm,dịch vụ hấp dẫn du khách để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngàycàng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường

Năng lực canh tranh của điểm đến du lịch được tạo ra từ thực lực tiềmnăng của điểm đến và là các yếu tố nội hàm của mỗi điểm đến Năng lực cạnhtranh không chỉ được tính bằng các tiêu chí về tài nguyên tự nhiên, nhân văn,dịch vụ, vận chuyển,… mà năng lực cạnh tranh của điểm đến gắn liền với ưuthế của sản phẩm du lịch mà điểm đến đó tạo ra cho thị trường, gắn với với thịphần mà nó nắm giữ

1.3.2 Các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch

Theo Metin Kozak, các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh điểmđến du lịch bao gồm:

- Đặc điểm của điểm đến Đây là một trong những nhân tố quyết định

khá lớn đến năng lực cạnh tranh của một điểm đến du lịch Nó bao gồm cácyếu tố: nơi lưu trú, sự sạch sẽ, cảm giác, trang thiết bị/dịch vụ, ẩm thực, điểmtham quan, sân bay, giao thông địa phương, trung tâm thông tin du khách,mua sắm

- Đặc điểm của du khách Bao gồm các yếu tố: thu nhập, khả năng chi

tiêu, giới tính, tuổi tác, trình độ, văn hóa, tôn giáo, thời gian rỗi, sở thích…Những yếu tố này chi phối lớn đến khả năng lựa chọn điểm đến du lịch củamỗi du khách

- Hành vi của các công ty lữ hành Bao gồm việc lựa chọn các điểm

đến du lịch trong chương trình tour của mình, kể cả việc trung thành lựa chọnlại những điểm đến đó vào những lần sau

Trang 36

- Các nhân tố bên ngoài Gồm các yếu tố: đối thủ cạnh tranh, suy thoái

kinh tế, an ninh, chính trị,… Những yếu tố này tác động khá lớn đến tâm lý

du khách cũng như tác động vào quá trình lựa chọn điểm đến du lịch của họ

1.3.3 Các phương pháp xác định năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch

1.3.3.1 Benchmarking (định chuẩn)

Khái niệm Định chuẩn được bắt nguồn từ Giải thưởng chất lượng quốcgia Malcolm Baldrige Mục tiêu cơ bản của phương pháp này là cải tiến chấtlượng quá trình Vì vậy, xét về bản chất, trong quản lý, công cụ này sẽ được

sử dụng để cải tiến quá trình Trên thực tế, rất nhiều doanh nghiệp, địaphương đang sử dụng phương pháp định chuẩn để đánh giá tình trạng của họ

so với đối thủ cạnh tranh và học hỏi kinh nghiệm của những doanh nghiệpkhác để cải tiến không ngừng các hoạt động và quá trình kinh doanh củamình

Đầu tiên, Định chuẩn mang ý nghĩa nghiên cứu những đối tượng thànhcông lâu dài để học hỏi, phấn đấu Năm 1979, David T Kearns, CEO của

Xerox, hãng máy in nổi tiếng của Mỹ đã định nghĩa “Định chuẩn là một quá

trình liên tục đánh giá sản phẩm, dịch vụ và phương pháp của mình so với đối thủ cạnh tranh gần nhất hoặc với công ty được thừa nhận là đứng đầu trên thế giới” [23, 9] Định nghĩa này đã chỉ ra rằng để định chuẩn thì phải so

sánh với những đối thủ cạnh tranh mạnh nhất để có thể biết được điểm mạnhđiểm yếu của bản thân đơn vị mình trong mối tương quan đó, từ đó, mới cóthể xác định được mức độ cao nhất tổ chức có thể đạt được khi cải tiến quytrình hay áp dụng những cách làm mới

Từ rất nhiều cuộc thảo luận, có một khái niệm đã được tác giả Tim

Stapenhurst rút ra trong cuốn The Benchmarking Book như sau: “Định chuẩn

là một phương pháp đo lường và nâng cao hiệu quả công việc của các công

Trang 37

ty bằng cách so sánh hiệu quả công việc hiện tại với kết quả tốt nhất có thể đạt được” [25, 6].

Theo tác giả, định chuẩn có thể được hiểu một cách đơn giản hơn bằngviệc tách riêng hai khái niệm “điểm định chuẩn” và “định chuẩn”

Điểm định chuẩn là một cái mốc, là một mục tiêu, một kết quả caonhất, tốt nhất và được chọn làm chuẩn mực để so sánh, để hướng tới

Định chuẩn là quá trình thu thập các dữ liệu để chọn ra một điểm địnhchuẩn, sau đó, tiến hành so sánh điểm định chuẩn với các đối tượng cần địnhchuẩn, và từ kết quả thu được kết hợp với những cách làm của điểm địnhchuẩn, ta tìm ra các giải pháp phù hợp để các đối tượng được so sánh tiến gầntới điểm định chuẩn

Đối với điểm đến du lịch, thì định chuẩn điểm đến là “việc phân tích

các số liệu sơ cấp và thứ cấp, đánh giá kết quả hoạt động du lịch của điểm đến, tiến hành so sánh với các điểm đến khác ở trong và ngoài nước, bên cạnh đó còn có thể so sánh với hệ thống kiểm định chất lượng quốc tế khi cần thiết nhằm cải tiến để gia tăng lợi thế cạnh tranh” [26, 41]

Có ba phương pháp định chuẩn có thể áp dụng để định chuẩn điểm đến,

đó là:

* Phương pháp định chuẩn nội bộ

Định chuẩn nội bộ là một quá trình bao gồm thu thập thông tin nội bộcủa điểm đến, những yếu tố thuộc môi trường bên trong, so sánh và đánh giáchúng với những mục tiêu đã đề ra cho tháng, quý, năm (tùy theo giai đoạnđánh giá) hoặc với kết quả xuất sắc của những năm trước đó Những mục tiêuđược thiết lập để thực hiện dựa trên sự thảo luận và thống nhất của các phòngban trong cùng một tổ chức

Trang 38

Đối với quá trình định chuẩn nội bộ, việc tiến hành đo lường và so sánhchỉ diễn ra đối với những lĩnh vực hoạt động bên trong điểm đến, nên việc thuthập thông tin chỉ giới hạn những vấn đề, những yếu tố thuộc về điểm đến.

* Phương pháp định chuẩn bên ngoài

Nếu như việc đánh giá bên trong chủ yếu dựa vào sự quan sát củangười tham gia đánh giá, sự phản hồi của du khách để so sánh hiệu quả hoạtđộng ở hiện tại với quá khứ hoặc so sánh giữa những kỳ vọng và thực tế, thìviệc đánh giá điểm đến bên ngoài lại cần một điểm đến cạnh tranh đang hoạtđộng tốt hơn để có thể so sánh các kết quả giữa hai điểm đến, từ đó địnhchuẩn điểm đến của chính mình

Sự cạnh tranh giữa các điểm đến du lịch cũng như những mong muốn,

kỳ vọng ngày càng cao của du khách chính là nguyên nhân khiến cho việctiến hành một cuộc định chuẩn bên ngoài trở nên vô cùng cần thiết Nếu nhưđịnh chuẩn nội bộ giúp điểm đến hiểu rõ nội lực như thế nào và có thể tự hoànthiện những thiếu sót; thì định chuẩn bên ngoài giúp điểm đến xác định mức

độ tốt của mình cũng như vị thế của mình trong tâm trí khách hàng so với vôvàn điểm đến khác, cũng như định vị được mình trên thị trường, đồng thời cóthể học hỏi được những bài học kinh nghiệm giúp cải thiện hơn hoạt động củađiểm đến Nó có vai trò hết sức quan trọng trong việc bắt kịp với xu hướngchung của thế giới và tránh được tình trạng bị đào thải hay tụt hậu bằng cáchthay đổi hoặc thay thế những chiến lược không còn phù hợp Do đó, các điểmđến phải xác định rõ ràng nhiệm vụ cũng như kết quả mong đợi từ việc địnhchuẩn bên ngoài nếu không muốn quá trình này trở nên lãng phí vì đi saiđường

- Lựa chọn điểm đến đối tác (xác định điểm định chuẩn)

So sánh các đặc điểm của điểm đến để xem xét sự tương đồng và khácbiệt của chúng cũng là một cách để có thể lựa chọn một đối tác thích hợp

Trang 39

Một số người thực hiện định chuẩn tự lựa chọn đối tác cho mình, trong khinhững người khác căn cứ trên cơ sở dữ liệu Những nhà quản lý điểm đến cầnphải chú ý đến những đặc điểm của điểm đến, những điểm tương đồng vàkhác biệt khi chọn lựa đối tượng so sánh Thông thường, các điểm đến thườngđược chia thành nhóm cùng đặc điểm để có thể dễ dàng chọn lựa Sự phânloại nhóm này thật sự rất hữu ích để những nhà định chuẩn xác định đượcnhững đối tượng tương thích với điểm đến của mình.

- Thu thập thông tin

Một điểm đáng lưu ý nữa trong quá trình định chuẩn bên ngoài là việcthu thập thông tin Để có thể thu thập được thông tin từ một điểm đến kháccần huy động rất nhiều nguồn lực, có thể qua các mối quan hệ, hay xin thôngtin trực tiếp từ các nhà quản lý của điểm đến đó Ở khâu thu thập thông tintrong phương pháp này, tác giả thấy rằng việc thu nhận các đánh giá từ phíađối thủ cạnh tranh là một phương án mang lại hiệu quả khách quan nhất

* Phương pháp định chuẩn chung

Cách thức định chuẩn thứ ba trong lý thuyết định chuẩn điểm đến chính

là định chuẩn chung Trong khi quá trình định chuẩn nội bộ và bên ngoàiđược thực hiện dựa trên các tiêu chí tự thiết lập của nội bộ các điểm đến thìquá trình định chuẩn chung lại chủ yếu lựa chọn các tiêu chí đã được côngnhận bởi các tổ chức du lịch trên thế giới

Một mô hình được nhiều nhà định chuẩn điểm đến trên thế giới sử dụng

là mô hình được chuyển thể từ mô hình của Quỹ châu Âu về quản lý chấtlượng (EFQM) Trong mô hình này, các tiêu chí cần đánh giá được phân rõthành hai mục lớn là khả năng (tiềm năng) và kết quả

Các nhà chuyên môn hay các chuyên gia trong ngành du lịch sẽ làngười tiến hành định chuẩn điểm đến theo các mô hình chuẩn chung này Cáccuộc khảo sát sẽ được tiến hành để thăm dò sự thể hiện của các điểm đến về

Trang 40

chất lượng dịch vụ, chất lượng môi trường hoặc hiệu quả của các quan điểmbảo vệ môi trường mà có ảnh hưởng đến hoạt động của điểm đến Một khiđiểm đến không đạt được mức độ yêu cầu, các nhà tổ chức này sẽ cung cấp tàichính và các biện pháp hỗ trợ Nói một cách khác, những điểm đến được địnhchuẩn sẽ có cơ hội được tăng nhận thức và cải thiện hoạt động theo nhữngtiêu chuẩn quốc tế Một số tiêu chuẩn du lịch đang được áp dụng trên toàn thếgiới có thể áp dụng là Tiêu chuẩn chất lượng và giải thưởng ISO 9000, Tiêuchuẩn nhãn sinh thái và giải thưởng của TUI, Nhãn xanh toàn cầu 21.

Tóm lại, Benchmarking được áp dụng vào luận văn chủ yếu theophương pháp Định chuẩn bên ngoài nhằm xác định được vị trí của điểm đến

du lịch Đà Lạt so với các đối thủ cạnh tranh khác Benchmarking được ápdụng vào luận văn theo 3 bước sau:

Bước 1: Xác định điểm chuẩn cho chỉ tiêu j

Bj = Max [xij] (i = 1 ÷ n)

Với: - Bj là điểm chuẩn của tiêu chí j

- xij là giá trị của điểm đến i theo tiêu chí j

- n là số điểm đến

Bước 2: Xác định vị trí của điểm đến i theo tiêu chí j

Với: - bij là vị trí của điểm đến i theo tiêu chí j

Bước 3: Xác định vị trí tổng thể của điểm đến i

Với: - Bi vị trí tổng thể của điểm đến i (0 < Bj ≤ 10)

- m là tổng số tiêu chí nghiên cứu

Ngày đăng: 28/12/2019, 16:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Mạnh Hà. Giáo trình Thống kê du lịch. Trường ĐH KH XH &amp; Nhân văn Hà Nội (tài liệu lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thống kê du lịch
2. Vũ Mạnh Hà. Giáo trình Kinh tế phát triển. Trường ĐH KH XH &amp; Nhân văn Hà Nội (tài liệu lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế phát triển
3. Trần Thị Minh Hòa. Giáo trình Marketing điểm đến du lịch. Trường ĐH KH XH &amp; Nhân văn Hà Nội (tài liệu lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Marketing điểm đến du lịch
4. Nguyễn Đình Hòe (2001) – Vũ Văn Hiếu. Du lịch bền vững. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Nhà XB: Nhà xuất bản Đạihọc Quốc gia Hà Nội
5. Nguyễn Văn Lưu (1998). Thị trường du lịch. Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Lưu
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia HàNội
Năm: 1998
6. Nguyễn Văn Mạnh - Nguyễn Đình Hòa (2009). Marketing du lịch. Nhà xuất bản đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh - Nguyễn Đình Hòa
Nhà XB: Nhà xuất bảnđại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2009
7. Đổng Ngọc Minh – Vương Lôi Đình (chủ biên) (2000). Kinh tế du lịch &amp; Du lịch học. Nhà xuất bản Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế du lịch & Du"lịch học
Tác giả: Đổng Ngọc Minh – Vương Lôi Đình (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 2000
8. Đỗ Thúy Quỳnh. (2013). Áp dụng lý thuyết điểm định chuẩn (benchmarking) đánh giá hoạt động du lịch của điểm đến Đà Nẵng (luận văn thạc sĩ chuyên ngành du lịch. Đại học KH – XH &amp; NV Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng lý thuyết điểm định chuẩn (benchmarking)"đánh giá hoạt động du lịch của điểm đến Đà Nẵng
Tác giả: Đỗ Thúy Quỳnh
Năm: 2013
9. Trần Đức Thanh (1999). Nhập môn Khoa học Du lịch. Nhà Xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Khoa học Du lịch
Tác giả: Trần Đức Thanh
Nhà XB: Nhà Xuất bản Đại họcquốc gia Hà Nội
Năm: 1999
10. Trần Văn Thông. Quy hoạch du lịch. Trường đại học dân lập Văn Lang (tài liệu lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch du lịch
11. Trần Văn Thông. Tổng quan du lịch. Trường đại học dân lập Văn Lang (tài liệu lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan du lịch
12. Trương Thị Ngọc Thuyên (chủ nhiệm đề tài). (2009 – 2010). Khảo sát ý kiến khách du lịch nước ngoài về những điểm mạnh – điểm yếu của du lịch Đà Lạt – Lâm Đồng. Đề tài nghiên cứu khoa học trường Đại học Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát ý kiến"khách du lịch nước ngoài về những điểm mạnh – điểm yếu của du lịch Đà Lạt –"Lâm Đồng
13. Michael E. Porter (2008). Chiến lược cạnh tranh. Nhà xuất bản Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cạnh tranh
Tác giả: Michael E. Porter
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 2008
14. Michael E. Porter (2008). Lợi thế cạnh tranh. Nhà xuất bản Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi thế cạnh tranh
Tác giả: Michael E. Porter
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 2008
15. Lê Thanh Vân (2004). Con người và môi trường. Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và môi trường
Tác giả: Lê Thanh Vân
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sưphạm Hà Nội
Năm: 2004
16. Nguyễn Quang Vinh. Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). (luận án tiến sĩ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành"quốc tế Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới"(WTO)
17. Bùi Thị Hải Yến (2009). Quy hoạch du lịch. Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch du lịch
Tác giả: Bùi Thị Hải Yến
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2009
28. Lào cai đón trên 948 nghìn lượt du khách trong năm 2012.(http://www.web-du-lich.com/dich-vu/news_-Lao-Cai-don-tren--nghin-luot-du-khach-trong-nam--_1_25_4619.html) Link
33. Đà Lạt trăn trở bài toán hút khách ngoại. (http://www.baomoi.com/Da-Lat-tran-tro-bai-toan-hut-khach-ngoai/137/6350180.epi) Link
34. Hăm họa, hành hung du khách ở chợ đêm Đà Lạt.http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130801/ham-doa-hanh-hung-du-khach-o-cho-dem-da-lat.aspx Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w