Với những giá trị và đặc điểm như vậy, cùng với sự phát triển mạnh mẽcủa hoạt động du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa ở Việt Nam, mà trực tiếp là ởtỉnh An Giang trong nhiều năm qua, cá
Trang 1MỤC LỤC
Trang DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ HÌNH ẢNH
MỞ ĐẦU
Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU
LỊCH VĂN HÓA VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU DU LỊCH VĂN HÓA
1.1 Những vấn đề lý luận về văn hóa và du lịch văn hóa 14
1.1.3. Mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa 25
1.1.4. Vai trò của văn hóa trong phát triển du lịch 29
1.1.5. Điều kiện để phát triển du lịch văn hóa 30
1.1.6. Các nguyên tắc khai thác và phát triển du lịch văn
1.2 Những lĩnh vực nghiên cứu của du lịch văn hóa 32
1.2.1. Vấn đề cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa 33
33
1.2.2. Vấn đề thị trường và khách du lịch văn hóa 33
1.2.3. Vấn đề tổ chức, quản lý du lịch văn hóa 34
1.2.4. Vấn đề nhân lực trong du lịch văn hóa 34
1.2.5. Vấn đề tuyên truyền, quảng bá du lịch văn hóa 35
1.2.6. Vấn đề bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch 36
1.2.7. Du lịch văn hóa và điểm đến du lịch 37
1.2.8. Du lịch văn hóa và vấn đề xây dựng sản phẩm du
1.3 Những bài học kinh nghiệm trong nghiên cứu, phát triển du
1.3.2. Những bài học kinh nghiệm của nước ngoài 40
Trang 2người Chăm An Giang 45
2.1.3. Người Chăm ở Việt Nam và người Chăm ở tỉnh An Giang 53
2.1.4. Những giá trị văn hóa Chăm tiêu biểu ở An Giang 56
2.2 Tìm hiểu thực trạng khai thác văn hóa Chăm trong du lịch 79
2.2.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật trong hoạt động du lịch văn
2.2.3. Các hình thức du lịch văn hóa Chăm 89
2.2.4. Các sản phẩm du lịch văn hóa Chăm 100
2.2.5. Thị trường và khách du lịch văn hóa Chăm An
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN DU
3.1.2 Chủ trương chính sách của tỉnh An Giang 115
3.1.3 Chiến lược phát triển du lịch An Giang 118
3.2 Những giải pháp cụ thể phát triển du lịch văn hóa Chăm
3.2.1 Giải pháp về phát triển cơ sở vật chất của du lịch
3.2.2 Giải pháp về sản phẩm du lịch văn hóa Chăm An
Trang 33.2.6 Giải pháp về bảo tồn di sản văn hóa Chăm trong du
DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT:
ĐBSCL = Đồng bằng sông cửu long
VHTT = Văn hóa thể thao
VHTT&DL = Văn hóa thể thao và du lịch
UNESCO = Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU Trang
1 Bảng 2.1 Hiện trạng khách du lịch đến An Giang giai
1. Biểu đồ 2.1 Hiện trạng khách du lịch Quốc tế đến Việt
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do mục đích chọn đề tài
Trong nền văn hóa đặc sắc, rực rỡ của người Chăm ở tỉnh An Giang,những nét truyền thống là một thiết chế văn hóa vô cùng quan trọng và nổi bật.Thiết chế này được xem như sự hội tụ, kết tinh và thăng hoa của nhiều giá trịbản sắc văn hóa, thể hiện đầy đủ, tổng hợp và thể hiện nhiều nhất đời sống sinhhoạt, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, nghệ thuật… của cộng đồng người Chămđịa phương Đồng thời, đây cũng chính là những sinh hoạt văn hóa mang tính
mở, sống động và tập trung nhất của cộng đồng này
Với những giá trị và đặc điểm như vậy, cùng với sự phát triển mạnh mẽcủa hoạt động du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa ở Việt Nam, mà trực tiếp là ởtỉnh An Giang trong nhiều năm qua, các lễ hội truyền thống của người Chăm nơiđây đã trở thành một trong những yếu tố thu hút sự quan tâm đầu tiên của dukhách và các đơn vị du lịch khi đến với vùng đất này cũng như đến với nền vănhóa Chăm Điều đó một mặt tạo nên những nét mới trong hoạt động du lịch, đưahoạt động du lịch văn hóa Chăm trở thành một đặc trưng rất quan trọng và mangtính tiêu biểu của địa phương Nhưng mặt khác, quan trọng hơn, hoạt động dulịch cũng có những thúc đẩy và tác động trở lại đối với văn hóa truyền thống củangười Chăm Và đây là một vấn đề rất quan trọng cần sớm được nghiên cứu mộtcách đầy đủ Có như vậy việc bảo tồn và phát huy giá trị của văn hóa Chăm nóitrên mới có hiệu quả và đúng hướng Ở nước ta, ngành du lịch luôn được Nhànước quan tâm và văn hóa dân tộc phục vụ cho hoạt động du lịch cũng đã đượccác nhà chuyên môn khai thác Các yếu tố văn hóa đặc sắc của từng dân tộc,từng vùng miền tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng ỞViệt Nam hiện nay du lịch văn hóa đang trở thành xu thế chủ đạo trong chiếnlược phát triển du lịch Xu thế đó được thể hiện trong Nghị Quyết Đại hội Đảng
lần thứ VIII : “ Phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng du lịch to lớn của đất nước theo hướng du lịch văn hóa, sinh thái môi trường xây dựng các chương trình và các điểm du lịch hấp dẫn về văn hóa, di tích lịch sử và khu danh lam thắng cảnh”[30, tr.194] Trong công cuộc xây dựng đất nước, Đảng
và nhà nước ngay từ đầu đã xác định "Phát triển du lịch là một hướng chiến
Trang 7lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế-xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước…" (chỉ thị 46/CT-TW Ban Bí Thư
Trung ương Đảng khoá VII, ngày 10/1994) và "Phát triển du lịch thật sự trở thành
một ngành kinh tế mũi nhọn …" (Văn kiện Đại hội Đảng IX và X).
An Giang là một vùng đất với sự sáng tạo của con người đã tự giữ lạitrong lòng mình những tài sản vô cùng quý giá Những giá trị văn hóa ấy đã tạocho An Giang có một vẻ đẹp riêng, một phong cách riêng Ở An Giang cũng cónhững tiềm năng để phát triển du lịch, đặc biệt là văn hóa dân tộc Chăm - mộtdân tộc có bề dày văn hóa lâu đời sống rải rác ở các tỉnh Miền Trung cho đếntận Miền Tây Nam bộ nước ta
Chính điểm đặc biệt của An Giang với những di sản văn hóa Chăm cùngvới phong cảnh thiên nhiên hữu tình, tình cảm con người nồng hậu chất phác đãtạo ra sức hấp dẫn du lịch đặc biệt Bản sắc văn hóa độc đáo được phản ánhtrong các đền tháp uy nghi cổ kính trong sắc cảnh thiên nhiên hùng vĩ, nhữngtrường ca (Ariya) bia ký, trong các lễ hội truyền thống dân gian, trong những lànđiệu dân ca đằm thắm chứa chan và vũ điệu Chăm rừng rực bốc lửa đắm sayquyến rũ lòng người, hay trong cả đời sống dân dã bình dị của một làng nghềtruyền thống của dân tộc An Giang chính là điểm dừng chân hấp dẫn, gợi mởđối với du khách Do vậy, các giá trị văn hóa Chăm An Giang cần được xem xétmột cách đầy đủ và khai thác một cách tốt hơn để phục vụ cho du lịch
Từ những suy nghĩ và đánh giá trên, là một người làm công tác văn hóanhìn nhận du lịch ở góc nhìn văn hóa, tác giả luận văn mạnh dạn chọn đề tài
“KHAI THÁC NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA VĂN HÓA CHĂM NHĂM PHỤC VỤ CHO DU LỊCH Ở AN GIANG ” làm luận văn tốt nghiệp Cao học du lịch.
Mong muốn của tác giả là cần quan tâm hơn nữa trong việc phát triển du lịchvăn hóa ở An Giang và phản ánh được tính cấp thiết của việc bảo tồn, phát huynhững giá trị của văn hóa Chăm gắn với việc phát triển du lịch văn hóa của AnGiang hiện nay
Xuất phát từ yêu cầu trên, cùng với thực tế cho đến hiện nay đây vẫn là mộtvấn đề còn đang bỏ ngỏ và chưa được quan tâm đúng mức, đề tài đã được chọn đểlàm luận văn Cao học chuyên ngành Du lịch học với những mục đích sau:
Trang 8- Tìm hiểu hoạt động khai thác du lịch từ các lễ hội truyền thống văn hóacủa người Chăm ở tỉnh An Giang trong thời gian qua và những kết quả thu được
từ hoạt động này của ngành du lịch
- Phân tích, đánh giá những giá trị tích cực cũng như những tác động tiêucực, hạn chế mà hoạt động du lịch mang lại hoặc gây ra cho văn hóa và lễ hộitruyền thống của người Chăm, từ đó đưa ra những kiến nghị và đề xuất giải phápnhằm phục vụ tốt hơn cho việc bảo tồn và phát huy giá trị của các lễ hội nàytrong hoạt động du lịch
- Rộng hơn, kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng như mộtnghiên cứu trường hợp để làm rõ hơn vai trò và tác động của hoạt động du lịch đốivới văn hóa nói chung trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa du lịch nói riêng
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích chung
Mục đích của luận văn là tập hợp và hệ thống hóa tư liệu một cách kháiquát về văn hóa Chăm An Giang Phân tích và chỉ ra những yếu tố mà văn hóaChăm góp phần vào thúc đẩy hoạt động du lịch văn hóa tại An Giang hiện nay
Mục đích cụ thể
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Trình bày những lý luận cơ bản về văn hóa, du lịch, về mối quan hệ vănhóa và du lịch
- Nghiên cứu, trình bày hiện trạng khai thác những giá trị văn hóa của dân
tộc Chăm ở An Giang trong thời gian qua và những kết quả thu được từ hoạtđộng này của ngành du lịch
- Đánh giá giá trị các nguồn lực văn hóa dân tộc Chăm tại An Giang vàthực trạng giải quyết mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch trong giai đoạn hiệnnay ở địa bàn tỉnh
- Phân tích, đánh giánhững giá trị tích cực cũng như những tác động tiêucực, hạn chế mà hoạt động du lịch mang lại hoặc gây ra cho những giá trị vănhóa dân tộc Chăm, từ đó đưa ra những kiến nghị và đề xuất giải pháp nhằm phục
vụ tốt hơn cho việc bảo tồn và phát huy những giá trị của văn hóa Chăm tronghoạt động du lịch theo hướng bền vững
Trang 9- Xác định phương hướng và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm giảiquyết tốt mối quan hệ giữa kế thừa và phát huy các giá trị và bản sắc văn hóadân tộc với việc phát triển du lịch ở An Giang.
- Rộng hơn, kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng nhưmột nghiên cứu trường hợp để làm rõ vai trò và tác động của hoạt động du lịchđối với văn hóa nói chung trong lĩnh vực nghiên cứu du lịch văn hóa nói riêng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng
Đề tài hướng tới việc tìm hiểu các đặc trưng, tính chất, giá trị của văn hóavật thể và phi vật thể của dân tộc Chăm ở An Giang đối với ngành du lịch; thôngqua các hoạt động tham quan, biểu diễn nghệ thuật, lễ hội
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu những giá trị của văn hóa nhằm phục vụ cho phát triển du lịch
ở An Giang Nhưng đề tài giới hạn vào việc xem xét, đánh giá về chất lượng củahoạt động du lịch văn hóa Chăm tại An Giang
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay văn hóa Chăm luôn là đối tượng nghiên cứu hấp dẫn củacác nhà khoa học trong và ngoài nước Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu vềvăn hóa Chăm đa phần tập trung đi sâu vào các công trình lịch sử, nghệ thuậtkiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, múa và một số nghi lễ tôn giáo… nhưng việc kếthợp bảo tồn, phát triển văn hóa Chăm trong khai thác và hoạt động du lịch tại
An Giang chưa được tác giả nào nghiên cứu một cách toàn diện
Các công trình nghiên cứu về lễ hội dân tộc Chăm được ghi chép rải rác ở
nhiều nguồn tư liệu Từ thư tịch cổ của Trung Quốc, Việt Nam như Hán thư,
Lương thư, Cựu đường thư, Nam Sử, Thuỷ kinh chú, Phủ biên tạp lục…đến
những nhà thám hiểm như Marco Polo, Linh mục Odiric de Pordenone ( Chuyến
đi công du châu Á từ năm 1318-1330) cũng có ghi chép về một số lễ hội Chăm
Các nhà nghiên cứu Việt Nam như Phan Xuân Biên (Văn hóa Chăm, 1991), Ngô Văn Doanh (Văn hóa Chăm, 1994; Khi viết về văn hóa Chăm, các tác giả đều đề
cập đến lễ hội song đó chỉ là những ghi chép chung, chưa phải công trìnhchuyên khảo về lễ hội
Trang 10Về các tháp Chăm, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc dân tộc Chăm có các
tác phẩm : Truyền thuyết về các tháp Chăm ( Bố Xuân Hổ, 1995), Tháp Chăm
sự thật và huyền thoại (Ngô Văn Doanh, 1994)…, các tác giả đã ghi chép lại
lịch sử ra đời và hiện trạng của một số di tích tháp Chăm, phù điêu, bia ký cổcủa người Chăm
Về tôn giáo tín ngưỡng người Chăm, mảng đề tài này được nhiều nhànghiên cứu tâm đắc Bản dịch của Đào Trọng Luỹ từ nghiên cứu của Aymonier
M.E (1891)- Người Chàm và những tín ngưỡng của họ, Mah Mod (1975) với bài Bước đầu tìm hiểu về tôn giáo tín ngưỡng của người Chăm, Tôn giáo của
người Chăm Việt Nam của tác giả Phan Văn Dốp (1992), Tất cả các nghiên cứu
đều được ghi chép tỉ mỉ đời sống hiện thực của dân tộc Chăm gắn chặt với tôngiáo, tín ngưỡng của họ
Về âm nhạc và múa Chăm có các tác phẩm : Nghệ thuật biểu diễn truyền
thống Chăm của Tô Ngọc Canh, Lê Đông Hải (1995), Vai trò âm nhạc trong lễ hội dân gian Chăm An Giang (1999), Ý nghĩa dân gian hai điệu múa Chăm : múa quạt Pi diền (múa con công) và múa Juak apui ( múa đạp lửa) – Bố Xuân
Hổ (2003), Nghiên cứu của Nghệ sỹ nhân dân Đặng Hùng (1993) - Duy trì và
phát triển nghệ thuật múa truyền thống một số dân tộc Miền Nam Việt Nam có
đề cập đến múa dân gian Chăm
Người Chăm An Giang đều theo đạo Hồi Islam, tôn thờ Thượng đế
Allah và lấy Kinh Qur’an làm kim chỉ nam cho hoạt động tín ngưỡng của mìnhcác lễ hội truyền thống của người Chăm An Giang vì vậy chủ yếu là lễ hội tínngưỡng - tôn giáo: lễ Tolakbala vào ngày thứ tư tuần cuối tháng Safar (tháng 2Hồi lịch) để cầu xin Thượng đế ban sự bình an, lễ kỷ niệm ngày sinh của ĐấngMuhammad vào ngày 12 tháng Rabiul Awal (tháng 3), lễ Raya Iadil Fitrah vàongày cuối cùng của tháng chay nhịn Ramadan (tháng 9) Nơi hành lễ là các
thánh đường nằm ở trung tâm của cộng đồng Trong số đó, đẹp nhất là thánh
đường Mubarak ở xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân Đây là công trình có kiến trúc
rất giống với các thánh đường tại các nước Hồi giáo với những mái vòm, 4 tháp
ở 4 góc Thánh đường này do một kiến trúc sư người Ấn Độ thiết kế và xâydựng, hoàn thành vào năm 1992, được xem là công trình kiến trúc tiêu biểu của
Trang 11cộng đồng người Chăm ở An Giang Ở huyện An Phú, nơi có người Chăm cưtrú đông nhất trong các huyện, có đến 6 thánh đường, toạ lạc trên địa bàn 5 xã.
Các thánh đường này cũng rất đẹp đẽ, uy nghi Như thánh đường Ehsan ở ấp Hà
Bao II, xã Đa Phước, được xây lại vào năm 2000
Các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên là nguồn tư liệu quý giá,những nét chấm phá, gợi mở một cách nhìn khái quát về văn hóa Chăm Trongquá trình thực hiện luận văn, tác giả luận không đi sâu vào vấn đề lý luận củavăn hóa Chăm mà chỉ kế thừa những thành tựu khoa học của những nhà nghiêncứu đi trước để quan sát từng loại hình trong văn hóa dân tộc Chăm, thu thậpnhững tư liệu trong thực tế, từ đó định hướng việc khai thác, bảo tồn và phát huyvăn hóa Chăm phục vụ mục đích du lịch
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài luận văn nhìn nhận đối tượng nghiên cứu là các giá trị văn hóa vậtthể và văn hóa phi vật thể trong tổng thể các giá trị văn hóa Chăm An Giang
Phương pháp cụ thể
Vận dụng những kiến thức được trang bị, tiếp thu qua quá trình học tập,qua tìm hiểu thực tế tại địa phương, đồng thời dựa vào nguồn tài liệu kinh điển,các văn kiện Đại hội Đảng, Nhà nước, các Chỉ thị, Nghị quyết, các báo cáo tổngkết chuyên ngành và các công trình nghiên cứu có liên quan để thực hiện luậnvăn qua các phương pháp chính:
- Phương pháp chủ đạo của luận văn là duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử và phương pháp liên ngành văn hóa cùng các ngành liên quan ( Văn hóa dân
gian, Sử học, Dân tộc học, Tôn giáo học, Nghệ thuật dân gian, Kiến trúc mỹthuật dân gian ) nhằm hoàn thiện nội dung nghiên cứu phân tích tổng hợp trên
cơ sở các dữ liệu liên ngành thu thập được để tiếp cận đối tượng, làm rõ những
Trang 12ẩn số văn hóa thông qua nghiên cứu các giá trị văn hóa Chăm Islam, đóng gópnhững kết quả cho việc thu hút tổ chức hoạt động du lịch nói chung và du lịchvăn hóa nói riêng tại An Giang.
- Phương pháp thu thập tài liệu (văn bản học): tìm tài liệu từ tạp chí, sách
báo thư viện, các nguồn tài liệu từ các ban ngành của tỉnh : Sở Văn hóa, Thểthao và Du lịch, Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Chăm, Ban quản lý di tích, Tạpchí dân tộc học và một số tài liệu nghiên cứu của đồng nghiệp có liên quan vềvăn hóa Chăm và hoạt động du lịch An Giang
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đây là phương pháp quan trọng
luôn sử dụng, nhằm phân tích tổng hợp tài liệu, thông tin có liên quan nhằm tìm
ra tính chất đặc thù, đặc trưng của địa bàn nghiên cứu, khái quát hóa, mô hìnhhóa các yếu tố nghiên cứu trên quan điểm phát triển bền vững
- Phương pháp điền dã: Trong quá trình thực hiện nghiên cứu tác giả đã
đi điền dã thực tế tại các làng Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang ( nơi có nhữnggiá trị văn hóa nổi bật), để thu thập những thông tin hữu ích, tài liệu, ghi hình,chụp ảnh tìm tư liệu liên quan, tìm các thông tin có liên quan đến đối tượngnhằm giúp cho việc nghiên cứu có tính thực tế cao và có giá trị thực tiễn
- Phương pháp miêu thuật: Tác giả đã sử dụng nghệ thuật miêu tả và thuật
lại những gì quan sát được hay nói cách khác là sự tái hiện lại những sự vật, hiệntượng, trạng thái tâm lý con người một cách chi tiết trong quá trình nghiên cứu
đã chứng kiến và trải nghiệm tại địa phương
- Phương pháp thử nghiệm: Luận văn có sử dụng phương pháp thử
nghiệm xây dựng các sản phẩm du lịch, chương trình du lịch văn hóa Chămtrong việc tổ chức hoạt động du lịch từ đó đề xuất giải pháp áp dụng vào thực tếnhằm kiểm chứng hiệu quả đạt được của vấn đề được đưa ra có tính khả thi haykhông
- Phương pháp giải mã: Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả có sử
dụng phương pháp giải mã văn hóa nhằm làm rõ các hiện tượng, hình tượng,kiến trúc, mỹ thuật trong văn hóa Chăm, cung cấp thông tin cần thiết cho nộidung nghiên cứu
Trang 13- Phương pháp xã hội học: Thống kê, điều tra, so sánh, hỏi ý kiến những
nhà nghiên cứu, những trí thức Chăm, cùng với sự quan sát cá nhân, nghiên cứutài liệu
- Riêng phương pháp khảo sát thực địa, điều tra bảng hỏi, tác giả thực
hiện khảo sát trên mẫucó chủ định Chọn mẫu có chủ định là cách lựa chọn dựatrên cảm quan của tác giả Tuy nhiên vẫn phải đảm bảo rằng nó bao hàm đượctất cả các trường hợp Tác giả tiến hành khảo sát trên 100 phiếu, trong đó: ngườidân địa phương là 45, khách du lịch là 55 người
- Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: Tác giả sử dụng phương pháp
nghiên cứu chuyên ngành du lịch học để khai thác và làm rõ nội dung về tổ chức
du lịch, tư vấn, hỗ trợ tổ chức, hướng dẫn các chương trình du lịch tới du kháchtham quan
Bên cạnh các phương pháp nêu trên tác giả còn sử dụng một số phươngpháp khoa học khác nhằm hỗ trợ thực hiện đề tài một cách hiệu quả nhất
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungchính của luận văn được trình bày theo bố cục gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan những vấn đề lý luận về du lịch văn hóa và việc nghiên
cứu du lịch văn hóa Chăm An Giang
Chương 2 Thực trạng khai thác văn hóa Chăm phục vụ phát triển du lịch tỉnh
An Giang
Chương 3 Một số giải pháp góp phần phát triển du lịch văn hóa Chăm ở An Giang
Trang 14PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU DU LỊCH VĂN HÓA CHĂM AN GIANG
1.1. Những vấn đề lý luận về văn hóa và du lịch
1.1.1 Văn hóa, văn hóa dân tộc
1.1.1.1 Khái niệm văn hóa
Từ xa xưa, hai chữ “văn hóa” đã sớm xuất hiện trong ngôn ngữ loàingười, đặc biệt ở những quốc gia được coi là cái nôi của văn minh nhân loại
Ở phương Đông, từ “văn hóa” xuất hiện rất sớm trong ngôn ngữ TrungQuốc Ngay từ trước Công nguyên, ở đời Tây Hán, trong bài “ Chi Vũ” sách
“Thuyết Uyển”, Lưu Hương đã viết : “Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng
văn đức rồi sau mới dùng vũ lực” Phàm dùng vũ lực với người bất phục tùng,
dùng văn hóa không thay đổi được thì sau đó sẽ “trừng phạt” Như vậy văn hóađược dùng để đối lập với vũ lực
Ở phương Tây, trong nền văn minh cổ đại Hy Lạp, từ văn hóa (cultus) cónghĩa là trồng trọt Từ nghĩa trồng trọt dần dần biến thành gieo trồng trí tuệ, tinhthần Như vậy, trong quan niệm của người cổ đại, dù phương Đông hay phươngTây, văn hóa đã mang ý nghĩa giáo hóa con người
Như vậy, nói văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy nhữngnăng lực, bản chất của con người, nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xãhội Do đó, khái niệm văn hóa chứa đựng bản chất nhân văn, nhân bản Cơ sởcủa mọi hoạt động văn hóa là khát vọng vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ Cóthể coi là 3 trụ cột vĩnh hằng của sự phát triển văn hóa nhân loại Chừng nào, cáichân, cái thiện, cái mỹ bị lãng quên, chừng đó văn hóa sẽ xuống dốc
Cũng như mọi sinh thể khác trong vũ trụ, con người cũng là bộ phận củagiới tự nhiên, chịu sự quy định chặt chẽ của giới tự nhiên Nhưng khác vớinhững sinh vật khác, con người còn có một “ khoảng trời riêng”, một phần tựnhiên thứ hai do con người tạo ra bằng lao động và tri thức của mình Phần tựnhiên đó chính là văn hóa Nếu giới tự nhiên là cái nôi đầu tiên nuôi sống conngười, thì văn hóa là cái nôi thứ hai, ở đó toàn bộ đời sống tinh thần của con
Trang 15người được hình thành, được nuôi dưỡng và phát triển Con người không thể tồntại nếu tách rời giới tự nhiên, cũng như con người không thể trở thành con ngườinếu tách rời môi trường văn hóa.
Vì văn hóa là phát huy những năng lực bản chất của con người, là sự thểhiện đầy đủ nhất chất người, nên văn hóa có mặt ở bất cứ họat động nào của conngười, dù đó là hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội hay cách cư
xử, giao tiếp…cho đến cả những suy tư thầm kín nhất Các khái niệm như nhâncách văn hóa, văn hóa lao động, văn hóa chính trị,…đang ngày càng được sửdụng rộng rãi trong ngôn ngữ xã hội Tuy nhiên, điều đó không loại trừ sự tồntại những lĩnh vực riêng của văn hóa, nghĩa là những hoạt động không thuộclĩnh vực kinh tế, chính trị hay xã hội Những lĩnh vực riêng của văn hóa màngười ta nói ở đây cũng không phải chỉ là những hoạt động đang thuộc sự quản
lý hành chính của nhà nước thông qua ngành văn hóa Hoạt động của ngành vănhóa là hoạt động sản xuất ra các giá trị tinh thần nhằm giáo dục con người cókhát vọng hướng tới cái chân, cái thiện, cái mỹ và khả năng sáng tạo ra chân,thiện, mỹ trong đời sống Với ý nghĩa đó, văn hóa bao gồm hoạt động về giáodục, khoa học, văn học nghệ thuật, đạo đức, lối sống v.v
Trong bản thảo NHẬT KÝ TRONG TÙ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:
"
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [51, Tập 3, tr.431].
Ở khái niệm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên một số những sản phẩm
do con người sáng tạo ra, trong đó có văn hóa vật thể (những công cụ cho sinhhoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở…); có văn hóa phi vật thể (ngôn ngữ, đạo đức,pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật) Chữ “giá trị” được ẩn dướicâu “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống…nhu cầu đời sống và đòihỏi của sự sinh tồn” Những sản phẩm do con người phát minh ra mà Chủ tịch
Trang 16Hồ Chí Minh liệt kê nêu trên phải là những sản phẩm nhằm phục vụ cho conngười, có nghĩa là chứa đựng những giá trị Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãđưa ra một khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng.
Trong Hội nghị liên Chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970
tại Venise, ông Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO đưa ra khái niệm:
"
Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống
và lao động [87, tr.19 - 22]
“ Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo ( của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo đó đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc thù riêng của mỗi dân tộc”.[66,tr.14]
Đây là khái niệm được đưa ra trong bối cảnh thế giới còn có sự phân biệt
văn hóa dân tộc lớn, dân tộc nhỏ, văn hóa dân tộc này cao, dân tộc kia thấp, vănhóa dân tộc này văn minh, văn hóa dân tộc kia lạc hậu Khái niệm nêu trên có ýnghĩa chính trị rất lớn về việc khẳng định mỗi dân tộc có bản sắc riêng Quanđiểm này càng được khẳng định tại tại Hội nghị quốc tế về văn hóa ở Mêxicô đểbắt đầu thập kỷ văn hoá UNESCO Hội nghị này có hơn một nghìn đại biểu đạidiện cho hơn một trăm quốc gia tham gia từ ngày 26/7 đến 6/8 năm 1982, người
ta đã đưa ra trên 200 định nghĩa, nhìn nhận văn hóa với một ý nghĩa rộng rãihơn, coi văn hóa như một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinhthần, vật chất, tri thức, tình cảm khắc họa lên một cộng đồng gia đình, làngxóm, vùng miền, quốc gia, xã hội Cuối cùng Hội nghị chấp nhận một địnhnghĩa như sau:
“Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”.[101, tr.24]
Trang 17Khái niệm trên vừa nói đến văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, vừa nóiđến hệ giá trị và đặc biệt là nêu lên “những nét riêng biệt về văn hóa của một xãhội hay một nhóm người trong xã hội” Như vậy, khái niệm trên cũng là kháiniệm văn hóa theo nghĩa rộng, kèm theo đó là quan điểm công nhận mỗi dân tộc
dù lớn hay nhỏ đều có bản sắc văn hóa riêng biệt Với ý nghĩa đó, văn hóa cómặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù đó là hoạt động sản xuất vậtchất và sản xuất tinh thần, hay trong quan hệ giao tiếp ứng xử xã hội, trong thái
độ đối với thiên nhiên
Theo PGS,TSKH Trần Ngọc Thêm trong “Cơ sở văn hóa Việt Nam” đã
đưa ra một định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường
tự nhiên và xã hội của mình.” [75, tr 13]
Từ những định nghĩa đã nêu, xét thấy văn hóa có phạm vi nội hàm rấtrộng, nó chỉ toàn bộ những hoạt động, sáng tạo của con người về vật chất, tinhthần và ứng xử Đó là những hoạt động và sáng tạo có ích cho đời sống của conngười, cho xã hội loài người và cho thế giới xung quanh Theo phân loại củaUNESCO, văn hóa có các thành tố:
- Văn hóa vật thể: chỉ khía cạnh vật chất kỹ thuật của những sản phẩm do
con người sáng tạo ra, nó mang dấu ấn của một cộng đồng dân tộc trong từngthời kỳ lịch sử nhất định
Các thể loại văn hóa vật thể: di vật, cổ vật, kiến trúc cổ (chùa, đình, lăng
mộ, nhà truyền thống, cung điện…)
- Văn hóa phi vật thể: là những sáng tạo của con người nhằm đáp ứng nhu
cầu sinh hoạt xã hội của con người như: tôn giáo, triết học, nghệ thuật…
Các lĩnh vực: tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội (gồm phần lễ và phần hội), dân
ca – nghệ thuật biểu diễn…
1.1.1.2 Văn hóa dân tộc
Văn hóa dân tộc được hiểu và trình bày dưới các quan niệm khác nhau:
Trang 18Quan niệm thứ nhất: đó là đồng nhất văn hóa dân tộc với văn hóa của dântộc đó, trình bày lịch sử văn hóa dân tộc chỉ như là lịch sử văn minh của riêngmột dân tộc.
Quan niệm thứ hai: văn hóa dân tộc là toàn bộ văn hóa của một đất nước,
cư trú trên mảnh đất quốc gia, chỉ có văn hóa từng tộc người, không có văn hóadân tộc/quốc gia
Quan niệm thứ ba: văn hóa dân tộc là cộng đồng văn hóa dân tộc/quốcgia, đây là nền văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóatộc người Khái niệm dân tộc/quốc gia chỉ một quốc gia có chủ quyền, trong đóphần lớn công dân gắn bó với nhau bởi những yếu tố tạo nên một dân tộc Quanniệm thứ ba này hiện nay đang là quan niệm chiếm số đông bởi các nhà nghiêncứu, các nhà quản lý trong lĩnh vực văn hóa dân tộc
Vì vậy, nội dung về văn hóa dân tộc sẽ được trình bày theo quan niệm thứ ba
1.1.2 Du lịch và du lịch văn hóa
1.1.2.1 Khái niệm về du lịch
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hoạt động không thể thiếu trong cuộc
sống hiện đại hóa đất nước và nó cũng trở thành một nhu cầu thiết yếu của xãhội Về lợi ích kinh tế, du lịch đã trở thành một sự bùng nổ, một ngành kinh tếmũi nhọn của nhiều nước trên thế giới và Việt Nam cũng không là ngoại lệ Vậy
nghĩa từ của du lịch được hiểu như thế nào trong quá trình đẩy mạnh tổ chức
hoạt động này trong xã hội
Hầu hết các nhà nghiên cứu và các nhà du lịch học đều trả lời du lịch có
từ thời tiền sơ –sử, thời cổ đại, trung đại cận đại: Đi tìm kiếm ăn, đi chơi, đithăm bạn bè, đi công chuyện, đi ngắm cảnh lạ, ngắm sông núi, non nước, biểncả, hoặc đi xem hội
Về nguồn gốc chữ nghĩa, từ du lịch là một từ gốc Hán Theo ‘‘ hán tự tố nguyên”, thì du lịch có ý nghĩa là đi chơi và trải nghiệm đời sống (du = đi chơi;
lịch = trải nghiệm) Như vậy, từ nghĩa gốc từ du lịch đã nói lên mục đích của du
lịch không chỉ đi chơi mà còn để học hỏi và trải nghiệm Người Trung Quốc gọitourism là du lãm với ý nghĩa là đi chơi để nhận thức Câu nói tục ngữ dân gian
của Việt Nam như cũng đã đề cập đến vấn đề này từ xưa : " Đi một ngày đàng,
Trang 19học một sàng khôn" cũng mang ý nghĩa về du lịch Vậy mục đích của du lịch là
để trải nghiệm, để khám phá, để tìm hiểm văn hóa, tìm biết đến cái mới hơn Đểđáp ứng nhu cầu đó của du lịch người làm công tác du lịch cần phải được đàotạo, cần có vốn hiểu biết về văn hóa, đặc biệt là những hiểu biết về văn hóa liênquan đến du lịch như những di tích lịch sử, những phong tục tập quán, những lễhội, tín ngưỡng dân gian, kể cả văn hóa ẩm thực, văn hóa địa phương dân cư nơi
có những điểm tham quan du lịch [69, tr.10]
Du lịch là một khái niệm rộng mang tính trừu tượng, được khái quát theonhiều cách hiểu khác nhau của mỗi người Do đó, hiện nay có rất nhiều địnhnghĩa khác nhau về thuật ngữ này
Theo các chuyên gia tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch họp ở Roma
-Italia (21/8 – 05/9/1963) thì khái niệm du lịch được hiểu: “Du lịch là tổng thể các mối
quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”.
Còn đối với Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) thì “Du lịch được hiểu là tổng
hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ.”
Ở Việt Nam, dù ngành du lịch chỉ mới phát triển trong khoảng một thế kỷnay, nhưng cũng đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau được đưa ra
Du lịch là (kinh tế) 1, một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của
con người ở ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắngcảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật…2, Một ngành kinh doanh tổnghợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch
sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với ngườinước ngoài đem lại tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vựckinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; du lịch có thể coi là hình thức xuất khẩu hànghóa và lao động dịch vụ tại chỗ…[80, tr.684]
Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ cuộc
hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở
Trang 20và nơi làm việc thường xuyên của họ Theo định nghĩa của Hunziker và Kraff.[68, tr 7]
Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi nhằmmục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ trình độ nhận thức về thế giớixung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh
tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ quan chuyên nghiệp cung ứng
Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinhtrong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗicủa các nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hòi sức khỏe, nângcao trình độ nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh.[68, tr.14]
Du lịch nhìn chung là Đi chơi và Trải nghiệm Con người biết đi từ thời
tiền sử, khi đã đứng được trên hai chân Lúc đầu đi là để kiếm cái ăn, sau là đicông chuyện, đi chơi hoặc kết hợp cả hai [6, tr.20]
Tuy nhiên, quan trọng và phổ biến nhất là định nghĩa về du lịch đượcdùng làm căn cứ pháp lý trong Luật Du lịch Việt Nam, được ban hành năm
2005 Theo đó, “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con
người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [ 83, chương I, điều 4]
Bên cạnh định nghĩa du lịch, trong hoạt động nghiên cứu về lĩnh vực nàycòn có nhiều khái niệm quan trọng khác Đó là:
Khách du lịch/du khách (Tourist): “là khách thăm viếng, lưu trú tại một
quốc gia hoặc một vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với các mục đích như: nghỉ dưỡng, tham quan, thăm viếng gia đình, tham dự hội nghị, tôn giáo, thể thao.” [71, tr 24]
Khách tham quan (Excursionist): “là loại du khách thăm viếng lưu lại ở một
nơi nào đó dưới 24 giờ và không lưu trú qua đêm.” [71, tr 24]
Khách du lịch quốc tế (International tourist): là những người lưu trú ít nhất
là một đêm nhưng không quá một năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trúvới nhiều mục đích khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến
Trang 21Trong trường hợp cụ thể của Việt Nam, Luật Du lịch năm 2005 xác định
“Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.” [83, chương V, điều 34, khoản 3].
Khách du lịch nội địa/khách trong nước (Domestic tourist): là người
đang sống trong một quốc gia, không kể quốc tịch nào, đi đến một nơi kháckhông phải nơi cư trú thường xuyên trong quốc gia đó trong khoảng thời gian ítnhất 24 giờ và không quá một năm với các mục đích khác nhau ngoài hoạt động
để được trả lương ở nơi đến
Trong trường hợp cụ thể của Việt Nam, theo Luật du lịch năm 2005, “Khách
du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi
du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.” [83, chương V, điều 34, khoản 2].
Cộng đồng chủ (Host community): “là cộng đồng địa phương nơi mà du
lịch có những tác động lớn nhất, cả tích cực lẫn tiêu cực Du khách không những mang đến thu nhập, công ăn việc làm, tương tác văn hóa mà còn có cả những quan ngại về môi trường.” [26, tr 04]
Tài nguyên du lịch: “là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách
mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch.” [71, tr 27]
Sản phẩm du lịch: “là sự kết hợp hàng hóa và dịch vụ trên cơ sở khai thác
hợp lý tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu cho du khách trong hoạt động du lịch.” [71, tr 44- 45]
Từ định nghĩa trên, có thể khái quát về sản phẩm du lịch như sau:
Sản phẩm du lịch = Hàng hóa và dịch vụ du lịch + Tài nguyên du lịch
Phát triển du lịch bền vững
Tại Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên Hiệp Quốc tổ chức ở Rio
de Janeiro (Brazil) năm 1992, WTO (Tổ chức du lịch thế giới) đã lần đầu tiên đưa rakhái niệm “du lịch bền vững” như sau:
Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt dộng du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến
Trang 22việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ
sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người.[87, tr 27]
Đối với Việt Nam, quan điểm phát triển bền vững nói chung và phát triển dulịch bền vững nói riêng, cũng đã được quan tâm nghiên cứu và đưa vào áp dụngtrong những năm gần đây trên cơ sở tiếp thu các thành quả nghiên cứu về lý luận vàthực tiễn trên thế giới, có đối chiếu với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta Trong
đó, khái niệm về phát triển du lịch bền vững luôn gắn với khái niệm chung về phát triểnbền vững Và một quan điểm nhìn chung đang được nhiều người tán thành là:
“Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn
và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương” [36, tr 40]
1.1.2.2 Khái niệm du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa “là loại hình du lịch mà du khách muốn được thẩm nhận bề
dày văn hóa của một nước, một vùng thông qua các di tích lịch sử, văn hóa, những phong tục tập quán còn hiện diện.” [71, tr 30]
Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2005 tại chương I, Điều 4, Khoản 20 có ghi
“ Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” [83,
tr 11]
Bên cạnh những loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, du lịch khámchữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục gần đây du lịch văn hóa đượcxem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách
du lịch quốc tế Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa,những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng để tạosức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách
Trang 23du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa,thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ.
Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương - nơi lưu giữnhiều lễ hội văn hóa và cũng là nơi tồn tại đói nghèo Khách du lịch ở các nướcphát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổ chức những chuyến
du lịch nước ngoài Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức
là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương
Ngày nay, hầu như người ta đã khá quen thuộc với khái niệm văn hóađược tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Vì thế, đã xuất hiện nhiều cụm từ ghépvới từ văn hóa ví như: văn hóa doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh, văn hóa giaotiếp… mang ý nghĩa nội hàm yếu tố văn hóa trong lĩnh vực đó Hay những cụm
từ chỉ về một loại hình văn hóa như: văn hoá nghệ thuật, văn hoá ẩm thực…Cũng có khi các cụm từ được chỉ cho cả một ngành nghề như: kinh tề văn hóa,
du lịch văn hóa…
Du lịch văn hoá đôi khi được xem như một ngành trong ngành kinh tế vănhóa, tức ngành kinh doanh có sử dụng yếu tố văn hóa Tuy nhiên, bản thân nó làmột loại hình du lịch nằm trong ngành du lịch, được gọi là ngành công nghiệpkhông khói, thực chất là ngành kinh doanh
Rõ ràng về mặt khái niệm thì hai cụm từ “du lịch văn hóa” và “văn hóa dulịch” mang ý nghĩa hoàn toàn khác hẳn nhau Tuy nhiên, đôi lúc người ta vẫn sửdụng một cách lẫn lộn, nhầm lẫn với một ý nghĩa duy nhất là một “loại hình dulịch” mà hiện nay đang được hết sức quan tâm
Thực ra vấn đề khai thác các yếu tố (giá trị) văn hóa để làm kinh tế khôngphải là mới, người ta còn gọi là “kinh tế trong văn hóa” Từ rất lâu, con người đãnhận thức được rằng các sản phẩm văn hóa, giá trị văn hóa không chỉ có ý nghĩa
vế mặt giá trị tinh thần, đem đến hiệu quả xã hội mà còn có thể mang lại hiệuquả về kinh tế thông qua việc con người khai thác, sử dụng như thế nào Vì vậy,ngành du lịch, được coi là ngành “thời thượng” trong thời đại ngày nay đãkhông bỏ qua ý nghĩa đó Bên cạnh các loại hình du lịch truyền thống và các loạihình du lịch đang thịnh hành như: du lịch nghỉ dưỡng, du lịch tham quan, du lịch
Trang 24sinh thái, du lịch thể thao mạo hiểm, du lịch chữa bệnh, du lịch hành hương…thì loại hình du lịch văn hóa đang được chú trọng khai thác.
Người ta phân chia ra nhiều loại hình du lịch riêng biệt để khảo sát, nghiêncứu về nhu cầu, đối tượng nhằm định hướng cho mục tiêu khai thác hiệu quảcác tiềm năng du lịch sẵn có của từng loại hình ở địa phương cụ thể Tuy nhiên,hiện trạng cho thấy, ngày nay hầu như các loại hình du lịch thường được lồngghép, kết hợp nhau Với sự phát triển phong phú của đời sống, nhu cầu của conngười cũng phát triển đa dạng hơn Người ta đi du lịch không chỉ mục đích nghỉdưỡng, nâng cao thể chất đơn thuần Ngày càng cho thấy nhu cầu giao lưu,khám phá thế giới của con người là vô cùng lớn, trong đó có khám phá thiênnhiên, con người, văn hóa và chính bản thân họ Nếu như du lịch sinh thái là mộtloại hình du lịch ở đó con người được thỏa mãn nhu cầu khám phá tự nhiênđồng thời với việc được hòa mình vào tự nhiên thì du lịch văn hóa cho người tanhững hiểu biết về con người và những nền văn hóa đi theo, để từ đó con ngườixích lại gần nhau hơn, có cái nhìn về cuộc đời nhân văn hơn và thế giới vì thế sẽtrở thành nhỏ bé hơn, thân ái hơn.Trong quá trình đi du lịch nghỉ dưỡng haychữa bệnh, hành hương đi chăng nữa người ta vẫn cần được đáp ứng về nhhucầu khám phá văn hóa, đó là lý do cho loại hình du lịch văn hóa có cơ sở pháttriển, lồng ghép hầu hết vào các loại hình du lịch khác
Khi nói đến du lịch văn hóa tức tiếp cận văn hóa từ du lịch, thông qua dulịch, thực chất là việc khai thác và biến sản phẩm văn hóa thành sản phẩm dulịch Là một sản phẩm kinh doanh nên đó là sản phẩm hàng hóa hay gọi đúnghơn là sản phẩm hàng hóa văn hóa, một loại sản phẩm hàng hóa đặc biệt, quatiêu thụ không hề mất đi như những sản phẩm hàng hóa thông thường khác màcòn được nhân lên về mặt giá trị tinh thần và hiệu quả xã hội
Văn hóa nhìn từ góc độ du lịch thì nó là nguyên liệu mà là nguyên liệu gốc
Vì thế buộc phải qua “chế biến” mới có thể trở thành hàng hoá - dịch vụ để buônbán trên thị trường, đó chính là sự đầu tư, xây dựng điểm du lịch văn hóa đểkhai thác Về vấn đề này cũng có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằngviệc khai thác các giá trị văn hóa phục vụ cho du lịch vừa đem lại lợi ích về kinh
tế vừa phát huy các giá trị ấy thông qua giới thiệu, quảng bá chúng với du
Trang 25khách Nhưng cũng có ý kiến cho rằng việc khai thác ấy là hành vi “phá hoạivăn hóa” thông qua việc người ta tận dụng, khai thác triệt để các di tích, cảnhquan văn hóa cho mục đích kinh doanh làm phá vỡ cảnh quan, biến dạng di tích,chẳng hạn như việc xây dựng hệ thống cáp treo, các quầy dịch vụ, hang động tựtạo…một cách tràn lan, thậm chí tự phát Quan điểm thứ hai này xuất phát từtình hình thực tế đây đó một số nơi đã vì mục tiêu lợi nhuận mà tiến hành khaithác một cách ồ ạt, thiếu tính toán và thiếu tôn trọng tính giá trị nguyên bản củamột thực thể văn hóa mà chỉ thiên về kinh tế Các quan điểm trái ngược mangtính bảo thủ, cực đoan thiên về bảo tồn nguyên trạng hay tận dụng khai tháckinh doanh triệt để đều không đúng đắn Một nhận thức đầy đủ và khôn ngoantrong du lịch văn hóa là lấy văn hóa làm hạt nhân (gồm di tích văn hóa, sảnphẩm văn hóa, cảnh quan văn hóa, cơ sở thiết chế văn hóa, không gian vănhóa… gọi chung là giá trị văn hóa) với tất cả giá trị nguyên thuỷ của nó mà linhhồn sống chính là “ấn tượng” nó để lại trong lòng du khách thông qua những gìđược tiếp cận, từ đó có thể thu nhỏ hình ảnh trong tâm thức mang về sau cuộchành trình, bên cạnh sự thoả mãn được đáp ứng mọi yêu cầu về dịch vụ mộtcách tốt nhất Đó chính là “văn hóa du lịch”
Văn hóa du lịch là một vấn đề không kém phần quan trọng trong công tác
tổ chức du lịch nhưng hầu như nó ít được quan tâm như khi người ta bàn về “dulịch văn hóa”
1.1.3 Mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa
Nhiều năm qua ở nước ta, có một bài học, một kinh nghiệm hết sức thuyếtphục là văn hoá trong du lịch ở nước ta vừa như là mục tiêu mang tính địnhhướng, vừa như là một quan điểm khẳng định rằng, văn hoá là nội dung, là bảnchất đích thực của du lịch Việt Nam, tạo nên tính độc đáo, đặc sắc, hấp dẫn nhấtcủa các sản phẩm du lịch Việt Nam, góp phần tạo dựng hình ảnh quốc gia trongmắt bạn bè quốc tế
Du lịch là một hoạt động thực tiễn xã hội của con người, nó được hìnhthành nhờ sự kết hợp hữu cơ giữa 3 yếu tố người du lịch, tài nguyên du lịch vàmôi giới du lịch Người du lịch là chủ thể du lịch, tài nguyên du lịch là khách thể
du lịch, ngành du lịch là môi giới cung cấp sự phục vụ cho người du lịch Xét
Trang 26theo phạm trù văn hoá xã hội, du lịch là một hoạt động văn hoá cao cấp của con
người Bởi văn hoá là mục đích mà du lịch hướng tới, là nguyên nhân nội sinh
của nhu cầu du lịch Dù người đi du lịch nhằm mục đích gì (thăm thân, tìm hiểu,nghiên cứu, ngắm cảnh, nghỉ dưỡng…) hoặc theo phương thức nào (đường bộ,đường sắt, đường biển, đường hàng không…) thì mục đích cuối cùng là nhằmthoả mãn những nhu cầu của bản thân, để cảm nhận, thụ hưởng những giá trị vậtchất và tinh thần do con người tạo ra ở một xứ sở ngoài nơi cư trú thường xuyên
của họ Nói cách khác du lịch là hành vi ứng xử của con người với môi trường
tự nhiên và xã hội nhằm phục vụ lợi ích cho họ và là hoạt động có lợi cho việc
thúc đẩy phát triển trí tuệ của loài người
Đó là nhận định mang tính tổng quát còn biểu hiện cụ thể của mối quan
hệ mật thiết giữa văn hoá và du lịch được thể hiện qua các khía cạnh:
Văn hoá là nguồn tài nguyên độc đáo của du lịch (nguồn nguyên liệu đểhình thành nên hoạt động du lịch) Khi nói văn hoá là nguồn nguyên liệu để hìnhthành nên hoạt động du lịch, tức là chúng ta nói đến vật hút / đối tượng hưởngthụ của du khách Nguồn nguyên liệu văn hoá có hai loại cơ bản: Văn hoá vậtthể là những sáng tạo của con người tồn tại, hiện hữu trong không gian mà cóthể cảm nhận bằng thị giác, xúc giác, chẳng hạn những di tích lịch sử văn hoá,những mặt hàng thủ công, các công cụ trong sinh hoạt, sản xuất, các món ăn dântộc… Văn hoá phi vật thể như: lễ hội, các loại hình nghệ thuật, cách ứng xử,giao tiếp… Theo quan niệm của ngành du lịch, người ta xếp các thành tố vănhoá vào tài nguyên nhân văn (đối lập với tài nguyên tự nhiên như: biển, sông hồ,núi rừng, hang động…) cụ thể là: Các di tích lịch sử - văn hoá; hàng lưu niệmmang tính đặc thù dân tộc; ẩm thực; lễ hội; các trò chơi giải trí; phong tục, tậpquán, cách ứng xử, giao tiếp; tín ngưỡng, tôn giáo; văn học - nghệ thuật
Vì vậy mà văn hoá là điều kiện và môi trường để cho du lịch phát sinh vàphát triển Cùng với tài nguyên tự nhiên, tài nguyên văn hoá là một trong nhữngđiều kiện đặc trưng cho việc phát triển du lịch của một quốc gia, một vùng, mộtđịa phương Giá trị của những di sản văn hoá: di tích lịch sử, các công trình kiếntrúc, các hình thức nghệ thuật, các tập quán, lễ hội, ngành nghề truyền thống…cùng với các thành tựu kinh tế, chính trị, xã hội, các cơ sở văn hoá nghệ thuật,
Trang 27các bảo tàng… là những đối tượng cho du khách khám phá, thưởng thức, cho dulịch khai thác và sử dụng Sự khai thác và thu lợi nhuận từ tài nguyên, việc xâydựng các khu điểm du lịch đều phản ánh trí tuệ và sức sáng tạo của loài người.Chính những tài nguyên này không chỉ tạo ra môi trường và điều kiện cho dulịch phát sinh và phát triển mà còn quyết định quy mô, thể loại, chất lượng vàhiệu quả của hoạt động du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương
Mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá còn được biểu hiện qua hành vi ứng
xử, đạo đức trong phục vụ, hay trong giao dịch kinh doanh du lịch Thực chấtcủa mối quan hệ giữa văn hoá với kinh doanh nói chung và kinh doanh du lịchnói riêng (hay vai trò của văn hoá trong phát triển kinh tế) đã được khẳng định.Nói cách khác, hành vi kinh doanh muốn có được thành công phải được thựchiện một cách văn hoá Có thể gọi chung là nghệ thuật kinh doanh hay văn hoákinh doanh
Xét ở một khía cạnh khác, mối quan hệ mật thiết này được thể hiện: nếumuốn phát triển du lịch cần phải có một môi trường du lịch tốt (bao gồm cả môitrường tự nhiên và môi trường nhân văn - hai yếu tố này không tách rời) Môitrường tự nhiên như: không có rác bẩn, nguồn nước sạch, không viết vẽ lên đá…môi trường nhân văn đó là di tích được giữ gìn, cư dân, nhân viên làm việc ở nơi
du lịch phải có văn hoá, tố chất văn hoá, cơ chế chính sách, hệ thống pháp luậthoàn chỉnh…
Tri thức, thông tin xã hội, cách ứng xử, hiểu biết tâm lý du khách…lànhững động lực hữu hiệu thúc đẩy sự phát triển du lịch
Ngược lại đối với văn hoá, du lịch cũng thể hiện một vai trò hết sức quantrọng trong mối quan hệ này Du lịch trở thành phương tiện để truyền tải và trìnhdiễn các giá trị văn hoá của một địa phương, một dân tộc để mọi khách du lịchtrong nước và quốc tế khám phá, chiêm ngưỡng, học tập và thưởng thức
Nhờ có du lịch mà sự giao lưu văn hoá giữa các cộng đồng, các quốc giađược tăng cường và mở rộng
Du lịch còn là phương tiện để đánh thức và làm trỗi dậy các giá trị vănhoá dân tộc đang bị chìm lắng hoặc mai một dần theo thời gian trước những biến
cố của lịch sử Đấy có thể là các công trình kiến trúc cổ, một tập quán sinh hoạt,
Trang 28một làn điệu dân ca, một món ăn dân tộc thể hiện trình độ mỹ thuật văn hoá,
kỹ thuật của các thời đại đã qua Nhờ có du lịch mà các tài sản văn hoá đó đượckhôi phục, khai thác và tôn tạo, phục vụ cho nhu cầu được thẩm nhận những giátrị của những di sản đó
Xét ở góc độ kinh tế, nhờ có du lịch đã tạo ra một nguồn thu nhập chophép các địa phương tích luỹ và phát triển kinh tế – xã hội; trong đó có văn hoá.Nhờ đó các tài sản văn hoá được bảo vệ, tu sửa, tôn tạo đồng thời với việc xâydựng mới các cơ sở văn hoá và làm phong phú thêm các giá trị văn hoá đươngđại Chính vì văn hoá và du lịch có mối quan hệ tương tác/lẫn vào nhau như vậynên văn hoá và du lịch không thể tách rời nhau và càng không thể đối lập nhau
Như vậy có thể xác nhận một luận điểm: du lịch là một hoạt động văn hoámang tính tổng hợp, hay nội hàm của du lịch là văn hoá và tính văn hoá đó đượcthể hiện hoặc rõ ràng hoặc ẩn hiện xuyên suốt các mặt hoạt động du lịch Cáchoạt động chủ yếu của du lịch bao gồm: ăn, ở, du ngoạn, mua sắm, vui chơi giảitrí (nhu cầu nội tại của con người ) thì trong tất cả các hoạt động đó ngoài việc
để làm thoả mãn nhu cầu đời sống thiết yếu của mọi thành viên trong xã hội đềumang những đặc trưng văn hoá, khát vọng về văn hoá - thể hiện sự ngưỡng mộ,theo đuổi đối với nền văn hoá của nơi khác Du khách có thể bỏ những cănphòng với tiện nghi cao cấp để được sống trong các căn nhà sàn, nhà lá đơn sơ,
có thể bỏ phương tiện giao thông hiện đại để đi thuyền độc mộc, đi xe xích lôlọc xọc trên những đường phố cổ, có thể bỏ những món ăn quen khẩu vị đểthưởng thức những món “khó chơi”, sẵn sàng tiêu tốn một khoản tiền lớn đểmua đặc sản của nước khác “Những vật mà du khách có thể nhìn thấy, ăn, sờ,cầm nắm được tuy là loại vật chất cụ thể nhưng trong đó đều bao chứa loại vănhoá tinh thần nào đó mà du khách đi xem, đi mua, đi ăn, điều chủ yếu nhất mà
họ chọn không phải là bản thân vật chất mà ở chỗ thoả mãn nhu cầu tâm lý tìmcái mới, cái lạ, cái đẹp” Vì thế du lịch mặc dù là một ngành kinh tế trong đó bao
hàm nội dung hoạt động kinh tế, nhưng về tổng thể du lịch là một hoạt động văn
hoá - một sinh hoạt văn hoá xã hội của loài người
Trang 291.1.4 Vai trò của văn hóa trong phát triển du lịch
Văn hóa có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự phát triển toàn diện đấtnước về kinh tế, chính trị, xã hội, trong đó du lịch là một ngành kinh tế đang trởthành mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta trong thế kỷXXI Chính những giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc là điểm hấpdẫn đặc biệt, là động lực mạnh mẽ cho du lịch phát triển Bởi vì đối với du lịchbền vững, văn hóa trở thành tài nguyên tạo nên sự hấp dẫn có chiều sâu đối với
du lịch Và sở dĩ du lịch là ngành kinh tế có sức thu hút mạnh mẽ bởi vì trong
nó hàm chứa nội dung văn hóa sâu sắc và phong phú
Trong Luật Du lịch Việt Nam được ban hành năm 2005 thì tài nguyên du
lịch được xác định là “cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử
-văn hóa, công trình sáng tạo của con người và những giá trị nhân -văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”.
Các di tích lịch sử - văn hóa, các di sản văn hóa có mặt hầu hết ở các địaphương trên cả nước từ miền xuôi lên miền ngược, từ Bắc vào Nam, từ nôngthôn đến thành thị đó là lợi thế để ngành du lịch phát huy các di sản văn hóatrong tổ chức hoạt động du lịch Có thể nói rằng tiềm năng to lớn của du lịchViệt Nam nằm trong văn hóa dân tộc
Cùng với các di tích lịch sử văn hóa được xem như những tài nguyên tĩnhthì các loại hình văn hóa phi vật thể là tài nguyên động của du lịch Việt Nam.Tính chất động của nó đặc biệt do gắn liền với hoạt động của con người, táihiện, tái tạo bản thân con người trong quá khứ và hiện tại làm sống lại lịch sửtrong tính toàn vẹn, tính hình tượng cụ thể cảm tính, sinh động của nó, tạo nênmôi trường du lịch độc đáo và sức hấp dẫn kỳ lạ đối với khách du lịch từ nơi xađến ( những lễ hội dân gian, những chương trình nghệ thuật cổ truyền, những lànđiệu dân ca, những công trình kiến trúc, điêu khắc )
Văn hóa là nguồn tài nguyên chủ yếu của du lịch Môi trường thiên nhiên
và môi trường văn hóa, nhân văn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với du lịch
Vì chính nó là nguồn tài nguyên, là yếu tố cơ sở cho phát triển du lịch Ngày nay
xu hướng du lịch sinh thái, du lịch cảnh quan và du lịch văn hóa đang trở thành
Trang 30những loại hình du lịch chủ yếu trong xu thế phát triển của ngành du lịch Thực
tế cho thấy trên thế giới quốc gia nào có truyền thống văn hóa lâu đời, có nhiềudanh lam thắng cảnh thì quốc gia đó có thị trường du lịch hấp dẫn
1.1.5 Điều kiện để phát triển du lịch văn hóa
Trong mối quan hệ với văn hóa, du lịch là yếu tố quan trọng đẩy mạnhgiao lưu văn hóa giữa các vùng, miền trong nước và giữa các quốc gia dân tộctrên thế giới Sự phát triển của du lịch tác động trực tiếp và gián tiếp đến việctrấn hưng và bảo tồn các di sản văn hóa Du lịch đã tạo nên điều kiện thúc đẩykinh tế - xã hội của các địa phương và của các dân tộc phát triển Nói một cáchkhác, du lịch đã có tác động quan trọng vào đời sống văn hóa của xã hội
Tiếp xúc với những giá trị văn hóa, khách du lịch sẽ có những hiểu biếttoàn diện, những tình cảm lành mạnh trong sáng, thông qua đó con người xâydựng những quan niệm đúng đắn về thế giới của chính mình, hình thành nhữngphẩm chất đạo đức tốt đẹp, quyết định sự phát triển nhân cách của mỗi cá nhântrong xã hội
Trong thời gian du lịch, du khách thường sử dụng các dịch vụ, hàng hóa
và tiếp xúc trực tiếp với dân ở địa phương Thông qua các cuộc tiếp xúc đó, cảkhách và cả dân cư địa phương đều được trau dồi và nâng cao sự hiểu biết lẫnnhau về văn hóa và lịch sử, về phong tục tập quán… Doanh thu từ các hoạt độngdịch vụ được sử dụng một phần cho việc tu bổ di tích, chỉnh lý các bảo tàng,đồng thời khôi phục và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể, đặc biệt khôiphục và thúc đẩy các ngành nghề thủ công truyền thống, văn hóa nghệ thuậttruyền thống, tín ngưỡng dân gian… phục vụ du lịch
Tóm lại: giữa du lịch và văn hóa luôn có mối quan hệ biện chứng, mốiquan hệ này càng thể hiện rõ trong sự liên kết giữa bảo vệ và phát huy các ditích lịch sử - văn hóa, các giá trị văn hoá với tư cách như bộ phận trọng yếu củanguồn tài nguyên du lịch Ở đây, giao lưu là một trong những thuộc tính cơ bảncủa văn hóa, nó biểu hiện sinh động thông qua sự vận hành của các di sản vănhóa mà du lịch đã góp phần không nhỏ vào việc thực hiện thuộc tính này Dulịch là cầu nối giữa các bộ phận dân cư thuộc các nền văn hóa khác nhau trên thếgiới, đồng thời tạo lập mối quan hệ trực tiếp giữa quá khứ, hiện tại và tương lai
Trang 31của mỗi dân tộc Điều đó chứng tỏ giữa du lịch và văn hóa luôn gắn bó khăngkhít với nhau, nương tựa vào nhau để cùng tồn tại và phát triển Văn hóa lànguồn tài nguyên nhân văn vô cùng phong phú đặc sắc có thể tạo ra các sảnphẩm du lịch độc đáo để thu hút khách du lịch Du lịch văn hóa đang trở thànhmột loại hình du lịch phổ biến và có hiệu quả cao Hoạt động du lịch cũng cónhững tác động tích cực đối với văn hóa Du lịch chính là cầu nối để thúc đẩy,trao đổi, giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, cộng đồng các dân tộc, là động lựcgóp phần phát triển, giữ gìn, bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc.
1.1.6 Các nguyên tắc khai thác và phát triển du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hộitruyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tập quán, tín ngưỡng để tạo sứchút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách dulịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa,thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ
Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương - nơi lưu giữnhững lễ hội văn hóa và cũng là nơi tồn tại các sinh hoạt đời thường Khách dulịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổ chứcnhững chuyến du lịch nước ngoài Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia dulịch văn hóa tức là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dânđịa phương
1.1.6.1 Bảo vệ môi trường và bảo vệ nét văn hóa
Đây là một trong nguyên tắc cơ bản, quan trọng cần tuân thủ bởi các giá trịcủa nó:
- Việc bảo vệ môi trường là quyết định sự tồn tại và duy trì nét văn hóachính của các mục tiêu hoạt động của du lịch văn hóa
- Bảo tồn du lịch văn hóa gắn bó mật thiết môi trường tự nhiên, sự xuốngcấp, sự suy thoái đồng nghĩa với sự xăm thực đi xuống của hoạt động du lịchvăn hóa
1.1.6.2 Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng
Hoạt động du lịch phải đảm bảo nguyên tắc bảo vệ và phát huy bản sắcvăn hóa cộng đồng, phải có sự kế thừa không vì lợi ích kinh tế chung hay cá
Trang 32nhân mà làm phá vỡ truyền thống và làm biến đổi những giá trị văn hóa địaphương và dân tộc.
1.1.6.3 Giúp cộng đồng địa phương tạo cơ hội việc làm, mang lại lợi ích cho người dân bản địa
Ở những nước đang phát triển như Việt Nam, nền tảng phát triển phần lớnkhông dựa vào những đầu tư lớn để tạo ra những điểm du lịch đắt tiền, màthường dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc.Những sản phẩm du lịch văn hóa này tạo ra giá trị rất lớn cho ngành du lịch, màcòn đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội thông qua sựphát triển của hoạt động du lịch sẽ tạo cơ hội rất nhiều việc làm cho người dânđịa phương
1.2 Những lĩnh vực nghiên cứu của du lịch văn hóa
1.2.1 Vấn đề cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa
Theo giáo trình Kinh tế du lịch của GS-TS Nguyễn Văn Đính, PGS-TS.Trần Thị Minh Hòa của Đại học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội là cơ sở vật chất kỹthuật trong du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất tham gia vào việckhai thác các tiềm năng du lịch tạo ra và thực hiện các dịch vụ và hàng hóa dulịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của du khách trong suốt cuộc hành trình du lịch.[28, tr.85]
Cơ sở vật chất kỹ thuật phải đa dạng hóa và chuyên môn hóa theo từngđịa phương và từng loại địa hình và loại hình du lịch như: du lịch văn hóa, dulịch sinh thái, du lịch nghỉ biển, du lịch chữa bệnh theo đặc thù của địaphương… cơ sở vật chất kỹ thuật đều có thành phần giống nhau như: cơ sở phục
vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí,… Tuy nhiên, từng loại hình du lịch khácnhau sẽ có các công trình bổ sung đặc biệt để sử dụng tài nguyên du lịch phục
vụ cho khai thác loại hình du lịch cụ thể nào đó Điển hình như đối với du lịchnghỉ biển cần công trình bổ sung phục vụ tắm biển, bãi tắm,…
Như vậy, cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa cần đảm bảo sự hợp
lý, tối ưu trong đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị hạ tầng du lịch, nhưng ngoài thông
lệ quốc tế, còn phải có phần đặc thù của nó Theo các tuyến, điểm du lịch đãđược quy hoạch chi tiết, phải từng bước xây dựng hệ thống đường xá, phương
Trang 33tiện vận chuyển, cơ sở lưu trú: khách sạn, nhà hàng, nơi mua sắm; phương tiệnthông tin liên lạc theo tiêu chuẩn quốc tế, càng hiện đại, càng thuận lợi càng dễthu hút khách Tuy nhiên, bên cạnh phần thông lệ quốc tế, trong du lịch còn cónhững phần cơ sở vật chất, thiết bị hạ tầng mang đậm bản sắc văn hoá dân tộchấp dẫn du khách Ví như tại các danh thắng, các khu cảnh quan phải giữ đượccon đường gập ghềng uốn khúc qua các sườn núi, ven sông, lên các hang động,chùa chiền mới là du lịch Không thể hoặc nhất quyết không được bê tônghoá/gạch hoá/ đá hoá hoàn toàn những con đường quanh co, uốn lượn, đó là
“phần hồn” của điểm du lịch Đánh mất phần hồn ấy, giá trị của của du lịch sẽ bịgiảm sút và chất lượng du lịch cũng sẽ bị suy giảm Hay trong điểm du lịch làcác ngôi làng, đô thị cổ, khi quy hoạch, xây dựng phải đảm bảo không làm tổnhại đến không gian, bảo tồn những con đường cổ, nhà cổ, cây cầu cổ, chợ, nơisinh hoạt của cộng đồng cư dân thì điểm này mới khẳng định được những giá trịđặc sắc, riêng có của nó một cách đầy đủ Kể cả trong trang thiết bị khách sạn,nhà hàng cũng vậy, ngoài phần quốc tế, phải tăng tỷ lệ cơ sở vật chất, thiết bị hạtầng mang phong cách riêng như: tạo dáng kiến trúc, trang trí nội thất, hoa văntrang trí, các vật dụng làm từ các đồ thủ công truyền thống như: thêu ren, lụa,gốm, đá, cói
1.2.2 Vấn đề thị trường và khách du lịch văn hóa
Tiếp cận theo kinh tế chính trị học, thị trường du lịch là một bộ phận củathị trường chung một phạm trù của sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ dulịch phản ánh toàn bộ quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán, giữa cung
và cầu và toàn bộ các thông tin kinh tế kỹ thuật gắn với mối quan hệ đó tronglĩnh vực du lịch Tiếp cận theo marketing du lịch, thị trường du lịch là tập hợpngười mua và người bán sản phẩm hiện tại và tiềm năng Người mua với tư cách
là người tạo ra thị trường du lịch và người bán với tư cách là người tạo ra ngành
du lịch [59, tr.112]
Thị trường khách du lịch văn hóa được xác định dựa trên những giá trị vềvăn hóa ở địa phương, yếu tố tâm lý, tuổi tác, nhu cầu sở thích của du khách.Đối với một số thị trường khách du lịch quốc tế, có thể khai thác loại hình dulịch văn hóa để phục vụ du khách yêu thích tìm hiểu về văn hóa, phong tục, tập
Trang 34quán của các dân tộc Đối với thị trường nội địa, du lịch văn hóa thu hút hầu hết
sự quan tâm, tham gia của cư dân địa phương và các vùng lân cận Bên cạnh đó,những du khách thuộc lứa tuổi về hưu, trung niên, khách có thu nhập và trình độvăn hóa ở dạng trung bình,… cũng là những thị trường khách du lịch thườngquan tâm, yêu thích loại hình du lịch văn hóa Tiếp cận được vấn đề thị trường
và khách du lịch lễ hội nhằm tạo cơ sở lý luận vững chắc trong đề xuất các giảipháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch văn hóa của người Chăm ở
An Giang
1.2.3 Vấn đề tổ chức, quản lý du lịch văn hóa.
Theo từ điển bách khoa Việt Nam, quản lý là chức năng và hoạt động của
hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau, đảm bảo thực hiện những chươngtrình và mục tiêu của hệ thống đó… Do tính chất lao động của con người, quản
lý tồn tại trong mọi xã hội, ở bất kì lĩnh vực nào và trong bất cứ giai đoạn pháttriển nào Quản lý là một khoa học, dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật pháttriển của các đối tượng khác nhau, quy luật tự nhiên và quy luật xã hội, đồngthời, quản lý còn là một nghệ thuật, đòi hỏi nhiều kiến thức xã hội, tự nhiên hay
kỹ thuật… Những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với hoạt động cómục tiêu, có kế hoạch, và được thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt [80,tr.580]
Dựa vào khái niệm trên để nghiên cứu vấn đề tổ chức, quản lý du lịch vănhóa Điều này thể hiện rõ hai nhiệm vụ chính của quản lý du lịch văn hóa: một làviệc xây dựng hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước liên quanđến du lịch văn hóa; hai là tham gia tổ chức điều hành văn hóa theo một quytrình đã định trước
Người quản lý hoạt động du lịch văn hóa phải nắm vững các giá trị vănhóa Phát huy các giá trị văn hóa Chăm trong du lịch đồng thời chú trọng đếncông tác bảo tồn
1.2.4 Vấn đề nhân lực trong du lịch văn hóa
Nhân lực trong du lịch văn hóa là nội dung cơ bản của việc tổ chức, thựchiện hoạt động du lịch Trong đó, có hai nội dung cơ bản là tổ chức bộ máy,nhân sự, phân công nhiệm vụ điều hành các hoạt động du lịch văn hóa và công
Trang 35tác bảo tồn các giá trị văn hóa Tính văn hoá còn được biểu hiện bởi thái độ ứng
xử, hiểu biết rộng, thói quen chính xác khoa học của người môi giới du lịch nhất
là người thiết kế sản phẩm và đặc biệt là hướng dẫn viên du lịch - người trựctiếp đi cùng với khách du lịch
Ngoài ra, chính quyền địa phương cần xác định vai trò quan trọng của chủthể văn hóa; đó chính là cư dân địa phương Để hoạt động du lịch văn hóa thực
sự trở thành một hoạt động mang ý nghĩa văn hóa và phát triển kinh tế, góp phầnxóa đói giảm nghèo cho người dân Chăm tỉnh An Giang thì cần phải đào tạo,phát triển được nguồn nhân lực phục vụ du lịch văn hóa là người dân địaphương
1.2.5 Vấn đề tuyên truyền, quảng bá du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa là một hoạt động mang tính tổng hợp cao, đa dạng vàphức tạp, đòi hỏi có sự tham gia của nhiều lĩnh vực kinh tế, y tế, văn hóa, giáodục,… Trong đó, hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch lễ hội góp phần quantrọng nhằm thu hút ngày càng nhiều du khách đến tham quan du lịch ở AnGiang
Theo các tài tài liệu “tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến du lịch” của cáctác giả, tuyên truyền du lịch theo nghĩa thông dụng là “giải thích rộng rãi đểthuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo” bằng nhiều hình thức khácnhau để truyền đạt thông tin như báo viết, báo nói, báo hình, sách, tập gấp,người tiếp cận công chúng với nhiều mục đích về chính trị, kinh tế, văn hóa, xãhội,… Nói rộng ra tuyên truyền bao gồm cả việc quảng cáo và các hoạt độngxúc tiến Tuyên truyền du lịch là một hệ thống thông tin về du lịch được cácquốc gia, các địa phương, các doanh nghiệp du lịch, các cá nhân tiến hành nhằmthu hút đông đảo nguồn khách du lịch và gia tăng khả năng chi tiêu của khách
du lịch đối với dịch vụ và hàng hóa Tuyên truyền du lịch đóng một vai trò quantrọng trong sự phát triển du lịch của một đất nước, một địa phương, một doanhnghiệp du lịch
Trong từ điển Việt – Việt, quảng cáo được giải thích là “sự trình bày, giớithiệu rộng rãi cho nhiều người biết nhằm tranh thủ được nhiều khách hàng”.Theo tài liệu “tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến du lịch”, quảng cáo du lịch là
Trang 36một bộ phận của tuyên truyền du lịch, bản chất của quảng cáo du lịch là tổnghợp các biện pháp sử dụng để phổ biến những tài nguyên du lịch, các cơ sở dịch
vụ, các điều kiện đi du lịch cho nhân dân trong nước và người nước ngoài nhằmmục đích thu hút khách du lịch, phát triển du lịch của đất nước và phát triển cáchoạt động sản xuất – kinh doanh du lịch
Hiện nay, đối với du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng, các phươngtiện thường được sử dụng để quảng cáo bao gồm: báo, đài, internet, phim ảnh, ấnphẩm bằng băng hình, đĩa hình, các tạp chí chuyên ngành, băng rôn, màn hình đặtnơi công cộng… hay các chương trình hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao vàcác hội chợ triển lãm trong và ngoài nước, xúc tiến tại chỗ
1.2.6 Vấn đề bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch
Điều 2, Chương I, Luật di sản văn hóa Việt Nam xác định tương đối đầy
đủ nội hàm và tính chất của di sản văn hóa, di sản văn hóa Việt Nam bao gồm disản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất
có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệkhác ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Thông qua đó, các khái niệm di sản văn hóa phi vật thể và vật thể cũngđược xác định rõ, đó là:
Trong văn kiện Trung ương lần thứ 5, khóa VIII, Đảng ta đã xác định:
“Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản
sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [30, tr.63] Vì vậy, việc giữ gìn nguyên vẹn và đầy đủ các giá trị đích thực
của di sản văn hóa là rất quan trọng; đồng thời cần quan tâm đầu tư, tôn tạo các
di sản văn hóa dân tộc nhằm phát triển chúng thành sản phẩm du lịch văn hóanói chung và du lịch lễ hội nói riêng
- Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết được lưu truyền bằng truyềnmiệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, baogồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền
Trang 37miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủcông truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, vềtrang phục truyền thống dân tộc và tri thức dân gian khác
- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa
học, bao gồm di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảovật quốc gia, Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của ngườiChăm tạo điều kiện cho ngành du lịch tỉnh An Giang phát huy được thế mạnhcủa tỉnh Bên cạnh đó, bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch là một trong nhữngyếu tố cần thiết đảm bảo phát triển du lịch bền vững
1.2.7 Du lịch văn hóa và điểm đến du lịch
Theo định nghĩa của UN-WTO (2004): “điểm đến du lịch là một khônggian vật chất mà du khách ở lại ít nhất là một đêm Nó bao gồm các sản phẩm dulịch như các dịch vụ hỗ trợ, các điểm đến và tuyến điểm du lịch trong thời gianmột ngày Nó có các giới hạn vật chất và quản lý giới hạn hình ảnh, sự quản lýxác định tính cạnh tranh trong thị trường Các điểm đến du lịch địa phươngthường bao gồm nhiều bên hữu quan như một cộng đồng tổ chức và có thể kếtnối lại với nhau để tạo thành một điểm đến du lịch lớn hơn”
Sản phẩm du lịch văn hóa là một trong những sản phẩm du lịch quantrọng tạo sức hấp dẫn du khách đến với điểm đến An Giang Nếu được quyhoạch và phát triển theo hướng bền vững, gắn với bảo tồn các giá trị văn hóatruyền thống của đồng bào dân tộc Chăm thì trong tương lai không xa, An Giang
sẽ là điểm đến hấp dẫn du khách với loại hình du lịch văn hóa
Theo bài giảng Marketing điểm đến du lịch của PGS.TS Trần Thị MinhHòa: điểm đến du lịch (Destination) là những điểm có tài nguyên du lịch nổitrội, có khả năng hấp dẫn du khách; hoạt động kinh doanh du lịch có hiệu quả vàđảm bảo phát triển bền vững
1.2.8 Du lịch văn hóa và vấn đề xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương
Theo WTO, “Sản phẩm du lịch là một tổng thể phức tạp bao gồm nhiềuthành phần không đồng nhất cấu tạo thành, đó là tài nguyên tự nhiên, tài nguyên
Trang 38nhân văn, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch và đội ngũ cán
bộ nhân viên du lịch”
Tại Điều 4, Luật Du lịch Việt Nam 2005 giải thích từ ngữ: “Sản phẩm du
lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” Các dịch vụ đó bao gồm: dịch vụ lữ hành, dịch vụ vận
chuyển khách, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí,…
Vậy, có thể hiểu sản phẩm du lịch là những cái nhằm đáp ứng nhu cầu vàmong muốn của khách du lịch, nó bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa vàtiện nghi cho du khách, được tạo nên bởi yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật
và lao động tại một vùng, một cơ sở nào đó Sản phẩm du lịch bao gồm 2 thànhphần quan trọng là tài nguyên du lịch và các dịch vụ và hàng hóa du lịch Do đó,sản phẩm du lịch vừa mang tính hữu hình vừa mang tính vô hình Sản phẩm dulịch văn hóa là sự kết hợp giữa hàng hóa và dịch vụ trên cơ sở khai thác hợp lýcác giá trị văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu về văn hóa của
du khách
Sản phẩm du lịch đặc thù được xác định trên cơ sở phân tích những lợi thế,
sự khác biệt, nổi bật mang tính đặc trưng về tài nguyên du lịch của tỉnh AnGiang so với các tỉnh vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ Mặt khác, các chuyên giacủa Tổ chức du lịch thế giới, khi làm dự án VIE/89/003 đã đánh giá Việt Nam lànước có tiềm năng du lịch, trong đó lễ hội dân gian được xem như một bộ phậncủa tiềm năng ấy Trong đó, văn hóa của người Chăm An Giang là một bảo tàngsống động, là nơi lưu trữ những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, những sinh hoạtvăn hóa, nghệ thuật,… Tất cả sẽ tạo nên một sản phẩm du lịch đặc thù cho tỉnh
An Giang, mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Chăm Đây cũng là điểm nhấn,tạo sự khác biệt, độc đáo giữa du lịch văn hóa tỉnh An Giang và các tỉnh khác ởDuyên Hải Nam Trung Bộ Bên cạnh đó, phát triển du lịch văn hóa của ngườiChăm tỉnh An Giang sẽ giải quyết được vấn đề xây dựng sản phẩm du lịch đặcthù cho tỉnh, không trùng lắp với sản phẩm du lịch của các tỉnh khác Có nhưthế, tài nguyên du lịch văn hóa của người Chăm tỉnh An Giang mới được khaithác một cách hiệu quả và bền vững
Trang 391.3 Những bài học kinh nghiệm trong nghiên cứu, phát triển du lịch văn hóa
1.3.1 Bài học kinh nghiệm trong nước
Du lịch văn hóa tỉnh Quảng Nam
Các di sản văn hóa Hội An vừa hội tụ những đặc trưng, những tinh hoacủa văn hóa dân tộc, vừa thể hiện những nét riêng có của một vùng văn hóatruyền thống; được đánh giá là “đỉnh cao của sức sáng tạo Việt Nam” Khôngnhững mang ý nghĩa về mặt lịch sử văn hóa, mà nhiều di tích ở Hội An còn lànhững tác phẩm kiến trúc nghệ thuật vô giá, có sức hấp dẫn rất lớn đối với cácnhà nghiên cứu; du khách tham quan trong và ngoài nước
Hội An cũng là nơi duy nhất ở nước ta hiện còn lưu giữ được những disản văn hóa phi vật thể phong phú, đa dạng, độc đáo như các loại hình nghệthuật, âm nhạc, ca múa cung bài chồi; ẩm thực, các hoạt động lễ hội và hàng thủcông mỹ nghệ truyền thống, phong tục tập quán đặc sắc mà trong mỗi loạihình đều có sự gắn bó, hòa nhập giữa văn hóa truyền thống và văn hóa dân gian.Tất cả yếu tố đó là nguồn tài nguyên du lịch vô giá, tạo nên những sản phẩm dulịch văn hóa - thế mạnh không chỉ của riêng Quảng Nam mà còn có ý nghĩa đốivới sự phát triển của du lịch Việt Nam
Với thế mạnh về các tài nguyên du lịch văn hóa, Quảng Nam có tốc độtăng trưởng cao so với cả nước trong hoạt động du lịch Nếu như tốc độ tăngtrưởng bình quân toàn ngành đạt 10 - 11%/năm, thì Quảng Nam có tốc độ tăngtrưởng bình quân 15 - 17%/năm về lượt khách Theo thống kê, số lượt kháchđến Hội An với mục đích tham quan, tìm hiểu lịch sử văn hóa, hay đơn giản làchỉ đến để tận mắt chiêm ngưỡng một di sản thế giới chiếm tới gần 80% tổnglượt khách du lịch Điều này chứng minh được giá trị và sức hấp dẫn của di sảnphố cổ Hội An đồng thời đây cũng là thước đo và căn cứ để ngành du lịch có kếhoạch lâu dài trong phát triển sản phẩm, nhằm phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởngbình quân 15 - 17%/năm về lượt khách trong giai đoạn 2011 – 2015 Mục tiêu
cụ thể được đề ra là đến năm 2015 ngành du lịch Quảng Nam sẽ đón và phục vụ2,5 triệu lượt khách, trong đó có từ 01 - 1,2 triệu lượt khách quốc tế Sự pháttriển của ngành du lịch đã thúc đẩy sự gia tăng, mở rộng của các ngành khácnhư: góp phần đẩy mạnh xuất khẩu tại chỗ hàng nông phẩm, thủy sản; từng
Trang 40bước phục hồi các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống; góp phần vào côngcuộc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Quảng Nam; tạo thêm nhiều việclàm cho người lao động
Du lịch đã được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của Quảng Nam,việc đa dạng các loại hình, sản phẩm du lịch trên cơ sở khai thác các giá trị của
di sản Hội An là việc làm cấp thiết Hơn thế nữa, du lịch không chỉ đơn thuần làmột hoạt động kinh tế, nó còn mang nội dung nhân văn và xã hội sâu sắc, có thểthông qua hoạt động du lịch để truyền thụ kiến thức, giáo dục truyền thống vàgóp phần nâng cao dân trí Để thực hiện được chức năng này, việc tổ chức, đàotạo cho những người cung cấp sản phẩm du lịch, hướng dẫn viên và xây dựng cơchế chính sách nhằm huy động mọi nguồn lực, huy động sự tham gia của cộngđồng vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử của di sản Hội Anphải được xem là một nhiệm vụ trọng tâm hiện nay của các cấp chính quyền
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm của nước ngoài
Phát triển du lịch ở Malaysia và Indonesia với bài học kinh nghiệm cho
là điểm đến du lịch hàng đầu trong nhận thức thị trường và xây dựng ngành dulịch thành ngành có đóng góp chính trong phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước 10 thị trường khách du lịch hàng đầu của Malaysia theo thứ tự quan trọngbao gồm Singapore, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc, Brunay, Ấn Độ,Australia, Philipines, Anh và Nhật Bản
Trong chiến lược chung của Malaysia về chuyển dịch kinh tế, ngành dulịch xây dựng kế hoạch chuyển dịch phát triển du lịch đến năm 2020 tập trungvào việc phát triển sản phẩm và thị trường với mục tiêu chính là tập trung vàothị trường có khả năng chi trả cao, đẩy mạnh chương trình tiêu dùng của khách
du lịch Hai hướng chính trong quan điểm phát triển là: bảo vệ, bảo tồn và giữ