Trong quá trình nghiên cứu về các PPDH tích cực các nhà nghiên cứu đãtập trung nghiên cứu về tính tích cực hóa trong quá trình DH, chú ý đến sự hứngthú, những sáng kiến, nhu cầu của HS t
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Bằng lòng biết ơn sâu săc tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáotrong khoa Sư phạm và Ngoại ngữ trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tậntình giúp đỡ tôi trong quá trình làm khóa luận tốt nghiệp Đặc biệt tôi xin chânthành cảm ơn Th.S Nguyễn Công Ước đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC CAC CHỮ VIẾT TẮT
Kỹ năngSách giáo trìnhNhà xuất bản
Trang 4
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Trang 6PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1.1 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
Giáo dục luôn là vấn đề hàng đầu được Đảng, Nhà Nước và toàn thể xãhội quan tâm Xuất phát từ sự phát triển của xã hội đòi hỏi giáo dục phải cónhững bước cải tiến mới Giáo dục nước ta đã và đang có những biến chuyển sâusắc về mọi mặt như: Xây dựng và hoàn thiện bộ chính sách, đổi mới phương phápdạy học, đầu tư trang thiết bị dạy học mới, đào tạo đội ngũ cán bộ giáo viên
Mục tiêu GD phổ thông đã được nêu trong Luật Giáo dục năm 2005 là:
“Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe vànghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hìnhthành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêucầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Vì thế công tác dạy và học đã đặt rayêu cầu phải rèn luyện cho người học năng lực tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi kiếnthức, tự giải quyết mâu thuẫn xảy ra trong quá trình học tập, tiếp thu kiến thức cũngnhư mẫu thuẫn giữa lượng kiến thức quá lớn trong khi quỹ thời gian học tập của các
em lại có hạn Đổi mới giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sángtạo của người học là yêu cầu của thời đại, là yêu cầu cấp bách nhất cho sựnghiệp giáo dục, từ đó phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Trong bối cảnh của việc đất nước hội nhập toàn cầu với sự bùng nổ củakhoa học công nghệ đòi hỏi người lao động không những có trình độ học vấncao, năng lực chuyên môn giỏi mà còn phải thực sự năng động, sáng tạo trongmọi hoàn cảnh, phải có năng lực tự học, tự rèn luyện kĩ năng thực hành đáp ứngnhu cầu học tập suốt đời Vì thế vai trò của giáo dục là việc thức tỉnh năng lựcsáng tạo của mỗi người để tạo ra những con người mới có năng lực tư duy độclập, có năng lực tìm kiếm tài liệu, nghiên cứu tìm hiểu, lĩnh hội tri thức và cậpnhật thông tin một cách nhanh chóng
Trang 71.1.2 Xuất phát từ đặc điểm môn học Chăn nuôi trâu bò ở trường Trung học Nông nghiệp Hà Nội
Chăn nuôi của nước ta đã phát triển nhanh về số lượng và chất lượng sảnphẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội về thịt, trứng, sữa Chăn nuôitrâu, bò đã có nhiều cơ hội tốt để phát triển và tăng trưởng về số lượng đàn vàcải tiến về chất lượng giống Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê: Tạithời điểm 1/10/2012, cả nước có 2,63 triệu con trâu, bằng 96,89% so với1/10/2011; 5,2 triệu con bò, bằng 95,5% so với cùng kì năm trước Đàn bò sữavẫn trong xu hướng phát triển tốt, đạt 167 nghìn con, tăng 17% so với thời điểm1/10/2011 Tuy nhiên, theo Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch 8 tháng năm
2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (ngày 25/08/2013) thì tìnhhình chăn nuôi trâu bò có xu hướng giảm do diện tích chăn thả bị thu hẹp Ướctính tổng đàn trâu cả nước giảm 2,5%, đàn bò giảm 3% so với cùng kì năm
2012 Điều này đặt ra cho người chăn nuôi cần có những biện pháp kĩ thuật tácđộng hợp lí giúp ổn định về số lượng đàn giống và nâng cao sản lượng
Môn Chăn nuôi trâu bò đã và đang được giảng và dạy trong khối ngànhchăn nuôi Về kiến thức, môn Chăn nuôi trâu, bò kiến thức bao gồm cả kiến thức
cơ sở và kiến thức kĩ thuật, Trong đó có rất nhiều kiến thức áp dụng vào thực tếnên tương đối khó với các em học sinh Muốn để các em có thể ghi nhớ, nắm bắtkiến thức một cách cụ thể, vận dụng một cách sáng tạo và đúng yêu cầu kĩ thuậtvào trong thực tiễn thì giáo viên phải không ngừng trau dồi kiến thức chuyênmôn, đổi mới PPDH tăng hứng thú học tập cho HS Ngày nay khoa học pháttriển mạnh mẽ các PTDH ngày càng được hoàn thiện tạo điều kiện cho HS độclập trong việc lĩnh hội tri thức Vì vậy, GV phải lựa chọn phương tiện dạy họcsao cho phù hợp với PPDH nhằm nâng cao tối đa chất lượng dạy và học
Sử dụng PHT trong DH giúp phát huy được năng lực học tập tích cực, khả năngđộc lập suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo cũng như khả năng làm việc phối hợp, làmviệc nhóm, nâng cao năng lực tư duy phát triển tinh thần làm việc nhóm và có
Trang 8trách nhiệm với công việc của bản thân DH có sử dụng PHT kết hợp với một sốPPDH tích cực khác được coi là một biện pháp dạy học hợp lí và đem lại kết quảcao.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xây dựng và sửdụng phiếu học tập trong dạy học chương 5- Chăn nuôi trâu, bò sinh sản- mônChăn nuôi trâu, bò trường Trung học Nông nghiệp Hà Nội”
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xâydựng và sử dụng phiếu học tập trong dạy học chương 5, môn chănnuôi trâu, bò ở trường Trung học Nông nghiệp Hà Nội nhằm phát huy tính tíchcực trong học tập của người học, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học mônChăn nuôi trâu, bò
1.3 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Xây dựng và sử dụng PHT hợp lý sẽ phát huy tính chủ động, sáng tạo của
HS Từ đó nâng cao chất lượng và kết quả học tập
Trang 9
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
2.1.1 Trên thế giới
PPDH tích cực xuất hiện từ khá lâu, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XXnhiều nhà giáo dục lỗi lạc như : Petxtacoghi, Dixtervec, John Dewey đã đề cậpđến việc giảng dạy, giáo dục hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của ngườihọc Tư tưởng này một thời đã trở thành trào lưu rộng lớn và được gọi dướithuật ngữ chung là “Cách tiếp cận vào người học” Nổi bật trong trào lưu này là
hệ tư tưởng của John Dewey(1859 – 1952), – nhà giáo dục, triết học thực dụngngười Mỹ Ông cho rằng:” Việc dạy học phải kích thích được hứng thú, phải đểhọc sinh độc lập, tìm tòi, thầy giáo là người thiết kế, người cố vấn” Nhưng ôngchưa đề cập đến “người thiết kế và người cố vấn” phải làm gì để HS có thể chủđộng, tìm tòi được nguồn kiến thức mới.Ở đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh đếnvai trò của người thầy và những công cụ hỗ trợ HS trong học tập
Trong cuốn “Phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh như thếnào”, I.F.Khar-la-mốp (1979) cho rằng học tập là quá trình nhận thức tíchcực trong đó có bước ôn tập kiến thức đã học, đào sâu, hệ thống hoá kiến thức.Việc học tập ở nhà của HS hay việc ôn tập bài cũ có ý nghĩa tích cực không chỉvới việc phát huy tính tích cực của HS mà còn giúp các em củng cố, nắm vữngkiến thức GV cần lựa chọn nội dung, tổ chức các hoạt động ôn tập sao cho HSbiểu lộ tính sáng tạo, đi tới hiểu và nắm vững kiến thức, ví dụ như làm bàitập thực hành, trả lời câu hỏi, viết bài mô tả ngắn gọn về sự kiện lịch sử, dẫn racác ví dụ hoặc sự kiện để chứng minh một kết luận nào đó Ông cũng cho rằng
HS phải tự khám phá kiến thức cho bản thân dù chỉ là “khám phá lại” Sự khámphá này phải thông qua việc sử dụng các bài tập chứ không phải là học thuộclòng
Trang 10Trong quá trình nghiên cứu về các PPDH tích cực các nhà nghiên cứu đãtập trung nghiên cứu về tính tích cực hóa trong quá trình DH, chú ý đến sự hứngthú, những sáng kiến, nhu cầu của HS trong học tập bằng nhiều phương phápkhác nhau như: sử dụng bộ tư liệu DH, sử dụng bài tập, DH giải quyết vấn đề,
DH theo dự án, DH có sử dụng PHT,… để tăng cường khả năng tự học, tìm hiểu
và sáng tạo của HS, giúp HS tự vận động trau dồi kiến thức thông qua hoạt độngtích cực của bản thân Theo đó, vai trò của người GV là người tổ chức, hướngdẫn, dẫn dắt và giúp đỡ HS hướng hoạt động học tập của mình vào sự phát triểntrí tuệ, nhân cách, năng lực, tăng cường khả năng tích cực hóa trong quá trìnhhọc tập hình thành tri thức cho bản thân (Nguyễn Duy Bắc (2012), Phát triểnGiáo dục – Đào tạo và Khoa học – Công nghệ trong thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, Chuyên đề Giáo dục Đào tạo và Khoa học công nghệ,Tạp chí xây dựng Đảng, ngày 5/9/2012)
Như vậy, tư ̀các tài liệu giáo dục học chúng tôi nhận thấy các tác giảnước ngoài đã tập trung nghiên cứu giải quyết những vấn đề chung về việc phát huytính tích cực của HS thông qua những công cụ hỗ trợ học tập của GV
2.1.2 Ở Việt Nam
PPDH tích cực là một trong những xu hướng đổi mới GD quan trọng hiệnnay của nền GD Việt Nam Đó là việc đổi mới PPDH theo hướng tăng cườngthực hành, giúp người học biết cách tự học và hợp tác trong học tập, tích cựcchủ động, sáng tạo trong phát hiện và giải quyết vấn đề, chiếm lĩnh tri thức mới
Ở nước ta, việc áp dụng các PPDH tích cực đã được hình thành và có chủ trươngphát triển từ những năm 60 của thế kỷ XX nhằm đào tạo ra những con người ưu
tú, những lao động có khả năng tư duy độc lập, sáng tạo cao và được coi là mộttrong những phương hướng của cái cách GD tiểu học, được triển khai một cáchmạnh mẽ ở các trường THPT từ những năm 1980 Hiện nay, trong các nhàtrường từ bậc phổ thông đến bậc đại học đều đang chú trọng đổi mới cách dạy,cách học, đa dạng hóa các hình thức tổ chức DH và sử dụng các PTDH hiện đại,
Trang 11áp dụng các PPDH tích cực nhằm phát huy tốt vai trò chủ đạo của người dạy và thúcđẩy hoạt động học của người học (Nguyễn Thị Ngọc Thúy (2004), Giáo dục học đạicương, Bài giảng khoa Sư phạm & Ngoại ngữ, trường ĐHNN Hà Nội).
Trong bài viết “Phiếu học tập – phương pháp dạy học có sử dụng phiếuhọc tập” của tác giả Nguyễn Thị Dung được đăng trên thông tin khoa học giáodục số 45/1994; “Phương pháp sử dụng phiếu học tập trong dạy học Địa lí lớp
10 nhằm phát huy tính tích cực và độc lập của học sinh” của tác giả Đậu ThịHòa, Tạp chí giáo dục số 195/2008, cho biết: Phiếu học tập là công cụ để giáoviên tổ chức hoạt động khai thác và lĩnh hội kiến thức theo hướng định trước củagiáo viên Đây là các nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho đề tài
2.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.2.1 Khái niệm về phương pháp dạy học, phương tiện dạy học
2.2.1.1 Khái niệm về PPDH
Đã có nhiều khái niệm về PPDH như:
1 N.M Veczilin và V.M Coocxunskaia: “Phương pháp dạy học là cáchthức thầy truyền đạt kiến thức, đồng thời là cách thức lĩnh hội của trò”
2 Nguyễn Ngọc Quang (1970): “PPDH là cách thức làm việc của thầy vàcủa trò trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm chotrò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học”
3 Đặng Vũ Hoạt (1971): “PPDH là tổ hợp các cách thức hoạt động củathầy và trò trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo củathầy, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học”
4 Đinh Quang Báo (2000): “PPDH là cách thức hoạt động của thầy tạo ramối liên hệ qua lại với hoạt động của trò để đạt mục đích dạy học”
5 Trần Bá Hoành (2002): “PPDH là con đường, cách thức GV hướng dẫn,
tổ chức chỉ đạo các hoạt động học tập tích cực, chủ động của HS nhằm đạt cácmục tiêu dạy học”
Từ các định nghĩa trên có thể nêu ra mấy nhận xét sau:
Trang 12- PPDH gồm hoạt động của thầy và hoạt động của trò
- Hai hoạt động này có sự tác đông qua lại lẫn nhau
- Trong đó thầy có chức năng chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức hoạt động họctập của trò
- Trên cơ sở đó trò tích cực, chủ động lĩnh hội tri thức cần thiết
- Kết quả tương tác giữa hoạt động của thầy và của trò trong quá trình dạyhọc là đạt được các mục tiêu dạy học đề ra
=> Đó chính là bản chất của PPDH
Như vậy, PPDH là cách thức hoạt động của thầy và trò trong mối liên hệqua lại, thầy giữ vai trò chủ đạo, điều khiển, chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức cáchoạt động học tập của trò một cách tích cực, chủ động nhằm đạt các mục tiêudạy học đề ra
2.2.1.2 Khái niệm PTDH
PTDH là tập hợp những đối tượng vật chất được người thầy giáo sử dụngvới tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS; được HS sửdụng như là nguồn tri thức phong phú, sinh động giúp lĩnh hội tri thức và rènluyện kỹ năng, kỹ xảo PTDH giúp GV có thêm điều kiện thuận lợi để tổ chứccho HS nắm tri thức mới, điều khiển hoạt động của HS, kiểm tra đánh giá kếtquả học tập thuận lợi và có hiệu suất cao hơn
(Giáo trình lý luận dạy học – Nguyễn Thị Ngọc Thúy – Khoa SPNN)
2.2.2 Khái niệm phiếu học tập
Đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và đưa ra định nghĩa về PHT:
Theo Trần Bá Hoành (1996), phiếu hoạt động học tập, gọi tắt là PHT, còngọi là phiếu hoạt động hay phiếu làm việc: “Đây là những tờ giấy rời, in sẵnnhững công tác độc lập hay làm theo nhóm nhỏ, được phát cho HS tự lực hoànthành trong một thời gian ngắn của tiết học Mỗi PHT có thể giao cho HS mộtvài nhiệm vụ nhận thức cụ thể nhằm dẫn tới một kiến thức, tập dượt một kỹnăng, rèn luyện một thao tác tư duy hoặc thăm dò thái độ trước một vấn đề”
Trang 13Theo Đặng Thành Hưng (2002): “PHT là một trong những phương tiệndạy học cụ thể, đơn giản và có khả năng tương thích rất cao với tuyệt đại đa sốngười học thuộc mọi lứa tuổi và trong lĩnh vực học tập Đó là văn bẳn bằng giấyhoặc dạng giấy do GV tự làm, gồm một hoặc một số tờ , có vai trò học liệu để
bổ sung cho sách và tài liệu giáo khoa quy định, có chức năng hỗ trợ học tập vàgiảng dạy vừa như công cụ hoạt động, vừa như điều khiển hoạt động của ngườihọc và người dạy, mà trước hết như một nguồn thông tin học tập”.(Nguồn: Thiết
kế và sử dụng PHT trong dạy học hợp tác)
Nội dung của PHT được thể hiện bằng nhiều dạng ngôn ngữ khác nhau:Chữ viết, chữ in hoa thông thường, con số, biểu tượng logic như hàm số, biểuthức, phương trình, bảng và ma trận, biểu mẫu thống kê, đồ họa, tranh vẽ, ảnh vàcác loại ký hiệu, biểu tượng khác
Sử dụng PHT dạy học là một kỹ thuật dạy học trực tiếp, được áp dụngtrong đa số những chiến lược và biện pháp dạy học hợp tác, dạy học theo nhóm,dạy học tìm tòi và giải quyết vấn đề, dạy học theo dự án và chủ đề tích hợp vànói chung trong các mô hình dạy học hiện đại, hướng vào nguwoif học Sự kếthợp kỹ thuật này với những kỹ thuật dạy học khác trong các kiểu PPDH dựa vàongười học và hoạt động của người học là một trong những hướng nghiên cứuquan trọng nhằm đổi mới quá trình dạy học hiện nay
Dạy học bằng phương pháp tích cực, hoạt động của HS chiếm tỉ trọng cao
so với GV cả về thời gian và cường độ làm việc trên lớp PPDH sử dụng PHTgiao cho cả lớp hoặc từng nhóm vừa bắt buộc HS phải hoàn thành yêu cầu vàđạt được nhiệm vụ nhận thức, tự lực hoạt động trên đối tượng theo chỉ dẫn thôngqua việc hoàn thành PHT trên lớp GV vừa tổ chức, điều khiển, chỉ đạo các hoạtđộng học tập của HS, vừa có thể là trọng tài về kiến thức, trọng tài về đánh giátừng HS, yêu cầu HS hoàn thành nhiệm vụ
Trang 14Như vậy PHT là phương tiện giao tiếp của GV với từng HS tạo được mốiliên hện thường xuyên giữa GV- HS và giữa HS- HS thông qua quá trình thảoluận hoặc báo cáo kết quả để đạt được các nhiệm vụ nhận thức
Sơ đồ 2.1: Mối liên hệ
2.2.3 Cấu trúc chung của PHT
Theo Trần Bá Hoành (1996), PHT bao gồm các phần sau:
Phần chính: bao gồm phần chỉ dẫn và phần nội dung công việc phải
làm của HS
- Phần chỉ dẫn nhiệm vụ cho HS (điều kiện để HS hoàn thành): Phầnnêu những nhiệm vụ cụ thể mà HS cần hoàn thành hay điều kiện để HS có thểhoàn thành PHT Có thể là một câu mệnh lệnh, một sơ đồ, tranh vẽ, bảng số liệu,thí nghiệm,…để HS căn cứ vào đó để hoàn thành nhiệm vụ đặt ra
- Phần công việc phải làm của HS: Phần này có thể là một khoảng trống,một bảng so sánh, một sơ đồ câm hoặc một bảng dữ kiện thiếu,…
Phần phụ kèm theo: họ tên (nhóm), số thứ tự phiếu,thời gian làm, mục
Trang 152.2.4 Chức năng của PHT
Trong quá trình giảng dạy và học tập, căn cứ vào nội dung bài học và sựsáng tạo đầu tư của GV thì PHT có rất nhiều kiểu loại và hình thức khác nhau,nhưng nhìn chung chúng đều có những chức năng giáo dục tương đối chung và cóthể nhận biết được Theo đó, các loại PHT có hai chức năng chính cơ bản như sau:
Chức năng cung cấp thông tin và sự kiện
Theo Đặng Thành Hưng (2004): “Trong PHT có thể là văn bản, biểu sốliệu, hình ảnh, sơ đồ,…tóm tắt hoặc trình bày những cấu trúc nhất định một sốlượng thông tin, dữ liệu hoặc sự kiện xuất phát cần thiết cho người học” Nhữngthông tin, sự kiện này là những thông tin, sự kiện không có trong SGK nhưng cóliên quan tới bài học, GV có thể cung cấp những thông tin này hoặc giới thiệu cho
HS cách tự tìm thông tin, từ đó yêu cầu HS phân tích để rút ra những tri thức cầncho bài học, hoặc để minh họa làm sáng tỏ thêm kiến thức cho bài học
Trong dạy học hợp tác, người học có thể nghiên cứu những tư liệu này theo phươngthức cá nhân trong nhóm, hoặc cộng tác với nhau trong nhóm trên cơ sở phân chia
dữ liệu thành những bộ phận khác nhau cho mỗi thành viên Nếu lượng dữ liệu cầnphải lớn và đa dạng thì người ta tách PHT thành hai phần tương đối riêng nhau.Lúc đó những loại phiếu thực hiện chức năng cung cấp thông tin được gọi là phiếu
sự kiện Nguồn của các thông tin này có thể là sách báo, tạp chí, mạng internet,…
Chức năng công cụ hoạt động và giao tiếp
Theo Đặng Thành Hưng (2004): “PHT còn nêu lên những nhiệm vụ họctập, những yêu cầu hoạt động, những hướng dẫn học tập, những công việc vàvấn đề để người học thực hiện giải quyết Thông qua nội dung và tính chất này
nó thực hiện chức năng công cụ hoạt động và giao tiếp trong quá trình hoạt độnghọc tập của người học” Đây là chức năng quan trọng và được lưu ý, nhấn mạnhhơn chức năng cung cấp thông tin và sự kiện vì nguồn thông tin và sự kiện họctập ngày nay rất phong phú và không khó tìm kiếm đối với HS
Trang 16Theo Nguyễn Đức Vũ (2011) cho rằng: “PHT chứa đựng các câu hỏi, bàitập yêu cầu hoạt động, những vấn đề và công việc để HS giải quyết hoặc thựcnghiệm, kèm theo hướng dẫn, gợi ý cách làm Thông qua các nội dung này, PHTthực hiện chức năng là công cụ hoạt động và giao tiếp trong quá trình học tậpcủa HS”.
Khi chức năng này được trình bày riêng, không lẫn vào với các phiếu sựkiện thì phần PHT đó được gọi là phiếu làm việc Như vậy, phiếu làm việc cũng
là một trường hợp cụ thể của PHT thực hiện chức năng công cụ, trực tiếp hỗ trợcác hoạt động và quan hệ giữa người dạy và người học (GV- HS), tương tác vàchia sẻ giữa người học với nhau và với GV (Đặng Thành Hưng, 2004)
Như vậy, ngoài chức năng cung cấp thông tin và sự kiện, PHT còn thựchiện một chức năng quan trọng hơn đó là công cụ hoạt động và giao tiếp PHT làcông cụ để HS hoạt động theo hình thức cá nhân hay hoạt động theo nhóm PHT
hỗ trợ các hoạt động và quan hệ của người học, tương tác chia sẻ giữ người họcvới nhau và với GV
2.2.5 Vai trò và ý nghĩa thực tiễn của việc sử dụng PHT
Vai trò cơ bản của sử dụng PHT trong DH
Theo Đặng Thành Hưng (2004), vai trò cơ bản của việc sử dụng PHTtrong DH đó là:
- Sử dụng PHT phát huy trí lực của HS: phát triển các kỹ năng: Phântích, so sánh, suy luận, đề xuất giả thuyết, ký năng quy nạp, khái quát hóa nhưcác PPDH tích cực khác
- Phát huy tối đa công tác độc lập trong nhận thức của HS
- Khả năng kết hợp với các PPDH khác là rất lớn: có thể sử dụng PHTtrong dạy học trực quan, thuyết trình, thực hành, vấn đáp, thảo luận,…
- Kích cỡ phiếu nhỏ gọn, dễ sử dụng
- Trong một thời gian ngắn có thể kiểm tra được số lượng lớn HS
Trang 17 Ý nghĩa thực tiễn của việc sử dụng PHT trong DH
Theo quan điểm DH hiện nay kết hợp giữa sử dụng phương tiện dạy họcvới PPDH tích cực để góp phần nâng cao hiệu quả trong DH thì phương tiện dạyhọc giữ vai trò là công cụ trợ giúp cho GV truyền đạt tri thức trong dạy học,cung cấp kiến thức mới, kiểm tra đánh giá và điều khiển hoạt động nhận thứctrong học tập của HS
PHT là một dạng phương tiện dạy học vô cùng hiệu quả, sử dụng PHT làmột kỹ thuật DH được trực tiếp áp dụng trong DH theo nhóm, DH tìm tòi giảiquyết vấn đề, DH theo dự án, DH tích hợp và trong các mô hình Dh hiện đạihướng vào người học, DH lấy người học là trung tâm Sự kết hợp giữa sử dụngphương tiện dạy học là PHT với các loại phương tiện dạy học khác trong cácPPDH tích cực nhằm đạt được mục tiêu đổi mới quá trình DH, đổi mới GD hiệnnay (Đặng Thành Hưng, 2004)
2.2.6 Các dạng PHT thường được sử dụng
Theo Trần Bá Hoành (2000): Trong dạy học nói chung có 6 loại PHTthường được sử dụng, đó là:
PHT phát triển kỹ năng quan sát
Đây là PHT mà GV có thể sử dụng hình vẽ trong SGK, hình tự vẽ hoặc tựlâp sơ đồ, cho HS quan sát vật thật, vật mẫu trên màn hình đèn chiếu, tranh ảnh,quan sát thực tế,… để từ đó rút ra kết luận mới cho bài học Qua PHT này giúpcác em biết cách quan sát phương tiện trực quan để tìm ra kiến thức mới cần lĩnhhội Quan sát nhiều lần sẽ hình thành cho HS một kỹ năng quan sát để giải quyếtmột nhiệm vụ mới
PHT phát triển kỹ năng so sánh
PHT phát triển kỹ năng so sánh là những PHT thường được sử dụng đểcủng cố bài và kiểm tra Muốn hoàn thành PHT dạng này HS phải trải qua phântích, tổng hợp, khái quát hóa các đặc điểm của vấn đề sau đó rút ra đặc điểm
Trang 18giống và khác nhau giữa chúng Qua việc hoàn thành PHT dạng này sẽ dần hìnhthành cho HS một ký năng so sánh, giải quyết nhirjm vụ mà GV đề ra.
PHT phát triển kỹ năng phân tích
PHT phát triển kỹ năng phân tích là PHT yêu cầu phân tích một vấn đề,một SĐ, một quan điểm, một hình vẽ,… mà HS phải hiểu được kiến thức củavấn đề mới có khả năng hoàn thành chính xác yêu cầu của PHT GV có thể sửdụng PHT này để dạy bài mới, củng cố kiến thức và kiểm tra kiến thức
PHT phát triển kỹ năng quy nạp, khái quát hóa
PHT phát triển kỹ năng quy nạp, khái quát hóa là PHT có thể sử dụng đểdạy bài mới, củng cố khắc sâu kiến thức bài học Qua việc hoàn thành PHT dạngnày sẽ hình thành cho HS phương pháp tổng hợp đi từ cái riêng, cái đơn lẻ đếncái chung, cái trừu tượng khái quát
HS lĩnh hội tri thức mới khi tự mình đưa ra nhận xét, tự mình kết luận Từ
đó hình thành cho HS kỹ năng quy nạp, khái quát hóa một vấn đề
PHT này gồm hai dạng:
- Đưa ra bảng số liệu yêu cầu HS nhận xét, kết luận
- HS nghiên cứu tài liệu, đưa ra sơ đồ tóm tắt nội dung nghiên cứu
PHT phát triển kỹ năng suy luận, đề xuất giả thuyết
PHT phát triển kỹ năng suy luận, đề xuất giả thuyết là PHT mà GV đưa rayêu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi HS phải vận dụng kiến thức đã biết, đã tìm hiểu để suyluận hay do GV cho HS quan sát sơ đồ, hình vẽ rồi từ đó đề xuất giả thuyết
PHT phát triển kỹ năng vận dụng kiến thức
PHT phát triển kỹ năng vận dụng kiến thức là PHT yêu cầu HS ứng dụngkiến thức đã học về một vấn đề này để giải quyết một vấn đề khác, vận dụngkiến thức đã học vào thực tiễn và giải thích chứng minh một vấn đề Dạng PHTnày có thể sử dụng với nhiều đối tượng HS khác nhau cho kết quả đa dạng
Trang 19Qua phân tích sơ đồ, hình vẽ
Qua so sánh hai quan điểm, hai học thuyết
Qua so sánh hai quá trình, hai sự vật
Qua tóm tắt một đoạn SGK
sơ đồ
Qua rút ra nhận xét, kết luận
Qua suy luận một vấn đề
Qua đề xuất giả thuyết
Qua chứng minh, giải thích
Qua vận dụng kiến thức thực tiễn
Sơ đồ 2.2: Các dạng PHT
2.2.7 Các hình thức sử dụng PHT
Trong quá trình giảng dạy của GV cần xác định đúng thời điểm cũng nhưcách thức tiến hành tổ chức cho HS hoàn thành PHT, tùy vào nội dung bài họccũng như nội dung và độ dài của PHT mà GV có thể sử dụng PHT để phát chotừng cá nhân hay cho từng nhóm nhỏ hoàn thành PHT
PHIẾU HỌC TẬP
Phát triển
kỹ năng suy luận,
đề xuất giả thuyết
Phát triển
kỹ năng vận dụng kiến thức
Trang 20 Phát cho từng HS
GV phát PHT cho từng HS trong lớp và yêu cầu HS hoàn thành PHT mộtcách độc lập Sử dụng PHT này khi cần đánh giá một cá nhân
Hình thức sử dụng này có những ưu và nhược điểm sau:
- Ưu điểm: đánh giá được chính xác mức độ nhận thức của từng HS,kích thích khả năng tư duy độc lập và sáng tạo của từng HS
- Nhược điểm: do từng HS phải tự hoàn thành PHT của mình nên nhiềukhi kiến thức bị sai lệch và độ chính xác không cao Hơn nữa, mỗi HS khi hoànthành PHT có những ý kiến riêng của bản thân vì thế dẫn đến việc có nhiều đáp
án cho cùng một nội dung, GV khó khăn trong việc tổng hợp ý kiến
Phát cho từng nhóm HS
GV phát PHT cho từng nhóm HS, yêu cầu HS trong nhóm sẽ thảo luậnvới nhau và đưa ra kết luận Sử dụng PHT dạng này khi cần đánh giá từng nhóm
HS về tinh thần hợp tác làm việc tập thể và kết quả làm việc của nhóm
Hình thức sử dụng này có những ưu và nhược điểm sau:
- Ưu điểm: độ chính xác của kiến thức cao do có sự đồng thuận, đónggóp của nhiều thành viên trong nhóm
- Nhược điểm: không đánh giá được chính xác trình độ của từng cá nhântrong nhóm
Do vậy trong từng trường hợp có thể sử dụng hình thức này hay hình thứckhác sao cho phù hợp với nội dung bài dạy và nội dung của PHT
Sơ đồ 2.3: Hình thức sử dụng PHT
Hình thức sử dụng PHT Phát cho từng HS
Phát cho từng nhóm HS
Trang 212.2.8 Biện pháp sử dụng PHT trong dạy học
PHT là công cụ để GV tiến hành tổ chức hoạt động nhận thức cho HSđồng thời là cơ sở để HS tiến hành các hoạt động nhận thức một cách tích cực,chủ động Việc sử dụng PHT có thể được sử dụng trong dạy học bài mới, trong
ôn tập kiểm tra kiến thức Theo đó có thể sử dụng PHT trong các khâu:
PHT sử dụng để dạy bài mới
PHT được sử dụng để phát cho từng HS hoặc theo nhóm nhỏ trước khivào một nội dung, một bài học mới,… cho HS nghiên cứu SGK, tài liệu rồi rút
ra kiến thức cần lĩnh hội thông qua việc hoàn thành những yêu cầu của PHT
PHT sử dụng trong trường hợp này yêu cầu HS:
- Đọc một đoạn SGK, tóm tắt hoặc sơ đồ hóa rồi rút ra kết luận
- Nghiên cứu bảng số liệu, tài liệu rồi khái quát vấn đề
- Quan sát tranh ảnh, hình vẽ, sơ đồ,… rồi rút ra nhận xét
- PHT sử dụng để dạy bài mới nhằm kích thích thái độ tích cực học tậpcủa HS, giúp HS lĩnh hội tri thức mới nhanh chóng, sâu sắc thông qua việcnghiên cứu SGK và tài liệu tham khảo
PHT sử dụng để củng cố kiến thức
PHT dạng này dùng để phát cho HS sau khi đã học xong một đoạn haymột phần bài học, một phần nội dung nào đó
PHT sử dụng trong trường hợp này yêu cầu HS:
- Điền vào sơ đồ câm do GV lập ra
- So sánh, khái quát, kết luận sau khi học xong một nội dung
- Sơ đồ hóa nội dung bài học
- Phân tích một sơ đồ hay một nội dung nào đó
- Vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn
PHT dạng này sẽ giúp HS khắc sâu kiến thức, đánh giá được mức độ lĩnhhội kiến thức của HS và quá trình DH của GV
Trang 22 PHT sử dụng để kiểm tra
PHT dạng này được phát cho HS khi cần kiểm tra lấy điểm (5 phút, 15phút, 45 phút, kiểm tra chất lượng)
PHT sử dụng trong trường hợp này yêu cầu HS:
- Điền vào sơ đồ câm
- Phân tích sơ đồ, hình vẽ SGK rồi rút ra nhận xét, kết luận
- Nghiên cứu SGK rồi so sánh, tóm tắt kiến thức
- Vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn
Nếu sử dụng PHT dạng này có thể kiểm tra ngay trong bài sẽ giúp đánhgiá được mức độ tiếp thu kiến thức của HS, từ đó giúp GV điều chỉnh quá trìnhdạy học trong những tiết tiếp theo cho phù hợp, đạt kết quả cao Kiểm tra còngiúp cho HS rèn luyện kỹ năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa kiến thức,…
Nếu sử dụng PHT để kiểm tra bài cũ vào lúc đầu giờ sẽ đánh giá đượcmức độ tiếp thu kiến thức của HS ở tiết dạy trước đó, giúp HS phát triển khảnăng phân tích, tổng hợp, so sánh,… một cách tổng quát lại kiến thức Đó là cơ
sở dẫn dắt HS tiếp thu những kiến thức tiếp theo của bài giảng mới
Trang 23Sơ đồ 2.4: Biện pháp sử dụng PHT 2.2.9 Một số lưu ý khi sử dụng PHT trong dạy học
Biện pháp sử dụng PHT
Sử dụng
để dạy bài mới
Sử dụng
để kiểm tra
Sử dụng
để củng
cố, nâng cao
Trang 24- Trong trường hợp cơ sở vật chất còn thiếu đặc biệt là khâu in các PHT,những PHT không có hình vẽ, không có tranh ảnh sơ đồ,… thì GV có thể đọccho HS ghi vào vỏ hay chép lên bảng cho HS làm.
- Phải dự kiến được những khó khăn HS có thể gặp phải khi hoàn thànhPHT để tìm ra những gợi ý chủ yếu đồng thời phải tránh những gợi ý quá tỉ mỉ,
kỹ càng làm hạn chế năng lực hoạt động sáng tạo của HS
- Tùy từng trường hợp cụ thể mà sử dụng PHT cho cá nhân, cho nhómhay cho cả lớp
- Cần hướng dẫn HS cách hoàn thành PHT và khi hết thời gian quy địnhthì GV sẽ thu phiếu, gọi HS đưa ra đáp án Từ kết quả của PHT, GV sẽ nhận xét
và tổ chức cho HS đưa ra đáp án đúng
- Đánh số thứ tự cho mỗi PHT để tiện cho việc sử dụng
- Tùy vào từng điều kiện cụ thể có thể sử dụng toàn bộ PHT hay sử dụngmột phần PHT
- GV sau khi đưa ra kiến thức cho HS cần tổng kết lại nội dung và cónhững nhận xét và đánh giá kịp thời để động viên khích lệ HS tạo sự hứng thúkhi tham gia làm những PHT tiếp theo trong quá trình học tập
- Phân tích nội dung học tập
- Định hướng phương pháp, kỹ thuật, biện pháp và hình thức DH
Trang 25- Nhận thức được môi trường và các điều kiện học tập, cách thức tổ chứccác PHT thành một hệ thống cho phù hợp.
- Xác định rõ ràng vấn đề hay nhiệm vụ học tập chủ yếu của bài học.Căn cứ vào ý tưởng đã xác định, căn cứ vào nội dung bài học, GV địnhhướng để thiết kế và xây dựng hướng sử dụng PHT trong dạy học GV tiến hànhphân tích cấu trúc nội dung, lựa chọn những nội dung chính, chủ yếu, nhữngphần kiến thức cần nhấn mạnh, phân loại kiến thức và xác định rõ ràng nhiệm vụhay vấn đề nào là chủ yếu trong bài Qua đó giúp GV định hướng được quá trình
DH của mình sẽ hướng vào nội dung nào, PHT sử dụng trong bài cho những nộidung đó có thể là phiếu dạng nào, phát triển kỹ năng nào
Sau khi đã phân tích và lựa chọn được nội dung chính của bài, nội dung
có thể xây dựng PHT, GV đề xuất mục tiêu cho PHT, có thể là PHT phát triển kỹnăng quan sát, vận dụng, so sánh, khái quát hóa, phân tích hay suy luận GVphải căn cứ vào nội dung bài học cũng như đặc điểm của lớp học để đề ra mụctiêu phù hợp với năng lực hoạt động học tập của HS
Bước 2: Xác định cách trình bày nội dung học tập và hình thức thể hiện nội dung trong PHT
Xác định mục tiêu bài học từ đó xây dựng ý tưởng ngay từ đầu và nộidung của phiếu là việc cụ thể hóa và làm cho ý tưởng đó chính xác hơn trong nộidung PHT Tương ứng với các nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra cần HS giải quyết thìphải cung cấp cho HS những tư liệu và sự kiện gì, HS phải làm những thínghiệm nào, cần hoàn thành những bài tập lý thuyết nào,… từ đó tổ chức bố trí
bộ phiếu sao cho phù hợp nhất về mặt nội dung, logic, cấu trúc và kỹ thuật
Việc phân bố những sự kiện và công việc trong PHT cần được kết hợpmột cách nhuần nhuyễn với việc lựa chọn hình thức biểu hiện Có những dữliệu, sự kiện nên được trình bày bằng văn bản bình thường, có loại nên đưa vào
sơ đồ, biểu mẫu, hình ảnh hoặc thậm chí cả công cụ media Hình thức biểu đạt
Trang 26công việc trong PHT cũng cần được lựa chọn: Đó có thể là bài tập thực hành,bài tập xử lý tình huống, yêu cầu giải quyết vấn đề, có thể là bài viết báo cáo,viết tham luận, viết bản tổng kết, làm đồ dùng học tập, chế tạo sản phẩm, thựchiện bài kiểm tra (test), nhận xét hoặc đánh giá quá trình hay sự vật nhất định,tổng quan hoặc tập hợp dữ liệu, nêu giả thuyết hoặc tư tưởng, quan sát và ghichép hiện tượng,… Từ đó tổ chức bộ phiếu sao cho thích hợp nhất về mặt nộidung, logic, cấu trúc, kỹ thaaujt và đặc điểm chung của lớp học.
Bước 3: Tập hợp thông tin, dữ liệu và sự kiện
Các nguồn thông tin, dữ liệu và sự kiện có thể sử dụng là sách hướng dẫngiảng dạy, sách hướng dẫn học tập, nhật báo, tạp chí chuyên ngành, tạp chí khoahọc- giáo dục, niên giám thống kê, các tài liệu của đề tài nghiên cứu và dự ánphát triển trong những lĩnh vực tương ứng,… Có thể cắt, chụp trích đoạn cóchọn lọc, có thể tập hợp các dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau thành một tài liệu
để đưa vào PHT, có thể sử dụng nguyên mẫu một số tài liệu khoa học, nghệthuật hoặc công nghệ để xây dựng nội dung phiếu GV cần tìm hiểu những thôngtin, dữ liệu từ bên ngoài nhằm bổ sung kiến thức cho HS, hệ thống kiến thứctheo bài, theo chuyên đề hay hệ thống thành khái niệm, mô hình PPDH theo dựkiến đã đề ra Việc tập hợp các dữ liệu cần trung thành với ý tưởng ban đầu vàvừa đủ lượng để HS có đủ thông tin để hoàn thành PHT vừa có thể khuyến khích
HS tham gia thảo luận và nghiên cứu tìm tòi đưa ra kiến thức mới
Theo đó, căn cứ vào những điều cần cho yêu cầu của PHT mà HS phảihoàn thành GV xác định được đáp án cho những câu hỏi đặt ra, xem xét và đưa
ra kết luận về sự phù hợp giữa những điều cần cho, những sự kiện và công việc
đề ra (yêu cầu) với mục tiêu và thời gian đã xác định trước đó
Bước 4: Trình bày PHT
Ở bước này, sau khi đã đề xuất được mục tiêu, xác định được yêu cầu vàkết luận của PHT, GV tiến hành phân bố những sự kiện, công việc trong PHT
Trang 27theo logic cấu trúc chung của PHT Ngôn ngữ sử dụng trong PHT phải chínhxác, dễ hiểu để HS hiểu đúng yêu cầu và đưa ra đúng câu trả lời, hình thức củaphiếu phải đa dạng để tạo được hứng thú học tập của HS.
Sau khi đã xây dựng được PHT theo đúng mục tiêu và phù hợp với nộidung bài học, GV tiến hành kiểm tra lại PHT về hình thức trình bày, khoảngtrống cho HS điền thông tin và trả lời câu hỏi , sự phù hợp giữa mục tiêu với yêucầu của phiếu, lượng thông tin cung cấp và khả năng khuyến khích HS tham giahoạt động thảo luận, nghiên cứu tìm tòi kiến thức, phát huy tối đa công tác độclập trong nhận thức của HS
Bước 5: Chuẩn bị những lập luận, câu hỏi và nhận xét để chỉ đạo và điều chỉnh quá trình học tập
Đây là sự kết hợp sử dụng PHT với những kỹ thuật quản lý lớp, kỹ thuật
sử dụng lời nói và câu hỏi trên lớp Trong PHT có thể có những sự kiện, tìnhhuống và vấn đề nan giải, khó hiểu mà thiếu những lập luận và kiến giải sâu sắccủa GV trong những trường hợp này thì quá trình học tập của HS có thể rơi vàotình trạng bế tắc hoặc chệch hướng hoặc ít nhất cũng gây lãng phí thời gian,giảm sút hiệu quả học tập của HS
GV phải là người có khả năng và biết cách xử lý khéo léo các tình huốngxảy ra đột ngột và bất ngờ Tuy nhiên không phải là ngay lúc đó GV phải giảiđáp đúng toàn bộ các thắc mắc của HS, là biết làm mọi việc HS không làmđược, là việc đưa ra những kết luận hoàn toàn chuẩn xác, phát biểu đánh giáhoàn toàn thuyết phục mà ý nghĩa của việc xử lý này là thúc đẩy việc học tậpcủa HS, hỗ trợ quá trình học tập tiến theo hướng tích cực, phá vỡ sự bế tắc trongviệc giải quyết vấn đề và quan trọng hơn hết đó là thúc đẩy khuyến khích sựmạnh dạn của HS trong suy nghĩ, hành động và biết phê phàn phê bình sâu sắchơn HS được động viên khám phá những kiến thức ngoài kiến thức sách vở, có
cơ hội tích lũy những kiến thức từ bên ngoài, bổ sung cho mình khả năng làmviệc, học tập và tư duy độc lập
Trang 282.3 MỤC TIÊU, CẤU TRÚC NỘI DUNG CHƯƠNG 5
2.3.1 Hệ thống hóa kiến thức chương 5- Chăn nuôi trâu, bò
I CHĂN NUÔI TRÂU, BÒ ĐỰC GIỐNG
1 Ý nghĩa và tầm quan trọng
2 Phương pháp nuôi dưỡng
2.1 Tiêu chuẩn và khẩu phần ăn
2.1.1 Nhu cầu dinh dưỡng
Trang 29II CHĂN NUÔI TRÂU, BÒ CÁI
1 Đặc điểm sinh lý sinh sản của trâu, bò cái giống
1.1 Giới thiệu các hocmon sinh sản
Hypothalamus: LH- RH (Gen RH), TRH, prolactin, OcytoxinThùy trước tuyến yên: FSH, LH, Prolactin
Nhau thai: Lactogen nhau thai, protein B
Tuyến sinh dục: Estrogen, Progesteron, Androgen, Inhibin
Tử cung: PGF2α, Relaxin
1.1 Sự thay đổi gần đây về khái niệm hocmon
1.2 Sự điều hòa chức năng sinh sản bởi các nhân tố sinh trưởng1.3 Cơ chế tác động và thể tiếp nhận hocmon
2 Đặc điểm sinh lý sinh sản
2.1 Tuổi thành thục về tính
2.2 Chu kỳ động dục và xác định thời điểm dẫn tinh thích hợp2.2.1 Chu kỳ động dục của trâu, bò
- Giai đoạn trước động dục
- Giai đoạn chịu đực
- Giai đoạn sau chịu đực
- Giai đoạn cân bằng
2.2.3 Xác định thời điểm phối giống thích hợp
3 Một số biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của trâu, bò cái3.1 Phát hiện động dục
3.2 Phòng trị bệnh sinh sản
Trang 303.3 Sử dụng kích tố sinh dục
4 Nuôi dưỡng và chăm sóc trâu, bò sinh sản
4.1 Đặc điểm sinh lý sự phát triển của bào thai
4.1.1 Thụ thai
- Thụ thai là sự thụ tinh thành công của một trứng bởi một tinh trùng saukhi rụng trứng
- Sự thụ tinh cần xảy ra trong vòng 6h sau khi rụng trứng
- Mang thai là giai đoạn có chửa, bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh và kếtthúc bằng sự đẻ
- Có 3 giai đoạn tách biệt trong sự phát triển của bào thai gồm:
+ Giai đoạn phân chia
+ Giai đoạn biệt hóa
+ Giai đoạn sinh trưởng
4.1.2 Trâu, bò chửa và chăm sóc nuôi dưỡng
- Thời gian mang thai trung bình của trâu, bò cái
- Sự thay đổi của trâu, bò mẹ ở giai đoạn mang thai
4.2 Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng trâu, bò mang thai
- Chăm sóc
+ Cần thường xuyên giữ gìn vệ sinh thân thể, không để phân và bùn dínhvào gia súc
Trang 31+ Bò cày kéo cho nghỉ làm việc trước và sau khi đẻ 1 tháng
+ Bò sữa phải được cạn sữa trước khi đẻ 45-60 ngày
+ Trâu, bò chửa cuối giai đoạn 2 phải được nhốt riêng, chăn thả ở bãi gầnbằng phẳng
+ Chuồng trại sạch sẽ, yên tĩnh, không trơn
4.3 Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng trâu, bò đẻ
4.3.1 Đặc điểm sinh lý khi trâu, bò đẻ
- Đẻ là quá trình sinh lý đưa thai đã thành thục theo đường sinh dục con
mẹ ra ngoài
- Đặc điểm sinh lý khi trâu, bò đẻ:
+ Hàm lượng progesterone giảm mạnh còn oestrogen tăng lên làm tử cungtăng tính mẫn cảm với oxytoxin
+ Nhau thai tiết Relaxin làm giãn dây chằng xương chậu, mở cổ tử cung.+ Ngoài ra, hàm lượng axetilcolin và hormonr tuyến yên cơ thể tăng.4.3.2 Những trạng thái khi đẻ
Chia làm 3 thời kỳ
- Thời kỳ mở cửa
- Thời kỳ đẻ
- Thời kỳ ra nhau
4.3.3 Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng trâu, bò đẻ
- Trước khi đẻ 5-10 ngày cần chuyển chuồng và chuẩn bị cho trâu, bò đẻphải khô ráo, có độn chuồng và có người trực đẻ
- Giảm thức ăn tinh và thức ăn nhiều nước
- Trong thời gian đẻ, cần cẩn thận trước khi đỡ đẻ, tránh thô bạo gây tổnthương đường sinh dục, xử lý kịp thời các tai biến khi đẻ như tê liệt, sốt sữa, lộn
tử cung
Trang 325 Kỹ thuật nuôi bê, nghé theo mẹ
5.2 Sữa đầu
- Trong sữa đầu, lượng protein cao gấp 5 lần sữa thường
- Vitamin A và D cao gấp 5 lần, khoáng cao gấp 2 lần Đặc biệt, sữa đầu cóhàm lượng globin (kháng thể) cao có tác dụng làm tăng sức đề kháng của bê, nghé
- Trong sữa đầu còn có hàm lượng MgSO4 cao tạo thành chất tẩy nhẹ đểđẩy cứt su ra ngoài
5.3 Nuôi dưỡng và chăm sóc bê, nghé
5.3.1 Đặc điểm tiêu hóa của bê, nghé non
5.3.2 Nuôi dưỡng
5.3.3 Chăm sóc
6 Kỹ thuật nuôi bê nghé hậu bị
6.1 Tiêu chuẩn ăn của bê, nghé hậu bị
6.2 Giai đoạn 7-12 tháng tuổi
Bê, nghé ăn một lượng thức ăn tinh khoảng 0,6- 1,0 kg/con/ngày
Thức ăn xanh được cung cấp đủ hoặc chăn thả tự do
Mùa khô chú ý bổ sung thêm thức ăn tại chuồng
Cần đảm bảo bê, nghé ăn được 8-12kg thức ăn thô xanh/con/ngày
6.3 Giai đoạn 1-2 năm tuổi
Bê, nghé được nuôi hoàn toàn bằng thức ăn xanh thô hoặc chỉ chăn thảtùy theo trạng thái bãi chăn
Trang 33Cần đảm bảo bê, nghé ăn được 18-20kg thức ăn thô xanh/con/ngày.
Có thể cho ăn thêm lượng thức ăn tinh là 0,4-0,5 kg/con/ngày
Bê, nghé phải được tắm chải, vận động thường xuyên hàng ngày
6.4 Giai đoạn 2-3 năm tuổi
- Trâu, bò phải thu nhận khoảng 20-22kg cỏ/con/ngày
- Cho trâu, bò vận động thường xuyên hàng ngày và chú ý cho tiếp xúcgiữa trâu, bò đực với trâu, bò cái
- Chú ý theo dõi phát hiện động dục hàng ngày để phối giống kịp thời
7 Các nhân tố ảnh hưởng đến chăn nuôi trâu, bò sinh sản
- Phối giống trục tiếp cần sử dụng con đực khỏa mạnh, tính năng tốt
- Thụ tinh nhân tạo chỉ sử dụng tinh của những con đực có hoạt lực 60%trở lên
Trang 347.6 Kỹ thuật phối giống
- Khi thụ tinh nhân tạo cần thực hiện đúng thời điểm dẫn tinh thích hợp đểnâng cao tỷ lệ thụ thai
- Khi phối giống trực tiếp cần chọn những con đực khỏe mạnh có tínhhăng cao và tuổi thấp
- Cần tránh hiện tượng đồng huyết
7.7 Ảnh hưởng mùa vụ
- Chức năng sinh sản của bò không chịu ảnh hưởng của mùa vụ
- Chức năng sinh sản của trâu mang tính thời vụ rõ rệt, tập trung vào mùathu đông và hạn chế vào mùa hè
2.3.2 Mục tiêu dạy học chính của chương 5
- Về kiến thức
+ Khái quát được ý nghĩa và tầm quan trọng của chăn nuôi trâu, bò đựcgiống
+ Trình bày được phương pháp nuôi dưỡng trâu, bò đực giống
+ Trình bày được các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất tinh của trâu, bòđực giống
+ Trình bày được các Hocmon sinh sản
+ Nêu được các đặc điểm sinh lý sinh sản của trâu, bò cái
+ Nêu được các biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của trâu, bò cái+ Trình bày được kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc trâu, bò sinh sản
+ Nêu được kỹ thuật nuôi bê, nghé theo mẹ và bê, nghé hậu bị
+ Trình bày được các nhân tố ảnh hưởng đến trâu, bò sinh sản
- Về kỹ năng
+ Rèn luyện được kỹ năng quan sát, so sánh, khái quát hóa
+ Phát triển được kỹ năng suy luận, vận dụng
+ Vận dụng được kiến thức đã học để xây dựng quy trình chăn nuôi trâu,
bò đực giống, trâu, bò sinh sản
Trang 35- Về thái độ
+ Có ý thức vận dụng những kiến thức đã học vào trong chăn nuôi tại giađình, địa phương
+ Hình thành hứng thú, niềm tin vào chăn nuôi trâu, bò sinh sản nói riêng
và Chăn nuôi trâu, bò nói chung
2.3.3 Quan hệ giữa kiến thức cơ sở và kiến thức kỹ thuật trong chương 5: Chăn nuôi trâu bò sinh sản
* Kiến thức cơ sở
Kiến thức cơ sở là những kiến thức mà dựa vào đó để hình thành các biệnpháp kỹ thuật Kiến thức cơ sở luôn đóng vai trò là căn cứ để xây dựng các biệnpháp kỹ thuật Nội dung kiến thức cơ sở trong chương 5: Chăn nuôi trâu, bò sinhsản:
- Ý nghĩa và tầm quan trọng của chăn nuôi trâu, bò đực giống
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất tinh của trâu, bò đực giống
- Đặc điểm sinh lý sinh sản của trâu, bò cái giống
- Tuổi thành thục về tính và chu kỳ động dục của trâu, bò
- Sự thụ thai và những biến đổi của cơ thể gia súc mẹ khi mang thai
- Đặc điểm sinh lý sự phát triển của bào thai
- Sự đẻ và những trạng thái khi gia súc mẹ đẻ
- Đặc điểm dinh dưỡng của sữa đầu
- Đặc điểm tiêu hóa của bê, nghé non
- Tiêu chuẩn ăn của bê, nghé hậu bị
- Các nhân tố ảnh hưởng đến chăn nuôi trâu, bò sinh sản
* Kiến thức kỹ thuật
Kiến thức kỹ thuật là những kiến thức về các biện pháp nuôi dưỡng, chămsóc trâu, bò sinh sản Những kiến thức kỹ thuật thực chất là hệ quả của các kiếnthức cơ sở Hai loại kiến thức này có mối quan hệ với nhau như nguyên nhân và
Trang 36kết quả Nội dung kiến thức kỹ thuật trong chương 5: Chăn nuôi trâu, bò sinhsản
- Chăm sóc, quản lý và sử dụng trâu, bò đực giống
- Các phương pháp phát hiện động dục
- Xác định thời điểm dẫn tinh thích hợp
- Biện pháp kỹ thuật nâng cao khả năng sinh sản của trâu, bò cái
- Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng trâu, bò mang thai
- Kỹ thuật nuôi dưỡng trâu, bò đẻ
- Kỹ thuật nuôi bê, nghé theo mẹ
- Kỹ thuật nuôi bê, nghé hậu bị
2.3.4 Cấu trúc nội dung, mục tiêu chương 5
Bài 1: Chăn nuôi trâu, bò
đực giống
- Ý nghĩa và tầm quantrọng của chăn nuôi trâu,
bò đực giống
- Nhu cầu dinh dưỡng vàkhẩu phần ăn của trâu, bòđực giống
- Chăm sóc trâu, bò đựcgiống
- Các yếu tố ảnh hưởngđến sức sản xuất tinh củatrâu, bò đực giống
- Khái quát được ý nghĩa
và tầm quan trọng củachăn nuôi trâu, bò đựcgiống
- Nêu được sự khác nhau
về nhu cầu dinh dưỡngtùy thuộc vào giống, mức
độ khai thác tinh
- Phát triển KN quan sát,phân tích và khái quáthóa
- Trình bày được các yếu
tố ảnh hưởng đến sức sảnxuất tinh của trâu, bò đựcgiống
- HS vận dụng được
Trang 37trong chăn nuôi tại giađình, địa phương
Bài 2: Đặc điểm sinh lý
sinh sản của trâu, bò cái
- Cơ chế tác động và thểtiếp nhận Hocmon
- Phát biểu được kháiniệm về Hocmon và sựthay đổi gần đây của kháiniệm Hocmon
- Trình bày được tácdụng của một số Hocmonsinh sản
- Giải thích được cơ chếtác động và thể tiếp nhậnHocmon
- Trình bày được sự điềuhòa chức năng sinh sảnbởi các nhân tố tăngtrưởng
- Phát triển KN so sánh,phân tích
Bài 3: Hoạt động chu kỳ
tính và một số biện pháp
nâng cao khả năng sinh
sản của trâu, bò cái giống
- Tuổi thành thục về tính
- Chu kì động dục củatrâu, bò
- Các phương pháp pháthiện động dục
- Xác định thời điểmphối giống thích hợp
- Một số biện pháp nângcao khả năng sinh sảncủa trâu, bò cái
- Trình bày được tuổithành thục về tính
- Minh họa được các giaiđoạn trong chu kỳ độngdục của trâu, bò
- Nêu được các phươngpháp phát hiện động dục
và xác định thời điểmphối giống thích hợp.-Phát triển KN tổng hợp,
Trang 38suy luận
- HS vận dụng phát hiệnđược hiện tượng trâu, bòđộng dục tại gia đình.Bài 4: Nuôi dưỡng và
chăm sóc trâu, bò sinh
sản
- Sự thụ thai
- Quá trình hợp tử làm tổtại tử cung và sự hìnhthành thể vàng
- Kỹ thuật chăm sóc,nuôi dưỡng trâu, bòmang thai
- Đặc điểm sinh lý vànhững trạng thái khi trâu,
bò đẻ
- Kỹ thuật chăm sóc,nuôi dưỡng trâu, bò đẻ
- Trình bày được kháiniệm sự thụ thai và cácgiai đoạn phát triển củabào thai
- Giải thích được sự hìnhthành thể vàng và nguyênnhân gây hiện tượng
“chửa giả” ở trâu, bò cái
- Trình bày được kỹ thuậtchăm sóc, nuôi dưỡngtrâu, bò mang thai
- Trình bày được nhữngđặc điểm sinh lý và trạngthái khi trâu, bò đẻ
- Nêu được kỹ thuậtchăm sóc, nuôi dưỡngtrâu, bò đẻ
- Phát triển KN so sánh,suy luận
- Hình thành thái độ tíchcực tham gia công tácnuôi dưỡng và chăm sóctrâu, bò
Bài 5: Kỹ thuật nuôi bê, - Thao tác đỡ đẻ bê, nghé - Trình bày được các thao
Trang 39nghé theo mẹ - Đặc điểm dinh dưỡng
của sữa đầu
- Đặc điểm tiêu hóa của
- Trình bày được đặcđiểm tiêu hóa của bê,nghé non
- Phát triển KN suy luận,khái quát hóa
- Có ý thức vận dụng vàothực tế
Bài 6: Kỹ thuật nuôi bê,
nghé hậu bị và các nhân
tố ảnh hưởng đến chăn
nuôi trâu, bò sinh sản
- Tiêu chuẩn ăn của bê,nghé hậu bị
- Kỹ thuật nuôi bê, nghé
ở giai đoạn 7-12 thángtuổi
- Kỹ thuật nuôi bê, nghé
ở giai đoạn 1-2 năm tuổi
- Kỹ thuật nuôi bê, nghé
ở giai đoạn 2-3 năm tuổi
- Các nhân tố ảnh hưởngđến chăn nuôi trâu, bòsinh sản
-Trình bày được tiêuchuẩn ăn của bê, nghéhậu bị có liên quan đếnyêu cầu của từng hướng
sử dụng
- Trình bày được kỹ thuậtnuôi bê, nghé hậu bị ởcác giai đoạn 7-12 thángtuổi, 1-2 năm tuổi, 2-3năm tuổi
- Nêu được các nhân tốảnh hưởng đến chăn nuôitrâu, bò sinh sản
- Phát triển KN khái quáthóa
- Hình thành ở HS sự
Trang 40hứng thú với chăn nuôi
bê, nghé hậu bị
- Qua phân tích cấu trúc nội dung và những kiến thức liên quan, tôi nhận
thấy nội dung kiến thức chương 5 có tính logic cao Những kiến thức của bài
trước là tiền đề cho kiến thức bài sau, giúp HS lĩnh hội dễ dàng và hệ thống hơn.Nội dung của kiến thức cơ sở và kiến thức kỹ thuật cũng rất phù hợp để xâydựng và sử dụng PHT trong dạy học