Tuy nhiên, ngành chăn nuôi bò sữa phải đặt ramục tiêu làm sao sản xuất ra nhiều sữa với chất lượng cao để đáp ứng tiêu chuẩnthu mua của các nhà máy chế biến sữa từ đó làm tăng thu nhập c
Trang 1LỜI CÁM ƠN
Sau những năm học tập và rèn luyện tại Trường Học Viện NôngNghiệp Việt Nam đến nay em đã hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình Để hoànthành đề tài tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự giúp
đỡ chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo khoa Thú y –Trường Học Viện NôngNghiệp Việt Nam Ban giám đốc và toàn thể cán bộ công nhân viên tại trungtâm giống và chuyển giao kỹ thuật bò sữa Mộc Châu thuộc Công ty Cổ phầnGiống Bò sữa Mộc Châu đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trìnhhọc tập và thực hiện đề tài
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Nguyễn Bá Tiếp Trưởng bộmôn Giải Phẫu - Tổ Chức, Khoa Thú y - Trường Học Viện Nông Nghiệp ViệtNam; BS Thú y Lê Văn Hùng – Phó giám đốc trung tâm giống và chuyển giao
kỹ thuật bò sữa Mộc Châu; BS Thú y Đinh Văn Chủ đã trực tiếp hướng dẫn emtrong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoaThú y và em xin chân thành cảm ơn sự đóng góp quý báu của thầy, cô giáo trong
Bộ môn Giải Phẫu - Tổ Chức, Khoa Thú Y, Trường Học Viện Nông NghiệpViệt Nam Cuối cùng em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùngtoàn thể bạn bè đã động viên giúp đỡ em trong suốt những năm học đại học vàhoàn thành tốt đề tài này
Hà Nội, Ngày 09 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Vũ Duy Thuận
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Trang 5PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, chạy theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa mà đời sống kinh tế phát triển mạnh kéo theo nhu cầu về cuộc sông cũngnhư nhu cầu về số lượng và chất lượng thực phẩm ngày càng nâng cao Mộttrong những thực phẩm có giá trị dinh dưỡng, dễ hấp thu và được người tiêudùng quan tâm đó là sữa mà chủ yếu là sữa bò Ở nước ta, nghề chăn nuôi bòsữa ngày càng phát triển, nó nhằm cung cấp một lượng lớn sữa cho nhu cầu củacuộc sống
Sữa bò là một sản phẩm có giá trị trong đời sống hàng ngày không thểthiếu được ở các quốc gia phát triển Mà Việt Nam là nước đang phát triển nênnhu cầu của khách hàng ngày càng tăng Bởi vậy mà sẽ có những yêu cầu về sốlượng và chất lượng sữa phải đảm bảo để có thể đáp ứng được thị trường Sảnphẩm sữa đã làm phong phú thêm các mặt hàng thực phẩm, thoả mãn nhu cầucủa người tiêu dùng, góp phần đem lại lợi nhuận kinh tế cho người chăn nuôi
Để đáp ứng được nhu cầu về sữa ngày một tăng, từng bước thay dần sữanhập ngoại bằng sữa được sản xuất trong nước nhằm tiết kiệm ngoại tệ, đồngthời tạo việc làm cho người dân Tuy nhiên, ngành chăn nuôi bò sữa phải đặt ramục tiêu làm sao sản xuất ra nhiều sữa với chất lượng cao để đáp ứng tiêu chuẩnthu mua của các nhà máy chế biến sữa từ đó làm tăng thu nhập cho gia đình.Muốn đạt được mục tiêu này, người chăn nuôi phải chăm sóc đàn bò thật tốt vớikhẩu phần ăn đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng, quản lý chuồng trại tốt, môitrường sạch sẽ, vệ sinh và áp dụng đúng các biện pháp kỹ thuật nhằm tăngcường sức khỏe để bảo vệ đàn bò sữa chống lại các tác nhân gây bệnh
Do đặc điểm của giống bò sữa cao sản được nhập vào nuôi thuần chủnghay lai tạo có sức đề kháng không cao nên khả năng thích ứng với điều kiện tự
Trang 6nhiên, khí hậu ở nước ta không tốt Bởi vậy, bò sữa rất dễ mắc nhiều loại bệnhnhư: viêm tử cung, viêm vú, sát nhau, kí sinh trùng máu, sán lá gan, sẩy thai,thai gỗ… Nhưng trong những bệnh hay gặp trên đàn bò sữa thì bệnh viêm vúđược coi là một trong số những bệnh khá phổ biết và gây thiệt hại lớn về kinh tếđối với các nông hộ, cũng như là các trang trại, xí nghiệp vì nó làm giảm sảnlượng sữa và chất lượng sữa Bên cạnh đó, bệnh viêm vú không chỉ làm giảmsản lượng sữa, chất lượng sữa mà còn gây nhiều thiệt hại lớn như: bò mẹ bị loạithải do viêm vú nặng không còn khả năng tiết sữa, sữa hỏng phải loại bỏ, chi phícho thuốc điều trị, dịch vụ thú y… Đặc biệt ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêudùng Tại Việt Nam, trong thời gian gần đây viêm vú trên các đàn bò sữa đangrất được nhiều người quan tâm, để góp phần bảo vệ và phát triển các đàn bò sữa
ở Việt Nam thì cần hạn chế dịch bệnh và tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
bò sữa cho bà con nông dân và để bảo vệ sức khỏe của người tiêu dùng
Từ lâu huyện Mộc Châu của tỉnh Sơn La đã nổi tiếng với những thảonguyên cỏ mênh mông quanh năm tươi tốt và chính nơi đây là chiếc nôi củangành chăn nuôi bò sữa Việt Nam Nghề chăn nuôi bò sữa đã tạo nên diện mạonông thôn mới trù phú tại vùng cao nguyên này Hiện tại số lượng đàn bò sữa ởMộc Châu tăng lên hằng năm và năng suất sữa ngày càng đạt chất lượng cao vớinăng suất trung bình 23,5kg/con/ngày Tổng dàn lên đến 20.000 con và chủ yếu
đk nuôi tại hộ gia đình, Nhằm đạt mục tiêu đến năm 2020, phát triển đàn bò sữatại Mộc Châu lên 35.000 con, chiếm 35% tổng số đàn bò ở Việt Nam, Công ty
cổ phần giống bò sữa Mộc Châu (Mộc Châu Milk) tiếp tục xây dựng thêm batrung tâm giống Bình quân mỗi trung tâm đạt khoảng 1.000 con bò, tăng quy
mô hộ nuôi bình quân từ 35 đến 50 con bò, trong đó có khoảng 25% số hộ nuôi
từ 80 đến 100 con Để thực hiện được mục tiêu trên công ty cũng như ngườichăn nuôi phải trải qua không ít khó khăn, khó khăn lớn nhất hiện nay là hạn chế
tỉ lệ bò chết, thải Nguyên nhân chính là một số bệnh trên đàn bò gây tổn thất
Trang 7lớn như: bệnh nội khoa, bệnh ngoại khoa, bệnh kí sinh trùng, bệnh sản khoa,bệnh viêm vú.
Xuất phát từ thực trạng trên thì chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :
“Điều tra tình hình bệnh viêm vú ở đàn bò sữa nuôi tại trung tâm giống và chuyển giao kỹ thuật bò sữa Mộc Châu và thử nghiệm một số phác đồ điều trị”.
1.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Trong quá trình thực tập tại Trung tâm giống và chuyển giao kỹ thuật bò sữa
đã tạo điều kiện cho em được tiếp súc với thực tế sản xuất, từ đó nâng cao tầm hiểubiết về nghề nghiệp của mình, trau dồi củng cố những kiến thức đã học; rèn luyệncho bản thân tác phong làm việc tốt Qua đó giúp em mạnh dạn, tự tin hơn vào khảnăng của mình để hoàn thành tốt mọi công việc được giao Sau khi tốt nghiệp, em hyvọng sẽ trở thành một bác sỹ thú y vững vàng tay nghề, chắc chắn trong chuyênmôn để chủ động giải quyết mọi vấn đề của thực tế
Nắm bắt được thực tế sản xuất, tình hình dịch bệnh và bệnh viêm vú bòsữa nuôi tại trung tâm
Trang 8PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm vú bò sữa trên thế giới và ở Việt Nam
Theo Heidrich và Renk (1967), “Vi khuẩn dạng E.coli có thể gây viêm vú
Trang 9Theo Trương Quang và Cs (2008), tình trạng viêm vú phi lâm sàng ở đàn
bò sữa của Huyện Gia Lâm và quận Long Biên - Hà Nội để xác định tỷ lệ, mức
độ dương tính, số lượng các thùy vú bị viêm và những vi khuẩn gây bệnhthường gặp Bằng phương pháp CMT, kiểm tra sữa trên đàn 435 con bò đã pháthiện 39.77% số bò sữa được kiểm tra có phản ứng dương tính, trong đó có32.37% bị viêm 1 thùy vú, 27.74% bị viêm 2 thùy vú, 21.97% bị viêm 3 thùy
vú, 17.92% bị viêm 4 thùy vú Tỷ lệ một số loại vi khuẩn phân lập được từ các
mẫu sữa của bò bị viêm vú là: Streptococcus 78.85%, E.coli 30% Có 90-100%
số chủng vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus, E.coli phân lập được mẫn
cảm với Marbofloxacin, Cipofloxacin và Cephalothin Có thể sử dụng 3 loạikháng sinh trên để điều trị bệnh viêm vú bò sữa
Theo Nguyễn Ngọc Nhiên (1986) cho rằng tháng đầu tiên sau đẻ viêm vúchiếm 28% nhưng đến tháng thứ 4 viêm vú giảm xuống còn 8%
2.2 Khái niệm về bệnh viêm vú bò sữa
Bệnh viêm vú bò sữa là một trong những bệnh khá phổ biến gây thiệt hạinghiêm trọng cho ngành chăn nuôi bò sữa không những ở Việt Nam mà ngay cảnhững nước chăn nuôi bò sữa phát triển Viêm là sự đáp ứng của các mô tiết sữatrong từng núm vú đối với sự tổn thương hoặc là sự có mặt của vi khuẩn gây bệnh
Tolle (1975) cho rằng viêm vú bò là một bệnh phức tạp gây nên bởi sựtương tác qua lại giữa bò, vi khuẩn và môi trường Viêm vú là một quá trìnhbiến đổi của tuyến vú cùng với sự thay đổi các tính chất vật lí, hoá học và sinhvật với đặc tính tăng tế bào thân, đặc biệt là tế bào bạch cầu và những biến đổibệnh lí bên trong mô bào tuyến vú
Schoeder (1997) cũng cho rằng: viêm vú là một căn bệnh rất phức tạp màchúng ta khó có thể kiểm soát được Viêm vú là một quá trình viêm tấy của cáctuyến ở bầu vú do các loại vi sinh vật gây ra mà chủ yếu là vi khuẩn, chúng xâmnhập chủ yếu vào bầu vú, tăng nhanh về số lượng, sản sinh độc tố và có hại chocác tuyến bầu vú nơi chúng xâm nhập
Trang 10Mục đích của phản ứng viêm là một phản ứng bảo vệ cơ thể chống lại cácyếu tố gây bệnh, biểu hiện của quá trình viêm là sự thực bào của các tế bàolimpho T đối với các tác nhân gây bệnh và có tác dụng loại bỏ các tác nhân gâyviêm đồng thời tăng sinh các tế bào sửa chữa những tổn thương.
Khi tuyến vú bị viêm, sữa bị biến đổi nhiều về đặc tính, sản lượng và chấtlượng sữa đều giảm thấp Khi bị bệnh, các tế bào nhũ nang bị tổn thương Nếuviêm nặng thì khả năng tiết sữa có thể mất hoàn toàn và thùy vú sẽ bị teo Ngoài
ra, bệnh tuyến vú sẽ làm giảm giá trị kinh tế của đàn bò sữa Những bê con búphải sữa viêm vú sẽ rối loạn tiêu hóa Đây là một trong những tác nhân gây rahội chứng tiêu chảy ở bê con Bò bị viêm vú phải đào thải sớm, sữa phải huỷ bỏ,chi phí điều trị cao Hiện nay, trong thực tế ngành chăn nuôi bò sữa đã và đangngày càng phát triển Bệnh viêm vú trên đàn bò sữa rất phổ biến nên việc phòng
và điều trị bệnh viêm vú là điều cần phải được quan tâm thường xuyên và tậptrung giải quyết
2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm vú
Viêm vú là bệnh thường gặp trên các loại gia súc nhưng phổ biến nhất làtrên bò sữa Bệnh có thể xuất hiện ở trong tất cả các giai đoạn tiết sữa: đang chosữa hay giai đoạn cạn sữa Thông thường, bệnh viêm vú xuất hiện nhiều vào giaiđoạn sau đẻ khoảng vài ba tuần Những bò cao sản, bệnh xuất hiện nhiều hơn
Theo nghiên cứu của Trần Tiến Dũng và cs (2002), bò sữa bị viêm vú sảnlượng sữa giảm 10-30% Nếu bò bị viêm vú thể tiềm tàng thì lượng sữa giảmtrung bình 10% Với đàn bò sữa đang trong giai đoạn cho sữa, thường có khoảng5% bò bị viêm vú thể tiềm tàng
Trang 11Viêm vú là một quá trình bệnh lý phức tạp gồm sự tương tác nhiều yếu tố:
Hình 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến viêm vú bò sữa 2.3.1 Yếu tố môi trường
Điều kiện vệ sinh môi trường là nguyên nhân cơ bản làm lây nhiễm núm
vú như tình trạng vệ sinh vòi tắm, máy vắt sữa tự động, khăn lau, nền chuồng,sân chơi Yếu tố môi trường bao gồm các điểm:
Sự xuất hiện nhiều mầm bệnh trong môi trường gần con vật, phản ánh tìnhtrạng vệ sinh kém
Thực hiện quá trình vệ sinh nuôi dưỡng tốt hay xấu Thay đổi đệm lót
chuồng trại tốt có thể giảm tỷ lệ viêm vú do các coliform gây ra.
Hoạt động của máy vắt sữa kém hoặc không đúng quy cách, kiểu mẫu.Theo Nguyễn Như Thanh (1997): Kỹ thuật vắt sữa và điều kiện vệ sinh,tổn thương cơ học tạo điều kiện cho mầm bệnh xâm nhập.Theo Smith và cs(1998) cho rằng: “Nhiệt độ môi trường có mối quan hệ với bệnh viêm vú do nó
có thể tác động đến cơ thể vật chủ cũng như liên quan đến số lượng và độc lựccủa vi khuẩn”
Trang 12Tuổi: theo Detilleux và cs (1995); Martin và cs (2002); Haas và cs (2004)viêm vú gia tăng theo tuổi của bò hay số chu kỳ cho sữa do sức đề kháng của bògiảm theo tuổi và cơ vòng đầu núm vú giảm sự đàn hồi
Theo Badinand (1999) nhận thấy bệnh viêm vú lâm sàng xuất hiện ở bất
kỳ giai đoạn cho sữa nào, nhưng tần số bệnh cao nhất vào tháng cho sữa đầu tiên
và ở thời kỳ cạn sữa
Theo Phạm Bảo Ngọc (2002) viêm vú lâm sàng hay sảy ra ở giai đoạn đầucủa chu kỳ cho sữa
2.3.3 Yếu tố vi sinh vật
Có nhiều loại vi trùng gây bệnh viêm vú:
Liên cầu khuẩn (Streptococcus): Trong các loại vi khuẩn gây bệnh viêm vú,
liên cầu khuẩn (streptococcus) chiếm 86%, chủ yếu là Streptococcusagalactiae, Streptococcus dysgalactiae và Streptococcus uberis Streptococcus agalactiae là
vi khuẩn Gram + và chỉ phát triển được trên mô tuyến vú nhưng dễ bị khống chế
và tiêu diệt trong khi đó
Streptococcus dysgalactiae và Streptococcus uberis có thể phát triển bên ngoài
mô tuyến vú và khó loại trừ Ba loại này chủ yếu phát triển trong sữa và tấncông lớp tế bào bề mặt của các ống dẫn sữa
Tụ cầu khuẩn (Staphylococcus) chiếm 5,4% trường hợp, trong đó
Staphylococcus aureus (vi khuẩn Gram +) là vi khuẩn gây bệnh mạnh và thường
ở dạng cấp tính Vi khuẩn này xâm nhập và tấn công vào các tế bào nang và có
Trang 13tính kháng penicilline (có những chủng vi khuẩn có khả năng hình thànhpenicillinaza phân huỷ penicilline), vì vậy nó rất khó xử lý Bên cạnh đó, nó cònsản sinh ra các độc tố (coagulaza, hemolysine) gây co thắt mạch máu và hoại tử
mô tế bào
Trực khuẩn bao gồm các trực trùng sinh mủ 2,7%, E.coli 1,2%, các loài vitrùng khác 3,75% Các vi khuẩn này sống chủ yếu trong môi trường (phân, chấtđộn, nguồn nước bị ô nhiễm…) Gây viêm vú truyền nhiễm cho bò sữa có 80%
gây viêm vú là do Streptococcus agalactiae và Streptococcus dysagalactiae.
Bệnh lan truyền chủ yếu do người vắt sữa, dụng cụ vắt sữa và ruồi
Theo Trần Thị Hạnh và cs (2005) khi tiến hành phân lập xác định vikhuẩn gây viêm vú bò sữa cho thấy ở một số trại ở Miền trung thường là
Staphylococcus aureus và 2 trại ở Miền Bắc có thêm Streptococcus agalatiae.
Theo Phan Nguyễn Sơn (2006), khi phân lập vi khuẩn có 24/50 mẫu chứa
Staphylococcus chiếm 48%, 17/50 mẫu có Streptococcus chiếm 34% và 21/50
mẫu có E.coli chiếm 42%, 5 mẫu có các loại vi khuẩn khác chiếm 10%
2.3.4 Yếu tố quản lý
Quản lý đàn bò và bệnh viêm vú một cách toàn diện Dựa vào các biệnpháp chẩn đoán và điều trị đưa ra các biện pháp quản lý đàn để mang lại hiệuquả cao trong chăn nuôi Ta nên cạo lông vú, sườn và mặt trong của chân sau,cho bò cạn sữa ăn uống cân bằng, giữ không gian thông thoáng, sạch sẽ chuồngtrại trong mọi lúc, có chương trình chống ruồi hữu hiệu, kiểm tra vú hàng tuầntrong thời gian cạn sữa, và giữ cẩn thận các núm vú không bị xấy sước
2.3.5 Yếu tố người chăn nuôi
Người chăn nuôi phải sạch sẽ, khỏe mạnh, thân thiện với con bò Có hiểubiết về khoa học, kỹ thuật và áp dụng tốt quy trình kỹ thuật vắt sữa, cố địnhngười vắt sữa Để góp phần làm cho bệnh viêm vú ở bò được khống chế
Trong 5 yếu tố ảnh hưởng đến viêm vú bò thì vi khuẩn được coi là yếu tốquan trọng nhất, ảnh hưởng trực tiếp gây viêm vú Một số vi khuẩn gây viêm vú
Trang 14chủ yếu ở bò: Staphylococcus aureus, Streptococcus agalactiae, Streptococcus dysgalatiae, Coliform bacteria Pseudomonads aeruginosa, Leptospira, Atinomyces, nấm men, nấm mốc
2.4 Một số đặc điểm cấu tạo và chức năng sinh lí của tuyến vú
2.4.1 Đặc điểm cấu tạo tuyến vú
Đối với bò sữa cần quan tâm đặc biệt đến tuyến sữa, vì nó có quan hệ mậtthiết đến khả năng tiết sữa và chống đỡ bệnh tật Tuyến sữa là tuyến lớn nhấttrong cơ thể con cái, chiếm 2-3% khối lượng cơ thể Bò có bốn vú và viêm vú cóthể sảy ra ở một hoặc nhiều vú
Tuyến sữa được cấu tạo phức tạp như hình chùm nho và có nguồn gốc từ
da Ở bò có hai đôi vú ở vùng bẹn Tuyến sữa gồm có hai phần: hệ thống baotuyến và hệ thống ống dẫn
Hệ thống bao tuyến: bao tuyến do những tế bào biểu mô phân tiết tạothành và là nơi sản sinh ra sữa Bao quanh bên ngoài bao tuyến là các tế bàobiểu mô, nhờ có sự co bóp nhịp nhàng của các tế bào biểu mô này mà sữa trongcác xoang bao tuyến được thải ra đều đặn
Hệ thống ống dẫn nhỏ ở xoang bao tuyến tập trung lại thành các ốngdẫn trung bình rồi đến các ống dẫn lớn, cuối cùng tập trung lại đổ vào bể sữa
ở đáy tuyến sữa Bể sữa là một xoang thể tích tương đối lớn thông ra ngoàiống dẫn ở đầu núm vú Ống dẫn sữa và bể sữa có những sợi cơ trơn baoquanh, những sợi cơ này co bóp giúp cho quá trình thải sữa
Ở bò, mỗi núm vú có một ống dẫn thông từ bể sữa ra ngoài Đầu mỗi núm
vú có các sợi trơn bao bọc xếp thành vòng tròn tạo ra cho núm vú có một cơvòng rõ rệt, đóng vai trò thắt chặt bầu vú khi không có quá trình thải sữa Thànhcủa núm vú được cấu tạo bởi năm lớp gồm da, lớp sợi ngoài, lớp sợi giữa, lớpsợi trong và niêm mạc
Tuyến vú được bao bọc xung quanh bởi các mô liên kết và mô mỡ Các
mô này đi sâu vào bên trong tạo ra các vách ngăn chia tuyến vú thành nhiều thuỳ
Trang 15nhỏ Ở những thuỳ nhỏ này có nhiều sợi liên kết đàn hồi, do vậy khi sữa đượctích lại trong tuyến vú làm cho bầu vú căng ra.
Thần kinh phân đến vú gồm các đôi dây thần kinh tủy Thần kinh tuỷ sống
có hai nhánh: nhánh lưng (sợi truyền vào) chi phối da và đầu vú và nhánh bụng(sợi truyền ra) chi phối các bao tuyến Thần kinh giao cảm tương ứng đốt sốnghông 2 và 4, theo các nhánh thần kinh tủy phân đến tuyến sữa
2.4.2 Sinh lý tiết sữa
- Sự phát triển của tuyến sữa
Ở động vật non thì bầu vú của con đực và con cái như nhau Khi con cáitrưởng thành do tác dụng của oestrogen làm cho các ống dẫn phân nhánh, tuyếnsữa to lên, lúc đó chưa có xoang bao tuyến, mỡ và tổ chức liên kết
Quá trình sinh trưởng và phát triển của tuyến sữa chịu sự chi phối củamột số tuyến nội tiết và chịu sự điều hoà của thần kinh trung ương Hormonoestrogen của buồng trứng, Progesteron của thể vàng, hormon của tuyến yênnhư prolactin, somatotropin, ACTH, đều có tác dụng thúc đẩy, điều hoàtuyến vú hoạt động và phát triển Hormon chính điều khiển quá trình tiết sữa
là prolactin và hormon này bị ức chế bởi oestrogen trong thời kì gia súcmang thai
Trong thời gian mang thai do tác dụng của progesteron, tận cùng các ốngdẫn phát triển hình thành các bao tuyến Sau đó các bao tuyến dần dần hìnhthành các xoang tiết Thể tích các ống dẫn và bao tuyến không ngừng tăng lên,
hệ thống thần kinh, mạch quản trong bầu vú cũng tăng lên rõ rệt
Cuối thời kì mang thai, mô tiết của bao tuyến có chức năng phân tiết,tuyến vú bắt đầu sản sinh và thải sữa
Sau khi đẻ, lượng oestrogen giảm kéo theo hoạt động tăng cường củaprolactin thúc đẩy tuyến sữa tiết sữa Các hormon tuyến yên: ACTH, STH cótác dụng kích thích hoạt động phân tiết của TSH, khi đó TSH sẽ kích thíchhoạt động của tuyến giáp tăng cường phân tiết Tyroxin đẩy mạnh quá trình
Trang 16trao đổi sữa và mỡ sữa Khi kích thích cơ quan nhạy cảm của bầu vú như xoabóp bầu vú cũng có tác dụng làm tuyến sữa phát triển và tăng sản lượng sữa,gây hưng phấn thần kinh tuyến sữa Tuyến sữa hoạt động không liên tục màtheo chu kì tiết sữa Hệ thống ống dẫn bao tuyến thu nhỏ và mất dần ở cuốigiai đoạn của quá trình thải sữa và hình thành hệ thống mới ở chu kì tiếp theo.
Với bò có thai lần 2, chu kì tiết sữa bình quân >300 ngày Bò sữa mangthai từ lần thứ 6-8 thì hoạt động của tuyến sữa và sản lượng sữa đạt mức caonhất Tuổi bò càng lớn, sinh đẻ nhiều lần thì khả năng hoạt động tiết sữa củatuyến vú càng giảm, sản lượng sữa giảm
- Điều tiết sinh sữa
Điều tiết sinh sữa bằng 2 phương thức thần kinh và thể dịch
Thần kinh là yếu tố đóng vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động sản sinh sữa.Nếu làm thí nghiệm cắt tất cả các dây thần kinh đi đến tuyến sữa thì sản lượngsữa chỉ còn 30% đến 40% chứng tỏ 60% đến 70% sản lượng sữa do thần kinhchi phối Khi gia súc bú hoặc vắt sữa gây kích thích đầu mút các dây thần kinhtuyến vú, hưng phấn truyền về tuỷ sống đến hypothalamus lên vỏ não Từ vỏnão hưng phấn truyền xuống tuỷ sống và đến trung khu giao cảm, đến bao tuyến
vú kích thích sinh sữa Trên cơ sở đó, muốn cho bò cạn sữa người ta không vắtsữa nữa
Thể dịch đóng vai trò trọng trong quá trình tiết sữa, nếu cắt tuyến yên đi thì
sự sinh sữa ngừng Các hormon tuyến yên prolactin, TSH (Thyroid StimulatingHormone), SH (Somatotropin Hormone), ACTH (Adrenocorticotropin Hormone)của tuyến yên đều tham gia tích cực vào quá trình tiết sữa Trong đó hormonprolactin là hormon chính điều khiển quá trình tiết sữa Hormon này qua quátrình gia súc cái mang thai bị oestrogen ức chế Sau đẻ, lượng oestrogen giảm đi,prolactin phát huy tác dụng thúc đẩy tuyến vú tiết chế sữa
Trang 172.4.3 Đặc tính của sữa và quá trình sinh tổng hợp các thành phần trong sữa
- Đặc điểm của sữa
Sữa bò là một chất lỏng màu trắng đục Độ đục của sữa là do các chất béo,protein và một số chất khoáng trong sữa tạo nên Màu sắc của sữa phụ thuộc chủyếu vào hàm lượng β-caroten có trong chất béo của sữa Sữa bò thường có màutrắng đến vàng nhạt Sữa bò có mùi rất đặc trưng và vị ngọt nhẹ
Tính chất vật lí của sữa
Tỉ trọng của sữa: là sự tương quan giữa lượng vật chất khô với thể tíchcủa nó, ta xác định tỉ trọng của sữa bằng tỉ trọng kế (Lactodensimetre) biểu hiệnbằng độ A Sữa tươi của bò khoẻ mạnh có tỉ trọng là 1,0271,033
Điểm đông băng: chỉ hàm lượng nước trong sữa, nó biến thiên từ -0,54đến -0,570C Điểm sôi từ 100,16 đến 100,200C
Tính chất hoá học của sữa: tính chất hoá học quan trọng trong sữa là độ
axit hay độ chua Độ axit gồm: độ axit hoạt động và độ axit tổng số Mỗi loại có
ý nghĩa nhất định trong việc đánh giá chất lượng sữa
Độ axit tổng số: do protein và muối photphat, cacbonic, tạo ra được sửdụng để đánh giá độ tươi của sữa Độ axit tổng số biểu hiện bằng độ Terne (0T):
đó là số ml NaOH (hay KOH) 0,1N cần thiết để trung hoà hết 100ml sữa Ở sữa
bò tươi, độ axit tổng số thường là 18220T
Độ pH: do sự phân li các axit vốn có trong sữa, sữa tươi có độ pH từ 6,8 giá trị pH trung bình là 6,6
6,3-Tính chất sinh học: sữa cũng chứa các thành phần sinh vật Sữa có chứa
các tế bào có nguồn gốc từ máu, từ tuyến sữa và các vi sinh vật Trong sữathường chứa 100.000-200.000 tế bào/1ml sữa và chứa vi sinh vật chủ yếu là các
vi sinh vật cư trú trong ống núm vú
- Quá trình sinh tổng hợp các thành phần trong sữa
Đây là một quá trình sinh học phức tạp, có sự tham gia của toàn bộ cơ thểtrong đó hệ tiêu hoá tăng hoạt động 65%, hệ tuần hoàn cũng phải tăng cường
Trang 18Để tạo 1 lít sữa cần có 400 đến 500 lít máu tuần hoàn qua tuyến sữa, trong quátrình này một số chất (globulin, khoáng, vitamin,) trực tiếp đi vào tuyến sữabằng con đường thẩm thấu, những chất còn lại được tuyến sữa tổng hợp từnguyên liệu do huyết tương đưa vào (protein, lipit, ).
Theo Nguyễn Thị Minh Tâm (2004) thì các thành phần của sữa được
tổng hợp trong lưới nội chất với sự tham gia của các riboxom, những thành phần
này được chuyển dọc theo thể golgy qua nguyên sinh chất và màng đỉnh tế bàobiểu mô sau đó đổ vào xoang tiết dưới dạng “bọng túi”
Sữa gồm hai thành phần chính: Nước chiếm 80%-90% và vật chất khônhư protein, mỡ sữa, enzim, vitamin,
Protit sữa: chủ yếu là cazein (chiếm 76-86% tổng số protit trong sữa).Cazein là loại protit chỉ có ở ttrong sữa và không có ở trong máu, được tổng hợp
từ axit amin của huyết tương chuyển vào
Mỡ sữa: được tổng hợp từ axit béo mạch ngắn (4-12 cacbon) và glixerin.Glixerin được tạo thành từ glucoza máu, còn nguồn axit béo lấy từ axit béo củahuyết tương và của thức ăn
Đường sữa: trong sữa có đường lactoza Nguyên liệu quan trọng để tổnghợp nên đường lactoza chủ yếu là glucoza của máu
2.4.4 Sự thải sữa và điều tiết thải sữa
- Sự thải sữa
Sữa sinh ra ở bao tuyến và được tích vào xoang bao tuyến Khi bê bú hoặcvắt sữa làm thay đổi áp lực trong xoang và sức căng của bầu vú, sữa từ xoangbao tuyến chảy vào ống dẫn rồi vào bể sữa Khi áp lực trong bể sữa lớn hơn sứccăng cơ vòng đầu vú thì cơ vòng giãn ra và sữa được thải ra ngoài Trong thờigian vắt sữa hoặc bú làm cho áp lực trong bể sữa tăng giảm có quy luật làm chosữa chảy liên tục từ bao tuyến vào bể sữa và thải ra ngoài
Trang 19- Điều tiết thải sữa
Thải sữa là một phản xạ xảy ra theo 2 pha, ứng với 2 giai đoạn tiết sữa: Pha thần kinh kích thích do thay đổi áp lực trong bể sữa, tích nhiều sữalàm áp lực tăng, kích thích thần kinh truyền hưng phấn vào tuỷ sống rồi đếntrung khu tiết sữa ở hypothalamus truyền lên vỏ não từ đó phát lệnh đến tuỷsống ra cơ vòng đầu vú và gây thải sữa
Pha thần kinh - thể dịch: kích thích do tác động tải truyền vềhypothalamus đến tuyến yên làm cho tuyến yên tiết oxytoxin Oxytoxin gây cobóp cơ trơn của ống dẫn sữa, cơ biểu mô của các tuyến sữa về đầy bể sữa làm áplực trong bể sữa tăng kích thích cơ vòng đầu vú giãn gây thải sữa
2.5 Phân loại viêm vú bò sữa
Bệnh viêm vú bò sữa có 2 dạng: viêm vú thể lâm sàng và viêm vú thể cậnlâm sàng (viêm vú tiềm ẩn)
2.5.1 Viêm vú thể lâm sàng
Bệnh đặc trưng bởi biến đổi rõ rệt ở tuyến sữa hoặc sữa Theo thời gianmắc bệnh, dựa vào quá trình diễn biến của biểu hiên lâm sàng chia viêm vúthành các thể hay gặp sau :
- Viêm vú thể cấp tính
Ở thể này cũng có trường hợp xảy ra đột ngột Bầu vú viêm có biểu hiệnsưng, nóng, đỏ, đau ở mức trung bình cho tới nặng, sản lượng sữa giảm, sữakhông bình thường có chứa sợi huyết, sữa vón cục và các chất tiết bất thườngtrong tuyến vú
Cơ thể có biểu hiện toàn thân: sốt, bỏ ăn, chậm chạp, tuy nhiên nhữngtriệu chứng này không nghiêm trọng bằng thể quá cấp
- Viêm vú thể mạn tính
Dạng này thường có ổ mủ bên trong bầu vú, dạng sữa kết tủa như bã đậu,
to nhỏ tùy vào mức độ Bầu vú vẫn mềm như bình thường nhưng có thể sưngtrong thời gian dài Bệnh có thể làm cho bầu vú bị xơ cứng hay teo lại Thể mạn
Trang 20tính là hậu quả của việc phát hiện bệnh chậm hay điều trị không triệt để khi bò
bị viêm vú
Ngoài ra còn phân loại viêm vú theo tính chất viêm:
- Viêm vú có mủ
Thể viêm cata có mủ: vi khuẩn gây bệnh đa số là Staphylococcus, ngoài
ra còn streplococcus, E.coli và các vi khuẩn có mủ khác Bệnh có 2 thể cấp tính
và mãn tính
Cấp tính: Bò sốt cao ủ rũ, kém ăn Thùy vú bị viêm sưng, nóng, đỏ, đau.Sữa loãng màu hồng nhạt, vị đắng, trong sữa có mủ lợn cợn, hạch lâm ba bầu vúsưng to
Mạn tính: Chuyển từ thể cấp sang sau 3-4 ngày tiếp theo, viêm giảm dần,nhưng sữa vẫn loãng, nhớt màu vàng nhạt Sau đó tuyến vú bị teo và các tổ chứctăng sinh làm tắc ống dẫn sữa
Viêm mủ thể apxe: một phần thùy vú viêm sưng đỏ, da căng, nóng, đau,
đôi khi có cảm giác lùng nhùng Nếu bọc mủ nông thì quan sát hiện tượng viêm
vú rất rõ, có nhiều bọc mủ thì làm bề mặt thùy vú viêm có nhiều chỗ phồng lên.Nếu bọc mủ ở sâu thì khó nhận biết Sản lượng sữa giảm rõ rệt, phẩm chất sữathay đổi nhiều Triệu chứng toàn thân: bò sốt cao, khi sờ nắn bầu vú có cảm giáccăng nóng Có khi bọc mủ to, vỡ ra thành các lỗ rò chảy máu mủ ra ngoài
- Viêm vú hoại tử
Trong thể viêm này, các tổ chức của tuyến vú bị hoại tử và phân giải.Toàn bộ bầu vú sưng to, hạch lâm ba cũng sưng Khi ấn tay vào lá vú bị viêmthấy có dịch màu hồng chảy ra, bò có phản ứng mạnh do đau Quan sát thấy sữa
bị phân giải thành chất lỏng màu hồng nhạt, nhớt và có mùi hôi thối Trườnghợp này bò bị sốt cao, bỏ ăn và có thể bị nhiễm trùng máu hoặc máu nhiễm mủ
và chết sau đó khoảng 7 đến 9 ngày
Trang 21- Viêm vú thanh dịch
Viêm vú thể thanh dịch là quá trình viêm nhẹ Bệnh xuất hiện sớm vàothời gian đầu từ 1-2 tuần đầu sau khi đẻ với đặc điểm bầu vú sưng và sunghuyết, sờ có cảm giác nóng Lúc đầu con vật không đau, biến đổi của sữa khôngphát hiện được bằng mắt thường Sau đó quá trình viêm lan đến bộ phận tiết sữalàm cho sữa loãng hơn, kiểm tra sữa thấy nhiều tế bào bạch cầu và biểu mô
Khi vi khuẩn theo máu vào sâu trong tuyến sữa thì toàn bộ tuyến vú sưng
to, sờ nhẹ không đau nhưng ấn mạnh con vật đau và phản ứng Tuyến sữa bịviêm lượng sữa giảm rõ rệt Lúc đầu sữa biến đổi không rõ sau đó thì loãng dần
và lợn cợn Ngoài ra còn có biểu hiện toàn thân như: bỏ ăn, sốt cao, mệt mỏi.Nếu bệnh nhẹ sau 7-9 ngày quá trình viêm giảm những dễ trở thành mạn tính,nghiêm trọng thì bầu vú có thể bị xơ cứng
- Viêm vú thể cata
Thể cata không thể hiện rõ triệu chứng cục bộ, nhìn bề ngoài không thấy
có thay đổi ở các bầu vú nhưng thực tế thì sản lượng sữa giảm Lúc đầu sữaloãng, sau đó khi bệnh tiến triển trong sữa xuất hiện những cục vón, đôi khinhững cục vón này làm tắc đầu vú
- Viêm vú có máu
Là thể viêm cấp thường xuất hiện sau khi bò đẻ vài ngày, có thể kế phát
từ viêm thanh dịch, viêm cata Thể viêm này các tế bào nhũ nang, nang sữa vàống dẫn sữa có hiện tượng xuất huyết ra ngoài Bầu vú bị viêm sưng to, có thểthấy đám xuất huyết dưới da, sữa vắt ra rất loãng (màu hồng hay đỏ như máu) vàthấy có những cục sữa đông vón Viêm vú thể này gây ảnh hưởng toàn thân: bòsốt cao, mệt mỏi, ủ rũ, bỏ ăn
2.5.2 Viêm vú thể cận lâm sàng
Thể bệnh này các biểu hiện lâm sàng ra bên ngoài không rõ, không thểquan sát bằng mắt thường được mà chỉ được nhận biết bằng cách làm các xétnghiệm phi lâm sàng định hướng như phát hiện các vi khuẩn, các tế bào thân
Trang 22Người chăn nuôi khó có thể phát hiện được dẫn đến việc coi nhẹ tầm quan trọngcủa nó, nhưng đây lại là thể bệnh rất quan trọng vì: sự lưu hành của bệnh caogấp 15-40 lần so với thể bệnh lâm sàng; Luôn là nguy cơ của thể bệnh lâm sàng;
Bệnh kéo dài, khó phát hiện, giảm quá trình tiết sữa và ảnh hưởng tới chấtlượng sữa
Có thể nói chính thể cận lâm sàng là nguồn tàng trữ mầm bệnh cho nhữngcon khác trong đàn
2.5.3 Một số triệu chứng ở bầu vú khi bò bị viêm vú
Bảng 2.1 Một số triệu chứng ở bầu vú khi bò sữa bị viêm vú
Chỉ tiêu theo dõi Triệu chứng bầu vú
Nhiệt độ Nóng hơn bình thường
Màu sắc Mầu đỏ, bề mặt căng
Hình thái Sưng to, đôi khi loét ở đầu núm vú
Đàn hồi Cứng, nếu có cục sữa đông thì có tiếng lạo xạo khi sờ Phản ứng Khi sờ vào bầu vú viêm con vật có phản ứng đau
Triệu chứng bầu vú bị viêm: núm vú sưng, đỏ; Da bầu vú, núm vú căngđỏ; Bầu vú bị viêm nóng hơn bình thường; Độ đàn hồi của bầu vú bình thường
bị thay đổi, bầu vú có thể cứng hoặc lạo xạo nếu còn những cục sữa đông trongbầu vú
Hình thái bầu vú thay đổi: Bầu vú sưng to hơn bình thường, đôi khi bắtgặp những trường hợp lỗ đầu vú bị loét hoặc tăng sinh làm tắc tia sữa phải dùngkim thông vú mới vuốt được sữa ra
Một vài trường hợp khi sờ vào bầu vú bị viêm thì bò có phản ứng đau rõ
Trang 232.6 Chẩn đoán bệnh viêm vú
2.6.1 Chẩn đoán bệnh viêm vú thể lâm sàng
Chẩn đoán bệnh viêm vú là giai đoạn quyết định để khống chế nhiễmtrùng bầu vú Chẩn đoán sớm giúp điều trị nhanh chóng, bò mau khỏi và ngăncản sự chuyển sang thể bệnh khác Có nhiều phương pháp để chẩn đoán và xácđịnh viêm vú:
- Tiền sử bệnh
Cần phải biết rõ những vần đề như: thời gian đẻ lần gần nhất của bò; kiểmtra thức ăn, chăm sóc, quản lý, các chế độ sử dụng khai thác trước và sau khi đẻ vàtrong thời gian trị bệnh Dựa vào kết luận trong chẩn đoán: nguyên nhân, yếu tốgây bệnh trên cơ sở đó chọn phác đồ phòng trị bệnh có hiệu quả cao Nắm đượcphương pháp, điều kiện khai thác sữa, sản lượng sữa trước và trong thời gianđiều trị viêm vú Đặc biệt chú ý đến bầu vú: tính chất, trạng thái và đặc điểm củatuyến vú Chú ý quan sát hình dáng, độ lớn và tính nguyên vẹn của da và vú,màu sắc, mùi vị, độ đậm đặc, tính đồng nhất và những đặc tính khác của sữa
- Dựa vào triệu chứng lâm sàng
Kiểm tra toàn thân: Trong một số trường hợp viêm vú lâm sàng thể cấptính, bò có những dấu hiệu toàn thân như: sốt, biếng ăn,chậm chạp kém vậnđông, rối loạn hô hấp và tuần hoàn, giảm nhu động dạ cỏ…
Kiểm tra bầu vú: Kiểm tra bầu vú và tính chất sữa là một trong các yếu tố
để chẩn đoán viêm vú Đây là biện pháp đơn giản và ít tốn kém mà người chănnuôi có thể thực hiện Bằng biện pháp đơn giản, người chăn nuôi có thể sớmphát hiện ra bệnh viêm vú, nhằm giúp cho điều trị và tiên lượng hiệu quả trongkhi điều trị Tùy từng thể viêm vú lâm sàng mà bầu vú có những dấu hiệu thayđổi khác nhau về kích thước, đọ căng, đọ đàn hồi, hình dạng, màu sắc, độ cứngmềm, nhiệt độ và phản ứng đau (khi sờ nắn); hình dạng các núm vú, đầu núm
vú, lỗ tiết sữa Khi quan sát bên ngoài bầu vú có thể bình thường nhưng bêntrong đã có những ổ áp-xe, chỉ sờ nắn mới nhận biết được Viêm cấp, vú sưng
Trang 24lớn thủy thũng, đỏ; thể viêm mãn tính, sờ thấy cứng, thùy vú bị lệch hay méohoặc có sẹo.
Tính chất sữa:
Kiểm tra những tia sữa đầu tiên: trước khi vắt sữa, người vắt sữa phải vắtnhững tia sữa đầu tiên của từng thùy vú vào cốc thử hay đĩa thử có nền tối và bềmặt gợn sóng, quan sát những biến đổi bất thường về tính chất vật lý của sữa đểphát hiện bệnh viêm vú Không vắt sữa xuống nền chuồng tránh lây nhiễm cho
bò khác
Tính chất vật lý của sữa: viêm vú lâm sàng, tính chất vật lý cũng như hóahọc của sữa bị thay đổi Quan sát bằng mắt thường, chúng ta chi có thể nhận biếtnhững thay đổi về tính chất vật lý như: sữa bị vón thành cục, bã đậu, lợn cợn,lẫn mủ, máu và những mảnh hoại tử; sữa bị mất màu, loãng, chứa chất màu vàngtrong như huyết tương, màu xanh khi lẫn mủ, màu đỏ do lẫn máu; sữa có vịmặn, mùi hôi thối trong viêm vú hoại tử Tuy nhiên, chúng ta không thể pháthiện được những thay đổi nhỏ
Sau khi vắt sữa, nên đổ sữa qua màng lọc và quan sát cặn cho chính xác
Sự hiện diện của những chất tiết bất thường trong sữa hoặc những cục sữa nhỏtrên màng lọc là chỉ định bò bị viêm vú lâm sàng
Sản lượng sữa giảm do viêm vú lâm sàng còn tùy thuộc vào thời gian mắcbệnh kéo dài,mùa trong năm, giai đoạn cho sữa, lứa đẻ, giống bò và vi khuẩngây bệnh
2.6.2 Chẩn đoán bệnh viêm vú thể cận lâm sàng
- Phương pháp chẩn đoán với thuốc thử CMT (California Matitis Test)Đây là một phương pháp đơn giản dễ sử dụng có thể ước lượng được sự cómặt của tế bào thân trong sữa qua đó đánh giá được hiện trạng bệnh viêm vú của bò
Dụng cụ: mẫu sữa, thuốc thử CMT và khay thử CMT có 4 ô riêng biệtNguyên lý: Thuốc thử CMT có tính chất tẩy, nó có tác động phá huỷmàng tế bào và gắn với ADN được giải phóng ra Khi bò bị viêm vú (tương
Trang 25đương có trên 500.000 TB/ml sữa) chúng làm thay đổi trạng thái ban đầu củasữa, sữa trở thành một hỗn hợp nhớt.
Cách tiến hành
Lấy 2 ml mẫu sữa từ những tia sữa đầu tiên của từng núm vú vào từng ôcủa khay thử CMT
Sau đó nhỏ một lượng tương đương thuốc thử CMT vào
Lắc tròn khay, đọc phản ứng sau vài giây
- Đếm số lượng tế bào trong sữa
Tế bào bản thể trong sữa bò bình thường chủ yếu là đại thực bào, chiếm66-88% Ngoài ra sữa bình thường còn có tế bào lympho (B hoặc T) 10-27%; tếbào biểu mô 0-7% Tỷ lệ bạch cầu trung tính trong sữa bò bình thường rất thấpchỉ khoảng 1-11%, trung bình 2%, nhưng khi bò bị viêm vú, số lượng tế bào bảnthể tăng lên rất cao và chủ yếu là bạch cầu trung tính (90%), tăng gần 45 lần sovới bình thường
- Phân lập và định danh vi khuẩn trong sữa
Phân lập vi khuẩn trong sữa được thực hiện trên những mẫu sữa có sốlượng tế bào bản thể cao và kéo dài Đây là phương pháp tin cậy nhất giúp lựachọn loại kháng sinh tối ưu trong điều trị
2.7 Biện pháp phòng bệnh
2.7.1 Phòng bệnh tổng hợp
Sinh thái môi trường vẫn là vấn đề rất quan trọng trong chăn nuôi bò sữa Đó
là sự thích nghi của bò với môi trường nuôi Nếu lựa chọn phù hợp nó sẽ đem lạithành công rất lớn trong chăn nuôi bò sữa (Branner, 1984)
Tách biệt bò mắc bệnh với các bò khác, đàn bệnh với đàn không bệnh đểtránh lan tràn mầm bệnh Trong quá trình vắt sữa thì bò bị nhiễm bệnh phải vắtsau và áp dụng những biện pháp cụ thể tránh lây lan.Kiểm tra định kỳ để hạnchế viêm vú phi lâm sàng:
Kiểm tra mẫu sữa của đàn bò định kỳ 6 tuần 1 lần bằng phương pháp CMT(California Mastitis Test)
Trang 26Thực hiện đúng thao tác kĩ thuật vắt sữa.
Trần Thị Hạnh và cộng sự (2003) đã đưa ra biện pháp vệ sinh phòng bệnhgồm các khâu sau:
Vệ sinh chuồng trại: thường xuyên quét dọn phân và dùng nước sạch rửachuồng nhiều lần, không để nước đọng trên nền chuồng
Lắp quạt trong chuồng nuôi để đảm bảo không khí thoáng đồng thờigiúp cho nền chuồng khô nhanh tránh ẩm ướt Thường xuyên tắm rửa cho bòsữa, đặc biệt là phần bầu vú Sau khi tắm dùng khăn sạch lau khô phần bầu
vú và núm vú hạn chế sự xâm nhập của vi khuẩn từ môi trường vào bầu vú
Rửa bầu vú: dùng khăn sạch nhúng vào nước ấm 37oC để rửa bầu vú vừa
có tác dụng làm sạch vừa có tác dụng kích thích tiết sữa Sau đó lau khô bằngmột khăn sạch khác rồi sát trùng núm vú bằng bông cồn 70o
Tiến hành vắt sữa: vắt sữa phải dứt khoát nhưng nhẹ nhàng tránh tổnthương bầu vú Lưu ý phải vắt hết sữa, sau khi vắt xong lau khô bằng khăn sạch
và nhúng núm vú vào dung dịch lugol 2% có chứa glixerin
Nếu làm tốt các khâu trên thì mối quan hệ giữa môi trường - vật chủ và visinh vật sẽ được cải thiện do đó nguy cơ viêm vú ở bò sữa sẽ giảm
2.7.2 Phòng bệnh đặc hiệu bằng vacxin
Ngày nay, người ta đã chế ra vacxin phòng bệnh viêm vú cho bò sữa từ vi
khuẩn E.coli (chủng J5) để phòng bệnh viêm vú do các vi khuẩn chủng Gram (-)gây ra Vacxin E Coli J5 có ích làm giảm bớt lượng vi khuẩn dạng coli trongquá trình sinh sữa (Hogan, 1998)
Việc sử dụng một số chủng vi khuẩn phân lập được từ vú bò để chế tạomột loại vacxin đa giá phòng bệnh viêm vú được đề cập đến Tuy nhiên gặp một
số hạn chế đó là: liều tiêm lớn, vacxin chế được từ một vài chủng đặc hiệukhông có khả năng bảo vệ gia súc chống lại các chủng khác, kháng thể lưuthông trong máu không vào sữa ở các tuyến có trạng thái sinh lý bình thường
Trang 272.8 Phương pháp điều trị
Sau khi phát hiện được bò sữa bị bệnh viêm vú thì việc tiến hành điều trị là hếtsức quan trọng và sẽ làm giảm tối đa những thiệt hại do bệnh viêm vú gây ra Tuỳthuộc vào mức độ viêm vú mà ta đưa ra những phác đồ điều trị khác nhau
Để điều trị viêm vú bò sữa, có nhiều phương pháp được áp dụng, trong đó
có phương pháp dùng kháng sinh, hoặc kết hợp nhiều phương pháp
2.8.1 Dùng kháng sinh
Sử dụng kháng sinh để điều trị, do kháng sinh có khả năng làm rối loạntính thấm của màng và làm rối loạn khả năng tổng hợp protein của vi khuẩn Bò
bị viêm vú có thể dùng kháng sinh đưa thuốc qua ống dẫn sữa để điều trị
Phần lớn phương pháp điều trị có hiệu quả phải mang tính hệ thống kếthợp với việc bơm thuốc điều trị vào vú Sự kết hợp giữa tiêm bắp với bơm thuốcvào vú dẫn tới hàm lượng kháng sinh tăng cao trong các mô sữa và do vậy tănghiệu quả điều trị bệnh
Quy tắc của việc sử dụng kháng sinh là lựa chọn loại kháng sinh phổ hẹpnhưng vẫn mẫn cảm với vi khuẩn gây bệnh Kháng sinh chọn có độ phân tán tốttới bầu vú viêm theo đường cấp được nhanh đạt nồng độ cao trong vú viêm
Jam và Cullor (1995) điều trị viêm vú do vi khuẩn E Coli gây ra phảiđiều trị từ sớm Vắt sữa 2 giờ/lần để loại độc tố và chất trung gian Nếu bò códấu hiệu lâm sàng bột phát dùng Corticosteroid tiêm vào tĩnh mạch
Nguyễn Ngọc Nhiên và Cù Hữu Phú (1998) đã chứng minh rằng: chếphẩm Super Mastikort của hãng Intervet-Hà Lan sản xuất bơm vào những núm
vú bò bị viêm có tỉ lệ khỏi là 87,5% (thể cận lâm sàng), 82,2% (thể lâm sàng),cao hơn so với dùng phác đồ Neomycin kết hợp với Penicillin G và liệu trìnhđiều trị cũng ngắn hơn 1-2 ngày
Trang 282.8.2 Biện pháp điều trị không dùng kháng sinh
- Điều trị bằng Oxytoxin
Khi bò bị viêm vú cấp tính, thùy vú bị sưng cứng và thủy thũng Sữakhông thể thải ra ngoài Oxytocin có thể được sử dụng làm tăng cường sự cothắt của cơ trơn ống dẫn sữa và đẩy sữa ra ngoài đồng thời loại bỏ độc tố, vikhuẩn cũng như những sản phẩm của quá trình viêm
- Thuốc kháng viêm
Các thuốc kháng viêm không chứa corticoid (NSAID- Non steroidal antiinflammatory drug) ức chế sự tổng hợp của prostaglandin và thromboxanesthông qua sự ức chế cyclooxygenase Nhóm thuốc này được chỉ định sử dụngtrong điều trị viêm vú lâm sàng cấp tính có shock nội độc tố Điều trị bằngdexamethasone tiêm bắp ngay sau khi nhận biết viêm vú do E.coli làm giảmđược tình trạng thủy thũng của tuyến vú (Philpot 2001), dùng chất kháng viêmglycyrrhizin bơm vào thùy vú viêm làm giảm tình trạng sưng, cứng và số lượng
tế bào bản thể trong sữa
- Điều trị bằng thuốc sát trùng
Sử dụng iodine, chlorhexidin diacetate bơm thẳng vào vú bị viêm do nấmmen và nấm mốc, hoặc những vi khuẩn có sức đề kháng với kháng sinh nhưPseudomonas spp, Những thùy vú được bơm sẽ ngưng cho sữa, còn nhữngthùy vú bên cạnh vẫn không bị ảnh hưởng
- Điều trị bằng Masticum
Thành phần Masticum chứa vitamin A, E có tác dụng bảo vệ niêm mạclớp biểu mô tiết, các enzyme trypsin, chymotrypsin, papain và cathepsin hoạtđộng như những chất kháng viêm Vì thế, Masticum không có tác dụng tiêu diệt
vi khuẩn mà chỉ giúp hàng rào bảo vệ tự nhiên của cơ thể nhanh chóng loại bỏ
sự nhiễm trùng Để tăng hiệu quả điều trị có thể kết hợp với việc điều trị bằngkháng sinh