Sau một thời gian thực hiện áp dụng Hiệp định trị giá GATT/WTO trong hoạt động xác định trị giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu ở nước ta, về cơ bản đã tiếp cận được cơ chế và kỹ th
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
HOÀNG THỊ BÌNH SƠN
XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP KHẨU:
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ HÀM Ý
ĐỐI VỚI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Hà Nội – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
HOÀNG THỊ BÌNH SƠN
XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP KHẨU:
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ HÀM Ý
ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 01 06 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS HÀ VĂN HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài: “Xác định trị giá Hải quan đối với hàng nhập khẩu: Kinh nghiệm Quốc tế và hàm ý đối với Việt Nam” là công trình
nghiên cứu do riêng tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS
Hà Văn Hội Các số liệu và trích dẫn được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và tin cậy
Người cam đoan
Hoàng Thị Bình Sơn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện luận văn này, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình của PGS.TS Hà Văn Hội
Trong quá trình hoàn thành chương trình cao học, tác giả đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học Kinh
tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Hà Văn Hội đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi nghiên cứu và giúp tôi hoàn thiện luận văn tốt nghiệp này
Tôi gửi lời tới gia đình tôi đã luôn ủng độ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn này
Với thái độ làm việc nghiêm túc, với nhiều nỗ lực và cố gắng trong tìm tòi, nghiên cứu nhưng vẫn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những đóng góp ý kiến từ quý thầy cô và bạn đọc.!
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC SƠ ĐỒ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP KHẨU 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5
1.1.1 Nội dung tổng quan các công trình nghiên cứu 5
1.1.2 Đánh giá kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan 9
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về Trị giá Hải quan đối với hàng nhập khẩu 10
1.2.1 Khái niệm và lịch sử hình thành Trị giá Hải quan 10
1.2.2 Vai trò của việc xác định Trị giá Hải quan 19
1.2.3 Nguyên tắc xác định Trị giá Hải quan theo WTO 20
1.2.4 Các phương pháp xác định Trị giá Hải quan theo WTO 24
CHƯƠNG 2 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Cách tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu 31
2.1.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 31
2.1.2 Phương pháp luận nghiên cứu 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.2.1 Phương pháp phân tích tổng hợp 31
2.2.2 Phương pháp thống kê 33
2.2.3 Phương pháp so sánh 34
2.2.4 Phương pháp case - study 35
CHƯƠNG 3 XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP KHẨU TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 36
Trang 63.1 Khái quát chung về áp dụng Hiệp định trị giá Hải quan GATT/WTO của các nước trên thế giới 36
3.1.1 Đối với các nước phát triển 37 3.2.2 Đối với các nước đang phát triển 38
3.2 Phân tích thực trạng áp dụng cơ chế xác định trị giá Hải quan theo WTO của một số nước cụ thể 44
3.2.1 Xác định Trị giá Hải quan đối với hàng nhập khẩu của Trung Quốc 44 3.2.2 Xác định Trị giá Hải quan đối với hàng nhập khẩu của Nhật Bản 50 3.2.3 Xác định Trị giá hải quan đối với hàng nhập khẩu của Hàn Quốc 57
3.3 Đánh giá và bài học kinh nghiệm từ việc áp dụng cơ chế xác định Trị giá Hải quan của một số nước 59
3.3.1 Đánh giá tình hình áp dụng cơ chế xác định Trị giá Hải quan 59 3.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra 61
CHƯƠNG 4 XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 64 4.1 Khái quát thực trạng xác định trị giá Hải quan đối với hàng nhập khẩu của Việt Nam 64
4.1.1 Các văn bản của Việt Nam quy định và hướng dẫn xác định trị giá hải quan đối với hàng nhập khẩu 64 4.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc xác định trị giá Hải quan đối với hàng nhập khẩu của Việt Nam 72 4.1.3 Thực trạng áp dụng trị giá Hải quan tại Việt Nam 77 4.2 Một số hàm ý đối với Việt Nam nhằm đẩy mạnh áp dụng trị giá tính thuế hàng nhập khẩu 883 4.2.1 Các nhân tố chủ quan 89 4.2.2 Các nhân tố khách quan 103
Trang 7KẾT LUẬN 105 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1016
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 ACV Agreement on Customs
Valuation
Hiệp định về xác định trị giá tính thuế hải quan
2 APEC Asia-Pacific Economic
Cooperation
Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
3 ASEAN Association of Southeast
5 BDV Brussel Definition of Value Định nghĩa trị giá Brussels
6 CDV Current domestic value Trị giá nội địa hiện hành
7 CIF Cost, Insurance, Freight (tiền hàng, bảo hiểm, cước
phí
8 CO Certificate of Origin Xuất xứ hàng hóa
9 CTDC Customs and Taxation
Commission
Hải quan và Ủy ban Thuế suất
10 GATT General Agreement on
Tariffs and Trade
Hiệp định chung về thuế
quan và mậu dịch
11 GSP Generalized Systems of
Prefrences
Hệ thống ưu đãi chung
12 KCS Korean Customs Service Dịch vụ hải quan Hàn Quốc
13
MIFAFF Minister for Food,
Agriculture, Forestry and Fisheries
Bộ trưởng Bộ Thực phẩm, Nông nghiệp, Lâm nghiệp
và Thủy sản
Trang 914 MOSF Ministry of Strategy and
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
17 WCO World Customs
Organization
Tổ chức Hải quan thế giới
18 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 4.1: Trình tự áp dụng các phương pháp xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu 82
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với chủ trương phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Đến nay, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của nhiều tổ chức quốc tế có liên quan đến hoạt động Hải quan như WCO, ASEAN, APEC, ASEM và đặc biệt là việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tháng 01/2007 Trong các cam kết khi tham gia WTO, Việt Nam phải triển khai thực hiện cam kết về “Trị giá Hải quan”
Ở Việt Nam, Trị giá Hải quan của hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu chính thức được thực hiện vào đầu thập kỷ 90, đánh dấu bằng sự ra đời của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991 Sau một thời gian thực hiện
áp dụng Hiệp định trị giá GATT/WTO trong hoạt động xác định trị giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu ở nước ta, về cơ bản đã tiếp cận được cơ chế
và kỹ thuật xác định trị giá hiện đại của Hiệp định Trong thời gian này, Trị giá Hải quan chủ yếu phục vụ một mục tiêu quản lý duy nhất là dùng để tính thuế cho hàng hoá xuất nhập khẩu, vì vậy giai đoạn này Trị giá Hải quan được biết với tên gọi là trị giá tính thuế hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Theo đó, việc xác định trị giá tính thuế chủ yếu dựa trên bảng giá tối thiểu do Nhà nước qui định Đây là cơ chế áp dụng trị giá tính thuế hải quan theo sự áp đặt của Nhà nước Tuy nhiên, xác định trị giá tính thuế theo Bảng giá tối thiểu không còn phù hợp với thực tiễn khi Việt Nam hội nhập với khu vực và quốc tế Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, yêu cầu đơn giản và hài hòa hóa thủ tục Hải quan theo Công ước Kyoto và để có được những cơ chế xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu khoa học, phù hợp với Quốc tế và điều kiện thực tiễn Việt Nam hiện nay, đòi hỏi phải nhận thức đúng đắn về cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đề ra những giải pháp
Trang 12thiết thực để hoàn thiện công tác xác định giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam, tiến tới đạt được mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư, đảm bảo nguồn thu, chống thất thu cho NSNN là vấn đề hết sức bức xúc và thiết thực hiện nay Đồng thời, để công tác xác định Trị giá Hải quan phù hợp với các nguyên tắc của hiệp định GATT, đảm bảo công bằng cho các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cũng là một yêu cầu hết sức quan trọng Trong công tác này, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc xác định Trị giá Hải quan là hết sức cần thiết, để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong triển khai thực hiện việc xác định Trị giá Hải quan cũng như hoàn thiện công tác quản lý giá cho hàng hoá nhập khẩu
Trong bối cảnh đó, học viên đã lựa chọn đề tài luận văn tốt nghiệp với
chủ đề: Xác định trị giá Hải quan đối với hàng nhập khẩu: Kinh nghiệm Quốc tế và hàm ý đối với Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, đánh giá cơ chế xác định Trị giá Hải quan đối với hàng nhập khẩu của một số Quốc gia, rút ra bài học kinh nghiệm, từ đó, Luận văn đưa ra một số hàm ý đối với Việt Nam trong việc xác định Trị giá Hải quan đối với hàng nhập khẩu phù hợp với đặc thù của Việt Nam cũng như tuân thủ các cam kết của Việt Nam trong WTO, mà Việt Nam là thành viên chính thức
2) Một số quốc gia trên thế giới đã áp dụng cơ chế xác định Trị giá Hải quan đối với hàng nhập khẩu theo quy định của WTO như thế nào?
Trang 133) Việt Nam cần thực hiện những giải pháp gì để hoàn thiện công tác xác định Trị giá hải quan đối với hàng nhập khẩu?
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về Trị giá Hải quan và cơ chế xác định trị giá Hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu
Đánh giá việc áp dụng cơ chế xác định Trị giá Hải quan theo WTO đối với hàng nhập khẩu của một số quốc gia trên Thế giới
Đề xuất giải pháp tiếp tục hoàn thiện cơ chế và nâng cao hiệu quả thực thi trong việc kiểm tra, xác định trị Hải quan đối với hàng nhập khẩu của Việt Nam phù hợp với thông lệ Quốc tế
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Hoạt động xác định Trị giá Hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu của một số Quốc gia trên Thế giới
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Phạm vi thời gian
Giới hạn thời gian nghiên cứu của Luận văn từ 2007 đến 2017 Tháng 01/2007 đánh dấu mốc son trên con đường hội nhập kinh tế Quốc tế Đó là Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
4.2 Phạm vi không gian
Luận văn lựa chọn ba quốc gia là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc để phân tích hoạt động xác định Trị giá Hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu của các nước này Lý do: Cả ba nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đều
là thành viên của WTO và đang thực hiện những cam kết trong WTO về xác định Trị giá Hải quan đối với hàng nhập khẩu
5 Đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hoá, phân tích, làm rõ nội hàm của “Trị giá Hải quan” và các phương pháp xác định Trị giá Hải quan đối với hàng nhập khẩu
Trang 14- Chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc xác định Trị giá Hải quan đối với hàng nhập khẩu
- Đánh giá thực trạng cơ chế xác định Trị giá Hải quan của một số nước
và rút ra các bài học kinh nghiệm
- Phân tích những khó khăn, thuận lợi và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện qui trình xác định Trị giá Hải quan của Việt Nam
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 4 chương:
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP KHẨU
CHƯƠNG 2 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 3 XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP KHẨU TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
CHƯƠNG 4 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TRỊ GIÁ HẢI QUAN Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN ĐỐI VỚI
HÀNG NHẬP KHẨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1 Nội dung tổng quan các công trình nghiên cứu
1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu về Trị giá Hải quan của WTO
Trong cuốn sách: “Các phương pháp xác định Trị giá Hải quan theo
GATT và kiểm toán Hải quan” của tác giả Phạm ngọc Hữu biên soạn và hiệu
đính- Nxb Tài chính Hà nội – 1996, đã trình bày những phương pháp luận cơ bản về xác định giá trị Hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo Hiệp định trị giá GATT/WTO phục vụ cho quá trình quản lý, điều hành vĩ mô nền kinh tế thị trường
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành mã số N08-2000 “Xác định lộ
trình tiến tới thực hiện Hiệp định trị giá GATT/WTO và các giải pháp thực thi” do Cục Kiểm tra thu thuế xuất nhập khẩu thuộc Tổng cục Hải quan thực
hiện năm 2000 đã khẳng định: Vận dụng và quản lý đúng đắn nghiệp vụ xác định trị giá hàng hóa nhập khẩu theo mục đích Hải quan là một trong những vấn đề mà Hải quan toàn thế giới đã và đang phải quan tâm sử dụng Hiệp định Thực hiện Điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT/WTO 1994 có hiệu lực đối với các nước thành viên của WTO từ 1/1/1995 Hiệp định này là hệ thống phương pháp xác định Trị giá Hải quan của hàng nhập khẩu đã được chấp nhận
1.1.1.2 Các công trình nghiên cứu về Trị giá Hải quan đang áp dụng tại các nước trên Thế giới
Luận văn thạc sỹ Luật với chủ đề: “Trị giá Hải quan của WTO, thực
trạng và áp dụng tại Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”
(2012) của tác giả Đào Ngọc Thành đã tiếp cận cơ sở lý luận về việc xác định
Trang 16trị giá tính thuế cho hàng hoá xuất, nhập khẩu theo Hiệp định trị giá GATT/WTO Tiếp cận làm rõ những mặt được trong các qui định của pháp luật hiện hành và thực tế hoạt động của Trung Quốc trong lĩnh vực xác định Trị giá Hải quan, so sánh với thực tiễn áp dụng ở Việt Nam để rút ra những bài học kinh nghiệm phục vụ công tác quản lý nhà nước về Hải quan Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về việc xác định trị giá tính thuế cho hàng hoá xuất, nhập khẩu Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước của cơ quan Hải quan trong lĩnh vực xác định trị giá cho hàng hoá XNK ở
Việt Nam
1.1.1.3 Các công trình nghiên cứu về Trị giá Hải quan đang được áp dụng tại Việt Nam
Luận văn thạc sỹ Luật: “Hiệp định trị giá GATT, kinh nghiệm một số
nước và thực trạng áp dụng tại Việt Nam”, (2010) của Nguyễn Thị Ngoan
cũng phân tích những đặc điểm, bất cập về cơ chế xác định trị giá tính thuế theo bảng giá tối thiểu trước thời điểm chính thức áp dụng hiệp định trị giá GATT/WTO (trước năm 2004) Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về trị giá tính thuế theo các phương pháp của GATT/WTO và cơ chế xác định giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu theo Luật pháp Việt Nam hiện nay Đánh giá đúng thực trạng cơ chế xác định giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu hiện hành ở Việt Nam, chỉ ra những bất cập, hạn chế của công tác xác định giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu hiện hành Đề xuất giải pháp tiếp tục hoàn thiện cơ chế và nâng cao hiệu quả thực thi trong việc kiểm tra, xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu theo xu hướng hội nhập quốc tế
Bài viết: “Thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong xu thế hội nhập và tự
do hóa thương mại Quốc tế (2015)”, của Nguyễn Thị Thanh Hoài đã chỉ rõ: Trong
xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới và khu vực, nước ta đã và đang từng bước hòa mình để phát triển kinh tế và mơ rộng quan hệ đối ngoại Việc buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa nước ta và các nước trong khu vực cũng như với các nước
Trang 17trên thế giới ngày càng đa dạng phong phú Để quản lý được các hoạt động mua bán với các nước, nhà nước đã có nhiều biện pháp, trong đó thuế xuất nhập khẩu
là một trong những công cụ chủ yếu Thông qua việc ban hành và thực thi chính sách thuế xuất nhập khẩu, chúng ta có thể nắm đủ tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa, tạo điều kiện cho nhà nước có căn cứ đề ra chính sách ngoại thương đúng đắn, cân đối cung, cầu hàng hóa nhập khẩu và cân bằng cán cân thanh toán Thuế xuất nhập khẩu là một trong những nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của nước ta đã được Quốc hội thông qua ngày 26.12.1991 Từ đó đến nay đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, đáp ứng các yêu cầu khách quan của quá trình phát triển kinh tế và thực tiễn trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý Kinh tế với chủ đề “Hoàn thiện
cơ chế xác định trị giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu tại Việt Nam” của tác giả
Trương Thế Hùng đã hệ thống hoá, phân tích, so sánh các cơ chế, chính sách liên quan đến xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu Phân tích những cơ chế do ngành Hải quan ban hành, chính sách do Chính phủ và các ngành hữu quan ban hành mà ngành Hải quan phải thực hiện, qua đó đánh giá những thuận lợi, khó khăn của từng loại cơ chế, chính sách đối với hoạt động xác định trị giá hàng hoá nhập khẩu hiện nay Đánh giá thực trạng hoạt động xác định giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu hiện nay trên cơ sở khảo sát, điều tra, thu thập, phân tích các dữ liệu giá tính thuế tại ngành Hải quan Phân tích những khó khăn, thuận lợi và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện qui trình xác định trị giá tính thuế hiện nay về
cơ chế chính sách, về điều kiện trang thiết bị làm việc và con người thực hiện, về quan hệ phối hợp trong và ngoài ngành, về nhận thức và tình hình chấp pháp của người nhập khẩu, doanh nghiệp
Bài viết, “Nâng cao hiệu quả công tác xác định trị giá tính thuế hàng
nhập khẩu theo hiệp định Trị giá Hải quan” của các tác giả: Lê Thành Phong,
Trần Đình Tuấn, Vũ Thị Quỳnh Chi, trên tạp chí Khoa học & Công nghệ số
Trang 1898 (10), cho rằng: Trị giá Hải quan GATT/WTO là một hệ thống tiên tiến, phù hợp với một thế giới đang được toàn cầu hóa hết sức mạnh mẽ Việc áp dụng Hiệp định Trị giá Hải quan ở Việt Nam vừa có tính bắt buộc theo các cam kết quốc tế, vừa do tính ưu việt của Hiệp định trong công tác xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu Kể từ khi thực hiện toàn bộ nội dung Hiệp định Trị giá Hải quan đến nay, Việt Nam đã thu được những kết quản đáng ghi nhận trong việc xác định Trị giá Hải quan hàng nhập khẩu, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề đang tồn tại cần được hoàn thiện của toàn bộ hệ thống Trong thời gian tới, các cơ quan quản lý Nhà nước còn phải tiếp tục nghiên cứu để chuyển hóa được toàn bộ nội dung của hệ thống xác định trị giá theo Hiệp định vào văn bản pháp luật ở cấp độ quy định cao hơn Những giải pháp đề xuất cho Nhà nước và ngành Hải quan xuất phát từ đánh giá thực trạng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu, thực hiện áp dụng đầy đủ Hiệp định Trị giá Hải quan của WTO tại Việt Nam trong lâu dài, tăng được nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đảm bảo sự công bằng và hiệu quả kinh doanh cho cộng
đồng doanh nghiệp, đẩy mạnh giao lưu thương mại Quốc tế
Bài viết: “Giải pháp nâng cao chất lượng thực thi hiệp định trị giá wto
tại Việt Nam (2016)” của tác giả Lê Thị Ánh Tuyết, trên Tạp chí Hải Quan
cho rằng: Hiệp định trị giá WTO trở thành điều kiện bắt buộc cho tất cả các nước tham gia WTO Với tư cách là thành viên, Việt Nam phải thực thi đầy
đủ các quy định trong Hiệp định trị giá WTO Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới công tác xác định Trị giá Hải quan tại Việt Nam Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác Trị giá Hải quan ở nước ta thời gian qua, bài viết đã đề xuất các nhóm giải pháp để có thể nâng cao hiệu quả thực thi Hiệp định trị giá WTO, đảm bảo nguồn thu Hải quan của Việt Nam trong thời gian tới
- Sách “Cộng đồng doanh nghiệp – cơ quan Hải quan và Hiệp định trị
giá GATT/WTO” do Tổng cục Hải quan biên soạn tháng 5-2001
- Sách “Hướng dẫn xác định Trị giá Hải quan Asean (ACVG)” do
Trang 19Tổng cục Hải quan biên soạn tháng 4-2004
- Giáo trình “Thuế và Trị giá Hải quan” do trung tâm đào tạo, bồi
dưỡng công chức Hải quan thuộc Tổng cục Hải quan biên soạn năm 2006
- Sách “Sổ tay kiểm tra Trị giá Hải quan của Tổ chức Hải quan thế giới
WCO” do trung tâm đào tạo, bồi dưỡng công chức Hải quan thuộc Tổng cục
Hải quan biên soạn tháng 4-2007
- Sổ tay Hiện đại hoá Hải quan do Ngân hàng Thế giới xuất bản (bản
dịch năm 2007)
- Tài liệu “Cải các thủ tục xuất nhập khẩu hướng dẫn cho đối tượng
thực thi” do các Doanh nghiệp vừa và nhỏ - Ngân hàng Thế giới xuất bản
tháng 9/2008
- Hiệp định trị giá GATT/WTO (ACV) bản tiếng Anh và tiếng Việt
- Các văn bản Luật Hải quan năm 2001, Luật Hải quan sửa đổi bổ sung năm 2005; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Quản lý thuế; Luật Kế toán và các chuẩn mực kế toán hiện hành; Luật Ngân hàng, Luật Đầu tư, nghiên cứu những điều qui định liên quan đến xác định trị giá tính thuế
- Các Nghị định của Chính phủ qui định chi tiết thi hành các Luật nêu trên và các thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành hữu quan, đặt biệt là các qui định riêng trong lĩnh vực kiểm tra, xác định trị giá tính thuế
- Các văn bản của ngành Hải quan về qui trình nghiệp vụ, tổ chức hệ thống kiểm tra và xác định Trị giá Hải quan, về tờ khai trị giá, về thu thập, cập nhật khai thác thông tin dữ liệu giá tính thuế, từ cơ quan Hải quan trung ương đến Cục Hải quan, Chi cục Hải quan địa phương
(Phụ lục 8: Danh mục các văn bản Luật và các văn bản khác về xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu tại Việt Nam)
1.1.2 Đánh giá kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan
Các công trình nghiên cứu trên hoặc phân tích trên khía cạnh Luật pháp hoặc đề cập đến các khía cạnh về kỹ thuật cũng như giới thiệu các phương
Trang 20pháp mang tính chất chung nhất, chưa có công trình nào đi sâu đánh giá thực trạng áp dụng cơ chế xác định trị giá tính thuế Hải quan theo WTO của một số quốc gia, để từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc tìm kiếm những giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện cơ chế xác định trị giá tính thuế hiện nay cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay và tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về Trị giá Hải quan đối với hàng nhập khẩu
1.2.1 Khái niệm và lịch sử hình thành Trị giá Hải quan
1.2.1.1 Khái niệm Trị giá Hải quan
Khái niệm Trị giá Hải quan đã xuất hiện từ lâu trên thế giới nhưng phải trải qua rất nhiều năm con người mới có thể hiểu rõ hơn và có cái nhìn tổng quan hơn về khái niệm này
Trong lý thuyết thương mại Quốc tế, thuế quan là một công cụ của chính sách thương mại Quốc tế Thuế quan là khoản thuế đánh vào hàng hóa
và dịch vụ khi chúng được chuyển qua biên giới quốc gia Thuế quan có thể được áp dụng đối với cả hàng hóa xuất khẩu lẫn nhập khẩu Tuy nhiên, trên thế giới thuế quan nhập khẩu vẫn là chủ yếu cho nên người ta thường hay dung thuật ngữ thuế thuế quan để chỉ thuế quan nhập khẩu Có nhiều cách đánh thuế khác nhau như: tính và thu một số tiền nào đó đối với mỗi đơn vị hàng hoá hoặc tính theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với tổng trị giá hàng hoá, hay
là kết hợp cả hai cách đó ở nước ta, cách tính thuế là căn cứ vào số lượng từng mặt hàng thực tế nhập nhân với giá tính thuế nhân với thuế xuất của từng mặt hàng ghi trong biểu thuế Giá tính thuế nhập khẩu là giá CIF Biểu thuế quan được xây dựng trên cơ sở chính sách quản lý nhập khẩu của mỗi nước, mức thuế có thể tính chung cho tất cả các nước theo từng mặt hàng, nhưng cũng có thể tính riêng cho từng nhóm nước Mức thuế chỉ có thể có một, nhưng cũng có thể có hai mức: thông thường (chung cho tất cả) và ưu đãi Thuế ưu đãi: các nước được hưởng quyền đãi ngộ tối huệ quốc được hưởng
Trang 21mức thuế ưu đãi theo Hiệp định Đối với loại thuế ưu đãi có thể tính theo mức thuế thông thường rồi giảm đi một số phần trăm, hoặc quy định riêng mức thuế ưu đãi Một số nước cùng tham gia khối kinh tế, như ASEAN (các thành viên khối) có thoả thuận về ưu đãi thuế quan bằng cách giảm mức thuế hoặc
áp dụng mức thuế số không
Các nước phát triển ưu đãi thuế quan cho các nước đang phát triển theo hệ thống ưu đãi chung (GSP) nhưng có hạn chế theo mặt hàng và bằng các quy định bằng nước xuất xứ theo quan điểm thị trường có điều kiện, dành riêng cho hàng hoá của các nước đang phát triển Theo hệ thống này, các hàng hoá có thể được nhập khẩu từ các nước được hưởng quyền đó sẽ tính thuế theo mức phổ thông hoặc số không tuỳ theo mặt hàng và quan hệ với nước đó Năm 1993, Cộng đồng châu âu cấp hạn ngạch nhập khẩu may mặc của Việt Nam và cho hàng hoá này được hưởng ưu đãi thuế quan chung (GSP) của EU
Do nhận thức được tầm quan trọng của Trị giá Hải quan trong công tác quản lý Nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu nên Tổ chức Hải quan thế giới
đã ban hành Hiệp định trị giá GATT Hiệp định GATT ra đời đã đánh dấu bước phát triển mới cho ngành Hải quan thế giới và đặt ra nhiều nhiệm vụ cho các nước thành viên Liên quan đến khái niệm Trị giá Hải quan, có một số khái niệm được hiểu một cách tương tự Một số quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản và cả Việt Nam, trước 2006 đều gọi là trị giá tính thuế Còn trong Hiệp định về xác định trị giá tính thuế Hải quan Hiệp định thực thi Điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 (GATT 1994), thì được
gọi một cách đầy đủ là trị giá tính thuế Hải quan
Trị giá Hải quan là yếu tố quan trọng (cùng với số lượng hàng hoá và mức thuế suất đối với mỗi loại hàng hoá đó) cấu thành nên thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Bởi vậy xác định Trị giá Hải quan là một công tác quan trọng trong hệ thống thuế quan hiện đại đảm bảo cho qui trình thủ tục Hải quan nói chung và kiểm tra tính thuế nói riêng được thuận lợi và chính xác
Trang 22Theo điều 15 Hiệp định trị giá GATT/WTO: “trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu” là trị giá của hàng hóa phục vụ cho mục đích đánh thuế nhập khẩu theo trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu Trong đó: “nước nhập khẩu” là nước hoặc lãnh thổ Hải quan nơi nhập khẩu; và “được sản xuất” bao gồm được trồng trọt, được chế tạo và được khai mỏ
Theo Điều 9 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005 quy định “giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên theo hợp đồng, phù hợp với cam kết quốc tế” Điều 1 Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ qui định về xác định trị giá đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
“Xác định Trị giá Hải quan nhằm mục đích tính thuế và thống kê đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu”
Sau khi Việt Nam chính thức áp dụng trị giá tính thuế hàng hóa xuất
nhập khẩu theo quy định của WTO thì thống nhất tên gọi là Trị giá Hải quan
Từ các khái niệm nêu trên, có thể hiểu: “Trị giá Hải quan đối với hàng hoá
nhập khẩu là Trị giá Hải quan của hàng hoá nhập khẩu đó phục vụ mục đích tính thuế” Trong luận văn này, sẽ sử dụng thuật ngữ thống nhất là: “Trị giá Hải quan đối với hàng nhập khẩu”
1.2.1.2 Lịch sử hình thành Trị giá Hải quan
Năm 1946 một nhóm 23 nước đã đàm phán và thỏa thuận một Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (General Agreement on Tariffs and Trade - GATT) Hiệp định GATT có hiệu lực từ 1/1/1948 Hiệp định GATT trở thành cơ cấu đa phương duy nhất điều chỉnh thương mại Quốc tế cho đến khi Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ra đời năm 1994 WTO coi GATT cũng như Hiệp định Trị giá Hải quan là một phần bắt buộc các nước thành viên của WTO phải thực hiện Những nguyên tắc chung về xác định trị giá Hải quan đã được đưa ra tại Điều 7 của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại vào năm 1947, Hiệp định này được gọi tắt là GATT (General
Trang 23Agreement on Tariffs and Trade) Từ đó đến nay việc hình thành và phát triển của các phương pháp xác định trị giá tính thuế nhập khẩu có thể chia làm ba giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: Geneve năm 1947 Vào những năm của đầu thế kỷ
mới, các nhóm nước quan tâm đến việc mở rộng thương mại Quốc tế đã nghiên cứu việc thay thế những phương pháp xác định trị giá không ổn định đang áp dụng từ trước tới nay bằng một hệ thống xác định trị giá hiệu quả thống nhất trên phạm vi thế giới Sau nhiều lần áp dụng thử dưới sự bảo trợ của Hội Quốc liên (tiền thân của Liên hiệp quốc), lần đầu tiên tại hội nghị của Liên hiệp quốc về vấn đề thương mại và việc làm tổ chức tại Geneve năm 1947, các quốc gia đã đưa ra các nguyên tắc chung để xác định trị giá Các kết luận của hội nghị này đã được thể hiện trong Điều 7 Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) với nguyên tắc chính là việc xác định trị giá Hải quan phải dựa trên bản thân giá trị thực tế của hàng hoá đó Tuy nhiên, tại thời điểm đó, Điều 7 Hiệp định GATT cũng chỉ mới đưa ra những nguyên tắc mang tính chất chung và cung cấp thêm một số ứng dụng thực tế chứ chưa đưa ra được những phương pháp xác định trị giá cụ thể Hệ thống xác định trị giá theo Hiệp định đã đưa ra được những nguyên tắc xác định trị giá thực tế, công bằng, đồng thời loại trừ được những việc xác định trị giá tùy tiện hoặc giả tạo
Giai đoạn thứ hai: Brussels 1953 Một nhóm nghiên cứu của Hiệp hội
Hải quan các nước Tây Âu gồm 11 nước đã đưa ra một định nghĩa về trị giá Hải quan được áp dụng ở tầm cỡ quốc tế, đó là định nghĩa Brussels (viết tắt là BDV) Định nghĩa này được nêu lên trong Công ước về xác định trị giá Hải quan ký tại Brussels ngày 15.12.1950 và có hiệu lực từ ngày 28.7.1953 Định nghĩa này chủ yếu dựa vào hệ thống xác định trị giá đã được áp dụng thành công ở các nước thành viên qua vài năm, đồng thời tính đến những nguyên tắc xác định trị giá Hải quan thời kỳ đó mới được đưa vào Hiệp định GATT Nội dung của Định nghĩa đã đưa ra một khái niệm lý thuyết về trị giá Hải quan,
Trang 24trong đó đề cập đến các yếu tố về giá cả, thời gian, địa điểm, số lượng và cấp
độ thương mại Đặc biệt sau khi xuất bản tập chú giải năm 1960 thì Định nghĩa này nhận được sự ủng hộ từ khắp nơi trên thế giới, số lượng các nước
ký kết Hiệp định lên tới 33 nước và khoảng 70 nước khác công nhận áp dụng Hiệp định vào những năm đầu của thập kỷ 70
Giai đoạn thứ 3: Geneve 1973 tới nay sau khi vòng đàm phán Tokyo
đưa ra những chính sách thương mại quốc tế lớn nhất trong thời đại chúng ta, nhằm mục đích tự do hoá mậu dịch ngày càng lớn giữa các nước khác nhau, loại bỏ những trở ngại trong buôn bán quốc tế Một trong những biện pháp nhằm đạt được mục đích này là việc đưa ra được một hệ thống quốc tế về xác định trị giá Hải quan để áp dụng thống nhất trên toàn thế giới Đó là việc thông qua Hiệp định liên quan đến việc thực hiện Điều 7 của GATT Hiệp định được thông qua vào năm 1979 và có hiệu lực từ 01.01.1981, gọi tắt là Hiệp định giá Hải quan GATT Hiệp định này quy định một hệ thống các phương pháp xác định trị giá Hải quan trên cơ sở trị giá giao dịch thực tế của hàng hoá nhập khẩu, tức là giá thực tế đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán
Từ vòng đàm phán Uruguay, năm 1994, Hiệp định lại được bổ sung, sửa đổi hoàn chỉnh Hệ thống xác định trị giá theo Hiệp định này đã đưa ra những phương pháp xác định trị giá có tính đến thực tiễn thương mại quốc tế, nhằm đảm bảo tính công bằng và chính xác
Trong điều kiện thương mại quốc tế ngày càng tăng nhanh, một số nước phát triển đã liên kết với nhau để tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hóa các quy định của GATT nhằm làm tăng năng lực áp dụng và tính hiệu quả của văn bản này Kết quả là hàng loạt hiệp định cụ thể đã ra đời và giải thích, cụ thể hóa hơn nữa những điều khoản quy định của GATT, là những nội dung vẫn được coi là quá trừu tượng, khó hiểu và khó áp dụng
Cho đến năm 1994, trước áp lực của xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế
và thương mại thế giới, các nước chủ chốt của GATT đã đi đến quyết định
Trang 25nhất thể hóa toàn bộ các hiệp định, hiệp ước, công ước liên quan đến thương mại và dịch vụ thành một hệ thống thống nhất, có một cơ quan chính thức quản lý và điều hành Do đó, năm 1994, Tổ chức thương mại thế giới WTO
đã ra đời và thay thế GATT WTO không chỉ đơn giản là sự kế thừa của GATT, mà còn có phạm vi hoạt động lớn hơn rất nhiều Nó vừa là cơ quan quản lý, vừa là cơ quan trọng tài đứng ra phán xử các tranh chấp quốc tế về các hoạt động thương mại Quốc tế
Cùng với sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới WTO, Hiệp định về thực hiện điều VII của Hiệp định chung về thuế và thương mại hay còn được biết đến với cái tên Hiệp định trị giá Hải quan GATT đã được sửa đổi và có tên là Hiệp định về thực hiện điều VII của Hiệp định chung về thuế và thương mại 1994
Từ tháng 1 năm 1995, Hiệp định trị giá Hải quan thường được cộng đồng quốc tế biết đến là Hiệp định Trị giá Hải quan của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTOVA)
Cho đến trước thời điểm 1994, khi hệ thống xác định trị giá Hải quan theo WTO được thừa nhận và trở thành hệ thống chuẩn mực cho Hải quan quốc tế, các cơ quan Hải quan trên toàn thế giới đã sử dụng nhiều phương pháp xác định trị giá Hải quan khác nhau để xác định trị giá phục vụ cho việc tính thuế Hải quan Phần lớn các phương pháp xác định trị giá được xây dựng nhằm thu được càng nhiều cho ngân sách càng tốt và không quan tâm đến tính công bằng, thống nhất và minh bạch Một số phương pháp xác định trị giá Hải quan mang tính áp đặt nên trị giá tính thuế có thể là hư cấu, không có thật Một số hệ thống xác định trị giá cho phép Hải quan có quyền can thiệp vào các hoạt động thương mại Do vậy, nhằm tránh phải nộp thuế cao, các nhà nhập khẩu đã tìm cách nhập lậu hàng hoá Mặt khác, với những hệ thống xác định trị giá Hải quan không minh bạch, có tính áp đặt cao, các nhà xuất khẩu hàng hoá không có khả năng tiên đoán số thuế phải nộp khi xây dựng giá bán
Trang 26hàng xuất khẩu nhằm đảm bảo tính cạnh tranh của sản phẩm của mình trên thị trường nội địa của nước nhập sản phẩm
Trong hoạt động thương mại quốc tế, để tính thuế nhập khẩu cho hàng hóa nước ngoài nhập khẩu, Hải quan các nước thường dùng 03 phương pháp sau:
i) Tính thuế theo phần trăm trị giá hàng hoá (ví dụ thuế suất 5% mức giá hàng hoá ghi trên hợp đồng);
ii) Tính thuế theo định lượng (trọng lượng, thể tích hoặc số lượng hàng hoá) (ví dụ mức 5$ với mỗi kg hàng hoặc với mỗi lít…);
iii) Tính thuế theo phương thức phức hợp (kết hợp cả cách tính theo trị giá hàng và định lượng)
Trong số 03 phương pháp tính thuế quan nói trên, phương pháp thứ nhất được xem là công bằng và thuận tiện nhất Công bằng vì thuế phải nộp cho hàng giá rẻ sẽ thấp hơn thuế phải nộp cho hàng giá cao (trong khi cách tính theo định lượng thì cứ hàng nặng hơn, nhiều hơn thì thuế cao hơn) Thuận tiện vì doanh nghiệp dễ xác định mức thuế để tính toán giá khi giao dịch; Nhà nước cũng dễ ước tính nguồn thu từ thuế Hiện nay hầu hết các nước đã sử dụng phương pháp tính thuế theo phần trăm trị giá hàng hoá
Để tính thuế theo phương thức “phần trăm trị giá hàng hoá”, điểm mấu chốt là xác định “trị giá hàng hoá” để tính thuế (hay còn gọi là “trị giá tính thuế Hải quan”) Đây được xem là vấn đề gây nhiều mâu thuẫn giữa cơ quan thu thuế (Hải quan) và doanh nghiệp nộp thuế Hải quan luôn có xu hướng muốn tính thuế nhiều hơn, và vì thế chọn phương pháp tính toán nào cho trị giá hàng hoá cao nhất có thể Doanh nghiệp lại luôn muốn thuế thấp nhất, vì thế muốn sử dụng phương pháp tính nào đó để có trị giá hàng hoá khai báo thấp Để giải quyết mâu thuẫn này, tạo điều kiện thuận lợi để tự do hóa thương mại, các nước thành viên WTO đã đàm phán và thông qua Hiệp định
về xác định trị giá tính thuế Hải quan (Agreement on Custom Valuation – sau đây gọi là Hiệp định ACV) nhằm thống nhất về phương pháp tính trị giá hàng
Trang 27hoá Các doanh nghiệp cần nắm vững các nguyên tắc tính trị giá tính thuế Hải quan của Hiệp định này bởi đây sẽ là công cụ để doanh nghiệp bảo vệ lợi ích thiết thân của mình khi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá Hiệp định được xây dựng trên tư tưởng tự do hoá thương mại (có lợi cho doanh nghiệp) nhưng vẫn tôn trọng chủ quyền tương đối của các quốc gia thành viên Do đó: Một mặt, Hiệp định quy định những nguyên tắc chung về cách thức và phương pháp tính trị giá tính thuế một cách công bằng mà Hải quan tất cả các nước thành viên phải tuân thủ; do đó là một sự bảo đảm cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu; Mặt khác, Hiệp định cũng là một sự thoả hiệp, chấp nhận quyền từ chối áp dụng phương pháp tính Trị giá Hải quan chuẩn của cơ quan Hải quan trong một số trường hợp
Để khuyến khích nhập khẩu phục vụ sản xuất và xuất khẩu, luật thuế
xuất khẩu, nhập khẩu còn quy định các trường hợp được miễn giảm và hoàn
lại thuế Thuế còn được hoàn lại cho người nhập khẩu trong trường hợp hàng
là vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu, hàng tạm nhập
để tái xuất Như trên đã trình bày, mục đích của việc đánh thuế nhập khẩu là bảo hộ sản xuất trong nước và tạo nguồn thu cho ngân sách Trong một nước
mà hệ thống thuế chưa phát triển, thuế xuất nhập khẩu gần như được xem là một nguồn thu chính vì dễ thu
- Các loại thuế theo số lượng được coi như là một số tiền nhất định đánh vào từng đơn vị hàng nhập khẩu
- Thuế theo giá trị là loại thuế được tính bằng một tỷ lệ nhất định đánh vào giá trị hàng nhập khẩu
Có nhiều cách tính thuế, thông thường thuế tính theo giá trị thường được sử dụng vì dễ áp dụng trong cách tính và cả quản lý Tuy nhiên, để thực hiện các chính sách ngoại thương của Chính phủ, trong tính thuế còn phối hợp
nhiều cách, trong đó có cách tính theo mức giá đối đa và tối thiểu, theo giá
Trang 28hóa đơn để phân biệt các mức thuế khác nhau tùy vào nguồn hàng nhập
khẩu hay để tránh gian lận thương mại
Trong giao dịch thương mại quốc tế hiện nay, để định giá trị hàng hóa tính thuế quan, các nước thường áp dụng theo “qui tắc định giá thuế quan” theo Hiệp định về thực hiện điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 (GATT 1994) Có thể chọn một trong 6 cách xác định giá trị tính thuế được qui định từ điều 1 đến điều 7 của Hiệp định, các cách tính này đều tôn trọng một quy luật duy nhất là “giá trị giao dịch của hàng hóa” và
“đúng sự thực”
Dưới đây là một số ví dụ về các hệ thống xác định trị giá Hải quan đã được sử dụng ở các nước Tuy nhiên đến nay, hầu hết các hệ thống này đều đã
bị hủy bỏ và chuyển sang áp dụng Hiệp định Trị giá Hải quan WTO:
- Định nghĩa trị giá Brussels (BDV): trị giá Hải quan là giá bán thông thường;
- Trị giá nội địa hiện hành (CDV): trị giá Hải quan là giá bán hàng cùng loại sản xuất trong nội địa nước xuất khẩu;
- Hệ thống giá bán của Mỹ: trị giá Hải quan là giá bán hàng cùng loại sản xuất tại Mỹ;
- Phương pháp xác định trị giá Hải quan theo “trị giá thực”;
- Phương pháp trị giá tổi thiểu
Để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, Việt Nam đã từng bước thực hiện Hiệp định Trị giá Hải quan WTO, ban hành Nghị định 60/2002/NĐ-
CP ngày 06/6/2002 dựa trên tinh thần của Hiệp định Trị giá Hải quan WTO
và chính thức bãi bỏ bảng giá tối thiểu từ tháng 10 năm 2004 Từ 01/01/2006, các quy định về xác định trị giá Hải quan của Việt Nam được nêu tại Nghị định 155/2005/NĐ-CP đã được thay thế bằng Nghị định 40/2007/NĐ-CP ngày 16/03/2007 và Thông tư 113/2005/TT-BTC đã được thay thế bằng Thông tư 40/2008/TT-BTC ngày 21/05/2008
Trang 291.2.2 Vai trò của việc xác định Trị giá Hải quan
Việc xác định Trị giá Hải quan đối với hàng nhập khẩu, có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý thu thuế đối với hoạt động nhập khẩu Cụ thể:
- Trị giá Hải quan phục vụ mục tiêu quản lý và xây dựng chính sách xuất nhập khẩu hàng hoá trong nền kinh tế Trị giá Hải quan còn cho biết tổng trị giá hàng hoá đã được thực xuất khẩu hay nhập khẩu qua từng thời kỳ Đây chính là số liệu quan trọng để xây dựng bảng cân đối kim ngạch XNK của nền kinh tế, từ đó giúp cơ quan quản lý có thể biết được trong kỳ đó, thời điểm đó, giai đoạn đó nền kinh tế có đạt được sự cân bằng về cán cân thương mại hay không, có hiện tượng nhập siêu hay xuất siêu không để có chính sách điều chỉnh (về hạn ngạch hoặc về thuế) và quản lý kịp thời
- Trị giá Hải quan là cơ sở để thực thi các chính sách quản lý hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Trong một số trường hợp, để bảo hộ nền sản xuất trong nước và điều chỉnh các chính sách đối ngoại song phương, các quốc gia thường sử dụng công cụ hạn ngạch (quota) như một hàng rào phi thuế quan Trị giá Hải quan sẽ là cơ sở số liệu để cơ quan quản lý thương mại đánh giá hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đạt hay vượt hạn ngạch qui định, từ
đó có biện pháp điều chỉnh về chính sách thương mại hay chính sách thuế (thuế hạn ngạch)
- Trị giá Hải quan tham gia thực hiện nhiệm vụ thống kê hoạt động xuất nhập khẩu qua các thời kỳ của nền kinh tế
- Trị giá Hải quan là cơ sở quan trọng cho việc tính toán, xác định thuế đánh vào hàng hoá xuất nhập khẩu Đây là vai trò cơ bản của trị giá tính thuế Với vai trò này trị giá tính thuế đồng nghĩa với Trị giá hải quan
- Trị giá Hải quan góp phần hình thành đúng giá cả hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Với một cơ chế tính thuế nhất định, xác định đúng trị giá tính thuế
sẽ góp phần bình ổn giá cả thị trường hàng hoá xuất nhập khẩu
- Trị giá Hải quan là yếu tố cơ bản cấu thành hệ thống thuế quan của
Trang 30một quốc gia, là căn cứ để xác định các loại thuế nhập khẩu, tiêu thụ đặc biệt, giá trị gia tăng, chênh lệch giá hàng nhập khẩu Bởi vậy xét về mặt tài chính, trị giá tính thuế hàng nhập khẩu là cơ sở để tập trung nguồn thu cho ngân sách nhà nước Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, phát triển sản xuất trong nước đều có chính sách khuyến khích xuất khẩu, vì vậy thuế đối với hàng hoá xuất khẩu thường có mức thuế suất là 0% Nguồn thu thuế quan chủ yếu từ hàng hoá nhập khẩu
- Xác định đúng về trị giá tính thuế sẽ góp phần chống thất thu cho ngân sách Nhà nước, bảo hộ sản xuất trong nước phát triển, tạo sự minh bạch, bình đẳng trong cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường, kích thích phát triển giao lưu thương mại quốc tế
- Xác định đúng về trị giá còn góp phần xác định đúng về kim ngạch nhập khẩu, làm căn cứ số liệu để Chính phủ điều hành và quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia
1.2.3 Nguyên tắc xác định Trị giá Hải quan theo WTO
Trị giá Hải quan là căn cứ để xác định số tiền thuế xuất khẩu, nhập khẩu mà khoản thuế này chiếm phần lớn trong ngân sách Nhà nước nên khi xác định Trị giá Hải quan cần tuân thủ các nguyên tắc dưới đây:
Trị giá Hải quan phải căn cứ vào giá thực tế của hàng hóa nhập khẩu
và trị giá giao dịch được sử dụng trong phạm vi lớn nhất có thể Giá thực tế
của hàng hóa là giá cả của hàng hóa được bán trong kỳ kinh doanh bình thường, trong điều kiện cạnh tranh bình đẳng Áp dụng trị giá giao dịch sẽ tạo điều kiện cho Doanh nghiệp dự tính được số tiền thuế phải nộp khi có hoạt động nhập khẩu hàng hóa, từ đó có biện pháp quản lý tài chính phù hợp Trị giá Hải quan không căn cứ vào giá của hàng hóa được sản xuất trong nước, trị giá hư cấu hay áp đặt Do có sự khác nhau về điều kiện sản xuất, về khả năng cạnh tranh và điều kiện hỗ trợ của Nhà nước cho từng mặt hàng, từng Doanh nghiệp Sử dụng trị giá hư cấu hay áp đặt không những không phản ánh đúng
Trang 31trị giá lô hàng mà còn gây tâm lý bất an cho các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu, gây nên sự không công bằng, và còn làm tăng hiện tượng tham nhũng trong cán bộ công chức Cán bộ công chức giá không được phép tự ý nâng giá khi thấy giá thỏa thuận giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu được coi là quá thấp so với giá cả trên thị trường hoặc so với giá chuẩn
Trị giá Hải quan phải là mức giá mà tại đó hàng nhập khẩu hoặc hàng hóa giống hệt/ tương tự được bán trong kì kinh doanh bình thường với điều kiện cạnh tranh đầy đủ Để đảm bảo so sánh được giữa các số liệu trong nền kinh tế
có sự cạnh tranh gay gắt, tức là loại bỏ các yếu tố có tác động ảnh hưởng đến quan hệ mua bán hay trị giá hàng nhập thì đây là nguyên tắc quan trọng
Sử dụng các dữ liệu khách quan và có thể định lượng được Trị giá Hải
quan không chỉ gồm trị giá của mỗi hàng hóa mà còn gồm các chi phí liên quan đến việc nhập khẩu hàng Các chi phí này có thể được cộng thêm hoặc trừ ra khỏi trị giá, do đó nó phải căn cứ vào dữ liệu khách quan và có thể định lượng được Điều này có nghĩa là các chi phí đó phải hoàn toàn căn cứ vào các yếu tố cụ thể, biểu hiện bằng các con số thực tế trên các chứng từ có tính pháp lý
Trị giá Hải quan phải xác định dựa trên những tiêu chí đơn giản, thống nhất, bình đẳng và phù hợp với thông lệ quốc tế Sự phát triển của thương mại toàn cầu
cũng đòi hỏi ngành Hải quan trong đó có vấn đề xác định Trị giá Hải quan phải được thống nhất giữa các quốc gia, tạo thuận lợi cho thương mại phát triển
Trị giá Hải quan của hàng nhập khẩu phải là giá trị giao dịch, tức là
giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa được bán để xuất khẩu đến nước nhập khẩu có điều chỉnh phù hợp với các quy định Trong đó:
Giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán là tổng số tiền mà
người mua đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán, trực tiếp hoặc gián tiếp cho người bán để mua hàng hóa nhập khẩu
Trang 32Bán để xuất khẩu đến Việt Nam: là hoạt động thương mại trong đó có sự
chuyển dịch hàng hoá từ người bán sang người mua, qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam hoặc từ khu phi thuế quan vào thị trường nội địa, nhằm mục đích chuyển quyền sở hữu hàng hoá từ người bán sang người mua
Các khoản điều chỉnh cộng: Nếu xuất hiện những khoản sau trong quá
trình mua hàng thì phải cộng vào để khai báo Đặc điểm chung của các khoản này là phải có liên quan tới hàng hóa, do người mua chịu, chưa nằm trong giá bán, phải định lượng được và có chứng từ hợp pháp chứng minh
Tiền hoa hồng, phí môi giới
- Hoa hồng mua hàng: do nhà nhập khẩu trả khoản này để nhờ đại lý tìm kiếm nhà cung cấp một mặt hàng nào đó, khi đó giá mà nhà xuất khẩu bán cho nhà nhập khẩu sẽ không bị ảnh hưởng từ khoản tiền này Nên khoản này
người nhập khẩu không phải cộng vào
- Hoa hồng bán hàng: do nhà xuất khẩu trả khoản này để nhờ đại lý tìm kiếm khách hàng để mình bán được sản phẩm, Khi đó trong giá sản phẩm bán
ra chắc chắn đã phải cộng chi phí này vào rồi (nhà xuất khẩu không cộng vào thì không lời nhiều hoặc sẽ bị lỗ) Đo đó khoản này nếu nhà xuất khẩu tách
riêng ra trong hóa đơn bán hàng thì nhà nhập khẩu phải cộng vào (Trên thực
tế, rất ít trường hợp nhà xuất khẩu tách riêng khoản này, họ thường gộp chung trên hóa đơn để bán cho nhà nhập khẩu)
- Phí môi giới: Môi giới là người đứng trung gian giúp nhà xuất khẩu
và nhà nhập khẩu xúc tiến quá trình mua bán được thuận lợi Phí này có thể
do một trong hai hoặc cả hai đều trả cho môi giới Khoản này nhà nhập
khẩu phải cộng vào
Phí bao bì/Chi phí đóng gói hàng hóa:
- Chi phí được bán đồng nhất với hàng hóa (không bao gồm các loại bao bì dùng trong vận chuyển quốc tế như: Container, thùng chứa, giá đỡ )
Trang 33thì phải cộng vào trong giá tính thuế nếu như nhà xuất khẩu tách riêng khoảng
này trong giá bán Ví dụ: như bao PE, thùng carton, đai kiện, pallet
- Chi phí cho vật liệu đóng gói gồm: chi phí cho việc mua vật liệu, vận
chuyển vật liệu, nhân công đóng gói: phải cộng vào
Các khoản trợ giúp
Các khoản này do nhà nhập khẩu cung cấp miễn phí hoặc có giá ưu đãi
để giúp nhà xuất khẩu tạo ra sản phẩm bán cho nhà nhập khẩu Nó bao gồm 4 loại hình hỗ trợ sau:
- Nguyên liệu thô, bộ phận, linh kiện làm ra sản phẩm xuất khẩu
- Nhiên liệu, năng lượng tiêu hao trong quá trình sản xuất hàng xuất khẩu
- Dụng cụ, máy móc để sản xuất sản phẩm xuất khẩu: Chỉ cộng vào phần khấu hao máy móc khi sản xuất ra sản phẩm nhập khẩu đó
- Công nghệ sản xuất, bản vẽ, thiết kế kỹ thuật
Phí bản quyền, phí giấy phép
Là loại phí mà nhà nhập khẩu phải trả trực tiếp hoặc gián tiếp cho người chủ sở hữu trí tuệ về các loại hình như: Nhãn hiệu, bằng sáng chế, Quyền tác giả; Thiết kế, công thức, công nghệ Nếu như nhà nhập khẩu sử dụng hoặc áp dụng lên cho hàng hóa nhập khẩu
Chi phí vận tải, bảo hiểm
Đây là chi phí phổ biến, hay gặp và áp dụng nhất trong quá trình mua hàng và khai báo hải quan Nó được tính từ vị trí phát sinh chi phí đầu tiên cho tới điểm dỡ hàng tại nước nhà nhập khẩu Những chi phí phát sinh sau đó như: vận chuyển nội địa, bảo hiểm trong quá trình vận chuyển nội địa sẽ không phải cộng vào trị giá khai báo
Các khoản điều chỉnh trừ: Nếu trong giá hàng hóa đã bao gồm khoản
này thì trừ ra Gồm các khoản sau:
Giảm giá:
Là hình thức giảm giá theo cấp độ thương mại (bán buôn, bán lẻ, bán cho người sử dụng ), giảm giá khi mua số lượng lớn, giảm giá khi thanh toán
Trang 34nhanh, thanh toán toàn phần Hai bên phải thỏa thuận bằng văn bản thể hiện khoản giảm giá này Không áp dụng cho các khoản giảm giá dựa trên các mối quan hệ đặc biệt
Chi phí sau nhập khẩu:
- Chi phí xây dựng, kiến trúc, lắp đặt, bảo dưỡng hoặc trợ giúp kỹ thuật phát sinh sau khi nhập khẩu hàng hóa
- Chi phí vận chuyển bảo hiểm trong nội địa phát sinh sau khi nhập khẩu hàng hóa
- Các khoản thuế, phí, lệ phí phải nộp vào ngân sách nhà nước tính trong giá mua hàng nhập khẩu
Chi phí tiếp thị quảng cáo
Các chi phí cho tiếp thị hoặc quảng cáo xuất hiện trước hoặc sau khi nhập khẩu hàng hóa đều không phải cộng vào Ví dụ: Chi phí nghiên cứu thị trường, Quảng cáo thương hiệu, sản phẩm, Chi phí tham gia hội chợ, triển lãm
Tiền lãi
Tiền lãi này phát sinh do nhà nhập khẩu trả chậm tiền hàng, nhưng phải được lập thành văn bản và lãi suất không được vượt quá lãi suất trần ở Việt Nam Như vậy sẽ không phải cộng vào khi khai báo Hải quan
1.2.4 Các phương pháp xác định Trị giá Hải quan theo WTO
Đây chính là cơ chế xác định giá tính thuế hàng nhập khẩu theo Hiệp định trị giá GATT/WTO ACV (Agreement Customs Value - ACV) ACV liên quan đến việc thực hiện Điều 7 của GATT được thông qua và có hiệu lực thực hiện từ ngày 01/01/1981 Mục đích và nguyên tắc cơ bản của ACV là xây dựng được các phương pháp xác định Trị giá Hải quan, thiết lập được một hệ thống xác định Trị giá Hải quan tích cực, thống nhất, minh bạch và thuận tiện đối với hàng hoá đồng thời tuân thủ điều kiện thực tế về quan hệ thương mại quốc tế nhằm loại bỏ việc xác định Trị giá Hải quan một cách tuỳ tiện hoặc vô căn cứ ACV đưa ra sáu phương pháp khác nhau theo thứ tự cho
Trang 35việc xác định trị giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu và qui định trị giá tính thuế của hàng hoá nhập khẩu phải được xác định ở mức độ nhiều nhất có thể dựa trên trị giá giao dịch tức là giá đã hay sẽ phải thanh toán cộng thêm một số điều chỉnh Khi không thể sử dụng được trị giá giao dịch do không có trị giá giao dịch hoặc mức giá giao dịch đã bị ảnh hưởng bởi một số điều kiện hay hạn chế nhất định, khi đó ACV cung cấp thêm 5 phương pháp khác áp dụng theo một trật tự nhất định
Ngày 29/12/2003, Hải quan Việt Nam bắt đầu thực hiện việc xác định Trị giá Hải quan (General Agreement on Tariff and Trade) của GATT/WTO Trị giá Hải quan là một trong những cam kết Việt Nam thực hiện, cơ quan Hải quan xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo Điều VII của Hiệp định Đến nay, Hải quan Việt Nam đã áp dụng đầy đủ hiệp định này GATT quy định 6 phương pháp làm căn cứ xác định Trị giá Hải quan theo thứ tự từ 1 đến 6 Trong đó, phương pháp 1 là phương pháp chủ yếu và quan trọng nhất, phải được thực hiện đầu tiên Nếu vì lý do chính đáng nào đó, không thực hiện được thì mới thực hiện phương pháp thứ hai…
Phương pháp 1: Trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu (giá thực tế
đã trả hoặc sẽ trả)
Đây là phương pháp chủ yếu xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu, chiếm 90% các lô hàng nhập khẩu cần xác định trị giá ACV định nghĩa Trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu là giá đã hay sẽ phải thanh toán của hàng hoá khi bán để xuất khẩu đến nước nhập khẩu sau khi đã điều chỉnh một
số chi phí qui định tại Điều 8 của Hiệp định Các chi phí đó bao gồm: Các khoản hoa hồng, chi phí Container, chi phí đóng gói, tiền bản quyền và phí giấy phép Các khoản điều chỉnh này sẽ không bao gồm chi phí hoa hồng mua hàng, song chấp nhận các khoản chiết khấu hợp lý cho các đại lý duy nhất hay các nhà phân phối độc quyền duy nhất
Trang 36Điều 1 ACV cũng qui định rằng nếu bên mua và bên bán có quan hệ nào đó trong kinh doanh thì cũng không đủ cơ sở để bác bỏ trị giá giao dịch chừng nào mối quan hệ đó không làm ảnh hưởng đến giá bán hàng
Trị giá Hải quan của hàng hóa nhập khẩu được xác định theo trị giá giao dịch, tức là giá thực tế đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán cho hàng hóa được bán từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu Trước hết, Trị giá Hải quan được xác định theo trị giá giao dịch nếu thỏa mãn tất cả các điều kiện sau: Có bằng chứng của họat động mua bán xuất khẩu ví dụ hóa đơn thương mại, hợp đồng Về nguyên tắc, người mua không bị hạn chế quyền định đoạt hoặc sử dụng hàng hóa sau khi nhập khẩu trong trường hợp có thể điều chỉnh được; giá cả hoặc việc bán hàng không phụ thuộc vào những điều kiện
mà vì chúng không xác định được trị giá của hàng hóa cần xác định giá tính thuế; người mua không phải trả thêm bất kỳ khoản tiền nào từ số tiền thu được sau khi bán lại, chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng hóa nhập khẩu, trực tiếp hay không trực tiếp, cho người bán trong trường hợp có thể điều chỉnh được; người mua và người bán không có mối quan hệ đặc biệt, hoặc nếu có thì giao dịch phải được thực hiện theo nguyên tắc giá thị trường
Các khoản điều chỉnh tăng: Chi phí hoa hồng và chi phí môi giới do người mua trả, không bao gồm phí hoa hồng mua hàng Chi phí bao bì và đóng gói do người mua trả Trị giá của hàng hóa, dịch vụ do người mua cung cấp miễn phí hoặc giảm giá, hay còn gọi là các khoản trợ giúp Chi phí liên quan đến quyền sử dụng sở hữu trí tuệ do người mua trả Các khoản tiền người mua phải trả từ số tiền thu được, trực tiếp hay gián tiếp cho người bán Chi phí vận chuyển, bảo hiểm và xếp dỡ để đưa được hàng hóa đến nước nhập khẩu
Các khoản điều chỉnh giảm: Chi phí phát sinh sau khi nhập khẩu do người mua trả bao gồm chi phí xây dựng, bảo dưỡng, lắp đặt và cung cấp hỗ trợ kỹ thuật Chi phí vận tải và bảo hiểm trong lãnh thổ nước nhập khẩu Thuế
Trang 37nhập khẩu và các loại thuế khác phải nộp ở nước nhập khẩu trong trường hợp tách biệt với giá đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán
Phương pháp 2: Trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt
Hàng hóa được coi là giống nhau đó là: Giống về mọi phương diện,
được sản xuất ở cùng một quốc gia, được sản xuất cùng một nhà sản xuất và cùng cấp độ thương mại, số lượng nhập khẩu, khoảng cách vận chuyển, phương thức vận chuyển Trong trường hợp có nhiều hàng hóa giống hệt thì áp dụng trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt có giá thấp nhất
Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá giống hệt là phương pháp xác định trị giá tính thuế của hàng nhập khẩu theo trị giá giao dịch của hàng hoá giống hệt được bán để xuất khẩu đến cùng một nước nhập khẩu, tại cùng thời điểm hay cùng kỳ, trong một giao dịch bán hàng ở cùng cấp độ thương mại với cùng một số lượng hàng hoá như hàng hoá nhập khẩu đang cần xác định trị giá
Phương pháp 3: Trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự Hàng hóa
phải tương đương nhau về đặc tính kỹ thuật và hình dáng bên ngoài Hàng hóa phải có cùng chức năng, mục đích sử dụng và có thể hoán đổi cho nhau trong giao dịch thương mại Hàng hóa phải được sản xuất ở cùng một quốc gia Hàng hóa phải được xuất khẩu vào cùng thời điểm hoặc cùng thời gian Trong trường hợp có nhiều hàng hóa tương tự thì áp dụng trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự có giá thấp nhất
Phương pháp 4: Trị giá khấu trừ
Trị giá Hải quan được xác định dựa trên giá bán hàng hóa ở nước xuất khẩu trừ đi các khoản sau: Hoa hồng thường trả hoặc đồng ý sẽ trả, hoặc chi phí chung và lợi nhuận liên quan đến các họat động bán hàng hóa tại nước nhập khẩu Chi phí vận chuyển thông thường và chi phí bảo hiểm tương ứng trong trường hợp các chi phí này thường xuyên phát sinh trong lãnh thổ nước nhập khẩu Thuế nhập khẩu và các khoản thuế phải nộp khác khi nhập khẩu
Trang 38và bán hàng hóa nhập khẩu trên thị trường nội địa; các khoản giá trị gia tăng
do lắp ráp hay gia công nếu có
Phương pháp 5: Trị giá tính toán (cộng chi phí)
Trị giá tính toán bao gồm tổng các khoản sau: Giá thành hoặc trị giá của nguyên vật liệu, quá trình chế tác hoặc quá trình sản xuất gia công khác được sử dụng để sản xuất hàng hóa Lợi nhuận và chi phí chung phát sinh Các chi phí khác
Phương pháp 6: Trị giá suy luận
Theo phương pháp này, nếu không thể xác định trị giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu bằng bất kỳ một phương pháp nào theo 5 phương pháp nêu
trên thì phải xác định bằng cách sử dụng “các phương pháp phù hợp tuân thủ
các nguyên tắc của ACV”, tức là phải áp dụng 5 phương pháp trên một cách
linh hoạt tất cả các phương pháp khác Nếu vẫn chưa xác định được Trị giá Hải quan thì có thể dựa trên một số nguồn sau: Giá trị trên sổ sách kế toán, trị giá bảo hiểm hoặc trị giá thay thế, trị giá tính thuế khác
Phương pháp này qui định, không được xác định các trị giá dưới đây để xác định trị giá tính thuế
+ Giá bán hàng hoá được sản xuất ở nước nhập khẩu;
+ Sử dụng trị giá cao hơn trong 2 trị giá có thể tìm được để thay thế để làm trị giá tính thuế;
+ Giá bán của hàng hoá trên thị trường nội địa nước xuất khẩu;
+ Chi phí sán xuất khác trừ chi phí sản xuất đã được đưa vào trị giá tính toán; + Giá bán của hàng hoá được xuất khẩu đến một nước khác;
+ Giá tính thuế tối thiểu;
+ Các loại giá áp đặt hay giả định
Như vậy khi xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu, cơ quan Hải quan phải áp dụng tuần tự từ phương pháp 1 đến phương pháp 6 và dừng ngay tại phương pháp xác định được trị giá tính thuế Nguyên tắc này chỉ ngoại lệ
Trang 39đối với phương pháp thứ 4 (Phương pháp khấu trừ) và phương pháp thứ 5 (Phương pháp tính toán) và chỉ hai phương pháp này mới có thể đảo lộn thứ
tế triển khai cho thấy còn tồn tại nhiều bất cập liên quan đến cơ chế xác định trị giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu theo qui định của ACV Vì vậy, Việt Nam cũng như các quốc gia thành viên khác của WTO cần chủ động khắc phục khó khăn và hạn chế trong việc thực thi Hiệp định này
1.3 Qui trình và nh n tố ảnh hưởng đến xác định trị giá Hải quan
1.3.1 Qui trình xác định trị giá Hải quan
1.3.1.1 Kiểm tra nội dung khai báo
- Kiểm tra hồ sơ, các chứng từ kèm theo, tên hàng, đơn vị tính, ký mã
hiệu, nhãn hiệu hàng hóa…để xác định các yếu tố ảnh hưởng, liên quan đến trị giá Hải quan của hàng hóa
- Xử lý kết quả kiểm tra: Đủ cơ sở bác bỏ trị gia khai báo hay chưa đủ
cơ sở bác bỏ trị giá khai báo hoặc chấm nhận trị giá khai báo Cập nhật trên
hệ thống GTT02 của Hải quan
1.3.1.2 Tham vấn
- Phân loại hồ sơ theo thẩm quyền tham vấn
- Thu thập thông tin, dữ liệu:
- Nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị nội dung tham vấn
- Tổ chức tham vấn
Trang 40- Xử lý kết quả tham vấn
- Tham vấn một lần, sử dụng kết quả tham vấn nhiều lần
- Lưu trữ hồ sơ tham vấn:
1.3.1.3 Xác định trị giá hải quan
- Thông tin xác định trị giá hải quan: Sử dụng các nguồn thông tin theo
các phương pháp xác định trị giá Hải quan và các nguồn thông tin khác
- Phân tích, tổng hợp, quy đổi, phương pháp quy đổi và kiểm chứng các
thông tin thu thập được: thực hiện theo hướng dẫn tại Quy chế dữ liệu
- Ban hành Thông báo trị giá hải quan
- Cập nhật kết quả xác định trị giá và lưu trữ hồ sơ xác định giá
1.3.2 Nh n tố ảnh hưởng đến xác định trị giá Hải quan
- Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện nay chỉ mang tính chất luật khung, những vấn đề quan trọng và nhạy cảm nhất như giá tính thuế…lại được quy định cụ thể, chi tiết ở những văn bản dưới luật với giá trị pháp lý thấp,tính ổn định không cao
- Hàng rào thuế quan còn chưa đầy đủ và chưa thực sự phù hợp với yêu cầu hội nhập Quốc tế Vấn đề xác định trị giá Hải quan trong nhập khẩu hàng hóa theo thông lệ Quốc tế vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp Quy trình thủ tục Hải quan Việt Nam vẫn thiếu đồng bộ và chưa đáp ứng được yêu cầu
- Ý thức của Doanh nghiệp chưa tốt, thiếu trung thực, gian lận khi khai báo giá thấp là những vấn đề đau đầu cho cơ quan Hải quan Hiện nay, việc khai báo Hải quan chủ yếu dựa trên thái độ trung thực của người nhập khẩu,
và giá tính thuế nhập khẩu được tính theo trị giá giao dịch thực tế của hàng hóa Quy định là vậy nhưng việc áp dụng lại muôn hình vạn trạng và có rất nhiều cách các Doanh nghiệp gian lận về giá
- Đội ngũ cán bộ Hải quan được cho là chưa tương xứng với yêu cầu
Cán bộ Hải quan phải có kiến thức về kinh tế, thị trường và nghiệp vụ chuyên trách trong lĩnh vực xác định trị giá Hải quan