Tính cấp thiết của đề tài Cùng với quá trình hình thành, phát triển, đổi mới, cải cách kinh tế ngày càng mạnh mẽ và hiệu quả ở đất nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh đổi mới và hội nhập quố
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN MINH ĐẠO
MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ
TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU SƠ BỘ LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN MINH ĐẠO
MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ
TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 01 02
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU SƠ BỘ LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG VĂN HẢI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào của người khác Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trong trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các ấn phẩm, tạp chí và website theo danh mục tham khảo của luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Đạo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu ứng dụng những kiến thức đã học của học viên vào thực tế ứng dụng Để hoàn thành được luận văn không chỉ nhờ vào sự cố gắng của tác giả, mà còn có sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo và của các đồng nghiệp tại trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, nơi tác giả thực hiện đề tài luận văn của mình
Tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến Quý thầy cô giáo trường Đại học Kinh
tế - ĐHQGHN, Quý thầy cô Viện Quản trị Kinh doanh đã truyền đạt, giảng dạy cho tôi những kiến thức quý báu từ trong sách vở đến những kinh nghiệm trong thực tế
và đặc biệt cảm ơn thầy giáo PGS.TS Hoàng Văn Hải, người đã tâm huyết, nhiệt tình hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC 5
1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5
1.2 Cơ sở lý luận về mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước 13
1.2.1 Khái niệm Tập đoàn kinh tế nhà nước 13
1.2.2 Phân loại tập đoàn kinh tế 15
1.2.3 Đặc trưng cơ bản về tập đoàn kinh tế 18
1.2.4 Đặc trưng của Tập đoàn kinh tế tại Việt Nam 20
1.2.5 Một số mô hình tập đoàn kinh tế trên thế giới 22
1.2.6 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 24
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Thiết kế nghiên cứu 27
2.1.1 Xác định vấn đề, hình thành mục tiêu nghiên cứu 27
2.1.2 Quy trình nghiên cứu 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 28
2.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 28
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 30
3.1 Bối cảnh thành lập mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 30
3.1.1 Quan hệ giữa công ty mẹ - công ty con và các mối liên kết trong tập đoàn kinh tế nhà nước 31
Trang 63.1.2 Quan hệ về sở hữu vốn giữa Nhà nước với tập đoàn kinh tế nhà nước và giữa
công ty mẹ - công ty con trong nội bộ tập đoàn kinh tế 34
3.2 Mô hình Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 41
3.2.1 Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam 41
3.2.2 Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam 45
3.3 Thực trạng hoạt động các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 49
3.3.1 Thống kê về số lượng tập đoàn kinh tế nhà nước 49
Nguồn: tác giả tổng hợp 50
3.3.2 Kết quả hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 50
3.4 Đánh giá chung về mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam 74
3.4.1 Kết quả đạt được 74
CHƯƠNG 4 KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP VỀ MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 81
4.1 Kiến nghị giải pháp phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước trong thời gian tới 81
4.2 Đề xuất mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam trong giai đoạn tới 84
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Nguyên nghĩa
Trang 8DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 3.1 Danh sách các tập đoàn kinh tế nhà nước hiện nay 53
Trang 9DANH MỤC HÌNH
2 Hình 3.1 Sơ đồ mô hình tổ chức của các Tập đoàn kinh tế nhà nước tại
3 Hình 3.2 Sơ đồ Cơ cấu tổ chức Tập đoàn Dầu khí Việt Nam 45
5 Hình 3.4 Biểu đồ Tổng nợ phải trả của các tập đoàn năm 2015 và 2017 57
6 Hình 4.1 Mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam trong quá trình
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với quá trình hình thành, phát triển, đổi mới, cải cách kinh tế ngày càng mạnh mẽ và hiệu quả ở đất nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước lớn được quy hoạch, tổ chức, sắp xếp lại thành các tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty, với mô hình hoạt động và cơ chế giám sát mới Những tập đoàn kinh tế nhà nước này chính là những công cụ điều tiết nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Nhà nước ta Vì vậy với vai trò và hiệu quả hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà nước cần phải được xem xét, nghiên cứu một cách sâu sắc, khoa học, khách quan, toàn diện, nhằm phát huy hơn nữa vai trò của mô hình này, nhất là về cơ chế giám sát các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay, cũng như thời gian tới
Đặc biệt về vai trò của các các tập đoàn kinh tế nhà nước đối nền kinh tế vĩ mô
ở nước ta, hay với bất kỳ một quốc gia nào để điều tiết nền kinh tế vĩ mô nhà nước cần phải nắm giữ và chi phối các lực lượng kinh tế chủ đạo ở một số ngành, lĩnh vực quan trọng, mũi nhọn Ở nhiều nước việc xây dựng các tập đoàn kinh tế được coi là một chiến lược nhằm nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển khác Các nước này đã dựa trên sự phát triển của các tập đoàn kinh tế nhà nước coi là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và biến đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu Họ hướng các tập đoàn kinh tế này vào những ngành, lĩnh vực then chốt và nền tảng làm nòng cốt và có đủ tiềm lực để mở cửa vươn ra bên ngoài, đối với nước ta cũng nằm ngoài quy luật chung đó của sự hội nhập
Ở Việt Nam trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chính Phủ,
mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước đã được hình thành thông qua việc sát nhập và chuyển đổi các tổng công ty 90 – 91 Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy việc chuyển đổi hoặc sát nhập các tổng công ty 90 – 91 chưa thực sự giải quyết các vấn đề gốc dễ và tạo điều kiện cho các tập đoàn kinh tế này phát triển Những tồn tại của mô hình tổng công ty 90 – 91 chưa thực sự thích hợp với mô hình tập
Trang 11đoàn kinh tế nhà nước gây các vướng mắc về chính sách và hạn chế cho việc thực thi các hoạt động kinh tế Với việc sát nhập và chuyển đổi các tổng công ty 90 – 91 trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế cần các cơ chế chính sách để tháo gỡ các tồn đọng và định hướng mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước phù hợp với bối cảnh và đặc điểm của Việt Nam
Xuất phát từ thực trạng và kinh nghiệm phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước trên thế giới, việc phân tích thực trạng mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và đề xuất một mô hình phù hợp cho các tập đoàn kinh tế nhà nước tại Việt Nam là một đề tài mới có tính cấp thiết
và chưa có công trình nghiên cứu nào thực hiện
Câu hỏi đặt ra với vấn đề nghiên cứu: Nội dung cần làm rõ hai câu hỏi:
Thứ nhất, thực trạng mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Thứ hai, mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước nào phù hợp với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a Mục đích nghiên cứu: Phân tích thực trạng mô hình tập đoàn kinh tế nhà
nước ở Việt Nam và đề xuất kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của mô hình Tập đoàn kinh tế nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
b Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau: + Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về tập đoàn kinh tế, mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
+ Phân tích thực trạng mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
+ Đề xuất các kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của mô hình Tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu: Tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam
b Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng của các tập đoàn kinh
tế nhà nước của Việt Nam
Trang 12Về thời gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu mô hình tập đoàn kinh tế nhà
nước ở Việt Nam từ khi thành lập (năm 2005) đến nay
4 Những đóng góp của luận văn
Từ tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài, tác giả nhận thấy có rất ít các các công trình nghiên cứu về tập đoàn kinh tế nhà nước Các nghiên cứu chỉ chủ yếu phân tích cơ sở hoặc phương thức hình thành, hoặc cơ chế chính sách cho hoạt động của tập đoàn kinh tế nhà nước Các nghiên cứu này cũng rời rạc và chưa tập trung nghiên cứu sâu về thực trạng tập đoàn kinh tế nhà nước, những hạn chế và xu hướng phát triển của các tập đoàn kinh tế nhà nước Do vậy, theo hiểu biết của tác giả, luận văn là công trình nghiên cứu tiên phong về Mô hình và định hướng phát triển cho các tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam Kết quả nghiên cứu thể hiện các đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn
Về mặt lý thuyết: làm rõ và hệ thống hóa cơ sở lý luận về tập đoàn kinh tế, mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước, ảnh hưởng của đặc điểm kinh tế thị trường đối với hoạt động của mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước, phân tích được thực trạng và chỉ
rõ được các hạn chế, vướng mắc của quá trình chuyển đổi, hình thành mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam Đề xuất được mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước và các gợi ý về cơ chế, chính sách để thực hiện mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Về mặt thực tiễn: Việc phân tích thực trạng mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước với các hạn chế và tồn tại là một gợi ý và cơ sở cho các nhà quản lý và chuyên gia kinh tế dưới góc độ quản lý nhà nước trong việc nghiên cứu và đề xuất các cơ chế, chính xác cũng như mô hình phù hợp cho việc chuyển đổi, sát nhập các tổng công
ty 90 – 91, cũng như việc điều chỉnh các tập đoàn kinh tế nhà nước hoạt động chưa hiệu quả hiện nay
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 4 chương như sau: Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về tập đoàn kinh
tế Nhà nước
Trang 13Chương 2 Thiết kế và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Chương 4 Mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
LUẬN VỀ MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC
1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tập đoàn kinh tế là hình thức tổ chức kinh tế hiện đại ở các nước trên thế giới Trong cạnh tranh trên thị trường, Tập đoàn kinh tế thể hiện nhiều ưu điểm
Do vậy ở các nước cũng như Việt Nam, Nhà nước cũng như các nhà khoa học rất quan tâm đến Tập đoàn kinh tế cả về lý luận cũng như tổng kết thực tiễn
Cho đến nay liên quan đến doanh nghiệp nhà nước lớn trong đó có các tổng công ty và tập đoàn kinh tế đã có nhiều văn bản pháp luật nhà nước, các tài liệu, công trình khoa học trong và ngoài nước đề cập đến
Các công trình nghiên cứu về Tập đoàn kinh tế của các tác giả ngoài nước tập trung lý giải những nội dung về xây dựng và phát triển các tập đoàn kinh doanh theo dạng đưa ra các mô hình lý thuyết Những tài liệu thực tiễn thường là những bản Báo cáo thường niên của các tập đoàn riêng lẻ Hơn nữa, các tác giả thường căn
cứ vào thực tiễn các tập đoàn của nước họ để tổng kết, luận giải Điển hình là các công trình sau:
- Cuốn sách của Trung Quốc “Bàn về cải cách toàn diện DNNN” của tác giả
Trương Hán Bân (1999), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Trong tác phẩm này, tác giả tập trung phân tích quá trình cải cách hệ thống DNNN (DN quốc hữu) ở Trung Quốc trên nhiều khía cạnh khác nhau như sở hữu, chủ thể quản lý … Trong đó, định hướng hình thành tập đoàn từ các DNNN được đề cập như một giải pháp cải cách
- Hai cuốn sách của tác giả Kornai Janos: Hệ thống XHCN (2002), NXB Văn hoá thông tin và cuốn Con đường dẫn đến nền KTTT (2001), NXB Hội tin học Việt
Nam, Hà Nội đã “phẫu thuật” rất chi tiết, có hệ thống về kinh tế các nước chuyển đổi, trong đó lấy kinh tế Hungari làm nội dung trọng tâm trong phân tích Kornai tập trung công sức của mình cho vấn đề sở hữu, thể chế quản lý … Định hướng phát triển các tổ chức kinh doanh qui mô lớn được tác giả nhìn nhận như một giải pháp qua lăng kính cải cách sở hữu; các bài viết, thông tin trên trang thông tin điện
Trang 15tử của các TĐKT cụ thể và trên trang chính thức của hai tạp chí nổi tiếng Fortune (http://www.fortune.com) và Businessweek (http://www.businessweek.com) cung cấp khá đầy đủ, cập nhật các thông tin liên quan đến những TĐKT hàng đầu thế giới trên các mặt như doanh thu, lợi nhuận, lao động, lĩnh vực kinh doanh cùng với những bài phân tích của các chuyên gia trên từng lĩnh vực cụ thể
- Công trình nghiên cứu của tập thể tác giả Rapld Nander, Mark Green và Joel
Seligman (1976) với tiêu đề Thuần phục các tập đoàn lớn, New York w Norton đã
khảo sát các tập đoàn lớn tại Mỹ và chỉ rõ những tác động bất lợi của mô hình này đối với hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, đối với cổ đông, với chính phủ, với công nhân và mỗi người dân trong xã hội Một nghiên cứu của Milton Friedman (1962)
với tiêu đề Độc quyền và trách nhiệm xã hội của các DN và người lao động được in trong cuốn Chủ nghĩa tư bản và tự do, Đại học Chicago, đã phân tích sâu sắc về cấu
trúc độc quyền và cách thức chiếm lĩnh độc quyền của các tập đoàn lớn ở Mỹ Công trình này cũng nhấn mạnh nguồn gốc độc quyền của các tập đoàn sinh ra từ quyền lực kinh tế và mối quan hệ với chính trị
- Nghiên cứu của Ansel M.Sharp, Chales A.Register, Paul W.Grimes (2005), Kinh tế học trong kinh doanh tập đoàn – Ai làm gì cho ai?, NXB Lao động, Hà Nội
đã tập trung phân tích quan điểm chung về kinh doanh tập đoàn và cách thức hoạt động của mô hình này Nghiên cứu chỉ rõ sự chi phối của một số tập đoàn khổng lồ đối với hoạt động kinh tế quốc gia; sự thiếu hụt sản lượng được xem là cách thức hạn chế đầu ra nhằm tăng giá và mức giá của mỗi sản phẩm trong tập đoàn được ấn định dựa trên quyền lực độc quyền
- Ngoài các tác giả là người nước ngoài, một số công trình tiêu biểu của các tác giả Việt Nam nghiên cứu về tập đoàn kinh tế nước ngoài có thể kể đến bao gồm:
- Lê Văn Sang - Trần Quang Lâm (1996), Các công ty xuyên quốc gia (TNCs) trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Nội dung cuốn
sách tập trung phân tích nguồn gốc hình thành, các hình thức tồn tại và mô hình chiếm lĩnh, khai thác thị trường của các công ty xuyên quốc gia Những nội dung nêu trên vừa được phân tích chuyên sâu, tìm kiếm bản chất, vừa đặt chúng trong bối cảnh mới – ngưỡng cửa của thế kỷ XXI
Trang 16- Đề tài KHXH 06-05 Bản chất, đặc điểm và vai trò của các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia trên thế giới Chính sách của ta, Chương trình KHCN cấp nhà
nước 06 (Giai đoạn 1996-2000) do tác giả Nguyễn Thiết Sơn làm chủ nhiệm được xuất bản thành sách cung cấp cho người đọc những kiến thức sâu về đặc điểm, bản chất, vai trò của các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia trên thế giới, phân tích hoạt động của các công ty xuyên quốc gia Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu, hoạt động của chúng ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, đối sách phù hợp nhằm thu hút
và phát huy tác động tích cực của chúng đối với nền kinh tế Việt Nam
- Luận án của tác giả Hoàng Thị Bích Loan, Các công ty xuyên quốc gia của một số nền kinh tế công nghiệp mới (NIEs) châu Á, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội, 2001 Tác giả luận án phân tích đặc thù của quá trình hình thành, phát triển các công ty xuyên quốc gia của NIEs châu Á và vai trò của nó trong phát triển kinh tế với điển hình lựa chọn là Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, trên cơ sở đó đề xuất một số gợi ý với Việt Nam về phát triển các công ty xuyên quốc gia của mình và thu hút các công ty xuyên quốc gia châu Á trong quá trình CNH, HĐH đất nước, tạo tiền đề để định hướng XHCN nền kinh tế
- Cuốn sách Enterepreneurship and the internetionalisation of Asian Firms An International Perspective (Cheltenham; Northampton : Adward Elgar, 2002) của tác giả Yeung Henry Wai – Chung nghiên cứu triển vọng, thể chế đối với kinh doanh xuyên quốc gia thông qua việc nghiên cứu các công ty xuyên quốc gia của HongKong và Singapore Tác giả trình sự khác nhau nổi bật giữa cơ cấu và thể chế kinh doanh trong mạng lưới xuyên quốc gia của họ
Cuốn sách Transnational Corporational Fragmentation Amisdst Integration ( London: Routledge, 2002), của tác giả Letto – Gillies Grazia đã trình bày những nghiên cứu về vai trò của các công ty xuyên quốc gia dưới góc độ địa lý của nền sản xuất quốc tế, bao gồm cả khía cạnh lý thuyết và thực tiễn
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về tập đoàn kinh tế nước ngoài, ở Việt Nam cũng có nhiều học giả nghiên cứu về tập đoàn kinh tế nhà nước Một số công
trình nghiên cứu tiêu biểu khi đề cập đến Tập đoàn kinh tế nhà nước phải kể đến là:
Trang 17- Nguyễn Đình Phan (chủ biên) (1996), Thành lập và quản lý các tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, nêu lên cớ sở lý luận về tập
đoàn kinh tế và những bài học kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu các mô hình tập đoàn kinh tế ở một số nước trên thế giới Các vấn đề mà cuốn sách nêu lên rất
có ý nghĩa về mặt nhận thức, cũng như công việc chủ yếu cần tiến hành để thành lập các Tổng công ty 91 theo mô hình tập đoàn kinh tế ở Việt Nam Cuốn sách đã nêu
ra một số điều kiện cơ bản để thành lập tổng công ty theo mô hình tập đoàn và cách quản lý mô hình này
- Các công ty xuyên quốc gia, khái niệm, đặc trưng và những biểu hiện mới do
Nguyễn Tuấn Sơn (chủ biên), NXB Khoa học xã hội xuất bản năm 2002 Nội dung cuốn sách tập trung trình bày nguồn gốc, khái niệm theo tiến trình phát triển của các công ty xuyên quốc gia và làm rõ bản chất, đặc điểm và vai trò của các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia trên thế giới
- Mô hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá của GS.TSKH
Vũ Huy Từ (Chủ biên), NXB Chính trị quốc gia xuất bản năm 2002, đi sâu phân tích lý luận về tập đoàn kinh tế, những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế, bối cảnh kinh tế - xã hội trong và ngoài nước tác động đến sự hình thành và tổ chức quản lý tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, các tác giả
đã nêu khái quát về mô hình tập đoàn kinh tế cần được xây dựng trong những năm đầu thế kỷ XXI
- Tập đoàn kinh doanh và cơ chế quản lý tài chính trong tập đoàn kinh doanh
của TS Phạm Quang Trung, NXB Tài chính xuất bản năm 2003, đã nêu lên cơ sở khoa học của việc hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong tập đoàn kinh tế; nêu rõ vai trò, tầm quan trọng của cơ chế quản lý tài chính trong tập đoàn kinh tế có ý nghĩa quyết định toàn bộ cơ chế quản lý của tập đoàn, thực trạng cơ chế quản lý tài chính trong các tổng công ty mà chủ yếu là Tổng công ty 91; những quan điểm, kiến nghị và giải pháp góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong các tông công ty
- Tập đoàn kinh tế, lý luận và kinh nghiệm quốc tế ứng dụng vào Việt Nam do
TS.Trần Tiến Cường (chủ biên), NXB Giao thông Vận tải xuất bản năm 2005
Trang 18Cuốn sách nêu khái niệm, đặc điểm, vai trò, địa vị pháp lý, phân tích, đánh giá cơ hội, thách thức đối với các Tổng công ty nhà nước khi phát triển theo hướng tập đoàn kinh tế Từ đó, cuốn sách đề xuất các giải pháp chính sách cho quá trình hình thành tập đoàn kinh tế trên cơ sở các tổng công ty nhà nước ở Việt Nam Điều kiện hình thành tập đoàn kinh tế ở Trung Quốc cũng là nội dung được đề cập trong cuốn sách
- Thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam của
PGS.TS Hoàng Thị Bích Loan do NXB Chính trị quốc gia xuất bản năm 2008, nêu
rõ vai trò của các công ty xuyên quốc gia trong lưu chuyển FDI toàn cầu, chiến lược đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia; toàn cảnh thực trạng đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam gần 20 năm qua và triển vọng, phương hướng, giải pháp thu hút FDI vào Việt Nam
- Xây dụng và phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam của TS Bùi Văn Huyền
do NXB Chính trị quốc gia xuất bản năm 2008 đã lý giải việc hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam và khẳng định với lợi thế của quốc gia đi sau, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng được các tập đoàn kinh tế mạnh thông qua việc kết hợp các bước đi tuần tự với những bước đột phá
- Điều kiện và giải pháp hình thành các tập đoàn kỉnh tế từ các Tổng công ty
91 của TS Đào Xuân Thủy do NXB Chính trị quốc gia xuất bản năm 2009 nêu lên
những lý luận chung về tập đoàn kinh tế, đã tập trung lý giải những điều kiện và trình bày các giải pháp để hình thành các tập đoàn kinh tế từ các Tổng công ty 91
- Mô hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá, của tác giả Vũ
Huy Từ (2002), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
- Chính sách phát triển - Kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc, của Viện
Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội, 2004
- Tập đoàn kinh tế - Lý luận và kinh nghiệm quốc tế ứng dụng vào Việt Nam, của tác giả Trần Tiến Cường (chủ biên), NXB Giao thông Vận tải, Hà Nội, 2005
- Mô hình công ty mẹ - công ty con và tái cơ cấu tài chính các tổng công ty lớn, của tác giả Phạm Quang Trung (2007), NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội
Trang 19- Mô hình Tập đoàn kinh tế trong CNH, HĐH (2002) của tác giả Vũ Huy Từ
(chủ biên), NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Với nội dung gần 300 trang được chia làm 2 phần, 6 chương, cuốn sách đã giải quyết khá nhiều nội dung về TĐKT: Từ cơ
sở lý luận, kinh nghiệm, nhân tố tác động đến sự phát triển các tập đoàn trên thế giới đến hình thành và tổ chức quản lý tập đoàn ở Việt Nam Cách tiếp cận và giải quyết vấn đề của tác giả theo lô gíc từ lý luận đến thực tiễn hình thành mô hình này
ở Việt Nam và phân tích các TCT như một “nhân tố nền tảng”, trên cơ sở đó tìm kiếm các giải pháp quản lý nhà nước (QLNN) đối với mô hình này
- Tập đoàn kinh tế và một số vấn đề về xây dựng tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
của tác giả Minh Châu (2005), NXB Bưu Điện, Hà Nội Nội dung cuốn sách trên cơ
sở trình bày những vấn đề chung về TĐKT, kinh nghiệm phát triển TĐKT ngành bưu chính viễn thông ở một số quốc gia; những nội dung liên quan đến tập đoàn hóa DN; kinh nghiệm và bài học phát triển tập đoàn DN của Trung Quốc , qua đó, tác giả đề xuất định hướng về xây dựng TĐKT ở Việt Nam Riêng phần giải pháp, tác giả chỉ đề xuất đối với xây dựng tập đoàn Bưu chính Viễn thông, các tập đoàn khác không được đề cập cụ thể
- Xây dựng và phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, của tác giả Bùi Văn
Huyền (2008), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Nội dung cuốn sách không chỉ trình bày tổng quát những vấn đề lý luận, thực tiễn của sự hình thành và phát triển tập đoàn mà một dung lượng không nhỏ của cuốn sách đã được dành để phân tích thực trạng hoạt động của một số tổ hợp kinh doanh - cơ sở để hình thành các TĐKT
ở Việt Nam Trên cơ sở những đánh giá một cách khoa học về hoạt động của các tổ hợp kinh doanh đó, tác giả cuốn sách đã đề ra các giải pháp nhằm xây dựng và phát triển các TĐKT ở Việt Nam
- Xây dựng và phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, của tác giả Bùi Văn
Huyền, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008
- Luận án tiến sĩ kinh tế ”Quá trình đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam từ 1986 đến nay - Thực trạng và giải pháp”, của Hoàng Hà
(2005) Tác giả luận án phân tích quá trình đổi mới cơ chế quản lý các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2005 và đề xuất giải pháp
Trang 20Ngoài ra trong những năm qua, đã có nhiều đề tài, đề án, hội nghị, hội thảo khoa học có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề tập đoàn kinh tế như:
- Đề án Hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế trên cơ sở Tổng công ty nhà nước (dự thảo) do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương chủ trì (năm
2003) Tác giả luận án phân tích lý luận và thực tiễn về sự hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế trên cơ sở Tổng công ty nhà nước
- Đề tài Nghiên cứu mô hình to chức doanh nghiệp, xí nghiệp xây dựng phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá và hội nhập của nhóm tác giả Viện Kinh tế Xây dựng
(Bộ Xây dựng) do TS Dương Văn Cận làm Chủ nhiệm (năm 2005)
- Đề án Hình thành và phát triền Tập đoàn kinh tể trên cơ sở Tông công ty nhà nước của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (năm 2005) Luận án phân tích lý luận và thực tiễn về
sự hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế trên cơ sở Tổng công ty nhà nước
- Báo cáo kết quả khảo sát về tập đoàn kinh tế tại Malaysia và Thái Lan, của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2004) - Hội thảo khoa học Tập đoàn kỉnh tế nhà nước - Lý luận và thực tiễn, do NXB Chính trị quốc gia - Sự thật
phối hợp với Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương và Thời báo Kinh tế Việt Nam tổ chức (năm 2009) Báo cáo khảo khát về tập đoàn kinh tế tại hai nước malaysia và Thái Lan
- Hội thảo khoa học Lý luận và phương pháp luận nghiên cứu về mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, do Hội đồng Khoa học
Các cơ quan Đảng Trung ương chủ trì (năm 2017)
- Hội thảo khoa học Mô hình tổ chức và hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà
nước ở Việt Nam do Trường đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội chủ trì (năm 2011)
- Hội thảo khoa học Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước do Học viện Tài chính
chủ trì (năm 2011)
- Hội thảo khoa học Mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam–Thực trạng
và định hướng phát triển do hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương chủ trì (năm 2011) tổng quát những vấn đề lý luận, thực tiễn của sự hình thành và phát triển tập đoàn, phân tích thực trạng hoạt động của các TĐKT ở Việt Nam Trên cơ
Trang 21sở những đánh giá một cách khoa học về hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam, nội dung của hội thảo nhằm đề ra các giải pháp nhằm xây dựng
và phát triển các TĐKT ở Việt Nam
- Hội nghị Tổng kết mười năm sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước 2001-2011 của Văn phòng Chính phủ (năm 2011)
Bên cạnh các cuốn sách, các đề tài nghiên cứu, các đề án, một số luận án với đề tài liên quan đến tập đoàn và các bài viết đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành của các viện nghiên cứu, các trường đại học (bao gồm cả báo, tạp chí điện tử trong và ngoài nước) liên quan đến chủ đề tập đoàn kinh tế cũng rất đa dạng
Như vậy, trong những năm gần đây, vấn đề tập đoàn kinh tế đã được nhiều tổ chức
và cá nhân ở nước ta quan tâm nghiên cứu
Mặc dù vậy, việc nghiên cứu và thực tiễn phát triển tập đoàn kinh tế vẫn còn nhiều vấn đề cần phải làm rõ hơn như:
Về mặt lý luận: chưa có sự thống nhất và làm rõ về:
- Các vấn đề về khung khổ pháp lý của tập đoàn kinh tế;
- Các vấn đề về quản lý nhà nước đối với tập đoàn kinh tế;
Về mặt lý luận: chưa có sự thống nhất và làm rõ về các vấn đề khung khổ
pháp lý của tập đoàn kinh tế; các vấn đề về quản lý nhà nước đối với tập đoàn kinh tế; các vấn đề về bộ máy quản trị của tập đoàn kinh tế, nhất là vấn đề giám sát; Mối quan hệ trong nội bộ tập đoàn kinh tế như: quan hệ tài chính, quan hệ đầu tư, quan
hệ trao đổi thông tin, nhân sự trong tập đoàn, quyền quản lý tài sản và quyền kinh doanh, vấn đề phân chia lợi ích trong tập đoàn, cơ chế trách nhiệm
Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài cho thấy, mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về Tập đoàn kinh tế nhưng kết quả nghiên cứu cho thấy chưa
có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh trình bày đầy đủ , rõ ràng về sự hình thành các Tập đoàn kinh tế theo định hướng XHCN; nhất là chưa khảo sát kỹ lưỡng một
mô hình cụ thể để từ đó đề xuất các giải pháp có tính khả thi phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước
Trang 221.2 Cơ sở lý luận về mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước
1.2.1 Khái niệm Tập đoàn kinh tế nhà nước
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự tích tụ, tập trung, chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản suất, do nhiều nhân tố khác của kinh tế xã hội, khoa học quản lý, khoa học công nghệ, ở các nước phát triển nhiều DN đã liên kết lại với nhau dần hình thành những tổ hợp kinh tế quy mô lớn, đa dạng về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh với phạm vi hoạt động rộng từ rất lâu Những tổ hợp kinh tế này có những tên gọi khác nhau như: Chaebol (ở Hàn Quốc), Keiretsu (ở Nhật Bản), Conglomerate (ở Phương Tây) được gọi là tập đoàn kinh tế hay tập đoàn kinh doanh
Ở Hàn Quốc, Chaebol được dùng để chỉ một liên minh gồm nhiều công ty hình thành quanh một công ty mẹ theo mô hình sở hữu cổ phiếu chéo và thường do một gia đình điều hành
Khác với mô hình tập đoàn kinh tế Chaebol (Hàn Quốc), Keiretsu (Nhật) lại
mô tả một tổ hợp liên kết không chặt chẽ gồm các công ty được tổ chức quanh một ngân hàng để phục vụ lợi ích của cả hai bên Đôi khi các công ty sở hữu vốn trong từng công ty khác
Ở phương Tây, các tập đoàn kinh tế thường được gọi là Conglomerate, được hiểu là một nghiệp đoàn bao gồm nhiều DN về bề ngoài không liên quan với nhau
Cơ cấu này giúp đa dạng hoá rủi ro kinh doanh, song sự thiếu tập trung có thể gây khó khăn trong việc quản lý công việc kinh doanh
Ở Việt Nam, Theo Điều 149 - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 thì
“Tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn Chính phủ quy định hướng dẫn tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của tập đoàn kinh tế” Cụ thể theo điều 146
của bộ luật này quy định như sau:
"Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau
về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác Thành phần của nhóm công ty gồm có:Công ty mẹ, công ty con; Tập đoàn kinh tế; Các hình thức khác."
Trang 23Theo Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương CIEM thì:
“Khái niệm tập đoàn kinh tế được hiểu là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia Trong mô hình này, "công ty mẹ" nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của "công ty con" về tài chính và chiến lược phát triển”
Cũng theo ông Hồ Xuân Trường, Phó trưởng ban Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp phát biểu trên báo Nhân dân thì:
“Mô hình tập đoàn là một hình thái tổ chức giữa các doanh nghiệp Cũng nhiều quan niệm khác nhau về tập đoàn, song cũng có một điểm chung nhất là: Tập đoàn doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có kết cấu tổ chức nhiều cấp, liên kết nhau bằng quan hệ tài sản và quan hệ hợp tác nhằm đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất hàng hóa; các doanh nghiệp trong tập đoàn đều có pháp nhân độc lập”
Theo nghị định 69/2014/NĐ-CP về Tập đoàn kinh tế nhà nước và Tổng công
ty nhà nước, “Tập đoàn kinh tế nhà nước là nhóm công ty, gồm công ty mẹ, các doanh nghiệp thành viên và công ty liên kết; đáp ứng các điều kiện sau:
Có ngành, lĩnh vực kinh doanh chính thuộc ngành, lĩnh vực sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ đặc biệt quan trọng trong bảo đảm an ninh quốc gia về kinh tế; tạo nền tảng về hạ tầng kinh tế quốc gia; tạo động lực nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế Thủ tướng Chính phủ quy định các ngành, lĩnh vực kinh doanh được xem xét thành lập tập đoàn kinh tế trong từng thời kỳ;
Công ty mẹ trong tập đoàn kinh tế phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Vốn điều lệ của công ty mẹ không thấp hơn 10.000 tỷ đồng Trường hợp công ty mẹ được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thì phần vốn nhà nước phải chiếm tối thiểu 75% vốn điều
lệ của công ty mẹ Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đối với trường hợp mức vốn điều lệ hoặc tỷ lệ vốn nhà nước trên vốn điều lệ của công ty mẹ thấp hơn mức quy định này
Trang 24- Có nguồn nhân lực đủ trình độ, kinh nghiệm và khả năng kinh doanh ngành nghề chính và các ngành nghề có liên quan; quản lý vốn đầu tư và quản trị điều hành, phối hợp hoạt động các công ty con, công ty liên kết
- Có khả năng sử dụng bí quyết công nghệ, thương hiệu, thị trường để chi phối các công ty con và tiến hành liên kết với các công ty liên kết khác
- Có nguồn lực tài chính hoặc có phương án khả thi để huy động nguồn lực tài chính, bảo đảm đầu tư đủ vốn vào các công ty con và các công ty liên kết
Tập đoàn kinh tế phải có tối thiểu 50% số công ty con hoạt động trong những khâu, công đoạn then chốt trong ngành, lĩnh vực kinh doanh chính và tổng giá trị cổ phần, phần vốn góp của công ty mẹ tại các công ty con này tối thiểu bằng 60% tổng nguồn vốn đầu tư của công ty mẹ tại các công ty con, công ty liên kết
Công ty con do công ty mẹ sở hữu 100% vốn điều lệ phải là những công ty được thành lập để phát triển, nắm giữ các bí quyết công nghệ phục vụ trực tiếp việc thực hiện các nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh chính của công ty mẹ”
Như vậy có thể nhân thấy tập đoàn kinh tế là một cơ cấu sở hữu, tổ chức và kinh doanh đa dạng, có quy mô lớn, nó vừa có chức năng SX-KD, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường khả năng tích tụ, tập trung cao nhất các nguồn lực ban đầu (vốn, lao động, công nghệ ) để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường và tối đa hoá lợi nhuận Trong đó có các tập đoàn kinh tế là tổ hợp các DN thành viên (Công ty con) do một công ty mẹ lắm quyền lãnh đạo chi phối về nguồn lực ban đầu, chiến lược phát triển và hoạt động tại nhiều ngành, lĩnh vực ở nhiều vùng lãnh thổ khác nhau.”
Trong phạm vi nghiên cứu của để tài, tác giả tiếp cận khái niệm Tập đoàn kinh
tế nhà nước theo nghị định 69/2014/NĐ-CP Trong đó, “Tập đoàn kinh tế nhà nước
là nhóm công ty, gồm công ty mẹ, các doanh nghiệp thành viên và công ty liên kết; đáp ứng các điều kiện tại khoản 3 Điều 9 của Nghị định này”
1.2.2 Phân loại tập đoàn kinh tế
Có rất nhiều các tiêu chí để phân loại tập đoàn kinh tế, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả phân loại theo các tiêu chí như trình độ liên kết và hình thức
Trang 25biểu hiện, theo tính chất ngành nghề, sở hữu vốn Theo cách thức phân loại đó, tập đoàn kinh tế được phân loại thành:
1.2.2.1 Theo trình độ liên kết và hình thức biểu hiện:
Một là, Cartel
Cartel là hình thức tập đoàn kinh tế theo một ngành chuyên môn hóa theo đó cạnh tranh bằng việc thỏa thuận thống nhất về giá, phân chia thị trường và nguyên liệu Trong mô hình này, các doanh nghiệp thành viên là các công ty độc lập về mặt pháp lý, bị ràng buộc về mặt kinh tế bởi các hợp đồng kinh tế Hạn chế của mô hình này là sự độc quyền và hạn chế cạnh tranh
Hai là, Syndicate
Sự khác biệt Syndicate so với Cartel là trong Syndicate có một văn phòng thương mại chung do một ban quản trị điều hành và tất cảc các công ty phải tiêu thụ hàng hoá của họ thông qua kênh của văn phòng này Như vậy các DN thành viên giữ vững tính độc lập về sản xuất nhưng hoàn toàn mất tính độc lập về thương mại Tính liên kết của dạng tập đoàn này chỉ được thực hiện ở khâu tiêu thụ sản phẩm
Ba là, Trust
Đây là mô hình tập đoàn kinh tế không chỉ liên kết ở khâu tiêu thụ mà còn liên kết ở khâu sản xuất, bao gồm nhiều doanh nghiệp công nghiệp do một ban quản trị thống nhất quản trị Các doanh nghiệp thành viên bị mất quyền độc lập cả về sản xuất và thương mại Các nhà đầu tư tham gia Trust đều là những cổ đông và việc thành lập các Trust nhằm chiếm nguồn nguyên liệu, khu vực đầu tư và nhằm thu lợi nhuận cao
Bốn là, Consortium
Đây là hình thức tập đoàn kinh tế gắn với tài chính của các tổ chức độc quyền ngân hàng nhằm mục đích chia nhau mua trái quán trong nước và ngoài nước hoặc tiến hành công việc mua bán nào đó Nó thường do một ngân hàng lớn đứng đầu điều hành toàn bộ hoạt động của tổ chức này Đây là hình thức liên kết khởi đầu của các tổ chức ngân hàng, tài chính với các doanh nghiệp sản suất, dịch vụ
Năm là, Concern
Trang 26Concern là một tổ chức tập đoàn kinh tế phổ biến hiện nay, dưới hình thức công ty mẹ đầu tư vào các công ty khác thành các công ty con, mục tiêu thành lập Concern là tạo thế lực tài chính mạnh để phát triển kinh doanh nhằm hạn chế rủi ro Các công ty con hoạt động trong nhiều lĩnh vực và chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn kinh doanh của mình, giữ tính độc lập về pháp lý nhưng phụ thuộc vào Concern về mục tiêu hoạt động nhằm thực hiện lợi ích chung giữa công ty mẹ và công ty con thông qua các hợp đồng kinh tế, các khoản vay tín dụng hoặc đầu tư
Sáu là Conglomerate
Conglomerate là tập đoàn kinh tế đa ngành, các công ty thành viên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về mặt tài chính đây là một tập đoàn hoạt động tài chính thông qua mua bán chứng khoán trên thị trường để đầu tư Tập đoàn giữ vai trò chủ yếu là chi phối và kiểm soát tài chính chặt chẽ các công ty thành viên Các công ty thành viên vẫn giữ tính pháp lý độc lập và tự chủ cao trong kinh doanh các sản phẩm của mình Đây là một tổ chức tài chính đầu tư vào các công ty kinh doanh tạo lập một chùm doanh nghiệp tài chính – công nghiệp Hỗ trợ chủ yếu của tập đoàn về vốn đầu tư cho các công ty thành viên có hiệu quả cao
1.2.2.2 Theo tính chất ngành nghề
Phân loại theo tiêu chí này, tập đoàn kinh tế được phân chia như sau:
Thứ nhất, các tập đoàn liên kết trong cùng một ngành (Cartel, Syndicate, Trust, ), đây là hình thức liên kết ngang nhằm khai thác các lợi thế của các công ty thành viên
Thứ hai, loại hình tập đoàn theo liên kết dọc giữa các ngành trong cùng một dây chuyền công nghệ và vẫn còn phổ biến trong giai đoạn hiện nay như: Concern, Conglomerate, Chaebol, .chúng hoạt động có hiệu quả cao và bành chướng hoạt động sản xuất kinh doanh sang hầu hết các nước trên thế giới Điểm đặc biệt của hình thức này là cần phải có thị trường chứng khoán mạnh mẽ, hệ thống thông tin toàn cầu và khả năng xử lý tổng hợp những thông tin thị trường, đầu tư
Thứ ba, loại hình tập đoàn liên kết hỗn hợp bao gồm một ngân hàng (một công ty tài chính lớn), một ty thương mại và các công ty sản suất công nghiệp
1.2.2.3 Theo tính chất sở hữu
Trang 27Theo tính chất sở hữu, tập đoàn kinh tế thường được phân chia thành tư nhân
và nhà nước Trong đó, tập đoàn kinh tế nhà nước mang sắc thái sở hữu nhà nước, vốn do nhà nước đầu tư Ngược lại, tập đoàn kinh tế tư nhân mang sắc thái sở hữu
tư nhân Trên thế giới hầu hết các tập đoàn kinh tế tư nhân đều có gắn bó chặt chẽ
và chịu chi phối của chính phủ các nước, thông thường chúng đại diện cho kinh tế của nước đó
1.2.3 Đặc trưng cơ bản về tập đoàn kinh tế
1.2.3.1 Các tập đoàn kinh tế thường có quy mô lớn về vốn, doanh thu và phạm vi hoạt động
Sự liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau trong một tập đoàn luôn luôn nhằm mục tiêu quan trọng nhất là giải quyết những khó khăn về vốn phục vụ kinh doanh Vi vậy, khi đó hình thành tập đoàn, các doanh nghiệp thành viên phát triển nhanh hơn, tài sản có quyền sở hữu cũng tăng lên khá nhanh, từ đó, tổng tài sản trong toàn tập đoàn cũng khá lớn
Các tập đoàn kinh tế trên thế giới thường chiếm phần lớn thị phần trong những mặt hàng chủ đạo của tập đoàn đó và vì vậy có doanh thu rất cao
Về lao động, các tập đoàn thường thu hút một số lượng rất lớn lao động ở chính quốc và ở các quốc gia khác Ví dụ, tập đoàn Air France (Pháp) bao gồm 16 công ty con với 45.000 lao động; tập đoàn Danone (Pháp) chuyên sản xuất sữa tươi, bánh bích quy, thực phẩm, nước khoáng, bia, có 81.000 nhân viên và tập đoàn Fiat (Italia) có 242.300 nhân viên
Phần lớn các tập đoàn mạnh trên thế giới hiện nay là tập đoàn đa quốc gia, tức
là có các chi nhánh, công ty con ở nhiều nước trên thế giới Chẳng hạn, tập đoàn HENKEL (Đức) có 330 chi nhánh, công ty con ở nước ngoài Tương tự, số chi nhánh, công ty con ở nước ngoài của tập đoàn Simens (Đức) là 300; tập đoàn Roche (Thụy Sĩ): 140, tập đoàn Tractebel (Bỉ): 100, tập đoàn Unilever (Anh): 90
1.2.3.2 Lĩnh vực hoạt động của tập đoàn kinh tế
Hoạt động trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực là xu hướng có tính quy luật cùng với sự phát triển của các tập đoàn kinh tế Ví dụ, Mitsubishi ban đầu chỉ
Trang 28hoạt động trong lĩnh vực cơ khí chế tạo nhưng đến nay đó hoạt động trong các lĩnh vực: khai khoáng, luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất, ngân hàng, bảo hiểm, ngoại thương, vận tải Tập đoàn Petronas (Malaysia) trước hoạt động chủ yếu trong ngành dầu khí nhưng hiện nay đó hoạt động trong các lĩnh vực: thăm dò, khai thác dầu khí, lọc dầu, hóa dầu, kinh doanh thương mại các sản phẩm dầu khí, hàng hải, kinh doanh bất động sản, siêu thị và giải trí
Với sự kết hợp ngày càng chặt chẽ giữa các lĩnh vực có liên quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh và sự liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất, hiện nay, các công ty tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và các viện nghiên cứu ứng dụng về khoa học, công nghệ tham gia vào các tập đoàn kinh tế ngày càng nhiều
1.2.3.3 Cơ cấu tổ chức
Về cơ cấu tổ chức, cho đến nay, chưa có một văn bản pháp lý của một quốc gia nào quy định một cơ cấu tổ chức thống nhất cho tập đoàn kinh tế Bởi lẽ, các tập đoàn kinh tế được hình thành dần dần trong quá trình phát triển; hai hoặc một số doanh nghiệp hình thành một tập đoàn theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương Do vậy, cơ cấu tổ chức của các tập đoàn kinh tế thường đa dạng, phụ thuộc vào nguyên tắc tự nguyện hoặc hiệp thương
1.2.3.4 Sở hữu vốn
Sở hữu vốn trong các tập đoàn kinh tế cũng rất đa dạng Trước hết, vốn trong tập đoàn là do các công ty thành viên làm chủ sở hữu, bao gồm cả vốn tư nhân và vốn nhà nước Quyền sở hữu vốn trong tập đoàn cũng tùy thuộc vào mức độ phụ thuộc của các công ty thành viên vào công ty mẹ và thông thường ở hai cấp độ: Cấp độ thấp hay cũng gọi là liên kết mềm, vốn của công ty "mẹ", công ty"con", công ty "cháu" là của từng công ty
Cấp độ cao hay cũng gọi là liên kết cứng là công ty "mẹ" tham gia đầu tư vào các công ty con, biến các công ty "con", công ty "cháu" thành công ty TNHH một thành viên do công ty "mẹ" làm chủ sở hữu hoặc công ty "mẹ" chiếm trên 50% vốn điều lệ (với công ty TNHH), giữ cổ phần chi phối (với công ty "con","cháu" là công
ty cổ phần) Trên thực tế, không một tập đoàn kinh tế nào chỉ có quan hệ về sở hữu
Trang 29vốn theo một cấp độ mà đan xen cả hai cấp độ tùy theo từng trường hợp trong quan
hệ giữa công ty "mẹ" và công ty "con", "cháu"
1.2.4 Đặc trưng của Tập đoàn kinh tế tại Việt Nam
Bên cạnh các đặc trưng vốn có của Tập đoàn kinh tế nói chung, Tập đoàn kinh
tế tại Việt Nam, do các điều kiện đặc thù của địa phương và quy định của pháp luật Ngoài những đặc điểm chung về Tập đoàn kinh tế, các Tập đoàn Kinh tế tại Việt Nam còn có các đặc điểm sau:
Một là, được hình thành chủ yếu từ việc chuyển đổi và tổ chức lại các tổng
công ty nhà nước theo quyết định của Chính phủ
Hai là, hoạt động trong những ngành kinh tế mũi nhọn, những lĩnh vực then
chốt của nền kinh tế theo mục tiêu chiến lược phát triển của từng tập đoàn mà tư nhân và các thành phần kinh tế khác khó có thể thực hiện được do hạn chế về năng lực tài chính hoặc kinh nghiệm quản lý; là một trong những công cụ điều hành kinh
tế vĩ mô của Chính phủ
Ba là, hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con (chuyển từ quan hệ
hành chính trong tổng công ty nhà nước trước đây sang quan hệ về đầu tư vốn); quy
mô và khả năng tích tụ vốn cú trình độ cao hơn và quy mô lớn hơn so với các tổng công ty trước đây (trước khi chuyển đổi sang mô hình tập đoàn); phạm vi hoạt động được mở rộng không chỉ ở trong nước mà cả ở nước ngoài
Bốn là, “Tập đoàn không phải là một doanh nghiệp, không có tư cách pháp
nhân, không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh Nghiệp Việc
tổ chức hoạt động của tập đoàn do các công ty lập thành tập đoàn tự thỏa thuận quyết định”.Do đó, các mệnh lệnh hành chính không được sử dụng trong điều hành các tập đoàn
Các doanh nghiệp là thành viên của tập đoàn đều có pháp nhân độc lập, có cơ
quan quyền lực cao nhất như hội đồng thành viên (với công ty TNHH), đại hội đồng
cổ đông (với công ty cổ phần)
Năm là, hợp tác và liên kết kinh doanh giữa các đơn vị trong tập đoàn kinh tế
được nâng cao; quan hệ chặt chẽ giữa các đơn vị thành viên về đầu tư vốn và tài
Trang 30chính, thị trường, phân công chuyên môn hóa, nghiên cứu và phát triển, thể hiện rõ một đặc trưng quan hệ giữa các doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn kinh tế
Sáu là, quan hệ nội tại của tập đoàn kinh tế nhà nước bao gồm:
- Công ty mẹ (gọi tắt là doanh nghiệp cấp I) là doanh nghiệp do Nhà nước giữ 100% vốn hoặc giữ quyền chi phối theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
- Công ty con của doanh nghiệp cấp I (gọi tắt là doanh nghiệp cấp II) là các doanh nghiệp do doanh nghiệp cấp I giữ quyền chi phối; được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một hoặc hai thành viên trở lên, tổng công ty theo hình thức công ty mẹ – công ty con, công ty liên doanh (trong trường hợp chưa đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp), công ty con ở nước ngoài;
- Công ty con của doanh nghiệp cấp II và các cấp tiếp theo;
- Các doanh nghiệp liên kết của tập đoàn gồm: doanh nghiệp có vốn góp dưới mức chi phối của công ty mẹ và của công ty con; doanh nghiệp không có vốn góp của công ty mẹ và của công ty con, tự nguyện tham gia liên kết dưới hình thức hợp đồng liên kết hoặc không có hợp đồng liên kết, nhưng có mối quan hệ gắn bó lâu dài về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ khác với công ty mẹ hoặc doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn
- Công ty mẹ và các doanh nghiệp thành viên tập đoàn có tư cách pháp nhân;
có vốn và tài sản riêng; có quyền chiếm hữu, sử dông, định đoạt tài sản của mình theo quy định của pháp luật và theo thỏa thuận chung của tập đoàn Nhà nước là chủ
sở hữu vốn nhà nước trực tiếp đầu tư tại công ty mẹ Công ty mẹ là chủ sở hữu vốn
nhà nước tại các công ty con, doanh nghiệp liên kết
Bảy là, quan hệ giữa tập đoàn với bộ, ngành và Chính phủ: Nhà nước là chủ sở
hữu của tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam Chính phủ thống nhất thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty mẹ và đối với phần vốn nhà nước tại tập đoàn kinh tế nhà nước; Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập công ty
mẹ, quyết định tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu công ty mẹ theo đề nghị của
bộ quản lý ngành và ý kiến của các bộ, ngành có liên quan; Thủ tướng Chính phủ giao bộ quản lý ngành, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và hội
Trang 31đồng quản trị tập đoàn thực hiện một số quyền của chủ sở hữu theo pháp luật hiện hành, theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của từng tập đoàn
Tám là, quản lý, giám sát đối với tập đoàn kinh tế nhà nước được thực hiện
theo các phương thức: Thông qua chế độ báo cáo của hội đồng quản trị công ty mẹ; thông qua thực hiện kiểm toán tại công ty mẹ và các đơn vị thành viên; thông qua thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất của công ty mẹ; thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá của các cơ quan theo quy định của pháp luật
1.2.5 Một số mô hình tập đoàn kinh tế trên thế giới
- Chú trọng lợi ích chủ đầu tư và lợi ích người lao động;
- Thực hiện theo nguyên tắc giám đốc, mức độ luật định thấp;
- Yếu tố chính phủ: Duy trì môi trường ổn định để các thị trường tụ do hoạt động, tuy nhiên tự do trong khuôn khổ;
- Công đoàn tham gia tự nguyện và yếu;
- Quyền cổ đông: Sở hữu rộng rãi và việc chi trả cổ tức cá nhân được ưu tiên hàng đầu khi công ty phá sản;
- Quyền người lao động: Bị hạn chế và hầu như không được tham gia điều hành công ty;
- Thị trường chứng khoán đóng vai trò rất lớn trong việc cấp vốn và giám sát hoạt động của công ty;
- Vai trò của ngân hàng bị hạn chế trong việc sở hữu và kiểm sát công ty
1.2.5.2 Mô hình của Nhật
Mô hình tập đoàn kinh tế của Nhật là mô hình thống nhất ngang mở rộng có đặc trưng:
- Thành lập ban giám đốc và có uỷ ban quản lý;
- Chú trọng lợi ích của gia đình lên trên hết;
Trang 32- Yếu tố chính phủ: Can thiệp mạnh vào nền kinh tế, thực thi chính sách ủng
hộ và định hướng phát triển, quan chức chính phủ và giới kinh doanh có mối quan
hệ chặt chẽ;
- Công đoàn hoạt động chủ yếu và chịu ảnh hưởng của giới chính trị;
- Quyền cổ đông: Các cổ đông có vai trò ngang nhau;
- Quyền người lao động: Có nhiều ảnh hưởng bởi họ làm việc lâu dài và gắn
bó với công ty;
- Thị trường chứng khoán đóng vai trò vừa phải;
- Vai trò ngân hàng: Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc cấp vốn nhưng kém quan trọng trong việc quản lý;
1.2.5.3 Mô hình của Trung Quốc
Mô hình tập đoàn kinh tế Trung Quốc là mô hình tách rời ngang có đặc trưng:
- Thành lập hội đồng quản trị và ban giám đốc, ban giám sát trên cơ sở sử lý hài hoà mối quan hệ giữa “ba hội mới” và “ba hội cũ” (Ban chấp hành đảng bộ, Ban chấp hành công đoàn và Đại hội công nhân viên chức) Bí thư Đảng uỷ và Chủ tịch hội đồng quản trị do một người kiêm nhiệm;
- Đẩy mạnh việc phát triển công ty có nhiều chủ đầu tư thông qua việc đa đạng hoá và quyền cổ phần nhằm hình thành cơ cấu quản trị có pháp nhân công ty;
- Mối quan hệ của cá nhân, hành vi, tổ chức là sự kết hợp vừa mang tính lịch
sử với các cơ chế chính thức;
- Yếu tố chính phủ: Phi tập trung hoá quyền lực, xoá bỏ sự can thiệp thoái quá của nhà nước, hỗ trợ cho sự phát triển của thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mang mầu sắc Trung Quốc;
- Các TĐKT trong các mô hình trên phát triển và vận hành theo các nguyên tắc cốt lõi của nền kinh tế thị trường là tự do cạnh tranh, phát triển sở hữu tư nhân gắn với lợi ích cá nhân, sự diều tiết và quản lý nhà nước linh hoạt có chủ đích trong một số ngành nghề nhất định Thực tế các tập đoàn phát triển không theo một mô hình, thể chế cứng nhắc hoặc khuôn mẫu nào mà nó thay đổi linh hoạt dựa trên nhu cầu phát triển của tập đoàn trong từng giai đoạn
Trang 331.2.6 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.2.6.1 Con đường thành lập
Thành lập tập đoàn kinh doanh là kết quả tất yếu của quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, vốn kinh doanh Nguồn vốn tự tích luỹ đóng vai trò cơ bản trong việc hình thành các tập đoàn kinh doanh ở các nước tư bản phát triển quá trình thành lập các tập đoàn là quá trình tập trung sản xuất, tập trung vốn Quá trình này diễn ra theo các phương thức khác nhau bằng con đường thôn tính thông qua việc mua lại các công ty nhỏ yếu hơn biến chúng thành một bộ phận không thể tách rời của công ty mẹ hay theo con đường tự nguyện sát nhập với nhau để hình thành những công ty lớn hơn Trong khi đó ở các nước công nghiệp hoá đi sau, các tập đoàn được hình thành và phát triển chủ yếu bằng tích tụ và liên doanh nhằm tăng vốn, khả năng sản xuất, khả năng chuyển giao công nghệ nước ngoài và khả năng cạnh tranh Dù hình thành bằng cách nào thì tập đoàn cũng được hình thành chủ yếu
từ nguồn vốn tự tích luỹ từ kết quả hoạt động kinh doanh của bản thân các công ty
Các tập đoàn kinh tế của Nhật Bản chủ yếu khởi đầu từ lĩnh vực thương mại hoặc ngoại thương các tập đoàn này thường chuyên môn hoá trong các hoạt động thương mại với một số sản phẩm nhất định Qua quá trình hoạt động, phát triển, quy
mô và cơ cấu kinh doanh dần được mở rộng, đa dạng hoá các loại hình kinh doanh
Đối với Mỹ và một số nước Châu Âu, các tập đoàn lại bắt đầu từ các hoạt động sản xuất Thông qua kết quả của các hoạt động sản xuất mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực khác như thương mại, vận tải, bảo hiểm, ngân hàng Có sự khác biệt này là do những nét đặc thù của môi trường kinh doanh ở mỗi nước quy định
Đối với các nước kém phát triển, khởi điểm bắt đầu từ các doanh nghiệp sản xuất có vai trò rất lớn đến xây dựng và hình thành cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới
1.2.6.2 Mô hình tổ chức
Nhìn chung tập đoàn kinh tế là một hình thức tổ chức kinh tế lỏng vì phần lớn chúng không có tư cách pháp nhân Trong tập đoàn luôn có một công ty mẹ và các công ty thành viên Công ty mẹ và các công ty thành viên có mối quan hệ phụ thuộc, hỗ trợ về mặt chiến lược, tài chính, tín dụng Các công ty thành viên vẫn giữ
Trang 34nguyên tính độc lập về mặt pháp lý Mối quan hệ giữa các thành viên chủ yếu dựa trên mối quan hệ liên kết về lợi ích kinh tế được điều khiển bởi các hợp đồng hoặc thoả thuận kinh tế
Hầu hết các TĐKT đều áp dụng chính sách quản lý theo kiểu phi tập trung hoá Có một ban quản trị chung để quản lý tập đoàn và trụ sở thường nằm ở công ty
mẹ Ban quản trị tập đoàn chỉ kiểm soát về mặt tài chính, chiến lược đầu tư thông qua sử dụng các đòn bẩy kinh tế, còn các thành viên hoàn toàn tự chủ trong quyết đình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình ở các công ty thành viên có ban quản trị, ban giám đốc riêng để lãnh đạo Kiểu quản lý này vừa phát huy được tính năng động tự chủ của các công ty thành viên, vừa tạo sự thống nhất chung trong tập đoàn
Hầu hết các tập đoàn kinh tế hiện nay hình thành theo mô hình liên kết dọc giữa các ngành trong cùng một dây truyền công nghệ Đây là mô hình tập đoàn kinh
tế hoạt động có hiệu quả và bành trướng phạm vi trên toàn thế giới Một trong những đặc trưng cần lưu ý khi thành lập tập đoàn kinh tế kiểu này là:
- Có được một công ty đủ lớn, có uy tín để quản lý và kiểm soát các công ty khác, đồng thời có thể đảm bảo kiểm tra tài chính và sự lệ thuộc của các công ty thành viên;
- Có được một ngân hàng có quy mô và khả năng cần thiết để có thể đảm bảo phần lớn tín dụng cho tập đoàn;
- Có những mối liên hệ nhiều mặt với nhà nước;
- Một trong những điều kiện hết sức quan trọng để thành lập và phát triển loại hình tập đoàn này là cần phải có thị trường chứng khoán phát triển mạnh mẽ hệ thống thông tin toàn cầu Ngày nay một TĐKT mạnh thường có cơ cấu sản xuất kinh doanh trong tất cả các ngành nghề và mô hình đang được ưa chuộng và trở thành xu hướng chính hiện nay có cơ cấu gồm một ngân hàng, một công ty thương mại, và các công ty sản xuất công nghiệp
1.2.6.3 Vai trò của nhà nước
Đối với các tập đoàn kinh tế nhà nước thì vai trò của nhà nước là cự kỳ to lớn
Trang 35và quan trọng đối với sự phát triển của các Tập đoàn kinh tế, thể hiện trong việc đưa
ra đường lối, chính sách và chiến lược phát triển cho tập đoàn gắn liền với việc phát triển kinh tế của quốc gia Bên cạnh vai trò của Nhà nước là kiến tạo và duy trì trật
tự, ổn định xã hội, tạo môi trường pháp luật đảm bảo cạnh tranh bình đẳng, khuyến khích các tập đoàn phát triển nhưng cũng đảm bảo môi trường bình đẳng cho các doanh nghiệp hoạt động (ví dụ như luật chống độc quyền) Nhà nước cần định hướng và xác lập vai trò của tập đoàn kinh tế nhà nước làm đầu tàu và trọng điểm thúc đẩy kinh tế quốc gia phát triển
Trang 36CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
2.1.1 Xác định vấn đề, hình thành mục tiêu nghiên cứu
- Xác định vấn đề nghiên cứu là: xác định mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước
ở Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế
- Hình thành mục tiêu nghiên cứu:
+ Đánh giá thực trạng hoạt động mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam + Đề xuất mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước phù hợp với Việt Nam trong giai đoạn hội nhập
Trong quá trình nghiên cứu, học viên đã sử dụng các quy định, quy trình, các văn bản hướng dẫn, các số liệu liên quan đề vấn đề nghiên cứu qua các thời kỳ Trên cơ sở đó xem xét, phân tích, đánh giá dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn Từ
đó, nhận diện các vấn đề cần đi sâu vào nghiên cứu và đề ra các biện pháp giải quyết các vấn đề đó
2.1.2 Quy trình nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết đã đưa ra ở Chương 1, đề tài tiến hành nghiên cứu định tính thông qua các tài liệu trước đây và tổng quan nghiên cứu về tập đoàn kinh
tế Đây là một đề tài khó và phạm vi nghiên cứu rộng, ở tầm vĩ mô, do vậy việc thu thập và sử dụng dữ liệu sơ cấp cho việc nghiên cứu là rất khó khăn bởi các lý do sau:
Thứ nhất, các tập đoàn kinh tế nhà nước thường khó tiếp cận, công tác bảo mật thông tin cao
Thứ hai, Thời gian thu thập dữ liệu lâu và tốn kém chi phí
Do vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được cung cấp bởi các nguồn tin cậy như báo cáo của tập đoàn kinh tế nhà nước với chính phủ, báo cáo nội bộ của các tập đoàn kinh tế được công khai
Cụ thể quy trình nghiên cứu được thiết kế như sau:
Trang 37Hình 2.2 Quy trình nghiên cứu
Nguồn: Tác giả đề xuất
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Như đã trình bày ở trên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính là chủ yếu, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích dữ liệu để đánh giá về thực trạng Nguồn dữ liệu sử dụng để phân tích là các báo cáo của Tập đoàn kinh tế nhà nước trình chính phủ, các dự liệu báo cáo nội bộ của Tập đoàn kinh tế, dữ liệu thống kê của các cơ quan quản lý, đánh giá
của các đơn vị nghiên cứu quản lý kinh tế
2.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin
Cơ sở lý luận về TĐKT và Tổng quan
nghiên cứu
Nghiên cứu định tính (phỏng vấn chuyên gia, báo cáo, tài liệu, hồ sơ…)
Thu thập dữ liệu
Phân tích dự liệu (phân tích thực trạng hoạt động của tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam)
Kết quả báo cáo (Đề xuất mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước phù hợp ở Việt Nam, tập trung vào cơ cấu quản lý)
Trang 38 Phương pháp thống kê
Mục đích của phương pháp thống kê là dùng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp phân tích tổng hợp được áp dụng xuyên suốt trong từng chương của luận văn Có thể hiểu phân tích là chia vấn đề cần nghiên cứu thành các vấn đề nhỏ, số liệu cần thu thập cũng được chia nhỏ theo đó Và vấn đề chính sẽ được nghiên cứu thông qua các vấn đề nhỏ này, khi kết thúc từng vấn đề có thể rút
ra được những thông tin, dữ liệu nhỏ cần được tổng hợp để đánh giá vấn đề cần nghiên cứu ban đầu Việc chia nhỏ vấn đề nghiên cứu cũng sẽ giúp cho người đọc
dễ hình dung bản chất, nguồn gốc của vấn đề vĩ mô ban đầu Điều này giúp thấy được góc nhìn nhiều mặt, nhiều khía cạnh của vấn đề và cũng để có phương pháp giải quyết các vấn đề còn bất cập, hạn chế một cách triệt để và hiệu quả
Trong chương 3 của luận văn, tác giả sẽ thống kê và tổng hợp các con số thu được, đồng thời tiến hành xử lý bằng phần mềm Excel để đưa ra các tỷ lệ % cũng như trình bày dưới dạng bảng và các loại biểu đồ, phân tích và đánh giá kết quả thông qua giá trị trung bình hoặc phần trăm, từ đó hình thành cái nhìn tổng thể về thực trạng hoạt động của mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Trang 39CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
3.1 Bối cảnh thành lập mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Ở Việt Nam các tập đoàn kinh tế được thành lập trên cơ sở kế thừa và tố chức lại các Tổng công ty nhà nước có quy mô lớn do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập trước đây (Tổng công ty 91), hoạt động trong các ngành, lĩnh vực chủ chốt của đất nước như: năng lượng, cơ khí, đóng tàu, nông nghiệp, xây dựng, viễn thông, dầu khí, dệt may Việc hình thành tập đoàn kinh tế, vì vậy, tận dông được nhiều lợi thế có sẵn do các tổng công ty nhà nước trước đây là những là những doanh nghiệp có quy mô lớn, có quy mô hoạt động rộng so với các doanh nghiệp khác ở Việt Nam, có mạng lưới doanh nghiệp thành viên lớn, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp thành viên tương đối mật thiết và đã có sẵn các mối quan hệ liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước Chính những điều kiện thuận lợi này đã tạo ra rất nhiều thuận lợi cho việc đổi mới về tổ chức, sắp xếp lại các đơn vị thành viên trong Tập đoàn theo các quyết đinh hành chính của chủ sở hữu Vì vậy, sau khi được thành lập, các tập đoàn kinh tế nhà nước là các tổ chức kinh tế có số lượng lớn thành viên, hoạt động đa ngành, đa nghề lĩnh vực và trở thành lực lượng chủ chốt trong khối doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam
Trong số 12 Tập đoàn kinh tế nhà nước đã được thành lập, có đến 11 Tập đoàn kinh tế do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, 01 tập đoàn đã được cổ phần hóa do Nhà nước nắm giữ phần vốn chi phối là tập đoàn Tài chính bảo hiểm Bảo Việt Trước thời điểm 1-7-2017, 11 tập đoàn kinh tế do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được tổ chức hoạt động dưới hình thức tổng công ty Nhà nước theo quy định của luật Doanh nghiệp nhà nước và các văn bản hướng dẫn Sau thời điểm 1-7-2017
là thời điểm tất cả các doanh nghiệp đều phải thực hiện chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp phù hợp với quy định tại luật Doanh nghiệp 2005, 11 công ty mẹ của các tập đoàn kinh tế nhà nước đã được chuyển đổi sang loại hình công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, chịu sự điều chỉnh của các quy định tại luật Doanh nghiệp 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan
Trang 403.1.1 Quan hệ giữa công ty mẹ - công ty con và các mối liên kết trong tập đoàn kinh tế nhà nước
Tập đoàn kinh tế nhà nước là một hình thức tổ chức kinh doanh mới, với những đặc điểm về sở hữu, tổ chức, quản lý nhiều cấp nhiều loại hình doanh nghiệp
và hoạt động đặc thù Để phù hợp với các điều kiện khách quan, thực tế hoạt động
và cơ chế quản lý nhà nước hiện hành, các tập đoàn kinh tế nhà nước ở nước ta được tổ chức theo mô hình công ty mẹ - công ty con Hiện nay, 9 tập đoàn kinh tế nhà nước được tổ chức theo mô hình công ty mẹ - công ty con với nhiều cấp doanh nghiệp: công ty mẹ - công ty con, công ty liên kết, công ty con - công ty cháu Hình 2.1 Công ty mẹ của các tập đoàn được hình thành theo một trong hai cách:
Tố chức lại Văn phòng, cơ quan quản lý của tổng công ty, một số đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc và một vài công ty thành viên hạch toán độc lập có vị trí then chốt hoặc hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chính của tổng công ty;
Tố chức lại Văn phòng, cơ quan quản lý của tổng công ty và một công ty thành viên hạch toán độc lập có vị trí then chốt hoặc hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chính của tổng công ty
Các công ty con (là doanh nghiệp độc lập do công ty mẹ góp 50% vốn điều lệ trở lên) và các công ty liên kết trong tập đoàn bao gồm các công ty TNHH một thành viên do Công ty mẹ nắm giữ 100% vốn điều lệ, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên được tổ chức lại thông qua việc cổ phần hóa các đơn vị thành viên, bộ phận doanh nghiệp của công ty mẹ tập đoàn hoặc do công ty
mẹ tham gia góp vốn với các thành phần kinh tế khác để thành lập doanh nghiệp mới, các đơn vị thành viên được tiếp nhận và các đơn vị sự nghiệp hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 và các văn bản pháp luật hướng dẫn
Đặc điểm quan trọng của mô hình công ty mẹ - công ty con là công ty mẹ sở hữu toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định vốn cổ phần trong các công ty con và các đơn
vị thành viên Quyền sở hữu và mức độ sở hữu vốn của công ty mẹ trong công ty con mang lại cho công ty mẹ khả năng chi phối đối với công ty con, thông qua việc quyết định về tổ chức, quản lý, nhân sự chủ chốt, thị trường cũng như những vấn đề