Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục đích trên, luận án tập trung vào các nhiệm vụ sau: - Hệ thống hoá, kế thừa có bổ sung để hoàn thiện và phát triển các vấn đề lý luận cơ bản về kinh
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ ANH THI
KINH TẾ BIỂN TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG, AN NINH
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2019
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ ANH THI
KINH TẾ BIỂN TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG, AN NINH
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 62 31 01 02
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS NGUYỄN MINH QUANG
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu trong luận án là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, trích dẫn đầy
đủ theo quy định
Tác giả
Nguyễn Thị Anh Thi
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
KINH TẾ BIỂN TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG,
1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước liên quan tới đề tài
1.2 Đánh giá các kết quả nghiên cứu đã đạt được và các vấn đề mới đặt ra
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ BIỂN TRONG
2.1 Lý luận về kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo quốc phòng, an ninh 29 2.2 Nội dung, tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế biển
2.3 Kinh nghiệm nước ngoài và trong nước về phát triển kinh tế biển trong
Chương 3: THỰC TRẠNG KINH TẾ BIỂN TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng ảnh hưởng đến
3.2 Thực trạng kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo quốc phòng, an ninh
3.3 Đánh giá kết quả thực hiện và những vấn đề đặt ra để giải quyết hài hoà
kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở thành
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
BIỂN TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG, AN NINH Ở
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNTT : Công nghệ thông tin
GRDP : Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn
Trang 6nhiều nhất ở thành phố Đà Nẵng 85 Bảng 3.5: Lực lượng lao động trong lĩnh vực kinh tế du lịch biển năm
Bảng 3.6: Thực trạng chất lượng nhân lực ngành kinh tế du lịch biển thành
phố Đà Nẵng giai đoạn 2013 - 2017 87 Bảng 3.7: Kết quả bồi dưỡng lớp lý luận chính trị của Sở du lịch thành
phố Đà Nẵng tính đến hết năm 2018 88 Bảng 3.8: Chi tiêu cho xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch năm 2018 ở thành
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.1: Khái quát kinh tế biển và các lĩnh vực kinh tế biển 31
Biểu đồ 3.1: Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn
Biểu đồ 3.2: Thu nhập bình quân đầu người ở thành phố Đà Nẵng giai đoạn
Biểu đồ 3.3: Tổng thu du lịch của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011 - 2018 83
Biểu đồ 3.4: Sản lượng khai thác thuỷ sản của thành phố Đà Nẵng giai đoạn
Biểu đồ 3.5: Cơ cấu nghề khai thác hải sản ở thành phố Đà Nẵng 95
Biểu đồ 3.6: Trình độ lao động trong ngành chế biến thuỷ sản tại Đà Nẵng
Biểu đồ 3.7: Chất lượng nhân lực Cảng Đà Nẵng năm 2018 102
Biểu đồ 3.8: Số lượng bộ đội biên phòng của thành phố Đà Nẵng năm 2018 108
Biểu đổ 3.9: Trình độ chuyên môn bộ đội biên phòng thành phố Đà Nẵng
Biểu đồ 3.10: Trình độ lý luận chính trị của Bộ đội Biên phòng thành phố
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mối quan hệ giữa kinh tế nói chung, kinh tế biển nói riêng với bảo vệ chủ quyền biển, đảo và đảm bảo quốc phòng, an ninh cơ bản được hình thành từ trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, nhận thấy được tầm quan trọng của bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên biển gắn với phát triển kinh tế biển, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn kiện liên quan đến vấn đề này Trong đó, Nghị quyết số 09-NQ/TW về Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 ngày 09/02/2007 đã khẳng định quan điểm, chủ trương, mục tiêu cơ bản là đưa Việt Nam trở thành quốc gia giàu mạnh về biển, đồng thời đảm bảo vững chắc chủ quyền quốc gia cũng như chủ quyền biển đảo Đặc biệt trong những năm gần đây vấn đề biển Đông liên tiếp xảy ra những tranh chấp với những diễn biến mới ngày càng phức tạp nên nhận được sự quan tâm theo dõi chặt chẽ của cộng đồng quốc tế và khu vực Tổng kết sau 10 năm thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW, hội nghị Trung ương 8 khoá XII của Đảng đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh
tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển mạnh về kinh tế biển, giàu lên từ biển, dựa vào biển và hướng ra biển [3]
Là một trong số 28 tỉnh, thành phố ven biển với 6/8 quận, huyện tiếp giáp với biển, trong đó có huyện đảo Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng là địa phương tiên phong trong công cuộc thực hiện mục tiêu giàu mạnh từ biển và hướng ra biển của cả nước Thành phố có hơn 92 km bờ biển, với 80% dân số đang sinh sống dựa vào kinh tế biển Biển đã và đang tạo ra vị thế phát triển cho thành phố Đà Nẵng thông qua các lĩnh vực khai thác hải sản, du lịch, công nghiệp cơ khí và chế biến, vận tải biển Trong đó, đặc biệt là nhiệm vụ quốc phòng, an ninh (QP, AN) vùng biển là bệ đỡ và điểm tựa cho các ngành kinh tế biển phát triển ổn định, vững chắc Xác định được vị trí và tầm quan trọng của kinh tế biển trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, thành phố đã ban hành Quy hoạch phát triển kinh tế vùng biển đảo thuộc địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 Bên cạnh đó, theo chủ trương của Đảng
và Nhà nước về phát triển kinh tế biển đảo kết hợp với giữ vững QP, AN và chủ
Trang 9quyền lãnh thổ, thành phố Đà Nẵng luôn tích cực hợp tác và đấu tranh để thực hiện các cam kết quốc tế về biển Đồng thời, kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền vùng biển, đảo gắn với phát triển kinh tế biển, tạo môi trường thuận lợi để mở rộng quan hệ trao đổi khoa học kỹ thuật, đầu tư, đổi mới công nghệ, hiện đại hoá trang bị cho QP, AN; tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia thành viên trong khu vực và quốc tế với mục đích cao nhất là ổn định để góp phần vào sự phát triển chung của đất nước; sử dụng biển tương xứng với tầm vóc của nó trong cơ cấu kinh tế cũng như
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Để chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống, thành phố xây dựng chiến lược của riêng mình trong chiến lược tổng thể của quốc gia, trong đó chú trọng những giải pháp và bước đi phù hợp với điều kiện của đất nước và tranh thủ được vốn, kỹ thuật trong hợp tác quốc tế để vươn ra làm chủ biển khơi, phục vụ phát triển kinh tế biển nói riêng và kinh tế đất nước với tốc độ nhanh và bền vững Tuy nhiên, thực tế cho thấy, kinh tế biển Đà Nẵng nói chung, quan hệ kinh
tế biển với đảm bảo QP, AN còn nhiều vấn đề đặt ra như: Đà Nẵng vẫn chưa có một chương trình khai thác và bảo vệ tài nguyên biển một cách toàn diện, tổng hợp Tình trạng yếu kém về kết cấu hạ tầng, nhân lực vẫn còn phổ biến, chưa tạo tiền đề vững chắc cho hoạt động bảo vệ biển và chủ quyền biển đảo Sự thiếu hụt về vốn, công nghệ cho các ngành kinh tế biển còn rất phổ biến Chưa tạo được sự kết hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các lực lượng chuyên trách đảm bảo an toàn, an ninh trong phát triển kinh tế biển như: Bộ đội biên phòng, hải quân, cảnh sát biển, công an, kiểm ngư Phát triển kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN của thành phố chưa có sự gắn kết với các tỉnh trong vùng cũng như chưa thể hiện được vai trò của trung tâm kinh tế biển miền Trung Sự kết hợp giữa các lực lượng chuyên trách với doanh nghiệp và người dân trong công tác đảm bảo QP, AN ở từng phân ngành trong phát triển kinh tế biển chưa mang tính bền vững, chuyên nghiệp Đồng thời, mô hình quản lý nhà nước (QLNN) cấp thành phố về kinh tế biển còn đang lúng túng và thiếu
tư duy toàn diện, chưa mang tính thời đại về phát triển kinh tế biển trong bối cảnh cả thế giới đang đồng loạt tiến ra biển v.v…
Hiện thực trên cho thấy tính cấp thiết cần có một nghiên cứu có tính hệ thống, căn bản, toàn diện về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế biển với đảm bảo
QP, AN cho thành phố Đà Nẵng Vì vậy, vấn đề "Kinh tế biển trong mối quan hệ
với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở thành phố Đà Nẵng" được nghiên cứu sinh
chọn làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị
Trang 102 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng khung lý luận về kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP,
AN ở địa bàn cấp tỉnh (thành phố) trong bối cảnh mới Kết hợp với khảo sát thực tiễn tình hình ở thành phố Đà Nẵng Luận án phân tích, đánh giá dựa vào các nội dung, tiêu chí, điều kiện và phương thức kết hợp để làm rõ kết quả đạt được, những khó khăn, bất cập và nguyên nhân Từ đó, đề ra mục tiêu, phương hướng và
đề ra các giải pháp để thúc đẩy phát triển kinh tế biển đặt trong mối quan hệ với
đảm bảo QP, AN ở thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ tiếp theo
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận án tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hoá, kế thừa có bổ sung để hoàn thiện và phát triển các vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế biển đặt trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN cấp tỉnh, nơi
có điều kiện thuận lợi về biển và kinh tế biển cũng như đóng góp tỉ lệ cao cho ngân sách nhà nước trong bối cảnh mới của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
- Phân tích kinh nghiệm phát triển kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN ở một số nước và một số thành phố của Việt Nam Từ đó, rút ra bài học cho thành phố Đà Nẵng để phát triển kinh tế biển bền vững trong những năm tới
- Dựa vào khung lý luận đã được xây dựng để phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN ở thành phố Đà Nẵng thời gian qua, chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu
- Căn cứ vào dự báo về bối cảnh quốc tế và trong nước liên quan đến kinh tế biển và vấn đề QP, AN vùng biển, luận án đề xuất mục tiêu, phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế biển với đảm bảo QP, AN ở thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Tổng hợp các quan hệ kinh tế liên quan đến kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN cấp tỉnh (thành phố), tiếp cận theo góc độ của chuyên ngành kinh tế chính trị Trong đó, khía cạnh kinh tế biển được xác định là trọng tâm của sự phát triển
Trang 11Luận án tiếp cận theo đối tượng của kinh tế chính trị: Nghiên cứu QHSX trong mối liên hệ với LLSX và KTTT
Về quan hệ sản xuất: Thứ nhất, nghiên cứu mối quan hệ giữa các chủ thể
thực hiện các nhiệm vụ chính của kinh tế biển Trong đó, chính quyền thành phố là trọng tâm, thông qua các cấp chính quyền và hệ thống chính trị của thành phố, doanh nghiệp, người dân và các chủ thể phối hợp thực hiện nhiệm vụ QP, AN (các
lực lượng chuyên trách và bán chuyên trách) của thành phố Thứ hai, nghiên cứu
hình thức triển khai kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN theo phân ngành: Đánh bắt và chế biến hải sản, du lịch biển, vận tải biển, cảng biển, công
nghiệp cơ khí và chế biến Thứ ba, nghiên cứu các phương thức thực hiện mối quan
hệ giữa phát triển kinh tế biển với đảm bảo QP, AN của chính quyền nhà nước các cấp và của các chủ thể tham gia phát triển kinh tế biển, theo cơ chế thực hiện dựa trên cơ sở đảm bảo hài hoà lợi ích của các bên
Về lực lượng sản xuất: Nghiên cứu các nguồn lực, điều kiện để thực hiện
phát triển kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN gồm: Vốn; con người; cơ sở vật chất kỹ thuật và khoa học công nghệ
Về kiến trúc thượng tầng: Vai trò và năng lực, quyền hạn của chính quyền
nhà nước các cấp và các chủ thể thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án
+ Phạm vi về nội dung: Kinh tế biển bao gồm nhiều phân ngành, vì vậy để
phù hợp với mục tiêu và dung lượng của luận án cũng như hướng vào mối quan hệ với đảm bảo QP, AN, luận án tập trung vào một số phân ngành cụ thể là: Đánh bắt
và chế biến hải sản, dịch vụ, du lịch biển, vận tải biển, cảng biển
+ Phạm vi về không gian: Luận án nghiên cứu kinh tế biển trong mối quan
hệ với đảm bảo QP, AN ở thành phố Đà Nẵng - một trong những trung tâm kinh tế biển lớn nhất cả nước
+ Phạm vi về thời gian:
Thời gian khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN trong giai đoạn 2010-2018 Phạm vi đề xuất phương hướng và giải pháp được xác định cho giai đoạn đến 2025, tầm nhìn 2030
Trang 124 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
quan tới đề tài luận án
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp trừu tượng hoá khoa học: Với phương pháp nghiên cứu này, luận án tạm thời gạt bỏ những yếu tố ngoại vi liên quan đến đối tượng nghiên cứu
để định hướng chuyên sâu cho những vấn đề cơ bản nhất cũng như thể hiện bản chất của mối quan hệ giữa phát triển kinh tế biển với đảm bảo QP, AN Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 1 và chương 2 của luận án
- Phương pháp hệ thống hóa để tiếp cận liên vùng, liên ngành để nghiên cứu tổng thể chủ đề dưới góc độ của khoa học Kinh tế chính trị Góp phần làm rõ mối quan hệ nhiều chiều, phức tạp của việc phát triển kinh tế biển với đảm bảo QP,
AN ở cấp địa phương
- Phương pháp phân tích - tổng hợp (sử dụng chủ yếu ở chương 2 và chương
3 của luận án): Tác giả đi sâu phân tích các khái niệm mang tính tổng hợp như: kinh
tế biển, đảm bảo QP, AN; phát triển kinh tế, kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN trên cơ sở đó làm rõ nội hàm chuyên sâu về những vấn đề nghiên cứu chính của luận án (kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN), lấy đó làm căn cứ để phân tích những đặc tính riêng của các nội dung nghiên cứu, tạo thành một hệ thống tổng thể và hoàn chỉnh phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của vấn đề nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế chính trị
- Phương pháp nghiên cứu thống kê, so sánh và kết hợp logic với lịch sử: Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu kinh tế hiện đại Luận
án sử dụng phương pháp thống kê để thu thập số liệu về thực trạng phát triển kinh tế
Trang 13biển ở thành Phố Đà Nẵng giai đoạn 2010 - 2018 để làm rõ mối quan hệ giữa phát triển kinh tế biển với đảm bảo QP, AN ở thành phố Đà Nẵng Tác giả tiến hành so sánh, đối chiếu hệ thống các số liệu dựa trên các tiêu chí đánh giá để rút ra sự khác nhau giữa những số liệu thống kê Đây là căn cứ để đánh giá khoa học khách quan tình hình thực tiễn Từ đó, rút ra được những kết luận quan trọng về kết quả đạt được, những vấn đề đặt ra và nguyên nhân chủ yếu của những vấn đề đặt ra này Đồng thời, thông qua kết hợp logic và lịch sử, suy luận để dự báo tình hình trong nước và thế giới liên quan đến đối tượng nghiên cứu, nhằm định hướng phát triển
và căn cứ vào mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn để đề xuất các giải pháp thực hiện tốt mục tiêu đề ra Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 3 và chương 4 của luận án
Trong từng chương, tiết và tiểu tiết của luận án có kết hợp trình bày các biểu, bảng, sơ đồ, đồ thị để thể hiện rõ các số liệu thực tiễn gắn với kết quả nghiên cứu một cách tường minh
5 Đóng góp mới của luận án
5.1 Về lý luận
Trên cơ sở hệ thống hoá và kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu trong
và ngoài nước liên quan đến đề tài, luận án bổ sung nhằm hoàn thiện để xây dựng khung lý luận về kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN ở địa bàn cấp tỉnh (thành phố) trong bối cảnh mới của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, khi chiến lược hướng ra biển đang ngày càng bùng nổ cũng như các tranh chấp về chủ quyền biển, đảo ngày càng diễn biến phức tạp
5.2 Về thực tiễn
- Từ khung lý luận được xây dựng làm căn cứ để đi sâu tìm hiểu và phân tích mối quan hệ giữa các phân ngành kinh tế biển, làm rõ đặc điểm, vị trí, vai trò, các nhân tố ảnh hưởng, điều kiện và phương thức hoạt động khác nhau trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN ở thành phố trực thuộc Trung ương
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước và một số tỉnh, thành phố trong nước trên phương diện tiếp cận theo mục tiêu, nhiệm vụ của luận án đặt ra về chủ thể, các nguồn lực và phương thức thực hiện có kết quả cao trong mối quan hệ giữa phát triển kinh tế biển với đảm bảo quốc phòng an ninh
Trang 14- Dựa vào kết quả nghiên cứu khảo sát thực tế tại thành phố Đà Nẵng, thời gian kiểm chứng các số liệu, tư liệu theo giới hạn cho phép Luận án đi sâu phân tích, đánh giá khoa học, khách quan theo khung lý thuyết thực trạng các nội dung liên quan đến kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN ở thành phố Đà Nẵng Các kết quả đánh giá, phân tích được trình bày theo cách truyền thống bao gồm: Kết quả đạt được; những tồn tại, yếu kém và nguyên nhân
- Trên cơ sở dự báo tình hình quốc tế và trong nước tác động đến kinh tế biển
mà trực tiếp là biển Đông trong mối quan hệ với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở
thành phố Đà Nẵng thập kỷ tới, luận án đề xuất những mục tiêu, phương hướng và các giải pháp khả thi cả trước mắt và lâu dài nhằm đảm bảo hài hòa các nội dung và
điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN
Đây sẽ là tài liệu có ý nghĩa thiết thực giúp các cấp chính quyền thành phố
và các tổ chức của hệ thống chính trị làm căn cứ hoàn thiện chính sách, biện pháp, thực hiện tốt những nội dung về thúc đẩy phát triển kinh tế biển trong mối quan hệ hài hòa với đảm bảo QP, AN ở thành phố Đà Nẵng hướng đến xây dựng thành phố điển hình về phát triển kinh tế biển của cả nước và khu vực miền Trung nước ta
6 Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án được kết cấu gồm 4 chương, 10 tiết
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến kinh tế biển trong
mối quan hệ với đảm bảo quốc phòng, an ninh
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế biển trong mối quan hệ với
đảm bảo quốc phòng, an ninh
Chương 3: Thực trạng kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo quốc
phòng, an ninh ở thành phố Đà Nẵng
Chương 4: Phương hướng và giải pháp để phát triển kinh tế biển trong mối
quan hệ với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở thành phố Đà Nẵng đến năm 2025 tầm nhìn 2030
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN KINH TẾ BIỂN TRONG MỐI QUAN HỆ
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI VÀ TRONG NƯỚC LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Kinh tế biển và phát triển kinh tế biển kết hợp với đảm bảo QP, AN trên bình diện quốc gia và quốc tế cũng như phạm vi của một địa phương cấp tỉnh, thành phố những năm gần đây được nhiều học giả, các nhà nghiên cứu quan tâm vì tính thời
sự của vấn đề nghiên cứu Đồng thời, đây là lĩnh vực có sự đóng góp rất lớn vào quá trình phát triển kinh tế của mỗi địa phương nói riêng và quốc gia nói chung Tới nay, đa số các công trình nghiên cứu đề cập tới các nội dung chủ yếu sau đây: Vai trò của kinh tế biển với đảm bảo QP, AN; các nhân tố ảnh hưởng tới kinh tế biển; kinh nghiệm phát triển kinh tế biển; phát triển kinh tế biển bền vững; quy hoạch, quản lý kinh tế biển; chiến lược, chính sách và các giải pháp phát triển kinh tế biển; nội dung và các phương thức kết hợp phát triển kinh tế biển với đảm bảo QP, AN…
Để có tầm nhìn chuyên sâu về các nghiên cứu này, có thể tổng quan kết quả nghiên cứu theo các chủ đề và nội dung như sau:
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về kinh tế biển và phát triển kinh tế biển
+ Công trình ở nước ngoài:
Costas Th Grammenos (2010), The handbook of Maritime economics and
business: (Tổng quan về kinh tế hàng hài và thương mại) nhà xuất bản Lloyd's List,
London [63] Cuốn sách trình bày tổng quan về ngành kinh tế hàng hải trên thế giới, qua đó cho thấy một bức tranh về lịch sử phát triển của ngành hàng hải thế giới Bên cạnh đó, tác giả cũng cho thấy tình hình phát triển của ngành hàng hải trên thế giới những năm đầu của thế kỷ 21 với sự bùng nổ của ngành đóng tàu Ngành đóng tàu
đã góp phần đưa các ngành vận tải biển, các ngành kinh doanh dịch vụ hàng hải và cảng biển lên một tầm cao mới Hiện nay tất cả các ngành kinh doanh này đều đang rất phát triển và là một trong những mũi nhọn phát triển kinh tế của các quốc gia ven biển
United Nations conference on Trade and Development UNCTAD (Hội nghị
Liên Hợp quốc về thương mại và phát triển), The Oceans Economy: Opportunities
Trang 16and Challenges for Small Island Developing States (Kinh tế đại dương: Những cơ hội và thách thức cho các nước ven biển đang phát triển), New York and Geneva
2014 [79] Báo cáo đề cập tới khái niệm về kinh tế đại dương, theo đó, kinh tế đại dương bao gồm thương mại theo đường biển; hệ thống khu kinh tế, khu công nghiệp và cảng biển; vận tải biển; công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển; việc đánh bắt hải sản cung cấp cho thị trường trong nước và chế biến xuất khẩu; khai thác dầu khí và khí đốt trong thềm lục địa để bảo đảm an ninh năng lượng và cho xuất khẩu;
du lịch biển và dịch vụ nghỉ dưỡng cùng các hoạt động phụ trợ như hậu cần, giao nhận vận tải, bảo hiểm, đánh giá kiểm định chất lượng tàu biển, tiếp nhiên liệu tại cảng, đào tạo đội ngũ thuỷ thủ, ngân hàng… Trong đó, thương mại theo đường biển là hoạt động trao đổi buôn bán hàng hoá vận chuyển bằng đường biển giữa các nước trong cùng khu vực hoặc giữa các châu lục; giúp thúc đẩy đầu tư sản xuất và phát triển dịch vụ của các quốc gia thông qua thực hiện giá trị hàng hoá trong trao đổi Báo cáo cũng chỉ ra những cơ hội và thách thức mà các quốc gia đang phát triển đang phải đối mặt trong quá trình muốn phát triển bền vững nền kinh tế đại dương Qua đó, báo cáo đề xuất một số giải pháp giảm thiểu thách thức trong phát triển kinh tế đại dương như thực thi hiệu quả Công ước Liên Hợp quốc
về Luật Biển nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững; phát triển kế hoạch quy hoạch không gian biển và bờ biển; tạo thuận lợi cho khu vực tư nhân đóng vai trò tích cực trong phát triển kinh tế biển; thúc đẩy hợp tác khu vực và quốc tế trong phát triển kinh tế biển, đặc biệt giữa các đảo quốc nhỏ và các quốc gia ven biển kém phát triển
Orapan Nabangchang, Ocean Economy and Ocean Health in Thailand (Kinh
tế biển và bảo vệ môi trường biển ở Thái Lan), nhà xuất bản trường đại học
Sukhothai Thammatirat, Thái Lan, 2017 [71] Thái Lan luôn gắn phát triển kinh tế biển của với việc bảo vệ môi trường biển và chủ quyền quốc gia Tác giả phân tích những chính sách phát triển kinh tế biển của Thái Lan gồm 4 điểm về biển: (1)cải thiện hiệu quả quản lý biển; (2) khôi phục và phục hồi các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho việc sử dụng bền vững biển; (3) tăng cường năng lực cạnh tranh trong việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên biển; (4) kiểm soát ô nhiễm và an toàn hàng hải dựa trên tiêu chuẩn quốc tế Ngoài ra, Chính phủ Thái Lan còn ban hành nhiều văn kiện pháp lý khác nhằm khẳng định chủ quyền của mình trên biển
Trang 17+ Công trình ở trong nước:
Tô Thị Bích Phượng, Những giải pháp cơ bản nhằm phát triển bền vững và
có hiệu quả kinh tế biển Đà Nẵng, báo cáo tổng hợp đề tài khoa học cấp thành phố,
Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Đà Nẵng [36] Tác giả phân tích những lợi thế về
vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng, từ đó nhấn mạnh vai trò quan trọng của thành phố Đà Nẵng trong việc góp phần vào quá trình phát triển kinh tế biển của cả nước Tác giả đưa ra các giải pháp để phát triển bền vững kinh tế biển như: Thứ nhất, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) với bảo đảm QP, AN, hợp tác quốc tế Thứ hai, cần chú trọng quy hoạch và tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách và luật pháp về lĩnh vực biển, đảo và
có cơ chế phù hợp để hỗ trợ phát triển kinh tế biển, đảo Thứ ba, hình thành và phát triển một số ngành mũi nhọn phù hợp với lợi thế của vùng đảo như: du lịch, dịch vụ biển, khai thác và nuôi trồng hải sản Thứ tư, tổ chức phát triển hợp lý không gian KT-XH vùng biển và ven biển Thứ năm, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học - công nghệ về quản lý và phát triển kinh tế biển, đảo nhằm khai thác, sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, đảo Thứ sáu, tổ chức tốt công tác tuyên truyền về biển, đảo, nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia, công tác quản lý khai thác, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, các quy định của quốc tế về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản không chỉ với cư dân biển, đảo mà còn với toàn xã hội
Nguyễn Bá Diến (2006), Chính sách, pháp luật biển của Việt Nam và chiến
lược phát triển bền vững, Trung tâm Luật biển và Hàng hải quốc tế (Khoa Luật, Đại
học quốc gia Hà Nội), Dự án "Các nguyên tắc trong thực tiễn quản lý biển và đới bờ" (Principles in Practice: Ocean and Coastal Governance) giữa Đại học Quốc gia
Hà Nội, Trường Đại học Dalhousie (Canada) và Trường Đại học Visayas (Philippines) dưới sự tài trợ của Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế Canada (CIDA) [17] Cuốn sách này trình bày chính sách, pháp luật về biển và nguyên tắc phát triển bền vững; phân tích thực trạng và đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện chính sách biển của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế; giới thiệu về một số hoạt động hợp tác quốc tế trong khai thác, quản lý biển giữa Việt Nam và các nước trong khu vực Bên cạnh đó, cuốn sách còn cung cấp những kiến thức, thông tin cơ bản, toàn diện và hệ thống về biển của Việt Nam, về chiến lược phát triển bền vững trong lĩnh vực biển, tổng quan về chính sách và thực trạng, yêu cầu và một số giải
Trang 18pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành về quản lý biển và hàng hải của Việt Nam Cuốn sách cũng bước đầu giới thiệu kinh nghiệm quản lý biển của một số nước, đặc biệt là Canada, Philippines là những quốc gia có rất nhiều kinh nghiệm trong việc hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật về biển
Hà Tất Thắng (2007), ''Về chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam'', [44] Tác giả phân tích hiện trạng kinh tế biển Việt Nam, làm rõ những khó khăn, hạn chế của hoạt động phát triển kinh tế biển Từ đó, tác giả đề xuất chiến lược phát triển mới dựa trên việc kết hợp khai thác lợi thế địa chiến lược của Việt Nam với các chính sách tự do hoá về kinh tế, thương mại trong giai đoạn hội nhập quốc tế
Nguyễn Quang Thái (2010), Vấn đề phát triển các khu kinh tế mở hiện đại
vùng ven biển Việt Nam 2010 [43] Cuốn sách là tập hợp nội dung của các vấn đề
như bài học về sự phát triển của các khu kinh tế Việt Nam nói chung, trong đó có các khu kinh tế ven biển từ trước tới nay, tác giả cũng làm rõ các vấn đề tồn tại kéo dài trong hoạt động của các ngành kinh tế ven biển và nêu ra một số giải pháp, chính sách khắc phục các vấn đề này trong mối liên hệ với bối cảnh, điều kiện của từng địa phương, từng vùng kết hợp với các quan điểm chỉ đạo chiến lược của Đảng
và Nhà nước
Nguyễn Thu Hạnh (2011), Hiện trạng và các giải pháp phát triển các khu du
lịch biển quốc gia tại vùng du lịch Bắc Trung Bộ [28] Phát triển du lịch biển là một
nội dung của phát triển kinh tế biển và là lĩnh vực quan trọng của phát triển kinh tế biển Trên cơ sở nhận định giá trị to lớn mà du lịch biển mang lại cho các vùng và địa phương ven biển, đề tài phân tích hiện trạng phát triển ngành du lịch ở khu vực các tỉnh Bắc Trung Bộ, tác giả đã đưa ra các nhóm giải pháp thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của ngành du lịch biển vùng Bắc Trung Bộ nhằm thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển của khu vực này
Phạm Xuân Hậu (2011), ''Vấn đề phát triển kinh tế biển - đảo, ven biển Việt
Nam thời kỳ kinh tế thị trường và hội nhập'' [29] Bài viết phân tích giá trị của biển
Đông: Biển Đông có diện tích 3.537.000 km2 theo bách khoa toàn thư Địa lý Xô Viết là biển lớn thứ 4 trong 61 biển quan trọng trên thế giới Vùng biển Đông của Việt Nam có tiềm năng lớn về kinh tế, có vị trí đặc biệt quan trọng đối với bảo vệ an ninh quốc phòng của đất nước Bờ biển kéo dài 3.260 km, lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng tiếp giáp lãnh hải rộng 24 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, nước
Trang 19ta đang sở hữu nguồn tài nguyên lớn về sinh vật và tài nguyên đặc biệt, nhưng hiệu quả khai thác chưa cao Vì vậy, tác giả cho rằng việc xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển kinh tế biển - đảo và bờ biển cần được quan tâm đặc biệt Điều này không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn ý nghĩa bảo vệ an ninh quốc phòng, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia
Chu Đức Dũng (2012), Chiến lược phát triển kinh tế biển Đông của một số
nước Đông Á Tác động và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam [18] Đây là Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp nhà nước đi sâu nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế biển của một số quốc gia khu vực Đông Á Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thân Trọng Thụy, Phạm Xuân Hậu (2012), ''Phát triển các khu kinh tế ven biển - bước đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế vùng ở Việt Nam'' [49] Quy hoạch không gian phát triển 15 khu kinh tế ven biển Việt Nam đã được Chính phủ phê duyệt và quyết định thành lập dựa trên những ưu thế về vị trí địa lý, tiềm năng
và chiến lược phát triển KT-XH của cả nước, vùng và địa phương Các tác giả khẳng định: Các khu kinh tế ven biển đang dần khẳng định vai trò hạt nhân phát triển KT-XH vùng và địa phương Trong tương lai, những hạt nhân này sẽ là động lực tạo sự đột phá trong phát triển KT-XH, đảm bảo an ninh - quốc phòng và toàn vẹn lãnh thổ
Lại Lâm Anh (2013), Quản lý kinh tế biển: Kinh nghiệm quốc tế và vận dụng
vào Việt Nam [1] Luận án trình bày các khái niệm về kinh tế biển, quản lý kinh tế
biển, vai trò của quản lý kinh tế biển cũng như các quan điểm và cách tiếp cận về quản lý kinh tế biển Bên cạnh đó luận án nghiên cứu các trường hợp phát triển kinh
tế biển của Trung Quốc, Malaysia và Singapore, từ đó nghiên cứu vận dụng bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Lưu Ngọc Trịnh và Cao Tường Huy (2013), Phát triển các khu kinh tế ven
biển Việt Nam, thực trạng và một số bài học [52] Bài viết nghiên cứu thực trạng
phát triển các Khu kinh tế (KKT) ven biển Việt Nam, nhất là ba KKT ven biển Chu Lai, Dung Quất và Phú Quốc - Nam An Thới Từ sự phát triển của các KKT ven biển, bài nghiên cứu rút ra một số bài học kinh nghiệm như: Cần xây dựng các KKT tại những địa điểm thuận lợi, nằm trên các trục giao thông chính, gồm cả đường biển, đường bộ và đường không; cần điều tra khảo sát kỹ trước khi phát triển, cần
Trang 20tạo dựng được sự liên kết chặt chẽ các KKT ven biển với các vùng lân cận; chính quyền địa phương (Ban quản lý KKT) cần có mức độ độc lập, tự chủ hơn nữa để phát huy các sáng kiến và thí nghiệm của mình; cần tập trung nguồn lực xây dựng dứt điểm những KKT đã được điều tra, khảo sát kỹ và phù hợp quy hoạch chung; cần có tầm nhìn tổng thể và dài hạn, tránh bị chi phối bởi lợi ích nhóm, lợi ích cục
bộ của địa phương và ngành
Nguyễn Hoàng Hà (2014), Định hướng phát triển kinh tế biển, đảo vùng Bắc
Trung Bộ đến 2020, tầm nhìn đến năm 2030 [27] Tác giả đưa ra những nội dung mang
tính định hướng cho phát triển kinh tế biển, đảo của vùng Bắc Trung Bộ một cách hợp
lý, bài viết đi sâu nghiên cứu, tiếp cận, đánh giá và phân tích vấn đề theo "3 cấp độ không gian": (i) Việt Nam trong khu vực; (ii) Miền Trung trong Việt Nam; (iii) Bắc Trung Bộ trong miền Trung
Lê Anh Tuấn (2015), Giải pháp phát triển kinh tế biển bền vững trước thách
thức của biến đổi khí hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long [53] Vùng đồng bằng
sông Cửu Long là khu vực sản xuất nông - ngư nghiệp tập trung có quy mô lớn nhất nước ta, đây là khu vực có hai mặt giáp với Biển Đông và vịnh Thái Lan với tổng chiều dài đường ven biển hơn 700 km và nhiều đảo lớn nhỏ rải rác quanh thềm lục địa khu vực Vịnh Thái Lan Tuy vùng Đồng bằng có nhiều thuận lợi về mặt địa lý, có một hệ sinh thái vùng cửa sông - ven biển rất đặc trưng và đa dạng nhưng vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng là nơi đang phải đối phó nhiều thách thức lớn do hiện tượng nóng lên toàn cầu dẫn đến hệ quả biến đổi khí hậu và nước biển dâng Việc tăng cường các hoạt động kinh tế liên quan trực tiếp đến kinh tế biển có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho vùng đồng bằng Nam Bộ Để có cơ sở khoa học cho vấn đề phát triển kinh tế biển bền vững trong bối cảnh có nhiều biến động về thời tiết
và các hiện tượng thiên tai cực đoan, việc đánh giá những mặt thuận lợi và khó khăn trong tổ chức thực hiện các kế về phát triển kinh tế biển có ý nghĩa cấp thiết Nghiên cứu này rà soát và phân tích những vấn đề liên quan cho phương hướng phát triển các loại hình sinh kế và kinh doanh theo hướng khai thác và bảo tồn tài nguyên biển, đồng thời cũng là một phần của chiến lược bảo vệ không gian lãnh thổ quốc gia
Ngô Bình Thuận (2016), ''Một số giải pháp phát triển kinh tế biển bền vững'' [46] Bài viết chủ yếu tập trung vào các giải pháp nhằm phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững Một số giải pháp chính mà tác giả đưa ra gồm: thực hiện tái cơ
Trang 21cấu lại các ngành thuộc kinh tế biển, nâng cao nhận thức về phát triển kinh tế biển cho mọi bộ phận người dân và cơ quan nhà nước, tăng cường đầu tư và xây dựng cơ
sở vật chất cho ngành kinh tế biển, nâng cao chất lượng nhân lực cho ngành này và
mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế
Luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Hà Thương, Huy động vốn đầu tư cho phát triển
kinh tế biển tỉnh Thanh Hóa [47] Luận án hệ thống hóa và làm rõ những lý luận cơ
bản về kinh tế biển và phát triển kinh tế biển trên địa bàn một tỉnh, những đặc trưng của nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế biển, tác giả cũng làm rõ việc huy động vốn và sự cần thiết đa dạng các hình thức huy động vốn cho phát triển kinh tế biển Luận án cũng trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế biển, đưa ra các tiêu chí đánh giá thực trạng vấn đề huy động vốn đầu
tư cho phát triển kinh tế biển ở địa phương Đồng thời, phác hoạ những kinh nghiệm của một số nước trên thế giới có điều kiện tương đồng với Việt Nam và một
số địa phương trong nước về việc huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế biển Trên cơ sở đó, tác giả rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Thanh Hoá Trọng tâm của luận án tập trung phân tích thực trạng huy động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế biển ở tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2010 - 2014, đưa ra đánh giá về những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân dẫn tới huy động vốn chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế biển của tỉnh Thanh Hoá Từ đó, luận án đề xuất hệ thống các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm tăng cường huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế biển tỉnh Thanh Hoá theo ba nhóm giải pháp chính tương ứng với ba ngành chủ lực kinh tế biển của tỉnh là (1) Giải pháp huy động vốn đầu tư cho ngành thuỷ sản; (2) Giải pháp huy động vốn đầu tư cho ngành du lịch biển; (3) Giải pháp huy động vốn đầu tư cho ngành hàng hải
Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường, Chiến lược khai
thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 [58] Các tác giả đã có những đánh giá để làm rõ hơn các vấn đề
liên quan đến biển, về các tiềm năng, lợi thế và những tác động bất lợi từ biển; thúc đẩy việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên biển theo hướng bền vững; gìn giữ chất lượng môi trường nước biển; duy trì chức năng sinh thái và năng suất sinh học của các hệ sinh thái biển, góp phần thực hiện thành công Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020, vì mục tiêu phát triển bền vững đất nước
Trang 22Luận án tiến sĩ của tác giả Đoàn Hải Yến, Phát triển bền vững các khu kinh
tế ven biển vùng đồng bằng sông Hồng [60] Tác giả đã làm rõ khái niệm khu kinh
tế, khu kinh tế ven biển, phát triển bền vững khu kinh tế ven biển và luận giải nội hàm các khái niệm Luận án cũng đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển khu kinh tế ven biển và xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thực trạng phát triển bền vững khu kinh tế ven biển vùng đồng bằng sông Hồng trong những năm qua
Hà Thanh Biên với bài ''Quy hoạch sử dụng biển: Giải pháp để phát triển kinh
tế biển bền vững'' trong Kỷ yếu hội thảo khoa học: Phát triển bền vững kinh tế biển:
Từ chiến lược chính sách đến thực tiễn Việt Nam hiện nay [6] Bài viết nhận định:
Nhìn chung các vùng biển của Việt Nam có vị trí địa kinh tế, địa chính trị đặc biệt quan trọng, đồng thời đánh giá tiềm năng phát triển kinh tế biển của Việt Nam rất lớn Mặt khác, tài nguyên biển là dạng tài nguyên chia sẻ, do vậy, cần phải có sự sắp xếp, tổ chức, định hướng dài hạn để khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên biển, nhằm hướng tới hiệu quả, gắn liền với phát triển bền vững và bảo vệ môi trường Điều này đòi hỏi phải xây dựng một quy hoạch sử dụng biển cho toàn quốc mang tính tổng hợp với phương thức tiếp cận hệ sinh thái [6, tr.77-83]
Vũ Thanh Ca với bài ''Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam: Thực
trạng, tiềm năng, thách thức và đề xuất giải pháp'', Kỷ yếu hội thảo khoa học Phát
triển bền vững kinh tế biển: Từ chiến lược chính sách đến thực tiễn Việt Nam hiện nay [10] Tác giả cho rằng kinh tế biển Việt Nam có những tiềm năng rất lớn để
phát triển do Việt Nam nằm trên bờ Biển Đông Tuy nhiên, cho đến nay kinh tế biển Việt Nam chưa thực sự phát triển nhưng đã có những ảnh hưởng xấu tới môi trường
và làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên biển Từ đó tác giả cho rằng để kinh tế biển có
sự phát triển bền vững, cho phép tận dụng hết tiềm năng và lợi thế của biển Việt Nam cần xây dựng và triển khai thực hiện một cơ chế kinh tế thị trường theo hướng nền kinh tế biển xanh bằng cách xây dựng và thực hiện quy định pháp luật để đảm bảo tối ưu hóa các lợi ích có được trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo
vệ môi trường và các hệ sinh thái biển; giải quyết hài hoà lợi ích giữa các ngành; đảm bảo tài nguyên biển được khai thác hợp lý, tiết kiệm, các tài nguyên tái tạo không bị khai thác quá mức để duy trì khả năng tái tạo, môi trường và các hệ sinh thái biển được bảo vệ, bảo tồn, thậm chí được cải thiện, khôi phục lại; áp dụng các công nghệ mới, tiết kiệm sử dụng tài nguyên và giảm phát thải, đồng thời gia tăng
Trang 23lượng lưu giữ khí nhà kính để giảm biến đổi khí hậu Bên cạnh đó, tác giả cho rằng cần thực hiện ngay việc lượng giá các giá trị dịch vụ hệ sinh thái và xây dựng các
cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái theo hướng nền kinh tế thị trường [10, tr.42-50]
Nguyễn Chu Hồi, ''Các lợi thế chiến lược cho kinh tế biển miền Trung phát
triển bền vững'' trong Kỷ yếu hội thảo khoa học Phát triển bền vững kinh tế biển:
Từ chiến lược chính sách đến thực tiễn Việt Nam hiện nay [31] Tác giả đã chỉ rõ
các tỉnh thành ven biển miền Trung nước ta vừa có những lợi thế địa chiến lược, vừa có tính đặc thù về điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên biển, tài nguyên thuộc các vùng ven biển và đảo, tạo tiền đề cho kinh tế biển ở đây phát triển bền vững và tăng trưởng mạnh Đồng thời tác giả cũng chỉ rõ khu vực này đang phải đối mặt với những thách thức trong dài hạn, đòi hỏi chính quyền các tỉnh Miền Trung cần phải thay đổi tầm nhìn, xoá bỏ định kiến và xác định đúng ưu tiên phát triển trên nguyên tắc tôn trọng "tính trội, tính đa dụng và tính liên kết" của các hệ thống tài nguyên và hệ nhân văn trong vùng và ở từng địa phương Đây là những vấn đề chung, dài hạn được tác giả bài viết phân tích và bàn luận nhằm góp thêm tiếng nói cho kinh tế biển của một vùng biển đảo quan trọng của đất nước, thực sự bứt phá theo hướng xanh và bền vững [31, tr.17-29]
Vũ Diệu Ngân với bài ''Phát triển kinh tế biển Đà Nẵng: Tiềm năng và thách thức'' [33] Đà Nẵng được xác định là trung tâm kinh tế biển, là một trong ba trung tâm lớn của Việt Nam, động lực phát triển khu vực miền Trung - Tây Nguyên hướng ra Biển Đông và các nước tiểu vùng sông Mê Kông Tác giả phân tích những tiềm năng cho phát triển kinh tế biển của thành phố Đà Nẵng cùng những thực trạng phát triển trong các ngành cụ thể như hàng hải, thuỷ hải sản, dịch vụ du lịch Tác giả cũng đưa ra những hạn chế và giải pháp khắc phục hạn chế cho kinh tế biển Đà Nẵng bao gồm tập trung đẩy mạnh hoạt động đánh bắt hải sản, nhất là đánh bắt xa bờ; Hoàn thiện và mở rộng các cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần nghề cá, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho ngư dân bám biển dài ngày, nhất là vùng biển quần đảo Hoàng Sa; nuôi trồng thuỷ sản đa dạng theo quy hoạch; đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ du lịch biển
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thanh Sơn, Chính sách phát triển kinh tế biển và
hải đảo tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu [41] Tác giả làm rõ khung lý thuyết nghiên cứu về
chính sách để phát triển kinh tế biển, đảo của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, trong đó tác giả
Trang 24đưa ra 05 chính sách bộ phận cơ bản trong chính sách phát triển kinh tế biển và hải đảo của tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu là chính sách ưu đãi về sử dụng đất đai; chính sách hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng; chính sách hỗ trợ tín dụng; chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực; chính sách hỗ trợ phát triển thị trường Đồng thời, tác giả cũng đã đưa ra những tiêu chí để đánh giá tính hiệu lực, tính hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế biển và hải đảo của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và phân tích 03 nhóm yếu tố có ảnh hưởng tới việc xây dựng chính sách để phát triển kinh tế biển, đảo của tỉnh Từ đó, tác giả luận
án đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế của chính sách phát triển kinh tế biển, đảo của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu trong giai đoạn 2010 - 2015 và đưa ra một
số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách đến năm 2025,tầm nhìn 2030
Bài viết của Lê Quốc Bang "Kinh tế biển'' [4] Bài viết trình bày khái niệm và vai trò của kinh tế biển, đặc biệt có sự so sánh về khái niệm "kinh tế biển" của các nhà nghiên cứu nước ta với các khái niệm được đưa ra ở các quốc gia khác như: Mỹ, Trung Quốc Ngoài ra bài viết còn đánh giá tầm quan trọng của kinh tế biển đối với sự phát triển kinh tế đất nước nói chung
1.1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan tới đảm bảo quốc phòng, an ninh trên biển, đảo
+ Công trình ở nước ngoài:
Lee Ki Suk (2010), East sea in the world map (Biển Đông trên bản đồ thế
giới) [67] Tác giả nghiên cứu về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của biển Đông trên
bản đồ thế giới Nghiên cứu sâu về các vấn đề quan trắc học, sự hình thành các tầng cấu trúc, sinh vật của biển Đông Từ đó nêu bật những giá trị kinh tế về tài nguyên biển mà biển Đông đang tiềm ẩn Đặc biệt, nhấn mạnh vai trò của biển Đông như là cầu nối vận tải biển và hàng hải quốc tế Tất cả những phân tích của tác phẩm hướng đến vấn đề lợi ích của các cường quốc trên thế giới cũng như các quốc gia của vùng biển Đông Từ đó, nhấn mạnh tới các vấn đề về tranh chấp và yêu cầu đặt
ra để đảm bảo ổn định an ninh trên khu vực biển Đông
Zhao Hong, SinoPhilippines relations: Moving beyond south China sea
dispute? (Quan hệ Trung Quốc Philippines: Vượt xa khỏi tranh chấp biển Đông?)
[100] Tác giả trình bày những vấn đề pháp lý liên quan tới vấn đề tranh chấp biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc và những tác động tới mối quan hệ của hai quốc gia này Tuy là nước nhỏ song đối với vấn đề chủ quyền, an ninh trên biển,
Trang 25Philipines rất quyết liệt trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền và kiên quyết không đổi chủ quyền trên biển Đông vì các lợi ích kinh tế
Carlyle Thayler, The capacity on the eastern sea, navy, marine policefishery
control of Vietnam (Các lực lượng trên biển Đông, hải quân, cảnh sát biển và kiểm
ngư của Việt Nam) [62] Tác giả tập trung nghiên cứu 3 lực lượng vũ trang trên biển
chủ yếu của Việt Nam là hải quân, cảnh sát biển và kiểm ngư Đây là ba lực lượng quan trọng nhất giữ vai trò gìn giữ ổn định an ninh và quốc phòng trên mặt trận biển, đảo của Việt Nam Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra rằng chất lượng nguồn nhân lực của ba lực lượng vũ trang này còn nhiều hạn chế, họ chưa được trang bị đủ kiến thức và thiết bị tiên tiến trên thế giới Đặc biệt, tác giả cũng chỉ ra điểm yếu trong sự phối kết hợp giữa 3 lực này trong hoạt động thực tiễn Trong khi đó, công tác giữ gìn an ninh biển, đảo của Việt Nam lúc nào cũng nằm trong nguy cơ đe doạ từ các lực lượng ven biển Đông khác Do đó, tác giả nhấn mạnh việc phải xây dựng các biện pháp nâng cao chất lượng trang thiết bị và nhân lực cho các lực lượng vũ trang nêu trên Và phải có giải pháp tăng cường liên kết, phối hợp giữa 3 lực lượng
Ben Dolven, Mark E Manyin, Shirley A Kan, Maritime Territorial Disputes
in East Asia: Issues for Congress Congressional Research Service (Những tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông) [61] Tác giả phân tích khá rõ nét bức tranh biển
Đông nơi có sự tranh chấp lãnh thổ của các quốc gia ven biển Theo đó, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông gồm các tranh chấp về đảo và vùng biển Quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa là hai quần đảo trên các rạn san hô ở Biển Đông, trong đó quần đảo Hoàng Sa đang là nơi tranh chấp chủ quyền giữa 03 quốc gia và vùng lãnh thổ Việt Nam, Trung Quốc và chính quyền Đài Loan Trong đó quần đảo Hoàng Sa là nơi tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Trung Quốc và vùng lãnh thổ Đài Loan; quần đảo Trường Sa là nơi tranh chấp của 6 quốc gia và vùng lãnh thổ: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei Các quốc gia này tuyên bố chủ quyền toàn bộ hay một phần quần đảo Trường Sa Bãi Macclesfield là đối tượng tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines, Quần đảo Đông Sa do Đài Loan quản lý là đối tượng tranh chấp giữa Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Đài Loan Quần đảo Natuna do Indonesia tuyên bố chủ quyền cũng đang bị Trung Quốc đe doạ Ngoài ra, vùng biển trong khu vực Biển Đông cũng là đối tượng tranh chấp, với lợi ích mà các quốc gia quan tâm gồm: ngư trường, khai thác tài nguyên đặc biệt là dầu khí và kiểm soát của một vị trí chiến lược Các quốc
Trang 26gia gián tiếp can dự đáng kể đến biển Đông là: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc và Ấn Độ Từ đây, tác giả phân tích những mối đe doạ an ninh trên biển Đông và xu hướng hợp tác, đấu tranh của các quốc gia ven bờ nhằm đạt được lợi ích của mình
Katherine Morton, China's Ambition in the South China Sea: Is a Legitimate
Maritime Order Possible (Tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông:(Liệu có nằm trong trật tự pháp lý hàng hải?) [66] Tham vọng chiếm hữu biển Đông của Trung
Quốc đã không chỉ không xa lạ với các quốc gia trong khu vực mà còn với các nước lớn trên thế giới, trong đó có Mỹ Mọi hành động của Trung Quốc ở biển Đông đều gây sự chú ý tới khu vực và quốc tế Đứng dưới góc nhìn của một nhà nghiên cứu
Mỹ về các vấn đề pháp lý ở biển Đông, tác giả cho thấy một bức tranh rõ nét về xung đột ở biển Đông giữa Trung Quốc và các quốc gia khác như Việt Nam, Philippines và phân tích những tham vọng ẩn sau chiến lược phát triển kinh tế hàng hải mà chính phủ Trung Quốc đang thi hành Ngoài ra, tác giả gợi ý một số giải pháp trong ngắn hạn và dài hạn cho các quốc gia như Việt Nam, để bảo vệ chủ quyền quốc gia và an ninh trên biển, trong đó đặc biệt nhấn mạnh việc tuân thủ theo các công ước và luật pháp về luật biển quốc tế và huy động sự giúp sức từ các tổ chức, quốc gia khác trên thế giới thông qua các việc tham gia các diễn đàn khu vực
và quốc tế, tận dụng cơ hội để ràng buộc Trung Quốc vào các điều ước đã cam kết với quốc tế
+ Công trình ở trong nước:
Nguyễn Nhâm với bài "Chiến lược biển của các nước lớn trên thế giới những quan tâm từ góc độ kinh tế biển Việt Nam" [34] Nội dung bài viết đi sâu nghiên cứu đến việc các nước lớn như Mỹ, Nga, Trung Quốc… đều đã thực hiện điều chỉnh chiến lược biển, đều coi biển và đại dương có vai trò rất quan trọng về KT-XH, đời sống của con người và QP, AN trong thế kỷ XXI Từ đó cho thấy Nghị quyết số 09-NQ/TW về Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020, ngày 09/02/2007 với các nội dung cụ thể là một quyết sách rất đúng đắn, hợp lòng dân, việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển sẽ tạo cơ sở để Việt Nam vươn ra biển, làm giàu từ biển, và
góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc
Nguyễn Đồng Thuỵ với bài ''Một số vấn đề về đấu tranh quốc phòng bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới'' [48] Bài viết khẳng định đảm bảo an ninh, quốc phòng biển, đảo là điều kiện quan trọng để thúc đẩy kinh tế biển phát
Trang 27triển bền vững, đồng thời trình bày những diễn biến phức tạp trong vấn đề bảo vệ chủ quyền của nước ta ở biển Đông Tác giả đưa ra giải pháp trên từng lĩnh vực cụ thể, trong đó, trong lĩnh vực kinh tế, tác giả đưa ra các giải pháp như tăng cường công tác quản lý kinh tế, nhất là lĩnh vực tài chính, thương mại; chủ động đấu tranh ngăn chặn các thủ đoạn lợi dụng mở cửa, hợp tác để phá hoại kinh tế, mua chuộc cán bộ hòng làm suy yếu hệ thống chính trị của ta và gây mất ổn định chính trị - xã hội Đồng thời, có biện pháp hữu hiệu bảo vệ lợi ích hợp pháp của các công ty, tổ chức kinh tế nước ngoài đang làm ăn trên vùng biển, đảo của Việt Nam, nhất là vô hiệu hoá thủ đoạn gây sức ép, phá hoại hợp đồng kinh tế của nước ta với các đối tác nước ngoài Trong trường hợp cần thiết, có thể tiến hành các biện pháp đấu tranh phù hợp trên lĩnh vực tài chính, thương mại để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc
Trần Nam Chuân với bài ''Giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển, đảo thời kỳ mới'' [13] Thế trận quốc phòng toàn dân trên biển, đảo là bộ phận cấu thành quan trọng trong thế trận phòng thủ chung của Việt Nam, nó có tính độc lập tương đối với những đặc thù riêng Do vậy, chúng ta xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân trên biển, đảo phải tính tới những yêu cầu đó để có các giải pháp phù hợp Tác giả đưa ra giải pháp như xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân toàn diện, có trọng điểm, gắn chặt với thế trận an ninh nhân dân
và biên phòng toàn dân, quán triệt mục tiêu, nguyên tắc, phương châm trong giải quyết các vấn đề về biên giới, vùng biển, đảo với các nước có liên quan bằng đối thoại hoà bình
Lê Quốc Dũng với bài viết ''Xây dựng "thế trận lòng dân" trên biển - mấy
vấn đề cần quan tâm'' [19] Xây dựng "thế trận lòng dân" trên biển là nền tảng để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân trên biển vững chắc, góp phần giữ vững hoà bình, ổn định trên biển để phát triển kinh tế; đồng thời, bảo đảm QP, AN của đất nước từ hướng biển Để xây dựng "thế trận lòng dân" trên biển, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, tác giả cho rằng các cấp, các ngành, các lực lượng làm nhiệm vụ trên biển cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho nhân dân về vị trí, vai trò của biển, đảo; Phát huy vai trò lãnh đạo của cấp uỷ, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của chính quyền địa phương ven biển trong xây dựng "thế trận lòng dân" trên biển; Đẩy mạnh
Trang 28phát triển KT-XH, nâng cao đời sống vật, chất tinh thần của nhân dân ven biển và trên các đảo; Phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang trong xây dựng "thế trận lòng dân" trên biển
Trần Nam Chuân với bài viết ''Định hướng chiến lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới'' [14] Bài viết tập trung phân tích chiến lược an ninh quốc gia và bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cho thấy tầm quan trọng của mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh biển, đảo của Tổ quốc
1.1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan tới mối quan hệ giữa phát triển kinh tế biển với đảm bảo quốc phòng, an ninh
+ Công trình ở nước ngoài:
The government of Japan, National security strategy of Japan: Summary
overview (Chiến lược an ninh quốc gia Nhật Bản: tổng quan tóm tắt) [77] Cuốn
tổng quan về chiến lược an ninh quốc gia của Nhật Bản có đề cập tới mối quan hệ giữa đảm bảo an ninh quốc phòng trên biển của Nhật Bản gắn với thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế biển, đảo Chính phủ Nhật Bản đặc biệt chú trọng tới mối quan hệ này và chiến lược phát triển kinh tế biển luôn gắn với công tác bảo đảm an ninh, quốc phòng trên biển Nhật Bản hướng tới mục tiêu trở thành "quốc gia đại dương mới" Theo đó, Nhật Bản nhấn mạnh sự cần thiết phải có sự hợp tác giữa các lực lượng liên quan để ứng phó trước những thách thức mới trên biển Để bảo đảm
an toàn cho các tuyến hải lộ, chính sách mới này cũng quy định Chính phủ sẽ thúc đẩy "chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở" để duy trì và củng cố trật tự trong khu vực
World bank (Ngân hàng thế giới), The potential of the Blue economy:
Increasing Longterm Benefits of the Sustainable Use of Marine Resources for Small Island Developing States and Coastal Least Developed Countries (Tiềm năng của kinh tế biển: Lợi ích lâu dài của việc khai thác tài nguyên biển ở các hòn đảo nhỏ và các vùng ven biển của các nước đang phát triển và phát triển)
[81] Đây là báo cáo mà Ngân hàng thế giới phối hợp thực hiện cùng với tổ chức Liên Hợp quốc nhằm đưa ra những phân tích về phát triển kinh tế các vùng ven biển ở các nước đang phát triển và các nước phát triển Hiện nay, những thách thức toàn cầu, nhất là suy thoái và ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh
Trang 29học, biến đổi khí hậu đã và đang đe doạ nghiêm trọng sức khoẻ biển và đại dương trên toàn thế giới cũng Điều đó đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo vệ sức khoẻ biển, đại dương, vì đại dương khoẻ mạnh Mục tiêu phát triển của Liên Hợp quốc về bảo tồn và sử dụng bền vững biển, đại dương và tài nguyên biển đã trở thành thước đo phát triển của các quốc gia Nhóm bảy nước công nghiệp phát triển (G7) khẳng định vai trò và mối liên kết quan trọng của đại dương khoẻ mạnh và bền vững đối với sự thịnh vượng của các quốc gia trên toàn thế giới nói chung, các quốc gia ven biển nói riêng Trong bối cảnh đó, kinh tế biển xanh được hầu hết các quốc gia công nhận là giải pháp phát triển bền vững biển và dần đưa thành yêu cầu bắt buộc trong chiến lược, chính sách phát triển
Dhara P Shad, China’s maritime security strategy:An assessment of the white
paper on Asia Pacific security cooperation (Chiến lược an ninh hàng hải Trung Quốc: Đánh giá Sách trắng về hợp tác an ninh châu ÁThái Bình Dương) [65] Trong
cuốn sách này, tác giả đã phân tích sâu sắc mối quan hệ về phát triển kinh tế biển gắn với đảm bảo an ninh, quốc phòng trên biển của Trung Quốc, đồng thời cho thấy những chiến lược vĩ mô của quốc gia này để đảm bảo ổn định mối quan hệ ấy Theo
đó, Trung Quốc đang mở rộng không gian chiến lược hướng biển để duy trì sự tăng trưởng kinh tế, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia Nghiên cứu chiến lược biển được Trung Quốc đặc biệt quan tâm, nhất là chiến lược khai thác phát triển Biển Đông Trung Quốc coi khống chế được Biển Đông tức là khống chế được cả vùng Đông Nam Á và con đường giao lưu huyết mạch từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương Giành được vị thế ở Biển Đông sẽ giúp nước này giành được thế chủ động để vươn ra các vùng biển khác, đồng thời giúp Trung Quốc tăng cường và mở rộng tầm ảnh hưởng trên nhiều lĩnh vực đối với các nước trong khu vực
Malcolm Cook and Ian Storey (2019), The Trump Administration and
Southeast Asia: The Hanoi Summit and US Policy in Southeast Asia (Chính quyền
Trump và Đông Nam Á: Hội nghị Hà Nội và chính sách của Mỹ ở Đông Nam Á) [68] Trong bài viết này, các tác giả đã phân tích những nội dung cơ bản về chiến lược chính sách của chính quyền Trump đối với khu vực Đông Nam Á, trong đó nhấn mạnh tới Việt Nam, đặc biệt là sau khi Việt Nam tổ chức cuộc gặp gỡ giữa tổng thống Trump và chủ tịch Kim (Triều Tiên) tại Hà Nội Đối với vấn đề biển Đông, các tác giả cho rằng Mỹ sẽ ngày càng tăng cường sự hiện diện của mình ở
Trang 30khu vực này Mỹ không chỉ muốn ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc trên biển Đông mà còn bị thu hút bởi những lợi ích kinh tế to lớn từ khu vực địa chính trị này Mỹ chủ trương tăng cường mối quan hệ đối tác toàn diện với Việt Nam, đồng thời yêu cầu Trung Quốc dừng thái độ bắt nạt các nước Đông Nam Á ở khu vực biển Đông
+ Công trình ở trong nước:
Vũ Văn Phái, Biển và phát triển kinh tế biển Việt Nam: Quá khứ, hiện tại và
tương lai [35] Tác giả trình bày rõ nét về quá trình hình thành và phát triển của
kinh tế biển Việt Nam gắn với việc bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia qua các giai đoạn lịch sử Tác giả nêu lên những thế mạnh của kinh tế biển Việt Nam, bao gồm các nguồn tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản cũng như vị trí địa lý thuận lợi cho giao thương quốc tế, đồng thời phân tích những khó khăn, hạn chế trong việc phát
triển bền vững kinh tế biển gắn với việc bảo vệ chủ quyền
Quốc Toản, Mạnh Dũng với bài ''Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia'' [51] Các tác giả cho rằng xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng trên các địa bàn có vị trí chiến lược tại các vùng biên giới trên bộ đã khó khăn, phức tạp, nhưng triển khai xây dựng trên biển, đảo càng khó khăn, phức tạp hơn nhiều Đây là mô hình mới, phức tạp cả về địa lý, ngành nghề và nhiệm vụ Vì vậy, trước hết phải có sự nghiên cứu về tổng thể, trên cơ sở đó triển khai xây dựng từng bước Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự quan tâm, phối hợp của các cấp, các ngành trong và ngoài quân đội, nhiệm vụ xây dựng khu kinh tế - quốc phòng trên biển, đảo nhất định sẽ đạt mục tiêu đề ra; góp phần phát triển KT-XH, tăng cường tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới
Nguyễn Thị Thơm với bài viết ''Phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo'' [45] Với yêu cầu phát triển kinh tế biển song song với bảo vệ QP, AN, tác giả cho rằng việc nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân
là việc làm đầu tiên và quan trọng nhất, tiếp đến là việc xây dựng lên các khung khổ pháp lý về khai thác và phát triển kinh tế biển cũng như xây dựng các cơ chế quản
lý nhà nước đối với ngành này Bên cạnh đó, cần tăng cường hợp tác quốc tế, phát triển nhân lực và đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở ngành kinh tế biển
Trang 31Lê Quý Quỳnh, Trần Thị Phương Thảo với bài ''Phát triển kinh tế biển kết hợp với bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam'' [37, tr.58-64] Các tác giả nhận định
rõ tầm quan trọng của phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước đồng thời đưa ra một số giải pháp để vừa phát triển kinh tế, vừa đảm bảo an ninh quốc phòng quốc gia như luôn luôn chú trọng nâng cao nhận thức về xây dựng
và thực hiện chiến lược phát triển gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo; phải có sự kết hợp chặt chẽ trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế trên các đảo với xây dựng công trình QP, AN; xây dựng các huyện đảo thành các khu vực phòng thủ địa phương; đẩy mạnh dân sự hoá các đảo và phát triển một số ngành mũi nhọn kết hợp với nhiệm vụ bảo vệ các vùng biển, đảo xa bờ
Nguyễn Tuấn Dũng với bài viết ''Phát triển kinh tế du lịch biển - đảo gắn với bảo đảm QP, AN trong bối cảnh hội nhập hiện nay'' [20, tr.20-27] Trước diễn biến phức tạp của tình hình biển Đông, tác giả cho rằng chúng ta phải đặt ra mục tiêu gắn phát triển kinh tế du lịch biển (KTDLB) - đảo với bảo đảm QP, AN Trên thực tế, việc gắn kết 2 lĩnh vực này đã được thực hiện và thu được một số kết quả khả quan; tuy nhiên, ở một số nơi, một số thời điểm hiệu quả của sự gắn kết này còn hạn chế Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa phát triển KTDLB - đảo với bảo đảm QP, AN trong bối cảnh hội nhập ở Việt Nam, cụ thể như tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức cho các nhà quản lý, doanh nghiệp kinh doanh du lịch và người dân về sự cần thiết gắn phát triển KTDLB - đảo với bảo đảm QP, AN trong bối cảnh hội nhập; Tăng cường đầu
tư cho phát triển KTDLB - đảo để khẳng định chủ quyền trên biển và các đảo, quần đảo; Tăng cường phối hợp giữa ngành Du lịch với Quân đội và Công an trong phát triển KTDLB - đảo; Hoàn thiện cơ chế quản lý phát triển KTDLB - đảo gắn với bảo đảm QP, AN trong bối cảnh hội nhập; Xây dựng môi trường hoàn bình, thân thiện
và an toàn, bảo đảm vững chắc về QP, AN, ổn định trật tự, an toàn xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho KTDLB - đảo phát triển
Trần Đơn với bài viết ''Kết hợp kinh tế với quốc phòng, tạo lập thế trận phòng thủ vững chắc bảo vệ chủ quyền biển, đảo'' [26] Tác giả phân tích vai trò quan trọng của kinh tế biển với an ninh, quốc phòng và chỉ ra một số điểm hạn chế trong phát triển kinh tế biển như: quy mô các ngành hoạt động về kinh tế biển của nước ta còn nhỏ bé và đang ở trình độ thấp, chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế
Trang 32biển của đất nước Tác giả cho rằng nếu đem so với các nước trên thế giới và khu vực thì Việt Nam còn chậm phát triển về nhiều mặt; giá trị gia tăng thu được từ hoạt động kinh tế biển đều ở mức thấp hoặc rất thấp… Từ đó tác giả đưa ra các nhóm
giải pháp như: Một là, thực hiện quy hoạch thống nhất kết hợp kinh tế với QP,
AN trên các vùng biển, đảo và tuyến biển gần bờ Hai là, ưu tiên nguồn lực cho phát
triển kinh tế biển, thực hiện có hiệu quả chiến lược kết hợp kinh tế với QP, AN trên các vùng ven biển, hải đảo Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với QP, AN, thúc đẩy nhanh quá trình dân sự hoá trên biển với xây dựng thế trận QP, AN vững mạnh,
đủ khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển Bốn là, trang thiết bị kỹ thuật - hậu cần phục vụ cho phát triển kinh tế kết hợp với QP, AN phải phù hợp với điều
kiện cụ thể tại địa bàn các vùng biển, đảo Năm là, nâng cao hiệu quả hoạt động tổ
chức đảng và chính quyền ở các huyện đảo đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc
Nguyễn Quang Dy (2019) với bài viết ''Việt Nam có thể làm gì tại biển Đông" [21] Tác giả cập nhật những diễn biến mới nhất về tình hình trên biển Đông
Đó là việc hiện nay Trung Quốc ra sức chèn ép chúng ta trên biển thông qua việc cho các tàu chiến hạm của họ khiêu khích các tàu của chúng ta Trung Quốc muốn gây sức ép để chúng ta phải quan hệ với họ, thay vì hướng quan hệ sang Mỹ khi Mỹ đang ngày càng gia tăng tiếng nói ở khu vực biển Đông và có những tranh chấp căng thẳng về thương mại với Trung Quốc Trong bối cảnh này, tác giả cho rằng Việt Nam đang đứng trước thời cơ để phát triển kinh tế biển Đó là cơ hội nâng cấp quan hệ với Mỹ lên đối tác chiến lược, đồng thời tăng cường hợp tác chiến lược toàn diện với các cường quốc khác trên thế giới, tức là cơ hội để phát triển giao thương, thương mại trên biển Đông với nhiều đối tác lớn khi mà Trung Quốc còn đang phải lay hoay trong chiến tranh thương mại với Mỹ
1.2 ĐÁNH GIÁ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC VÀ CÁC VẤN ĐỀ MỚI ĐẶT RA ĐỐI VỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.2.1 Các kết quả nghiên cứu đã đạt được
Thứ nhất, về cơ bản, các công trình trong nước đã nêu bật được vị trí, vai trò
quan trọng của phát triển kinh tế biển đối với sự phát triển KT-XH của cả nước và của từng địa phương Các tác giả đều thống nhất ý kiến về vai trò quan trọng của kinh tế biển, đặc biệt trong bối cảnh tiềm năng đất liền ngày càng hạn hẹp trong khi
Trang 33tiềm năng của biển rộng lớn trên nhiều mặt nhưng phát triển kinh tế biển chưa được xứng với tiềm năng vốn có của mỗi quốc gia và địa phương có biển
Thứ hai, nhiều công trình đã tiếp cận theo hướng tìm hiểu và phân tích các lĩnh
vực phát triển kinh tế biển bao gồm các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển mà chủ yếu là kinh tế Hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển); Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản); Khai thác dầu khí ngoài khơi; Du lịch biển; Làm muối; Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; Kinh tế đảo Một số công trình tập trung vào các ngành kinh
tế trực tiếp liên quan đến kinh tế biển, hoạt động của các ngành này không diễn ra trực tiếp trên biển nhưng trực tiếp hoặc gián tiếp có liên quan tới hoạt động kinh tế biển như: ngành công nghiệp đóng tầu và sửa chữa tầu biển (hoạt động kinh tế này cũng có thể xếp vào kinh tế hàng hải); Công nghiệp khai thác và lọc dầu, chế biến các sản phẩm từ dầu khí; Công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản; các ngành cung cấp dịch vụ biển; hoạt động thông tin liên lạc trên biển; Hoạt động nghiên cứu khoa học - công nghệ có liên quan tới biển; phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động kinh tế biển; hoạt động điều tra, quy hoạch về khai thác tài nguyên - môi trường biển
Thứ ba, một số nghiên cứu đi sâu tìm hiểu quan niệm về kinh tế biển, theo đó
kinh tế biển được tiếp cận theo nhiều khía cạnh khác nhau nhưng cơ bản chia kinh
tế biển ra làm toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh
tế phục vụ cho quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên của biển Đồng thời, một số công trình hướng vào phân tích nhân tố ảnh hưởng và điều kiện để phát triển kinh tế biển Nhiều công trình lại đi sâu tìm hiểu và phân tích những nguyên nhân, hạn chế cũng như những khó khăn, thách thức để phát triển kinh tế biển nói chung và một vài nội dung phát triển kinh tế biển cụ thể Trong đó, có các công trình nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, có các công trình chỉ ra nguyên nhân
vĩ mô và vi mô… Trên cơ sở đó các tác giả đưa ra các giải pháp phù hợp, góp phần hạn chế khó khăn, tạo điều kiện cho kinh tế biển phát triển bền vững
Thứ tư, một số công trình đề cập tới mối quan hệ giữa phát triển kinh tế biển
gắn với đảm bảo QP, AN Các công trình đều khẳng định rõ đây là mối quan hệ biện chứng: Kinh tế biển là yếu tố quyết định đến QP, AN; ngược lại, quốc phòng an ninh cũng có tác động trở lại đối với kinh tế biển theo hai chiều hướng: tích cực và tiêu cực Chẳng hạn như quốc phòng an ninh vững chắc sẽ tạo môi trường hoà bình, ổn định để thu hút các nhà đầu tư, khách du lịch đến đầu tư du lịch, nghỉ dưỡng, vận tải
Trang 34biển… thúc đẩy KTDLB đảo phát triển; ngược lại, tiềm lực, khả năng quốc phòng an ninh yếu kém, trật tự an toàn xã hội không được bảo đảm sẽ tất yếu tạo ra những bất
ổn về kinh tế, chính trị, xã hội, làm giảm khả năng thu hút khách du lịch đến tham quan nghỉ dưỡng, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển KTDLB đảo
Thứ năm, nhiều nghiên cứu đề cập đến phương thức đảm bảo mối quan hệ
giữa phát triển kinh tế biển và đảm bảo QP, AN ở phạm vi quốc gia hoặc phạm vi cấp tỉnh, thành phố Đánh giá kết quả và khó khăn, hạn chế gắn với các điều kiện khách quan, chủ quan cũng như tình hình KT-XH nhất định
Thứ sáu, các công trình nước ngoài nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát
triển kinh tế biển và đảm bảo QP, AN chủ yếu tập trung khai thác các nội dung, vấn
đề về tranh chấp trên biển Đông trên nhiều phương diện pháp luật, công ước quốc tế
về luật biển… Có một số công trình đi sâu phân tích những tác động ảnh hưởng tới các quốc gia ven biển khi xảy ra những tranh chấp về chủ quyền trên biển Các tác giả chủ yếu dựa vào các công ước quốc tế và luật biển để đánh giá về các cuộc tranh chấp trên biển Đông hiện nay và đề xuất các ý tưởng giải quyết mối quan hệ thông qua đàm phán, thương lượng
Tóm lại, mặc dù kết quả nghiên cứu của các công trình trên đã phổ quát
nhiều nội dung theo hướng đề tài luận án nghiên cứu, tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu chưa đi sâu, tập trung vào khía cạnh kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN, nhất là trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền biển đảo thế giới nói chung và chủ quyền biển Đông nói riêng ngày càng xuất hiện phương thức, thủ đoạn diễn biến phức tạp, khó lường như hiện nay Đồng thời, cách tiếp cận những
dự báo, các giải pháp đưa ra đã không bao quát hết những biến đổi mới của thực tiễn Đặc biệt, nghiên cứu mối quan hệ giữa kinh tế biển với đảm bảo QP, AN trong phạm vi cấp thành phố trực thuộc Trung ương, địa bàn có lợi thế về biển trên nhiều phương diện để phát triển kinh tế nhưng cũng tiềm ẩn những nguy cơ gây bất ổn chưa được nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống trong bối cảnh mới
1.2.2 Các vấn đề mới đặt ra cần tập trung nghiên cứu chuyên sâu, làm sáng tỏ trong luận án
Tiếp cận dưới góc độ của chuyên ngành kinh tế chính trị, để phù hợp với đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, luận án tập nghiên cứu các nội dung cơ bản sau:
Trang 35Một là, nghiên cứu và kế thừa có chọn lọc, đồng thời bổ sung để hoàn thiện
khung khổ lý thuyết về kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong bối cảnh mới của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế Luận án cần làm rõ những khái niệm, nội dung kết hợp (chủ thể, nguồn lực, phương thức, điều kiện đảm bảo), tiêu chí đánh giá, nhân tố ảnh hưởng, sự cần thiết khách quan, vấn đề mới đặt ra … của kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN Trên cơ sở đó nghiên cứu để giải quyết những mục tiêu mà luận án đề ra
Hai là, luận án cần tập trung phân tích, luận giải để nêu bật lên mối quan hệ
biện chứng giữa kinh tế biển và đảm bảo QP, AN để khẳng định đây là mối quan hệ kinh tế mang tính chất đặc thù Trong đó, kinh tế biển giữ vai trò cung cấp cơ sở vật chất kỹ thuật và các nguồn lực khác để đảm bảo QP, AN Đồng thời, đảm bảo QP, AN
sẽ tác động trở lại đến kinh tế biển trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực Đặt trong bối cảnh biển Đông đang có nhiều diễn biến, tranh chấp bất ổn khó lường như hiện nay
Ba là, nghiên cứu và phân tích kinh nghiệm phát triển kinh tế biển trong mối
quan hệ với đảm bảo QP, AN ở một nước và một số tỉnh, thành phố trong nước có biển Từ đó, rút ra những bài học cho thành phố Đà Nẵng về phát triển kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN
Bốn là, trên cơ sở khung lý luận đã được xây dựng để khảo sát thực trạng
kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN ở thành phố Đà Nẵng Trong
đó, đi sâu phân tích, đánh giá theo từng phân ngành kinh tế biển của thành phố trong mối quan hệ với đảm bảo QP, AN theo hướng: Các chủ thể làm gì? làm như thế nào? Để thực hiện mối quan hệ Chính quyền các cấp của thành phố đã làm gì
để gắn kết các phân tích, đánh giá theo kết quả đạt được, hạn chế, khó khăn, thách thức và nguyên nhân
Năm là, dựa vào dự báo trong nước và quốc tế, mà trực tiếp là tình hình biển
Đông tác động rất lớn đến vấn đề QP, AN quốc gia và thành phố Đà Nẵng Kết hợp với mục tiêu phát triển cao về kinh tế trong những thập niên tới của thành phố, luận án đề xuất các phương hướng tạo kim chỉ nam để đề xuất các giải pháp cả trước mắt và lâu dài nhằm hoàn thiện và phát triển mối quan hệ giữa kinh tế biển với đảm bảo QP, AN ở thành phố Đà Nẵng một cách đồng bộ, hệ thống và khả thi, hướng đến xây dựng thành phố điển hình về phát triển kinh tế biển của khu vực miền Trung và cả nước
Trang 36Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ BIỂN
TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG, AN NINH 2.1 LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ BIỂN TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG, AN NINH
2.1.1 Những khái niệm cơ bản liên quan đến kinh tế biển trong mối quan hệ với đảm bảo quốc phòng, an ninh
2.1.1.1 Kinh tế biển và phát triển kinh tế biển
Khái niệm kinh tế biển:
Nghiên cứu về kinh tế biển có quá trình lịch sử lâu dài gắn liền với các quốc gia có biển Đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau của các nước, các tổ chức quốc
tế cũng như các nhà nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế biển Sở dĩ như vậy vì việc xác định phạm vi và cách tiếp cận của kinh tế biển còn nhiều khác biệt Có quan điểm cho rằng kinh tế biển chỉ bao gồm những hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, trong khi một
số ý kiến khác lại cho rằng kinh tế biển còn phải tính đến những hoạt động ở ven biển hoặc liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến biển Thực chất, các quan điểm đều không bàn luận nhiều về bản thân các ngành nghề thuộc kinh tế biển, mà về các lĩnh vực liên quan và không phải diễn ra trên biển, hay nói cách khác là chưa thống nhất được về mặt quan hệ sản xuất của nó Có thể dẫn liệu những minh chứng tiêu biểu sau đây:
Ở nước ngoài, khái niệm kinh tế biển giữa các quốc gia cũng không giống nhau:
Theo Vụ Nghề cá và Đại dương Canada (DFO), thì "Kinh tế biển là những
ngành được thành lập trong khu vực hàng hải và các cộng đồng ven biển liền kề với các khu vực này, hay những ngành mà thu nhập của chúng phụ thuộc vào các khu vực này" [64]
Tại Trung Quốc, sau nhiều tranh luận về phạm vi của kinh tế biển như cho rằng kinh tế biển là các hoạt động về hàng hải (tác giả Yang Jinsen, 1984) [94]; hay là các về du lịch biển, giao thông vận tải biển, làm muối, chăn nuôi thuỷ sản, hoạt đông thăm dò và khai thác dầu khí, các hoạt động khai thác tài nguyên biển (các học giả Dương Kim Thâm, Lương Hải Tân và Hoàng Minh Lỗ, 1990) [76]; hoặc là các hoạt động kinh tế có liên quan tới biển và tùy thuộc vào mức độ hoạt động của ngành kinh tế ấy (Xu Zhibin, 2003) [89] … thì cuối cùng các tác giả cũng đi tới thống nhất rằng kinh tế biển là những hoạt động kinh tế trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới biển
Trang 37Tại Mỹ, khái niệm kinh tế biển được xem xét dựa trên mức độ đóng góp của kinh tế biển vào nền kinh tế quốc dân Cục phân tích kinh tế Mỹ cho rằng kinh tế biển
là nền kinh tế tận dụng nguồn lực của biển trong quá trình sản xuất hay là quá trình sản xuất một sản phẩm hoặc dịch vụ phụ thuộc vào chất lượng của các nguồn lực biển [69]
Ở Niu-di-lân, trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Hiệp hội thống kê Niu-di-lân (2006), các tác giả đã khẳng định: "kinh tế biển là tổng thể các hoạt động kinh tế sử dụng hoặc diễn ra trong môi trường biển, hoặc sản xuất các hàng hoá và dịch vụ cần thiết cho các hoạt động trên biển" [70]
Ở Việt Nam, khái niệm kinh tế biển cũng chưa có sự thống nhất rõ ràng Theo Vũ Văn Phái trong bài viết "Biển và phát triển kinh tế biển Việt Nam: Quá khứ, hiện tại và tương lai" [35], coi kinh tế biển của nước ta sau thời kỳ đổi mới bao gồm 6 lĩnh vực là: 1) nghề cá (đánh bắt, nuôi trồng và chế biến); 2) khai thác khoáng sản; 3) hàng hải (đóng tàu, chuyên chở, xây dựng cảng); 4) du lịch và giải trí biển; 5) dịch vụ biển (sản xuất các thiệt bị, phương tiện làm việc trong biển); 6)
an ninh - quốc phòng (quản lý vùng biển)
Đề tài khoa học cấp thành phố Đà Nẵng năm 2002 có tên "Giải pháp cơ bản nhằm phát triển bền vững và có hiệu quả kinh tế biển thành phố Đà Nẵng" [42], tác giả Huỳnh Văn Thanh cho rằng: Kinh tế biển bao gồm các hoạt động kinh tế trên biển và đất liền, trong đó biển chủ yếu là nơi diễn ra các hoạt động kinh tế như: khai thác tài nguyên biển, các hoạt động vận tải và du lịch, còn các hoạt động ven bờ khác là các hoạt động trên bờ như chế biển hải sản, đóng tàu… cũng nhờ yếu tố biển hoặc phục vụ cho biển
Trong Chiến lược phát triển kinh tế biển và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2020, kinh tế biển được cho là bao gồm những ngành cụ thể như:
1 Kinh tế Hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển);
2 Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản);
3 Khai thác dầu khí ngoài khơi;
4 Du lịch biển;
5 Làm muối;
6 Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn;
7 Kinh tế đảo
8 Đóng tầu và sửa chữa tầu biển;
9 Công nghiệp cơ khí và chế biến;
10 Công nghiệp chế biến thuỷ sản, hải sản;
Trang 3811 Cung cấp dịch vụ biển;
12 Thông tin liên lạc biển;
13 Nghiên cứu khoa học - công nghệ biển;
14 Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển;
15 Điều tra cơ bản về tài nguyên - môi trường biển
Như vậy, hầu hết các quan điểm của nước ngoài và Việt Nam đều quy kinh
tế biển về hai điểm chính Một là, chỉ quan niệm kinh tế biển là những hoạt động kinh tế chỉ diễn ra trên biển Hai là, không chỉ các hoạt động diễn ra trên biển mà còn cả các hoạt động ven biển hoặc trên đất liền nhưng có liên quan tới biển
Tham khảo có tính kế thừa để bổ sung hoàn thiện, từ những quan điểm nước ngoài và Việt Nam, để phù hợp với bối cảnh và yêu cầu thực tiễn của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại, khái niệm kinh tế biển trong luận án này xin được trình bày khái quát như sau:
Kinh tế biển là lĩnh vực hoạt động và các quan hệ kinh tế diễn ra trên biển cùng với các hoạt động kinh tế khác tuy không diễn ra trên biển nhưng có liên quan tới hoạt động khai thác biển (bao gồm những hoạt động nhờ vào yếu tố "biển" để phát triển kinh tế và các hoạt động dịch vụ cho phát triển kinh tế biển)
Có thể khái quát kinh tế biển theo sơ đồ 1.1.dưới đây:
Sơ đồ 1.1: Khái quát kinh tế biển và các lĩnh vực kinh tế biển
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Kinh tế biển
“ Các hoạt động kinh tế có liên quan trực
tiếp tới biển ”
“ Các hoạt động kinh tế gián tiếp liên quan tới biển ”
“ 1.Kinh tế Hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển); ”
“ 2 Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản); ”
“ 3.Khai thác dầu khí ngoài khơi; ”
“ 4 Du lịch biển; ”
“ 5.Làm muối; ”
“ 6.Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; ”
“ 7.Kinh tế đảo ”
“ 8 Đóng và sửa chữa tầu biển (hoạt động kinh tế này cũng có thể xếp vào kinh tế hàng hải); ”
“ 9 Công nghiệp cơ khí và chế biến; ”
“ 10.Công nghiệp chế biến thủy sản, hải sản; ”
“ 11.Cung cấp dịch vụ biển; ”
“ 12 Thông tin liên lạc biển; ”
“ 13.Nghiên cứu khoa học - công nghệ biển; ”
“ 14 Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển; ”
“ 15.Điều tra cơ bản về tài nguyên - môi trường biển ”
Trang 39- Khái niệm phát triển kinh tế biển:
Phát triển kinh tế biển về cơ bản có nội hàm giống khái niệm phát triển kinh
tế ở chỗ các khái niệm này đều phản ánh một quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ hơn về mọi mặt của nền kinh tế và được đo lường bằng các tiêu chí như: xem xét qua mức độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu KT-XH cũng như đời sống, mức sống của người dân Phát triển kinh tế là một khái niệm có nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế, thông thường khi nói đến tăng trưởng kinh tế người ta chỉ xem xét sự gia tăng về tốc độ, quy mô của nền kinh tế thì phát triển kinh tế là sự kết hợp một cách chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội ở mỗi quốc gia Phát triển kinh tế bao gồm có tăng trưởng, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều hướng tiến bộ (thường xét đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành: sự gia tăng tỉ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp), sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội (xoá bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, tăng tuổi thọ bình quân, tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, nước sạch của người dân, đảm bảo phúc lợi xã hội, giảm thiểu bất bình đẳng trong xã hội…)
Tuy nhiên, phát triển kinh tế biển sẽ có thêm những nội dung liên quan tới đặc trưng riêng của các hoạt động kinh tế biển Thứ nhất, theo nghĩa rộng, phát triển kinh tế biển được hiểu là việc phát triển toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế diễn ra trên đất liền nhưng trực tiếp liên quan đến khai thác biển Thứ hai, theo nghĩa hẹp, phát triển kinh tế biển là việc phát triển kinh tế dựa trên những tiềm năng lợi thế riêng có do nguồn lực, điều kiện tự nhiên của vùng biển đem lại
Phát triển kinh tế biển không chỉ là phát triển mạnh các ngành kinh tế biển
mà còn phải gắn các ngành này với nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia
và nâng cao đời sống nhân dân vùng biển, đảo Muốn vậy cần khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động này, khuyến khích họ đầu tư cho các ngành kinh tế biển Trong đó xây dựng kết cấu hạ tầng vững chắc ở các vùng ven biển, đảo Hình thành các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển có vai trò đặc biệt quan trọng Đưa các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào khai thác tài nguyên biển song vẫn đảm bảo những yêu cầu về môi trường Thu hút người dân ra biển đảo làm ăn sinh sống và định cư lâu dài Đảm bảo các công tác về cứu hộ, cứu nạn trên biển Tạo ra một môi trường an toàn, thuận lợi và ổn định trên biển, đảo
Trang 40Như vậy: Phát triển kinh tế biển là sự gia tăng toàn diện các phân ngành
kinh tế biển theo chiều hướng tiến bộ, bao gồm: Sự phát triển toàn diện và đồng bộ của các phân ngành kinh tế biển với các mặt của đời sống văn hoá xã hội ở các khu vực ven biển, dựa trên một chiến lược phát triển kinh tế biển và phương thức quản lý kinh tế biển phù hợp và hiệu quả
Phát triển kinh tế biển là một trong những nội dung quan trọng trong phát triển kinh tế tổng thể của một quốc gia Nó thể hiện tầm nhìn hướng ra biển của quốc gia đó
2.1.1.2 Đảm bảo quốc phòng, an ninh quốc gia và đảm bảo quốc phòng,
an ninh cấp thành phố (cấp tỉnh)
Đảm bảo quốc phòng, an ninh quốc gia:
Hai khái niệm quốc phòng và an ninh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau vì
QP, AN là hai mặt của sự nghiệp bảo vệ đất nước
Quốc phòng là công cuộc giữ nước của một quốc gia gồm tổng thể các hoạt động đối nội, đối ngoại về kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học… của Nhà nước để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnh toàn diện, trong đó sức mạnh quân sự là nòng cốt để giữ vững hoà bình, đẩy lùi và ngăn chặn các hoạt động chống đối của kẻ thù, sẵn sàng đánh lại kẻ thù xâm lược dưới bất cứ hình thức và quy mô nào
An ninh được định nghĩa trong từ điển quân sự Việt Nam là trạng thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm đe doạ sự tồn tại và phát triển bình thường của cá nhân, của tổ chức, của từng lĩnh vực trong hoạt động xã hội hoặc của
an toàn xã hội Bản chất của an ninh được thể hiện ở hai yếu tố: an toàn (về mặt vật chất) và yên tâm (về mặt tinh thần) Thêm nữa, có thể hiểu an ninh bao hàm hai yếu
tố, an toàn và không bị đe doạ Cũng từ đó, an ninh quốc gia có thể hiểu là trạng thái của một quốc gia không bị đe doạ bởi chủ thể quốc gia hoặc phi quốc gia khác gây tại hoạ cho mình An ninh quốc gia của Việt Nam là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Bao hàm cả vấn đề an toàn cho cộng đồng dân cư nói chung, cho mỗi cá nhân nói riêng An ninh quốc gia bao gồm cả các nội dung của an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống Trong đó, an ninh truyền thống chủ yếu nhấn mạnh về đe doạ quân sự và bảo vệ quốc phòng An ninh truyền thống lấy nhà nước, lãnh thổ quốc