Đề tài “Bảo vệ người lao động chưa thành niên theo pháp luật lao động Việt Nam” được thực hiện gồm 03 phần: Phần mở đầu, Phần nội dung và Phần kết luận. Ở phần nội dung, luận văn cấu trúc gồm 2 chương. Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ người lao động chưa thành niên; Chương 2. Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ người lao động chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện
Trang 1d
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
Trang 2ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH LUẬT KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Nguyễn Ngọc Điện
TRÀ VINH, NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng, luận văn thạc sĩ “Bảo vệ người lao động chưa thành niên
theo pháp luật lao động Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số
liệu được sử dụng trong luận văn, các ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Kết quả nghiên cứu này chưa được công bố trong các công trình khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về công trình nghiên cứu của mình
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Kinh tế, Luật Trường Đại học Trà Vinh xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ngày tháng năm 2019
Học viên
Ngô Thị Hồng Nhị
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình và
chu đáo của Thầy PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện – Phó Hiệu trưởng trường Đại học
Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) Tôi cũng xin cảm ơn
sự chỉ bảo ân cần của thầy cô Khoa Kinh tế, Luật Trường Đại học Trà Vinh đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua, cảm ơn Thư viện Quốc gia, Thư viện Trường Đại học Trà Vinh, các cơ quan đơn vị đã cung cấp số liệu, tài liệu, cảm ơn tập thể lớp Cao học Luật Kinh tế (CH16LKT_TV5_2) và gia đình đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn Thạc sĩ
Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ của mình, tôi đã có nhiều cố gắng, nỗ lực của bản thân nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý Thầy cô, bạn bè
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
TÓM TẮT viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 3
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 6
5 PHẠM VI GIỚI HẠN ĐỀ TÀI 6
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
7 KẾT CẤU LUẬN VĂN 7
PHẦN NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN 8
1.1 LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN 8
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến người chưa thành niên 8
1.1.1.1 Khái niệm “người chưa thành niên” 8
1.1.1.2 Khái niệm người lao động chưa thành niên theo pháp luật Việt Nam và lao động trẻ em theo pháp luật quốc tế 9
1.1.2 Vị trí, vai trò của người lao động chưa thành niên 11
1.1.3 Pháp luật một số quốc gia về người lao động chưa thành niên 13
1.2 SỰ CẦN THIẾT BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN 16
1.3 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN 21
1.3.1 Giai đoạn 1975 đến 1994 (trước khi có BLLĐ năm 1994) 21
1.3.2 Giai đoạn 1994 đến 2012 (từ khi có BLLĐ năm 1994) 24
1.3.4 Giai đoạn từ 2012 đến nay (từ khi có BLLĐ năm 2012) 27
Trang 6iv
1.4 NHỮNG YÊU CẦU CẦN ĐẶT RA ĐỂ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG
CHƯA THÀNH NIÊN 29
1.4.1 Bảo đảm sự phát triển toàn diện của người lao động chưa thành niên 29
1.4.2 Tôn trọng quyền được tham gia quan hệ lao động của người chưa thành niên 31
1.4.3 Bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 37
2.1 PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM 37
2.1.1 Pháp luật về hợp đồng lao động đối với người lao động chưa thành niên 37
2.1.1.1 Các quy định của pháp luật về hợp đồng lao động 37
2.1.1.2 Thực trạng thực hiện các quy định về giao kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng lao động 40
2.1.2 Pháp luật về tiền lương đối với người lao động chưa thành niên 42
2.1.2.1 Các quy định của pháp luật về tiền lương 42
2.1.2.2 Thực trạng áp dụng quy định về tiền lương 45
2.1.3 Pháp luật về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi đối với người lao động chưa thành niên 46
2.1.3.1 Các quy định của pháp luật về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi 46
2.1.3.2 Thực trạng về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi 48
2.1.4 Pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với người lao động chưa thành niên 50
2.1.4.1 Các quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động 50
2.1.4.2 Thực trạng chấp hành các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động 51
2.1.5 Pháp luật về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất đối với người lao động chưa thành niên 53
2.1.5.1 Các quy định của pháp luật về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất 53
2.1.5.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất 56
Trang 72.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG
CHƯA THÀNH NIÊN 58
2.2.1 Về hợp đồng lao động 58
2.2.2 Tiền lương 59
2.2.3 Thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi 60
2.2.4 An toàn lao động, vệ sinh lao động 61
2.2.5 Về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất 62
2.2.5.1 Về kỷ luật lao động 62
2.2.5.2 Về trách nhiệm vật chất 63
2.2.5 Kiến nghị chung 63
2.2.6 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện về bảo vệ người lao động chưa thành niên theo pháp luật việt nam 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
KẾT LUẬN CHUNG 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8vi
DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật Dân sự
BLLĐ: Bộ luật Lao động
LĐTBXH: Lao động - Thương binh và Xã hội
NCTN: Người chưa thành niên
NLĐCTN: Người lao động chưa thành niên
NLĐ: Người lao động
NSDLĐ: Người sử dụng lao động
LĐCTN: Lao động chưa thành niên
ILO: Tổ chức Lao động quốc tế
FLSA: Đạo luật Tiêu Chuẩn Lao động Công Bằng UNICEF: Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc
Trang 10viii
TÓM TẮT
Đề tài “Bảo vệ người lao động chưa thành niên theo pháp luật lao động Việt
Nam” được thực hiện gồm 03 phần: Phần mở đầu, Phần nội dung và Phần kết luận Ở
phần nội dung, luận văn cấu trúc gồm 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ người lao động chưa
thành niên
Chương 2 Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ người lao
động chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện
Nội dung chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ người lao động chưa thành niên
Trong chương này tác giả làm sáng tỏ về mặt lý luận quy định pháp luật Việt Nam về NLĐCTN để hiểu rõ những quy định dành cho chủ thể đặc biệt này Bên cạnh
đó, so sánh, đối chiếu với pháp luật một số nước trên thế giới và làm sáng tỏ nội dung
cơ bản của các Công ước quốc tề về “lao động trẻ em”, phân tích những thuận lợi, khó khăn đối với Việt Nam khi thực thi các công ước quốc tế này Luận văn cũng chỉ rõ cơ
sở để xác định khái niệm NLĐCTN, đặc điểm của NLĐCTN so với lao động khác Bên cạnh đó, xác định vị trí, vai trò NLĐCTN đối với sự phát triển kinh tế nước ta Đồng thời đưa ra những yêu cầu để bảo đảm sự phát triển toàn diện của NLĐCTN phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam
Tác giả cũng nghiên cứu về các giai đoạn lịch sử hình thành pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi NLĐCTN Trải qua nhiều thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, các quy định về bảo vệ quyền NLĐCTN càng được mở rộng, cụ thể hoá và ngày càng sâu sắc hơn về mặt nội dung trong các văn bản quy phạm pháp luật Từ đó tác giả đúc kết được những vấn đề cần được xem xét hoặc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện
Nội dung chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ người lao động chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện
Trong chương này tác giả nghiên cứu, đánh giá toàn diện thực trạng các quy định pháp luật về NLĐCTN, đồng thời chỉ ra những ưu điểm và mặt còn hạn chế, bất cập cần được khắc phục Trên cơ sở đó tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo vệ NLĐCTN Bên cạnh đó đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ NLĐCTN
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT ĐỀ TÀI
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, nó tạo ra của cải vật chất
và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao
là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước, xã hội, gia đình và bản thân mỗi NLĐ Bất cứ một chế độ xã hội nào, lao động của con người cũng là một trong những
yếu tố quyết định nhất, năng động nhất trong sản xuất Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
“Xã hội có cơm ăn, áo mặc, nhà ở là nhờ NLĐ Xây dựng giàu có, tự do dân chủ cũng
là nhờ NLĐ Tri thức mở mang, cũng nhờ lao động Vì vậy lao động là sức chính của
sự tiến bộ xã hội loài người”
Pháp luật lao động điều chỉnh rất nhiều quan hệ liên quan đến quan hệ lao động, trong đó có loại quan hệ lao động mà một bên của quan hệ là NCTN NCTN là người còn non nớt cả về thể chất, tinh thần lẫn khả năng nhận thức về thế giới bên ngoài Do những hoàn cảnh và nhu cầu khác nhau mà NCTN đã sớm tham gia vào các quan hệ lao động Sự tham gia sớm này đã kéo theo một loạt các vấn đề có liên quan cần phải giải quyết giữa nhu cầu phát triển kinh tế và yêu cầu bảo đảm xã hội Việt Nam thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng kể trong phòng ngừa và giảm thiểu lao động chưa thành niên, xây dựng khuôn khổ pháp lý, chính sách vững chắc để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về lao động, đồng thời, cũng đã thực hiện một số chương trình, dự án cấp trung ương và địa phương để giảm thiểu lao động chưa thành niên Nhiều mô hình được triển khai thí điểm tại một số địa phương đã cải thiện điều kiện lao động và an toàn vệ sinh lao động, môi trường làng nghề, hoạt động du lịch và các hoạt động trong nông nghiệp, ngư nghiệp Tuy nhiên, lao động chưa thành niên vẫn còn tồn tại ở một số nơi, đặc biệt trong khu vực kinh tế phi chính thức Tình trạng này
đã ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển về tâm lý, sức khoẻ của NCTN, hạn chế cơ hội học tập và ảnh hưởng đến cơ hội có việc làm bền vững của họ trong tương lai Theo
kết qủa khảo sát quốc gia về lao động chưa thành niên do Tổng cục Thống kê phối
hợp với Bộ LĐTBXH Việt Nam và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thực hiện gần đây cho thấy, Việt Nam có khoảng 1,75 triệu lao động chưa thành niên Trong tổng số trên 18,3 triệu trẻ em, có khoảng 2,83 triệu em đang tham gia hoạt động kinh tế, trong
đó 42,6% là trẻ em gái Gần 86% tham gia lao động sinh sống ở nông thôn và gần 2/3
số này thuộc nhóm 15 - 17 tuổi Do đặc thù của nền kinh tế còn phát triển ở giai đoạn
Trang 122
thấp, tuổi bắt đầu tham gia lao động khá sớm, phổ biến từ 12 tuổi trở lên Việc tham gia lao động sớm có ảnh hưởng đến tình hình học tập của trẻ, với khoảng 41,6% NCTN tham gia HĐKT không đi học (trên 2% chưa từng đi học) Thời gian làm việc của NCTN khá dài, với khoảng 27,4% làm việc trên 42 giờ/tuần Trên 70% tham gia hoạt động kinh tế trong trong nông nghiệp, 74% tham gia làm việc dưới hình thức là lao động hộ gia đình không hưởng lương1
.Thực tế hiện nay, một bộ phận lao động là NCTN làm việc trong điều kiện lao động ngoài trời, đi lại nhiều dễ bị tai nạn, nguy hiểm, điều kiện làm việc quá nóng, quá lạnh, môi trường có hoá chất độc hại và các tổn thương khác đến sự phát triển thể chất của NCTN Thậm chí, nhiều trường hợp phải làm việc các nghề cấm sử dụng lao động chưa thành niên hoặc điều kiện lao động
có hại
Để bảo vệ và tạo điều kiện cho NCTN vừa có thể tham gia quan hệ lao động lại không ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực và trí lực, pháp luật về lao động hiện hành của Việt Nam cho phép đối tượng này được tham gia vào những quan hệ lao động phù hợp với sức khỏe và năng lực của họ, đồng thời nghiêm cấm việc lạm dụng sức lao động của NCTN vào làm những công việc năng nhọc, độc hại, nguy hiểm, làm việc quá sức Đối với lao động chưa thành niên, quy chế lao động riêng được quy định nhằm bảo vệ và tạo điều kiện cho sự phát triển thể lực, trí lực của họ Việc cho phép và tạo điều kiện cho họ tham gia quan hệ lao động là một bước tập dợt về chuyên môn tay nghề, về ý thức tổ chức kỷ luật trước khi trở thành chủ nhân của xã hội
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả chọn đề tài “Bảo vệ người lao
động chưa thành niên theo pháp luật lao động Việt Nam” để làm đề tài luận văn
thạc sỹ Đây là đề tài có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu cơ sở lý luận về NLĐCTN và pháp luật lao động Việt Nam về bảo
vệ NLĐCTN Từ đó, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành và đề xuất cơ chế thực thi pháp luật hiệu quả hơn, đảm bảo pháp luật bảo vệ NLĐCTN này
2.2 Mục tiêu cụ thể
1 Ấn phẩm “Điều tra quốc gia về lao động trẻ em 2012 các kết quả chính” (2014), Tổ chức Lao động Quốc tế,
Chương trình quốc tế về xóa bỏ lao động trẻ em của Tổ chức Lao động Quốc tế, Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội và Tổng cục thống kê Việt Nam - Hà Nội: ILO
Trang 13Để đạt được mục tiêu chung đã đề ra, luận văn tập trung nghiên cứu các mục tiêu cụ thể như sau:
- Mục tiêu 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về bảo vệ người lao động chưa thành niên
- Mục tiêu 2: Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về bảo vệ người lao động chưa thành niên Đồng thời, đánh giá phân tích thực trạng, nguyên nhân những vấn đề khó khăn trong bảo vệ người lao động chưa thành niên
- Mục tiêu 3: Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ của người lao động chưa thành niên
Để thực hiện các mục tiêu đó, nhiệm vụ của đề tài:
- Nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ và có hệ thống lý luận chung của pháp luật quy định về bảo vệ người lao động chưa thành niên
- Phân tích, đánh giá thực trạng qui định pháp luật hiện hành về bảo vệ người lao động chưa thành niên chỉ ra những nội dung, những vấn đề còn thiếu sót, chưa phù hợp
- Đề ra giải pháp và hướng hoàn thiện pháp luật hiện hành về bảo vệ người lao động chưa thành niên
3 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Tình trạng sử dụng, lạm dụng lao động trẻ em đã và đang là vấn đề nhức nhối, gây ra hệ lụy nghiêm trọng đối với sự phát triển của trẻ em nói riêng và sự phát triển của xã hội nói chung Pháp luật Việt Nam đã có những quy định rất cụ thể, chi tiết về việc sử dụng lao động là trẻ em, từ độ tuổi đến thời gian và loại công việc cho phép, bảo đảm điều kiện, vệ sinh, an toàn lao động phù hợp lứa tuổi Tuy nhiên, thực tế, không ít người sử dụng lao động khi tuyển dụng thường không thực hiện đúng những quy định, dẫn đến tình trạng nhiều lao động chưa đủ tuổi thành niên phải làm những công việc vất vả, nguy hiểm, độc hại, làm việc quá nhiều giờ, mức thù lao thấp Thời gian vừa qua, ở nước ta đã có một số nhà khoa học, nhà quản lý nghiên cứu Pháp luật lao động Việt Nam về bảo vệ quyền lợi lao động chưa thành niên, qua đó có đưa ra những đánh giá hoặc thậm chí làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định về bảo
vệ quyền lợi lao động chưa thành niên Vấn đề này được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Trang 144
- Tác giả Đỗ Ngân Bình (2009) với bài viết “Phòng, chống bạo lực đối với trẻ
em và lao động trẻ em - Pháp luật và thực tiễn”, Tạp chí Luật học số 2 năm 2009 Bài viết đã phân tích để đưa ra khái niệm lao động vị thành niên, lao động trẻ em và thực trạng bạo lực đối với lao động trẻ em cũng như chỉ rõ thực trạng quy định liên quan đến phòng, chống bạo lực đối với trẻ em, lao động trẻ em để từ đó bước đầu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về phòng chống bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ em Tuy nhiên, bài viết này không đề cập một cách toàn diện về bảo vệ trẻ em và lao động trẻ em nói chung
mà chỉ đề cập đến khía cạnh phòng, chống bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ em
- Tác giả Nguyễn Hữu Chí (2003), bài viết “Những vấn đề pháp lý về lao động chưa thành niên”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11 năm 2003 Tác giả đưa ra khái niệm lao động chưa thành niên và nhận xét về thực trạng sử dụng lao động chưa thành niên ở nước ta, đồng thời đề ra một số giải pháp nhằm bảo vệ nhóm đối tượng này Tuy nhiên, do giới hạn ở phạm vi bài viết đăng trên tạp chí nên các nội dung được đề cập chưa mang tính chuyên sâu
- Tác giả Đào Mộng Điệp (2004) với bài viết “Một số vấn đề pháp lý về lao động chưa thành niên”, đăng trên Thông tin khoa học số 13 năm 2004 của Trường Đại học Huế Tác giả đề cập sơ lược về một số quy định của pháp luật lao động liên quan đến người lao động chưa thành niên như quy định về việc làm, hợp đồng lao động, tiền lương, an toàn lao động, vệ sinh lao động
- Tác giả Chu Mạnh Hùng (2005), bài viết “Vấn đề trẻ em gái giúp việc gia đình tại các thành phố lớn”, đăng trên Tạp chí Luật học số 5 năm 2005
- Tác giả Phạm Thị Thuý Nga (2006), bài “Lao động phục vụ gia đình”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2 năm 2006 Các bài viết đã đề cập thực trạng và giải pháp nhằm bảo vệ các em chưa thành niên lao động Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của hai bài viết này còn hẹp, mới chỉ đề cập đến vấn đề lao động của các em chưa thành niên trong lĩnh vực giúp việc gia đình Ngoài ra, tác giả chưa đi sâu phân tích thực trạng và pháp luật về lao động trẻ em
- Tác giả Đỗ Thị Dung (2012), với bài viết “Lao động trẻ em và vấn đề vi phạm pháp luật đối với lao động trẻ em”, Tạp chí Luật học 2012 Bài báo tập trung phân tích các qui định của pháp luật về nghề, công việc được nhận lao động trẻ em; qui định điều kiện được nhận và sử dụng lao động trẻ em; qui định các hành vi bị cấm khi sử
Trang 15dụng lao động trẻ em; các qui định về xử lý vi phạm pháp luật đối với lao động trẻ em Tác giả còn đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật đối với lao động trẻ em và đề xuất các giải pháp phòng chống vi phạm pháp luật đối với lao động trẻ em
Ngoài ra còn có một số đề tài nghiên cứu về bảo vệ quyền lợi lao động chưa thành niên ở nhiều gốc độ khác nhau, như:
- Luận văn “Chế độ pháp lý về lao động chưa thành niên” của tác giả Vũ Thị Hằng năm 2000
- Luận văn “Pháp luật về lao động chưa thành niên ở Việt Nam” của tác giả Phan Văn Hùng năm 2002
- Luận văn “Những vấn đề pháp lý cơ bản về lao động chưa thành niên” của tác giả Dương Thị Kiều Oanh năm 2003
- Luận văn “Chế độ pháp lý về bảo vệ lao động chưa thành niên theo luật lao động Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đình Tự năm 2004
- Luận văn “Một số vấn đề pháp lý về lao động chưa thành niên theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam” của tác giả Lê Việt Hà năm 2006
- Luận văn “Hoàn thiện pháp luật về lao động chưa thành niên trong điều kiện hội nhập quốc tế” của tác giả Trần Thắng Lợi, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, năm
2012
Tuy nhiên, các luận văn trên chưa nghiên cứu, phân tích sâu và toàn diện các quy định đối với người lao động chưa thành niên, đặc biệt thực trạng pháp luật về lao động chưa thành niên chưa được làm rõ cả về sự bất cập của pháp luật cũng như tổ chức thực hiện, chưa đánh giá được mức độ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế Mặt khác, các kiến nghị hoàn thiện pháp luật còn chưa cụ thể, rõ ràng, mới chỉ dừng lại ở những đề xuất mang tính định hướng, chung chung Nhiều kiến nghị không còn phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay Tóm lại, đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu dưới các dạng khác nhau
về vấn đề người lao động chưa thành niên hay lao động trẻ em nhưng các công trình nghiên cứu này chỉ ở mức độ nhỏ lẻ; tính toàn diện, đầy đủ chưa cao, nhiều vấn đề còn
bỏ ngỏ chưa được nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về người lao động chưa thành niên Tuy nhiên, trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những tư tưởng khoa học và một số vấn đề lý thuyết cũng như thực tiễn ứng áp dụng pháp luật lao động Việt Nam về bảo vệ người lao
Trang 166
động chưa thành niên từ các công trình khoa học đã nghiên cứu Tác giả cho rằng, đây
là vấn đề cần được nghiên cứu Vì vậy, đề tài này nghiên cứu pháp luật lao động Việt Nam về bảo vệ người lao động chưa thành niên từ các góc độ pháp lý:
- Thứ nhất, đề tài góp phần luận giải hệ thống lý luận về lao động chưa thành niên và pháp luật điều chỉnh đối tượng này trong bối cảnh hội nhập quốc tế
- Thứ hai, đề tài đưa ra sự đánh giá toàn diện về thực trạng pháp luật đối với người lao động chưa thành niên ở Việt Nam và chỉ ra những vấn đề cần phải sửa đổi,
bổ sung trong hệ thống pháp luật
- Thứ ba, đề tài đã xác định những yêu cầu cần thiết của việc hoàn thiện các quy định hiện hành về người lao động chưa thành niên, đề xuất thêm một số giải pháp kèm theo luận giải cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về người lao động chưa thành niên
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu đề tài chủ yếu là các quy định pháp luật lao động trong BLLĐ năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành BLLĐ Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu còn bao gồm một số nội dung trong các văn bản pháp luật khác như: một
số quy định trong BLLĐ năm 2012, Luật trẻ em năm 2016, BLDS năm 2015, Bộ Luật
Tố tụng dân sự năm 2015 và một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ NLĐCTN
5 PHẠM VI GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Về nguyên tắc NLĐCTN bao gồm nhiều đối tượng khác nhau, nếu hiểu theo nghĩa rộng, NLĐCTN gồm tất cả những người dưới 18 tuổi thực hiện hoạt động lao động, còn hiểu theo nghĩa hẹp, NLĐCTN là những người dưới 18 tuổi làm công cho NSDLĐ để được trả lương Tuy nhiên, phù hợp với tên gọi của đề tài và chuyên ngành nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật lao động về NLĐCTN trong mối quan hệ lao động “làm công ăn lương” là đối tượng điều chỉnh của BLLĐ Việt Nam Mặt khác, để đề tài có độ rộng và độ sâu cần thiết, tác giả cũng mở rộng phạm vi nghiên cứu cả pháp luật lao động về NLĐCTN trong giai đoạn “tiền quan hệ lao động” (nghĩa là trong lĩnh vực việc làm, học nghề) và trong các mối quan hệ xã hội có liên quan trực tiếp với quan hệ lao động
Nhằm góp phần đảm bảo thi hành tốt các chính sách về bảo vệ lao động chưa thành niên Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả sẽ tập trung chủ yếu nghiên
Trang 17cứu về các vấn đề đối với NLĐCTN trong độ tuổi từ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi theo BLLĐ năm 2012
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài vận dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác – Lênin Đề tài được thực hiện trên cơ sở sử dụng các phương pháp như: phương pháp luật viết đối với các văn bản pháp luật liên quan; phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu; phương pháp thu thập đánh giá… nhằm làm sáng tỏ các vấn đề đang nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu ở Chương 1 để nêu cơ sở lý luận
và pháp lý về bảo vệ người lao động chưa thành niên Phương pháp này cũng được sử dụng để tổng hợp những hạn chế của quy định pháp luật và đưa ra những đề xuất hoàn thiện pháp luật liên quan
Phương pháp phân tích, chủ yếu là phương pháp phân tích luật được sử dụng chủ yếu ở Chương 2 để nghiên cứu thực tiễn áp dụng về bảo vệ NLĐCTN nhằm tìm ra những ưu điểm, hạn chế trong việc quy định về nội dung điều chỉnh pháp luật đối với NLĐCTN
Phương pháp so sánh luật được sử dụng chủ yếu để so sánh các văn bản, quy định để tìm hiểu những điểm còn mâu thuẫn, bất hợp lý từ đó đưa ra đề xuất hướng khắc phục
Phương pháp đánh giá để rút ra kết luận trong luận văn
7 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Luận văn cấu trúc thành 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo vệ người lao động chưa thành niên Chương 2: Thực trạng quy định bảo vệ người lao động chưa thành niên theo
pháp luật lao động Việt Nam và giải pháp hoàn thiện
Trang 188
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ
NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN 1.1 LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến người chưa thành niên
1.1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên
Trong quá trình phát triển của con người từ khi sinh ra đến khi trưởng thành được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó giai đoạn chuyển tiếp từ ấu thơ sang trưởng thành đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của con người, đây là giai đoạn phát triển đặc biệt mạnh mẽ và phức tạp, bao gồm sự phát triển về thể chất và sự biến đổi về tâm lý, thời kỳ đó được gọi là thời kỳ chưa thành niên Chưa thành niên là thời
kỳ quá độ từ trẻ em sang người lớn, luôn gắn liền với những biến đổi tâm sinh lý mà bất
kỳ người nào cũng phải trải qua Trong lúc này, NCTN không hẳn là trẻ em cũng chưa hẳn là người trưởng thành, bản thân NCTN chưa có kinh nghiệm sống, thiếu kiến thức và
dễ dàng thay đổi do điều kiện sống tác động
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về NCTN, từ góc độ khác nhau mà có cách hiểu khác nhau như:
Theo luật pháp quốc tế: Tại Điều 1 Công quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội
đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 20/11/1989 ghi nhận “trong phạm vi Công ước
này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn” Theo Quy tắc của Liên Hiệp Quốc về
bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày
14/12/1990, tại mục I, điểm 11 nêu rõ: “NCTN là người dưới 18 tuổi Giới hạn tuổi
dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của NCTN” Như vậy, theo quy định của pháp luật quốc tế thì NCTN được xác định là
những người dưới 18 tuổi2 Ở mỗi quốc gia sẽ có quy định khác nhau phụ thuộc vào từng điều kiện phát triển kinh tế, chính trị - xã hội, tiêu chí để xác định “người thành niên” hay “chưa thành niên” dựa trên cơ sở các đặc điểm tâm lý, sinh lý, sức khỏe và nhận thức về độ tuổi
2
Cao Việt Hoàng, Nguyễn Đức Hiếu (2014), Một số vấn đề tư pháp phù hợp với trẻ em, Nghiên cứu khoa học
Trang thông tin điện tử Học viện Tòa án
Trang 19Trong hệ thống pháp luật Việt Nam việc quy định độ tuổi NCTN được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, BLDS năm 2015, BLLĐ năm 2012, Luật trẻ em năm 2016
và một số văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như:
Theo Luật trẻ em năm 2016, tại Điều 1 ghi nhận “Trẻ em là người dưới 16
tuổi”, khái niệm này không còn giới hạn trẻ em là công dân Việt Nam, mà đối tượng
áp dụng của Luật còn bao gồm cả trẻ em là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam theo pháp luật Việt Nam thì NCTN bao gồm cả trẻ em và người từ trên 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
Trong BLDS năm 2015, tại Điều 20 quy định “NCTN là người từ đủ 18 tuổi trở
lên”, có thể thấy BLDS coi tất cả những người dưới 18 tuổi là NCTN, quy định này
điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực dân sự
Như vậy, theo pháp luật Việt Nam mỗi ngành luật khác nhau điều có định nghĩa
về NCTN khác nhau nhưng chung quy điều thống nhất quy định tuổi của NCTN là những người dưới 18 tuổi
Từ những phân tích trên, có thể thấy khái niệm NCTN được xây dựng dựa trên
sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia Theo đó, pháp luật quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của người chưa thành niên Vì vậy, có thể đưa ra
khái niệm: NCTN là những người đang trong quá trình phát triển về mặt tự nhiên và
xã hội; chưa có sự trưởng thành đầy đủ về thể chất, trí tuệ và chưa đạt đến một độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật
1.1.1.2 Khái niệm người lao động chưa thành niên theo pháp luật Việt Nam và lao động trẻ em theo pháp luật quốc tế
Cũng như các nước đang phát triển, nước ta thừa nhận về sự tồn tại của NLĐCTN như tiến trình tất yếu của quá trình phát triển kinh tế xã hội Có thể thấy NLĐCTN có một số đặc điểm cơ bản như thể lực, trình độ nhận thức của họ chưa hoàn thiện, thiếu kinh nghiệm sống và làm việc nên dễ bị tác động bởi môi trường xung quanh, đặc biệt là khả năng nhận thức về pháp luật còn nhiều hạn chế Chính vì thế mà NLĐCTN được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp mức độ cao hơn so với người lao động thành niên Luật pháp nước ta chiếu theo luật pháp quốc tế với sự cân đối và hoàn chỉnh cho phù hợp với đặc điểm quốc gia, đã ban hành các quy định cụ thể:
Trang 2010
Theo Hiến pháp năm 2013, tại Điều 35 đã ghi nhận: “Công dân có quyền làm
việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc” Như vậy, chế định về quyền lao
động, việc làm trong Hiến pháp nước ta đã cho thấy sự tương thích với các Điều ước quốc tế về nhân quyền
BLLĐ năm 2012 có đưa ra định nghĩa: “NLĐ là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có
khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản
lý, điều hành của NSDLĐ” Theo quy định thì NLĐ cần đảm bảo những đặc điểm như:
phải đủ 15 tuổi, ở đây độ tuổi 15 được quy định trên cơ sở dữ liệu quốc gia khoa học
và thực tiễn về mặt hình thức năng lực cá nhân3; bên cạnh đó NLĐ có khả năng lao
động và phải chịu sự quản lý của NSDLĐ Theo đó, tại Điều 161 quy định “NLĐCTN
là NLĐ dưới 18 tuổi”, do những hạn chế mang tính chất tự nhiên của NCTN mà pháp
luật quy định hạn chế sự tham gia trong các hoạt động lao động Như vậy, cả hai điều
luật trên cho thấy độ tuổi của NLĐCTN là từ đủ 15 tuổi cho tới dưới 18 tuổi Đây là sự phù hợp với quy định của BLDS về độ tuổi Từ đó có thể hiểu NLĐCTN là nhóm lao động đặc thù và có những đặc điểm riêng biệt, chính vì thế trong BLLĐ năm 2012 dành riêng chương IX để quy định về lao động chưa thành niên
Theo quan niệm quốc tế thì người trẻ tuổi bao gồm trẻ em, NCTN và thanh niên Trẻ em (Child) là người dưới 18 tuổi, NCTN (Juvenile) là người từ 15 đến 18 tuổi, thanh niên (Youth) là người từ 15 đến 24 tuổi4 Theo quy định của Công ước Liên hợp quốc (dưới 18 tuổi)5
tương ứng với khái niệm NCTN (dưới 18 tuổi) của pháp luật Việt Nam Đa phần các văn bản pháp lý quốc tế, kể cả Công ước quốc tế về quyền trẻ em, gọi chung là “lao động trẻ em”, tức là lao động của những người dưới
18 tuổi
Cũng như vấn đề trẻ em và NCTN, trên thế giới hiện không có một khái niệm thống nhất về LĐCTN Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam đã bao hàm lao động trẻ em trong khái niệm NLĐCTN Như vậy, về phạm vi, đối tượng được coi là “lao động trẻ em” của Tổ chức lao động quốc tế tương tự với phạm vi, đối tượng mà pháp luật Việt Nam quy định về LĐCTN
Pháp luật về NCTN ở Việt Nam có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến
3 Lưu Bình Nhưỡng (2015), Bình luận khoa học Bộ luật lao động Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 2012, Nxb Lao động, trang 13
4 Điều 2, Công ước số 182 về nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tối tệ nhất, 1999 , thông qua ngày 17/6/1999, (có hiệu lực ngày 18/6/1999)
5 Điều 1, Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em , thông qua ngày 20/11/1989, (có hiệu lực ngày 02/9/1990)
Trang 21nhiều nhóm quan hệ xã hội khác nhau, nhiều ngành luật khác nhau như: Luật hiến Pháp, Luật Hành chính, Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Lao động,…điều bảo vệ quyền và lợi ích của NCTN theo đặc thù riêng của ngành mình Trên bình diện quốc tế, trong các Công ước quốc tế trực tiếp điều chỉnh quan hệ về lao động trẻ em thì Công ước của Tổ chức lao động quốc tế như Công ước 138 về tuổi tối thiểu làm công và Công ước số 182 về cấm hành động ngay lập tức để hạn chế và xóa
bỏ hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất
Tóm lại: Có thể đưa ra khái niệm về LĐCTN sẽ bao gồm lao động từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động
1.1.2 Vị trí, vai trò của người lao động chưa thành niên
NLĐCTN là những NLĐ có năng lực hành vi lao động hạn chế vì thể lực của
họ chưa phát triển hoàn toàn đầy đủ Ở giai đoạn này, thể lực và trí lực của họ đang phát triển chưa ổn định bởi các em mới bắt đầu bước vào tuổi dậy thì với nhiều điều mới mẽ cần khám phá Cũng chính vì thế mà quá trình tiếp thu của các em khá nhanh,
có sức dẻo dai trong công việc Đây là một lực lượng trẻ trong cơ cấu dân số quốc gia
và xuất phát từ nhu cầu về việc làm và giải quyết việc làm của thị trường lao động mà việc sử dụng lao động là NCTN là một tất yếu Chính vì thế, đầu tư và phát triển của lứa tuổi này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong chiến lược dân số nước ta hiện nay Pháp luật lao động hiện hành cho phép đối tượng này được tham gia vào những công việc phù hợp với sức khỏe và năng lực của họ theo quy định, đồng thời nghiêm cấm hành vi lạm dụng sức lao động của NLĐCTN vào những công việc độc hại, nguy hiểm Việc tạo điều kiện cho NCTN được tham gia lao động là một bước tập dợt về chuyên môn, ý thức tổ chức kỷ luật và nâng cao kiến thức về xã hội trước khi trở thành chủ nhân của xã hội
Nhìn nhận được vai trò đặc biệt quan trọng trong thế hệ lao động trẻ tương lai của đất nước, chính vì thế mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều sự quan tâm đối với thế hệ trẻ trong đó gồm thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, trong đó thanh niên là lực lượng quan trọng góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước Trong quá trình công nghiệp hóa, đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực đảm bảo về số lượng và chất lượng Tuy NCTN chưa được công nhận là lao động chính thức trong xã hội nhưng đây là người chủ của đất nước trong tương lai tạo ra của cải vật chất cho đất nước
Ngày nay, ở mỗi quốc gia đã và đang phát triển vẫn còn nhiều hiện tượng
Trang 2212
NCTN mồ côi không nơi nương tựa, NCTN sống trong gia đình mà bố mẹ bị ốm đau, tai nạn, bị mất khả năng lao động, hoặc do kinh tế thu nhập không đủ để trang trải cuộc sống…khi hoàn cảnh gia đình rơi vào cảnh đói nghèo thì việc NCTN tham gia lao động là điều khó tránh khỏi nên pháp luật cần thừa nhận và tôn trọng quyền tham gia quan hệ lao động của họ6 Thể hiện qua các quy định pháp luật về quyền được tự
do lao động với những công việc và ngành nghề phù hợp với lứa tuổi để đảm bảo phù hợp với sự phát triển thể chất, tinh thần của NCTN
NLĐCTN đã trở thành chủ đề được thế giới quan tâm trong nhiều năm qua, đặc biệt là Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và đối với các chính phủ các nước Trên thế giới có rất nhiều những nghiên cứu đã được thực hiện; đồng thời cũng có nhiều dự án
và chương trình hành động cũng như các chiến dịch truyền thông đã được phát động nhằm chia sẽ thông tin và giải quyết tình trạng này Ở Việt Nam, NLĐCTN xuất hiện
từ khá lâu trong lịch sử, ngày nay thì số lượng NLĐCTN không ngừng tăng NLĐCTN là đối tượng được phép tham gia lao động nhưng là lao động đặc biệt vì phải tuân theo những mục đích và tính chất lao động riêng biệt để đảm bảo quyền học tập, phát triển và tạo điều kiện cho NCTN được tham gia quan hệ lao động, học hỏi thêm kinh nghiệm mà không ảnh hưởng đến thời gian học tập, vui chơi giải trí và hạn chế những nguy cơ dẫn đến trẻ bị thiệt hại về các quyền lợi cũng là bảo vệ một lực lượng lao động tương lai của một đất nước, luật pháp nước ta chiếu theo luật pháp thế giới với sự cân đối cho phù hợp với đặc điểm quốc gia và tạo điều kiện cho NCTN vừa tham gia lao động mà không ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực và trí lực
BLLĐ đã dành Mục 1 của Chương XI từ Điều 161 đến Điều 165 để quy định riêng đối với NLĐCTN, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐCTN khi tham gia quan hệ lao động Theo quy định của bộ luật thì NSDLĐ chỉ được sử dụng lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khỏe bảo đảm sự phát triển thể lực, trí tuệ và nhân cách của NCTN Người sử dụng lao động cần phải có trách nhiệm quan tâm chăm sóc NLĐCTN về các mặt lao động, tiền lương, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, an toàn lao động vệ sinh lao động… Bên cạnh đó chỉ cho phép NCTN tham gia vào những công việc phù hợp với sức khỏe và khả năng của
họ và thời gian làm việc cho NLĐCTN: người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi không
6
Trần Thắng Lợi (2012), Hoàn thiện Pháp luật về lao động chưa thành niên trong điều kiện hội nhập quốc tế,
Luận án Tiến sỹ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 30
Trang 23được làm việc quá 8 giờ trong 1 ngày và 40 giờ trong 1 tuần; Người dưới 15 tuổi không được vượt quá 4 giờ trong 1 ngày và 20 giờ trong 1 tuần và không được sử dụng NCTN làm thêm giờ Đồng thời Bộ LĐTBXH cũng quy định NSDLĐ chỉ được
sử dụng lao động ở độ tuổi từ đủ 13 tuổi đến đủ 15 tuổi và làm các công việc nhẹ theo danh mục được quy định tại Thông tư số 10/2013/TT-BLĐTBXH, ngày 10/6/2013 của Bộ LĐTBXH
Tiếp theo đó Luật trẻ em năm 2016, tại Điều 26 cũng quy định: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bóc lột sức lao động; không phải lao động trước tuổi, quá thời gian hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật; không bị bố trí công việc hoặc nơi làm việc có ảnh hưởng xấu đến nhân cách và sự phát triển toàn diện của trẻ em
Từ những quy định trên có thể thấy pháp luật cho phép NCTN tham gia lao động nhưng là lao động đặc biệt và phải tuân thủ các quy định của pháp luật để đảm bảo quyền học tập, phát triển, quyền được bảo vệ Song song đó cũng phải tôn trọng thành quả lao động, kết quả đóng góp cho xã hội mà NCTN mang lại
1.1.3 Pháp luật một số quốc gia về người lao động chưa thành niên
Ở Trung Quốc, tại Điều 38 Luật về bảo vệ NCTN năm 2006 quy định “không
tổ chức, cá nhân nào có quyền thuê mướn bất kỳ NCTN dưới 16 tuổi, trừ trường hợp
có quy định khác của Nhà nước Bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào mà, theo quy định
có liên quan của Nhà nước thuê NCTN từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chấp hành các quy định của Nhà nước về loại công việc, thời giờ làm việc, cường độ lao động và biện pháp bảo đảm, và cơ quan hoặc cá nhân này không thể phân công họ làm các công việc quá căng thẳng, công việc ở môi trường mang tính chất độc hại nguy hiểm, hoặc các công việc khác mà ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần, hoặc bất kỳ hoạt động nguy hiểm nào” Bên cạnh đó, Điều 64 Luật lao động nước Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa, thông qua ngày 05/7/1994 quy định “không NLĐCTN nào bị bắt buộc phải
làm việc dưới hầm mỏ, với sự độc hại, với cường độ lao động mạnh cấp IV theo quy định của nhà nước hoặc làm các công việc không phù hợp”
Pháp luật Hoa kỳ cũng ban hành Đạo luật Tiêu Chuẩn Lao động Công Bằng (FLSA) và Luật lao động trẻ em (được công bố ở Qui luật 29 CFR, Phần 570, thành lập những tiêu chuẩn về giờ làm việc và những nghề cho các em trẻ tuổi), trong đạo luật này quy định tuổi tối thiểu đi làm là 16 tuổi, bên cạnh đó trẻ em ở độ tuổi 16 và
Trang 2414
17 tuổi có thể đi làm với các nghề nghiệp mà Bộ trưởng của Bộ lao động nước này không tuyên bố là nguy hiểm, khi trẻ em đến độ tuổi 18 tuổi thì không còn lệ thuộc bởi Luật lao động trẻ em của Liên Bang này nữa
Pháp luật Philippin: Luật lao động Philippin cụ thể hóa Công ước 182 theo hướng cụ thể hóa nội dung, bên cạnh đó lại có những văn bản quy định riêng để quy định thành danh mục ngành nghề, công việc cấm sử dụng lao động dưới 18 tuổi Lệnh
số 65-04 về Nguyên tắc và quy định thực hiện Luật công số 9231, sửa đổi Luật số
7610 của Philippin tại Mục 5 đã quy định cụ thể điểm (b) Điều 3 Công số 138 như sau: công việc, mà tính chất hay trong các trường hợp được thực hiện mà nguy hiểm hoặc gây tổn hại cho sức khỏe, an toàn hoặc đạo đức của trẻ em như: tước đoạt, hạ thấp danh dự nhân phẩm của trẻ em; khiến trẻ em bị lạm dụng về thể chất, tinh thần hoặc tình dục, hoặc có nguy cơ cao gây tổn hại đến đạo đức, tâm lý của trẻ em, được thực hiện dưới mặt đất, dưới nước hoặc ở độ cao nguy hiểm; liên quan đến việc sử dụng máy móc nguy hiểm, thiết bị, công vụ nguy hiểm; khiến trẻ tiếp xúc với nguy hiểm; được thực hiện trong môi trường không đảm bảo sức khỏe, khiến trẻ tiếp xúc với điều kiện độc hại, chất, nhân tố gây nguy hại hay quá trình xử lý liên quan đến chất phóng xạ, lửa, chất dễ cháy, chất độc hại hoặc tương tự hoặc với nhiệt độ cao, tiếng ồn, độ rung quá mức; được thực hiện trong điều kiện khó khăn; khiến trẻ tiếp xúc với các nhân tố như vi khuẩn, virus, mầm bệnh; liên quan đến sản xuất hoặc kiểm soát chất nổ Bên cạnh đó, Luật công số 7610 của Philippin năm 1992 còn quy định về cấm tuyển dụng trẻ em trong các công việc quảng cáo tiêu thụ rượu bia, nước uống có cồn, thuốc lá và các sản phẩm mang tính bạo lực
Ở mỗi quốc gia quy định ngưỡng tuổi tối thiểu lao động trẻ em khác nhau ví dụ như: Tại Ấn Độ, đạo Luật trẻ em năm 1986 quy định cấm sử dụng trẻ em dưới 14 tuổi làm việc trong một số ngành công nghiệp “nguy hiểm” như sản xuất pháo hoa và kính, chỉ được làm các ngành nghề gia công và có độ an toàn cao7 Ở Peru, độ tuổi lao động trẻ em thay đổi từ 14 đến 18 tuổi tùy ngành nghề (14 tuổi được làm nông nghiệp, 15 tuổi được làm công nghiệp, 16 tuổi được làm những công việc đánh bắt cá ngoài khơi
và 18 tuổi được làm việc ở cảng, đi biển) Nhìn chung các quốc gia phân độ tuổi theo mức độ nặng nhọc, nguy hiểm khác nhau
7
Việt Linh (2006), Ấn Độ cấm lao động trẻ em,
https://vnexpress.net/the-gioi/an-do-cam-lao-dong-tre-em-2812990.html (truy cập ngày 22/3/2019)
Trang 25Hiện nay có khoảng 27 Công ước, 14 Khuyến nghị liên quan đến lao động trẻ em; trong đó có 11 Công ước và 5 Khuyến nghị liên quan đến tuổi lao động khuyến nghị Các văn bản quốc tế này khác nhau về trọng tâm và chi tiết song đều tập trung nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ trẻ em chống lại các công việc độc hại không thích hợp Những văn bản quốc tế mà các quốc gia ký kết với nhau vì quyền lợi của trật tự và công lý quốc tế, hình thành nền tảng mà dựa vào đó, người ta có thể xây dựng luật pháp quốc gia và các chính sách của họ8 Để tìm hiểu rõ hơn quy định pháp luật ở một số quốc gia về bảo vệ “lao động trẻ em”, tác giả đã tham khảo một số Công ước quốc tế liên quan:
Xem xét cần thiết thông qua những văn kiện mới đổi với việc nghiêm cấm và xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, như một mối ưu tiên chính của hành động quốc gia và quốc tế, chính vì thế Công ước số 182 được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 17/6/1999 đã ra đời Đây là sự nối tiếp cụ thể của Công ước
và Khuyến nghị về Tuổi tối thiểu được phép đi làm, đây vẫn là văn kiện cơ bản về lao động trẻ em; Tuyên bố của ILO về các Nguyên tắc và quyền cơ bản tại nơi làm việc và những hoạt động triển khai được Hội nghị Lao động quốc tế thông qua tại kỳ họp thứ
86 năm 1998 Bên cạnh đó Tổ chức Lao động quốc tế đã đồng thời thông qua Khuyến nghị số 190 về việc cấm và loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, tại Điều 2 trong chương hành động Khuyến nghị đã xác định hủy bỏ những hình thức lao động tồi tệ nhất, bên cạnh đó ngăn chặn việc đưa trẻ em tham gia vào hoặc đưa trẻ em
ra khỏi những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, bảo vệ trẻ em khỏi những hành động trả thù và giúp các em phục hồi và hòa nhập xã hội thông qua các biện pháp đáp ứng được các nhu cầu về giáo dục và tâm lý cho trẻ em; đặc biệt chú ý tới những trẻ
em ở lứa tuổi nhỏ hơn, những trẻ em gái, những nơi làm việc được giấu kín mà trẻ em gái đặc biệt gặp nguy cơ cao, những trẻ em khác có nguy cơ bị tôt thương cao hoặc nhu cầu đặc biệt, xác định, vươn tới và làm việc với các cộng đồng mà ở đó trẻ em có rủi ro
Trong những Công ước quốc tế về lao động trẻ em phải nhắc đến Công ước số
138 của ILO, được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 26/7/1974, Việt Nam gia nhập ngày 24/6/2003 Công ước này quy định độ tuổi tối thiểu được tuyển dụng
8
Lê Thị Huyền Trang (2008), Pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người lao động chưa thành niên ở Việt Nam,
Trang 2618 tuổi thành nhóm nhỏ (nhóm từ 13 đến dưới 15 tuổi và nhóm từ 15 đến dưới 18 tuổi)
1.2 SỰ CẦN THIẾT BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả một đời người,
là môi trường đầu tiên của NCTN tiếp xúc trước khi các em tham gia các hoạt động xã hội, trong đó có các quan hệ lao động Tuy nhiên, sự hiện diện của tuổi thơ trong đội ngũ lao động tại mọi tỉnh thành, là điều chúng ta có thể dễ dàng nhận ra có những em đáng lẻ đang trong độ tuổi phải cắp sách đến trường thì ngược lại các em phải tham gia lao động, một bộ phận không nhỏ các em học sinh học hết tiểu học không có điều kiện tiếp tục học lên các bậc trên (khoảng 12.966 em ở cấp tiểu học và 106.228 em ở cấp trung học, chiếm 1,39% tổng số học sinh) chưa kể một số trẻ em đển tuổi không được
đi học9
Có thể thấy nhiều yếu tố tác động vào hoàn cảnh khác nhau, tất cả các yếu tố bên trong đều có thể trực tiếp hay gián tiếp, ở mức độ này hay mức độ khác đã đẩy trẻ
em vào vòng xoáy lao động chưa thành niên từ rất sớm
Từ lâu NCTN được coi là một trong những nhóm xã hội dễ bị tổn thương nhất
và được cộng đồng và xã hội quan tâm nhất Trải qua hơn hai thập kỷ, những NCTN làm việc như người lớn để nuôi mình, nuôi gia đình không còn là hiện tượng cá biệt Trong đó, đáng lưu ý nhất là những trẻ em tha phương, làm những công việc nặng nhọc quá sức với tiền công thấp kém, rẻ mạt Có những đứa trẻ dù chỉ trên dưới 10-18 tuổi nhưng phải làm đủ nghề để kiếm sống Từ những công việc đơn giản như: Bán vé
số, phụ quán cơm,…tới những việc như thợ sửa xe, may mặc,…thậm chí cả những công việc như thợ cơ khí, đào đãi vàng,…vẫn có sự tham gia lao động là NCTN Theo báo cáo Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNICEF), có hơn 2,6 triệu trẻ em (người dưới 18 tuổi) ở Việt Nam cần được bảo vệ đặc biệt Trong số đó có trẻ em bị ngược đãi, bóc lột sức lao động, buôn bán vì mục đích tình dục, trẻ em lang thang cơ nhỡ, trẻ em tật nguyền, trẻ em bị mồ côi, trẻ em vi phạm pháp luật, trẻ em bị ruồng bỏ,
9 Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (1998), Chuyên đề về Lao động trẻ em, Hà Nội
Trang 27trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Và trẻ em sống trong cảnh nghèo đói10 Nhận thức việc giải quyết tình trạng trên là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài, Bộ LĐTBXH
đã tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007
về chính sách trợ giúp các đối tượng xã hội, thời gian qua Bộ cũng đã thực hiện Đề án Ngăn ngừa giải quyết vấn đề trẻ em lang thang kiếm sống để thực hiện Quyết định số 19/2004/QĐ-TTg ngày 12/02/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010
NCTN tham gia làm việc phù hợp với sức khỏe và khả năng của mình để mở mang thêm kiến thức, được học hỏi thêm là điều không hề xấu nhưng NCTN làm việc quá giờ, ảnh hưởng tới học tập, vui chơi, giải trí và sự phát triển sau này trở thành lao động “chưa thành niên” thì cần phải có biện pháp ngăn chặn Để bảo vệ sức khỏe và những quyền cơ bản cho NLĐCTN tham gia vào những công việc thích hợp với lứa tuổi của mình là một trong những nội dung đưa vào các văn bản quy phạm pháp luật
Từ những văn bản pháp luật lao động đầu tiên của Nhà nước ta đã có những quy định riêng đối với lao động là NCTN như: Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 quy định các xưởng mỹ nghệ, hầm mỏ không được sử dụng trẻ em dưới 12 tuổi làm việc, Pháp lệnh Hợp đồng lao động năm 1990, Pháp lệnh bảo hộ lao động năm 1991, Nghị định 233/HĐBT ngày 22/6/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về ban hành quy chế lao động đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… các văn bản luật bấy giờ cũng đã có những quy định về độ tuổi tham gia lao động chưa thành niên đảm bảo an toàn lao động, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi…
Sau hơn 26 năm ký Công ước về Quyền trẻ em, tỷ lệ lao động trẻ em ở Việt nam vẫn ở mức cao Tổ chức lao động Quốc tế đã thực hiện cuộc Điều tra quốc gia đầu tiên tại Việt Nam năm 2012 với sự hỗ trợ kỹ thuật từ ILO, Tổng cục Thống kê đã khảo sát 50.640 hộ gia đình có trẻ từ 5-7 tuổi trên toàn quốc, cuộc khảo sát này cho thấy khoảng một phần ba số lao động trẻ em (gần 569.000 em) có thời gian làm việc trên 42 giờ/tuần Thời gian lao động kéo dài đã ảnh hưởng đến việc tham gia học tập của trẻ bởi nhiều trẻ em trong số này không đi học Từ những số liệu trên cho thấy NLĐCTN cần được bảo vệ khỏi lao động cưỡng bức và tạo điều kiện để NCTN được
Trang 28
18
phát triển toàn diện
Theo kết quả điều tra năm 2016 do Tổng cục Thống kê phối hợp với Bộ LĐTBXH cùng Tổ chức lao động Quốc tế ILO cho thấy nước ta có khoảng 1,75 triệu lao động trẻ em và NCTN đang phải làm công việc nặng nhọc trong điều kiện nguy hại cho sức khỏe Tỷ lệ tập trung đông nhất chủ yếu ở các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội11 Tiếp đó tại Hội thảo Tư vấn xây dựng pháp luật về lao động trẻ em do Bộ LĐTBXH phối hợp Tổ chức Lao động quốc tế ILO tổ chức ngày 21/3/2018 tại Hà Nội đã nêu số liệu những đặc điểm chính của lao động trẻ em chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp (70%); công nghiệp 11,9% và dịch vụ 17,2% Trong đó, trẻ em làm việc nhà tại gia đình mình là hình thức công việc phổ biến nhất, độ tuổi trẻ em làm việc nhà cao nhất là từ 12 đến 14 tuổi và tỷ lệ trẻ em nữ làm việc nhà chiếm 67,7% trong khi tỷ lệ này đối với trẻ em nam là 56,1% Hiện có khoảng 54 triệu trẻ em độ tuổi từ 5-14 và 35 triệu trẻ vị thành niên 15-17 tuổi làm việc nhà Ngày 25/6/2018 tại Hà Nội, Bộ LĐTBXH phối hợp với Văn phòng Tổ chức lao
động quốc tế tại Việt Nam tổ chức diễn đàn “Vận động chính sách và giải pháp phòng
ngừa lao động trẻ em – vì một thế hệ an toàn và khỏe mạnh” Diễn đàn tập trung vào
nhu cầu toàn cầu về cải thiện sức khỏe và an toàn của thế hệ NLĐCTN và chấm dứt lao động chưa thành niên, mục tiêu phát triển bền vững về chấm dứt các hình thức lao động chưa thành niên đến năm 2025 Sự kiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đưa trẻ em dưới độ tuổi lao động tối thiểu ra khỏi mọi hình thức lao động trong các lĩnh vực lao động nguy hiểm và tồi tệ nhất để đảm bảo rằng trẻ em trong độ tuổi chưa thành niên có cơ hội tiếp cận giáo dục tiên tiến và các nguồn phúc lợi xã hội đảm bảo rằng NCTN - một nguồn nhân lực tương lai của đất nước được phát triển hài hòa, góp phần xây dựng một thế hệ lao động tương lai có năng suất thu nhập và góp phần tăng trưởng kinh tế - xã hội
Theo thống kê kinh tế - xã hội trong năm 2018 dân số trung bình của cả nước ước tính 94,67 triệu người, tăng 988,4 nghìn người, tương đương tăng 1,06% so với năm 2017, trong đó dân số thành thị 33,83 triệu người, chiếm 35,7%; dân số nông thôn 60,84 triệu người, chiếm 64,3%; dân số nam 46,79 triệu người, chiếm 49,4%; dân
http://www.hoinongdan.org.vn/sitepages/news/1145/45347/tran-tro-van-nan-tre-em-bi-boc-lot-suc-lao-dong, (truy cập ngày 17/10/2018)
Trang 29số nữ 47,88 triệu người, chiếm 50,6%12 Số liệu trên được hiển thị cụ thể như sau:
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu lao động năm 2018
Quý I Quý II Quý III Quý IV
Ước tính năm
(Nguồn: Thống kê tình hình kinh tế- xã hội năm 2018 – Tổng cục Thống kê)
Về lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý IV năm 2018 ước tính
là 55,7 triệu người, tăng 286,6 nghìn người so với quý trước và tăng 530,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Lao động nam 29,2 triệu người, chiếm 52,3%; lao động nữ 26,5 triệu người, chiếm 47,7% Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở
12
Trang 3020
lên khu vực thành thị là 17,9 triệu người, chiếm 32%; khu vực nông thôn là 37,8 triệu người, chiếm 68% Tính chung cả năm 2018, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 55,4 triệu người, tăng 566,2 nghìn người so với năm 201713 Về số lượng cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm theo khu vực kinh tế được cụ thể như sau:
Bảng 1.2: Số lượng cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm theo khu vực kinh tế
Tổng số
Chia ra Nông, lâm
nghiệp, thủy sản
Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ
https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=19037 (truy cập ngày 05/01/2019)
Trang 31(Nguồn: Thống kê tình hình kinh tế- xã hội năm 2018 – Tổng cục Thống kê)
Ngày 22/11/2018 tại Hà Nội, Tổng cục Thống kê đã khai mạc Hội nghị “Tập
huấn Khảo sát quốc gia về Lao động trẻ em năm 2018” để thu thập các thông tin về
trình độ giáo dục, hoạt động kinh tế, môi trường lao động, điều kiện làm việc, tiền công, tiền lương, các vấn đề sức khỏe của NCTN nhằm xác định quy mô, phân bố và đặc điểm của trẻ em và NCTN tham gia hoạt động kinh tế và lao động NCTN; nguyên nhân và hệ quả để làm cơ sở phục vụ cho việc đánh giá và hoạch định chính sách, chương trình bảo vệ trẻ em tại Việt Nam Cuộc Khảo sát này được thực hiện tại
63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương14
1.3 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN
1.3.1 Giai đoạn 1975 đến 1994 (trước khi có BLLĐ năm 1994)
Sau Đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đã đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên hòa bình, độc lập, thống nhất và
cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội Nhưng mỗi miền có một hình thức tổ chức nhà nước khác nhau, có nhiều thuận lợi và cũng không ít khó khăn Bên cạnh đó nền kinh tế lúc bấy giờ cũng khó khăn do mới giải phóng nên còn thiếu thốn về cơ sở vật chất
Tháng 7/1976 nước ta thực hiện sự thống nhất về mặt Nhà nước, sau đó là quá trình thống nhất về mặt pháp luật Trong bối cảnh ấy Hiến pháp mới chưa ban hành, Quốc hội đã giao cho Hội đồng Chính phủ soạn thảo các văn bản luật, pháp lệnh mới, đồng thời rà soát hệ thống các văn bản pháp luật nhằm loại bỏ những văn bản, quy định đã lỗi thời, chồng chéo, mâu thuẩn, tạo ra một hệ thống các văn bản pháp luật để
áp dụng trong cả nước Từ năm 1976 đến trước khi Hiến pháp 1980 được thông qua Nhà nước ta đã ban hành trên 800 văn bản pháp luật, trong đó có 01 luật, 03 pháp lệnh,
14
Tổng cục Thống kê (2018), Hội nghị “Tập huấn khảo sát quốc gia về Lao động trẻ em năm 2018”,
Trang 32Hệ thống chính trị bấy giờ gồm 3 phần cấu thành: Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân Thành tựu đạt được trong việc đổi mới hệ thống chính trị là đáng
kể Đổi mới tạo ra bầu không khí dân chủ góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển Tiếp đó các Nghị quyết của Nội dung Đại hội đại biểu toàn quốc lần VII của Đảng năm 1991 và các Đại hội VIII, IX, X và XI đã hoạch ra công cuộc đổi mới đất nước, đồng thời đưa ra những phương hướng, nhiệm vụ xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
để đưa đất nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm hàng đầu công tác bảo vệ quyền lợi của NCTN Thể hiện qua đường lối, chính sách cụ thể về chính trị, pháp luật và xã hội, thể hiện qua các văn bản luật, quy phạm pháp luật Từ những văn bản pháp luật lao động đầu tiên của Nhà nước ta đã có những chế định riêng đối với NLĐCTN Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 quy định những giao dịch về việc làm công giữa các chủ nhân người Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam tại xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do Sắc lệnh này bao gồm 9 chương với
187 điều, bao quát gần như toàn bộ các chế định của BLLĐ16 Tại Điều thứ 12 quy định không được dùng trẻ con dưới 12 tuổi làm thợ nghề Nghiêm cấm trẻ em trai dưới
15 tuổi và phụ nữ bất kỳ tuổi nào làm những công việc dưới hầm mỏ hoặc công việc độc hại mà nhà nước quy định; không được sử dụng trẻ em làm ca đêm; thời gian nghỉ
15 Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (1995), Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và pháp luật, Nxb
Chính trị, trang 386
16
Phạm Hữu Nghị, Nhìn lại chặn đường phát triển của pháp luật ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện nhà
nước và Pháp luật, Viện Khoa học
Trang 33đêm của lao động trẻ em dưới 18 tuổi ít nhất là 11 giờ liên tiếp Tuy những quy định này còn sơ khai nhưng đã góp phần bảo vệ NLĐCTN, làm cơ sở để hoàn thiện các chính sách và pháp luật liên quan về sau
Nghị định 223/HĐBT ngày 22/6/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về ban hành quy chế lao động đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…, cũng có quy định về
độ tuổi tham gia quan hệ lao động của NLĐCTN nhất là lĩnh vực an toàn lao động, vệ sinh lao động, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, Ngày 30/8/1990 Pháp lệnh Hợp đồng lao động được hội đồng Nhà nước ban hành quy định chỉ những NLĐ từ đủ
15 tuổi trở lên mới được quyền giao kết hợp đồng lao động, người dưới 15 tuổi cũng
có thể giao kết hợp đồng lao động để làm những công việc mà pháp luật cho phép Ngoài ra tại Pháp lệnh Bảo hộ lao động ngày 09/9/1991 còn quy định không được sử dụng người dưới 18 tuổi làm công việc ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể lực và trí tuệ của họ và danh mục những công việc không được sử dụng lao động nữ, lao động dưới 18 tuổi Bộ LĐTBXH quy định (Điều 19) Nghị định số 165/HĐBT ngày 12/5/1992 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp đồng lao động được ban hành quy định NLĐ từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, nếu dưới 15 tuổi phải được sự đồng ý của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp
Các văn bản pháp luật có liên quan nêu trên điều có quy định về nghĩa vụ và quyền lợi của NCTN phù hợp với độ tuổi và được nhận vào làm việc quy định trong pháp luật lao động Để phù hợp với tình hình mới, Nhà nước ban hành các văn bản điều chỉnh quan hệ lao động Ngày 16/8/1991, Quốc hội đã ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đầu tiên của Việt Nam, tạo điều kiện cho việc thực thi có
hiệu quả các quyền của trẻ em Tại Điều 9 quy định “trẻ em được hiểu là những người
dưới 16 tuổi” Nhà nước “Nghiêm cấm việc sử dụng lao động trẻ em trái quy định của pháp luật, có hại cho sự phát triển bình thường của trẻ em” Ngoài ra Luật còn quy
định cấm bắt trẻ em đi ăn xin hoặc làm những việc không lành mạnh để kiếm tiền cho người lớn, NCTN tham gia quan hệ lao động phải được sử dụng vào những công việc thích hợp với sinh lý và cơ thể
Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta năm 1946, quyền trẻ em được ghi
nhận trực tiếp là Điều 14 quy định “Những người công dân già cả hoặc tàn tật không
làm được việc thì được giúp đỡ Trẻ con được chăm sóc về mặt giáo dưỡng” và Điều
15 “Nền sơ học cưỡng bách và không học phí, học trò nghèo được Chính phủ giúp”
Trang 3424
Có ba chế định được xác lập ở đây: NCTN ở lứa tuổi mẫu giáo được Nhà nước chăm
lo về nuôi dưỡng, giáo dục; bậc học cấp I là bắt buộc đối với NCTN và bắt buộc đối với mọi công dân; mọi người ở mọi lứa tuổi đều phải biết đọc, biết viết17 Trong những năm 50 của thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam chuyển sang một thời kỳ mới, trong bối cảnh đó ngày 31/12/1959 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp, quyền hiến định đối với NCTN mờ nhạt, khuất lấp sau những yêu cầu bức xúc, khẩn trương của đất nước Tại Chương III về Quyền lợi và nghĩa vụ công dân được quy định đến 21 điều (từ Điều 22
đến Điều 42), tuy nhiên quyền về NCTN chỉ quy định tại Điều 24 “Nhà nước bảo hộ
quyền lợi của người mẹ và trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ, vườn trẻ” Thời kỳ khởi đầu trong bối nước ta đang tiến lên chủ nghĩa xã hội, Nhà nước cần
một bản Hiến pháp thể chế hóa đường lối của Đảng cộng sản trong thời kỳ mới Ngày 18/12/1980 Hiến pháp mới được Quốc hội thông qua, trên cơ sở kế thừa và phát huy những điểm phát triển của Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 Hiến pháp
1980 đã dành một điều riêng về quyền trẻ em (Điều 65) “Nhà nước và xã hội chú
trọng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, mở rộng dần việc đảm nhiệm nuôi dạy trẻ em, làm cho sinh hoạt, học tập và trưởng thành của trẻ em được bảo đảm”
Tiếp đó trong Hiến pháp 1992 ra đời với đầy đủ các khái niệm kế thừa, phát triển và đổi mới về lý luận và thực tiễn, bên cạnh đó khắc phục những hạn chế của các Hiến pháp trước đây, chế định quyền của NCTN cũng được tổng hợp đầy đủ hơn các quyền cơ bản như quyền được chăm sóc, giáo dục, học tập, hưởng thụ các phúc lợi xã
hội, cụ thể tại Điều 40 quy định “Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân có trách
nhiệm bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em”
1.3.2 Giai đoạn 1994 đến 2012 (từ khi có BLLĐ năm 1994)
Nhằm đáp ứng nhu cầu sự nghiệp đổi mới của đất nước, ngày 23/6/1994, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 5 đã thông qua BLLĐ và thay thế cho các văn bản trước kia
có hiệu lực thấp hơn, BLLĐ được xem là Bộ luật của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Bộ luật có hiệu lực ngày 01/01/1995, sau đó được sửa đổi bổ sung vào các năm 2002, 2006 và 2007 BLLĐ đã khẳng định vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và hệ thống pháp luật nước ta và góp phần quan trọng giải phóng mọi tiềm năng lao động góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất
17 Nha Bình dân học vụ theo Sắc lệnh số 17/SL, ngày 08/9/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 35Để đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ là NCTN khi tham gia quan hệ lao động, BLLĐ năm 1994 đã dành các điều từ 119 đến 122 để quy định các chế độ lao động đối với NCTN như: nghiêm cấm lạm dụng sức lao động của NCTN; đối với những ngành nghề vào công việc được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, học nghề, tập nghề thì việc nhận và sử dụng những trẻ em này phải có sự đồng ý
và theo dõi của cha mẹ hoặc người đỡ đầu; NSDLĐ chỉ được sử dụng NLĐCTN vào những công việc phù hợp với sức khoẻ để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc NLĐCTN về các mặt lao động, tiền lương, sức khoẻ, học tập trong quá trình lao động NSDLĐ chỉ được sử dụng NLĐCTN làm thêm giờ, làm việc ban đêm trong một số nghề, công nghệ theo quy định; cấm sử dụng lao động chưa thành niên vào những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại hoặc chỗ làm việc, công việc ảnh hưởng xấu đến nhân cách của họ theo Danh mục của Thông tư liên tịch số 09/TT-LB ngày 13/9/1995 của Bộ LĐTBXH
và Bộ Y tế ban hành; bên cạnh đó Bộ LĐTBXH và Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 21/1999/TT-BLĐTBXH ngày 11/9/1999 về Danh mục nghề nghiệp và điều kiện nhận người chưa đủ 15 tuổi vào làm việc Theo đó, có 04 nhóm nghề, công việc được nhận trẻ chưa đủ 15 tuổi vào làm việc
Tuy nhiên, vấn đề hết sức cần được quan tâm của Nhà nước và xã hội khi nói đến vấn đề lao động chưa thành niên Đó là sự lạm dụng sức lao động, có rất nhiều NSDLĐ dù hiểu biết nhưng vẫn vi phạm pháp luật lao động trong đó có vi phạm đối với NCTN18 Chính vì những lý do đó mà pháp luật luôn bảo vệ NLĐCTN, hạn chế họ
bị lợi dụng, bóc lộc sức lao động, cụ thể như: BLLĐ năm 1994 đã dành hẳn Mục II, Chương XVI để quy định về Thanh tra nhà nước về lao động, xử lý vi phạm pháp luật
lao động, tại Điều 192 quy định “Người nào có hành vi vi phạm các quy định của Bộ
luật này, tùy mức độ quy phạm mà xử phạt bằng các hình thức cảnh cáo, phạt tiền, đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép, buộc phải bồi thường, buộc đóng cửa doanh nghiệp hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật”
Theo thống kê của ngành Lao động, thương binh và xã hội năm 2000 cả nước
có khoảng 1,2 triệu trẻ em (trong đó có gần 900 ngàn trẻ em tàn tật nằm trong diện xem xét trợ cấp xã hội; 140 ngàn trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trong đó có
18
Lê Việt Hà (2006), Một số vấn đề pháp lý về lao động chưa thành niên theo quy định của pháp luật Việt Nam,
Trang 3626
khoảng 30 ngàn trẻ em mồ côi cha lẫn mẹ; 21 ngàn trẻ em lang thang; 1.700 ngàn trẻ
em bị xâm hại tình dục; 3.383 trẻ em nghiện ma túy; 6.247 trẻ em làm trái pháp luật; khoảng 1 triệu trẻ em nghèo và khoảng 60 ngàn lao động trẻ em Nhóm trẻ em lao động chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn, những vùng mà điều kiện kinh tế khó khăn,
số hộ nghèo cao như: Trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung Nguyên, Tây Nguyên
Từ kết quả trên cho thấy nguyên nhân chính dẫn đến việc NCTN tham gia các hoạt động kinh tế là do hoàn cảnh khó khăn, đói nghèo, buộc các thành viên gia đình, kể cả trẻ em phải tham gia lao động mưu sinh Bên cạnh đó tình trạng NCTN bỏ học đi lao động ở các thành phố lớn làm việc vẫn đang diễn ra, do các em còn nhỏ tuổi sống xa gia đình, nên phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, như bị dụ dỗ, lôi kéo, lợi dụng để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, sa vào tệ nạn ma túy,…
Để tạo mọi điều kiện tốt nhất nhằm đáp ứng đầy đủ các nhu cầu và quyền cơ bản của trẻ em, ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em, xây dựng môi trường lành mạnh để trẻ em Việt Nam có cơ hội được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và phát triển toàn diện về mọi mặt và có cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn nsgày 26/2/2000 Thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số 23/2000/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình Hành động quốc gia Vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010
Nhằm nâng cao nhận thức và hành động của toàn xã hội về công tác bảo vệ trẻ
em và phục vụ tốt Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em từ 2001 đến 2010, ngày 12/2/2004 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 19/2004/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình Ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và phải lao động trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2000-2010 Chương trình đã đưa ra bốn mục tiêu cụ thể như: ngăn chặn và trợ giúp trẻ
em lang thang kiếm sống đến năm 2010 giảm được 90% số em này (trong đó có 70%
số trẻ em được trợ giúp cuộc sống hòa nhập gia đình; ngăn chặn, giảm dần và tiến tới giảm cơ bản vào năm 2010 số trẻ em bị xâm hại tình dục; ngăn chặn và giải quyết tình trạng trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại và nguy hiểm để đến năm 2010 giảm được 90% trẻ em này; Nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em, đặc biệt là cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp Bên cạnh đó Chương trình còn nêu ra sáu giải pháp nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của gia đình
Trang 37và cộng đồng trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em, tạo điều kiện để phát triển về mọi mặt và có cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn
Quá trình thi hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 đã phát sinh những vấn đề lớn do điều kiện kinh tế có nhiều sự thay đổi Sự phối hợp và quan tâm đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của các ngành, các cấp có liên quan chưa đúng mức và chưa đồng bộ Một số bậc cha mẹ còn thiếu trách nhiệm trong việc nuôi, dạy con cái Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát thi hành luật chưa chặt chẽ; việc xử lý hành vi vi phạm quyền trẻ em chưa nghiêm19 Do đó, ngày 15/6/2004 Quốc hội đã thông qua Luật số 25/2004/QH11 về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em với sự kết hợp và phát triển sáng tạo quá trình thực hiện Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 và Công ước quốc tế về quyền trẻ em ở nước ta Theo quy định của Điều 7 của Luật này thì một số hành vi bị cấm liên quan đến lao động trẻ em như:
dụ dỗ, lôi kéo trẻ em đi lang thang; lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi; dụ dỗ, lừa dối, ép buộc trẻ em mua, bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy; lôi kéo trẻ em đánh bạc; bán, cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá, chất kích thích khác
có hại cho sức khỏe; Tuy nhiên, đối với những trẻ em có năng khiếu, nhà nước cũng
có chính sách phát hiện, khuyến khích, bồi dưỡng, phát triển năng khiếu của trẻ em Đây là cơ sở để Bộ LĐTBXH quy định chi tiết một số ngành nghề được phép sử dụng lao động là NCTN
1.3.4 Giai đoạn từ 2012 đến nay (từ khi có BLLĐ năm 2012)
Qua các giai đoạn lịch sử, pháp luật về NLĐCTN đã trải qua quá trình hình thành và phát triển ngày càng đầy đủ và hoàn thiện đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền lợi chính đáng của NLĐCTN phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia
Cho đến nay qua các thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, các quy định về bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em ngày càng được mở rộng và đi sâu hơn về mặt nội dung, cụ thể là trong các văn bản luật Ngày 28/11/2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp 6 đã thông qua Hiến pháp năm 2013 là một mốc mới trên con đường phát triển quyền của NCTN, là cơ sở quan trọng để đưa sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ NCTN lên bước mới, góp phần cho đội ngũ lao động Việt Nam tương lai đầy đủ trí tuệ và nhân cách để xây dựng đất nước Sự đổi mới đã mở
19
Chỉ thị số 12/2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Tổng kết 10 năm thi hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và
Trang 3828
đường cho việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về bảo vệ NLĐCTN, chính vì thế BLLĐ năm 2012 ra đời và có hiệu lực kể từ ngày 01/5/2013, lần đầu tiên giúp cải thiện điều kiện làm việc, chế độ làm việc, bên cạnh đó cũng quy định cụ thể hơn về quyền của NLĐCTN BLLĐ năm 2012 đã có những quy định riêng đối với NLĐCTN và một số đặc thù quy định tại Chương XI gồm 5 Điều nhằm điều chỉnh quan hệ lao động trong đó quy định NLĐCTN hoặc những quan hệ lao động mới xuất hiện trong điều kiện hội nhập quốc tế20 Trong BLLĐ năm 2012 cũng đã phân biệt rõ ràng giữa việc NCTN bị cưỡng bức lao động, buộc phải lao động kiếm sống với việc tự nguyện tham gia làm những công việc phù hợp với sức khoẻ và điều kiện sinh hoạt
Bên cạnh đó, Luật trẻ em năm 2016 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực ngày 01/6/2017 tiếp tục có các quy định cụ thể về các hành vi nghiêm cấm bóc lột trẻ
em Tại Điều 4 Quy định: “Bóc lộc trẻ em là hành vi bắt trẻ em lao động trái quy định
của pháp luật về lao động; trình diễn hoặc sản xuất sản phẩm khiêu dâm; tổ chức, hỗ trợ hoạt động du lịch nhằm mục đích xâm hại tình dục trẻ em; cho, nhận hoặc cung cấp trẻ em để hoạt động mại dâm và các hành vi khác sử dụng trẻ em để trục lợi”
Luật đã quy định về các chính sách của Nhà nước và trách nhiệm các tổ chức với trẻ
em bị bóc lột, xâm hại Bên cạnh đó, Luật đã nhấn mạnh, lao động là một đặc trưng quan trọng của con người Giáo dục cho trẻ em yêu lao động và tham gia lao động phù hợp với lứa tuổi của mình là một trong những nội dung được đưa vào chương trình giáo dục
Ngày 07/6/2016 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số TTg về việc phê chương trình phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em giai đoạn 2016-
1023/QĐ-2020, với mục tiêu là thực hiện có hiệu quả công tác phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em; khi phát hiện trẻ em lao động trái quy định khi có thông báo, phát hiện phải hỗ trợ, can thiệp kịp thời Ngoài ra cần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở những khu vực lạc hậu, đói nghèo, nâng cao nhận thức, hiểu biết về chính sách pháp luật của NSDLĐ là trẻ em… Bên cạnh đó sự hỗ trợ từ phía chính quyền các cấp, các ngành, các tổ chức có liên quan, quan trọng nhất là mỗi bậc cha mẹ cũng cần thay đổi nhận thức, để con em mình được phát triển trong một môi trường phù hợp
20 Trương Tiến Hưng (2012), Những điểm mới của Bộ luật lao động năm 2012, Bộ Tư pháp,
NAM-2012.aspx (truy cập ngày 16/10/2018)
Trang 39http://www.ninhthuan.gov.vn/chinhquyen/sotp/Pages/NHUNG-DIEM-MOI-CUA-BO-LUAT-LAO-DONG-1.4 NHỮNG YÊU CẦU CẦN ĐẶT RA ĐỂ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN
1.4.1 Bảo đảm sự phát triển toàn diện của người lao động chưa thành niên
Hiện nay, nhu cầu tìm kiếm việc làm ngày càng cao, đồng thời độ tuổi lao động cũng được nới rộng hơn so với trước đây Bởi việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của con người để đảm bảo cuộc sống và sự phát triển toàn diện Quyền lao động
và đảm bảo việc làm của NLĐ đã được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hoà
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đã được cụ thể hoá trong BLLĐ Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan
hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội Đối với từng NLĐ thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của mỗi nguời
Chính vì thế mà Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm vấn đề lao động việc làm Nhất là đối với NLĐCTN, bởi đây là lực lượng lao động chiếm phần lớn lao động ở nước ta, ở giai đoạn này thể lực và trí lực của NCTN đang phát triển và chưa ổn định
dễ tiếp thu công việc nhanh, năng động sáng tạo trong lao động, song NLĐCTN còn thiếu kinh nghiệm sống và làm việc, trình độ nhận thức chưa toàn diện, thiếu sự kiên trì, dẻo dai, dễ bị tác động bởi môi trường xung quanh Vì vậy pháp luật quy định khá chặt chẽ để bảo vệ NLĐCTN Cụ thể tại Điều 163 BLLĐ năm 2012 đã quy định
“Không sử dụng lao động chưa thành niên làm những làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc chỗ làm việc ảnh hưởng xấu tới nhân cách của họ theo danh mục do Bộ LĐTBXH chủ trì phối hợp Bộ Y tế ban hành”, do cơ thể NCTN rất
nhạy cảm với các yếu tố nguy hiểm, độc hại, lại thiếu kinh nghiệm phòng trách các rũi
ro trong quá trình lao động nên rất nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển Vì vậy, pháp luật nghiêm cấm NSDLĐ để NLĐCTN làm những công việc liên quan đến sản xuất kinh doanh chất cồn, rượu, bia, thuốc lá hoặc các loại chất gây nghiện, vì NLĐCTN là người trẻ tuổi rất dễ sa ngã Tiếp đó, Điều 164 cũng quy định
về sử dụng lao động dưới 15 tuổi thì “NSDLĐ chỉ được sử dụng người từ đủ 13 tuổi
đến dưới 15 tuổi làm các công việc nhẹ”, vì lứa tuổi này quá thấp để tham gia lao động
xã hội, nếu độ tuổi này tham gia lao động thì chỉ tham gia các công việc nhẹ nhàng cơ bản trong trường hợp hoạt động nghệ thuật hay vì lý do hoàn cảnh gia đình phải làm
Trang 40gò bó, thiếu dưỡng khí (sản xuất, sử dụng hoặc vận chuyển hóa chất, khí gas, khí nổ); các công việc đòi hỏi sự rèn luyện sức khỏe, kỹ năng (bảo trì, bảo dưỡng thiết bị, máy móc, lặn biển, đánh bắt xa bờ); công việc gắn liền liên quan, có thể ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình hình thành nhân cách (sòng bạc, quán bar, vũ trường, phòng hát karaoke, khách sạn, nhà nghỉ, phòng tắm hơi, phòng xoa bóp); nơi làm việc gây tổn hại đến sức khỏe, gây bệnh tật nguy hiểm (bệnh truyền nhiễm, đột biến gen, gây hậu quả xấu về đạo đức,…) đều thuộc danh mục cấm sử dụng NCTN (Điều 165, BLLĐ năm 2012)
Để thể chế hóa các quy định trên, Thông tư số 10/2013/TT-BLĐTBXH của Bộ LĐTBXH ngày 10/6/2013 quy định danh mục các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động là NCTN Thông tư quy định cụ thể danh mục nơi làm việc ngoài những nơi làm việc được quy định tại Điều 163 và Điều165 BLLĐ năm 2012, cấm sử dụng lao động chưa thành niên tại các nơi, chỗ làm việc như: Tiếp xúc với các yếu tố môi trường không đạt quy chuẩn, tiêu chuẩn vệ sinh cho phép; Tiếp xúc với các loại hóa chất, tia phóng xạ, bức xạ bởi tia X và các tia có hại khác; Tiếp xúc các yếu tố gây bệnh truyền nhiễm; Thời gian làm việc trên 04 giờ/ngày trong không gian gò bó, chật hẹp, công việc phải quỳ gối, nằm, cúi khom; Trên giá cao hay trèo cao hơn 3m so với mặt sàn làm việc, địa hình đồi núi dốc trên 300 Với những quy định của Thông tư này
đã bảo vệ NLĐCTN khỏi sự bóc lột, lạm dụng, đảm bảo cho sự phát triển bình thường của NCTN trong điều kiện lao động Sau đó, Thông tư số 11/2013/TT-BLĐTBXH ngày 11/6/2013 của Bộ LĐTBXH ra đời quy định chi tiết tại những công việc được phép sử dụng NLĐ dưới 13 tuổi đến15 tuổi có thể làm chủ yếu liên quan đến các công việc thuộc về năng khiếu trong các lĩnh vực nghệ thuật và thể thao Như vậy, NSDLĐ cần chú ý đến việc sử dụng NLĐCTN để tránh trường hợp vi phạm các quy định pháp luật lao động đối với đối tượng lao động đặc biệt này
Việc bảo vệ NLĐCTN không chỉ được quy định trong BLLĐ mà còn được quy
định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể tại Điều 296 quy định “Người nào sử