Vấn đề cấp thiết đang được đặt ra là cần có những nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện về tiềm năng tự nhiên, thực trạng và nhu cầu sử dụng tài nguyên đất, từ đó xác lập một phương án
Trang 1BỘ GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-
NGUYỄN THỊ THỦY
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ ĐỊA LÝ HỌC TRONG KHAI THÁC SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI PHỤC VỤ QUY HOẠCH BỀN VỮNG THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT VÀ VÙNG PHỤ CẬN
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học 1: TS NCVCC Nguyễn Đình Kỳ Người hướng dẫn khoa học 2: GS.TSKH Hoàng Văn Huây
…… tháng …… năm 201……
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Đô thị hóa là xu hướng tất yếu trong lịch sử phát triển của xã hội Dân
số đô thị hiện đã đạt ngưỡng 50% tổng dân số thế giới với tốc độ đô thị hóa đang diễn ra rất nhanh, đặc biệt tại các nước đang phát triển Quy tụ đô thị
đã đem lại quy mô kinh tế lớn hơn cho các thành phố và vùng lãnh thổ, nhưng mặt trái của nó có thể dẫn tới những tác động tiêu cực về suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường Để giải quyết những thách thức trên, nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau trong công tác quy hoạch đô thị và vùng lãnh thổ đã được nghiên cứu và thực hiện
Nằm trên cao nguyên Lang Biang, có độ cao trung bình 1500m so với mực nước biển, thành phố Đà Lạt là đô thị loại 1 thuộc tỉnh Lâm Đồng Đây là một địa điểm nghỉ dưỡng và du lịch nổi tiếng của Việt Nam Tuy nhiên, trải qua hơn 120 năm hình thành và phát triển, cảnh quan Đà Lạt ngày nay đã có sự biến đổi to lớn Không gian thành phố không ngừng mở rộng về diện tích đất ở và đất sản xuất nông nghiệp làm thu hẹp diện tích đất rừng, mật độ xây dựng các công trình nhà ở và sản xuất nông nghiệp tăng cao, tập trung dày đặc trong khu vực trung tâm đã làm thay đổi cấu trúc cảnh quan và gây ô nhiễm môi trường của thành phố Có thể thấy, chính những thay đổi trong cơ cấu khai thác sử dụng quỹ đất là nguyên nhân trực tiếp khiến Đà Lạt đang có nguy cơ đánh mất “tỷ lệ không gian” trong cấu trúc cảnh quan và suy giảm toàn bộ hệ sinh thái Để khắc phục các tồn tại và phát triển thành phố Đà Lạt bền vững, một giải pháp tối ưu được hướng tới, đó là phát huy tiềm năng các vùng phụ cận có điều kiện khí hậu - thổ nhưỡng tương đồng Trên cơ sở đó, chính phủ đã phê duyệt
“Quy hoạch chung thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050” (tháng 05/2014) Theo quy hoạch, thành phố Đà Lạt sẽ trở thành thành phố trực thuộc trung ương, ranh giới được mở rộng ra các vùng phụ cận và có diện tích gấp 8,5 lần hiện nay Vấn đề cấp thiết đang được đặt ra là cần có những nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện về tiềm năng tự nhiên, thực trạng và nhu cầu sử dụng tài nguyên đất, từ đó xác lập một phương án quy hoạch và giải pháp sử dụng đất bền vững cho các không gian sử dụng đất của thành phố Đà Lạt mở rộng, vừa giải quyết được những mâu thuẫn trong khai thác sử dụng đất đai giữa các không gian, vừa đáp ứng được những định hướng phát triển của thành phố tương lai
Nghiên cứu địa lý tự nhiên tổng hợp là một hướng tiếp cận mang tính tổng hợp và đặc thù theo không gian, nghiên cứu toàn diện các hợp phần tự nhiên và kinh tế - xã trong mối quan hệ và tác động qua lại phức tạp trong một vùng lãnh thổ cụ thể Từ đó, đề ra được định hướng, giải pháp sử dụng tài nguyên và phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với các quy luật địa lý của lãnh thổ Đây là phương pháp nghiên cứu hiệu quả cho quy hoạch sử dụng
Trang 4hợp lý tài nguyên và bảo vệ thiên nhiên theo hướng phát triển bền vững cho bất kỳ lãnh thổ nào
Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết của thành phố Đà Lạt, với mong
muốn góp phần vào sự phát triển bền vững của thành phố, đề tài: “Nghiên cứu cơ sở địa lý học trong khai thác sử dụng đất đai phục vụ quy hoạch bền vững thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận - tỉnh Lâm Đồng” được lựa
chọn thực hiện
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Xác lập luận cứ khoa học cho quy hoạch và sử dụng đất bền vững thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận trên cơ sở nghiên cứu khai thác sử dụng đất đai theo tiếp cận địa lý học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các tài liệu liên quan, làm căn cứ xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp, quy trình nghiên cứu khai thác sử dụng đất đai theo tiếp cận địa lý học cho quy hoạch và sử dụng đất bền vững thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận;
- Phân tích đặc điểm các điều kiện phát sinh - thoái hóa đất và tài nguyên đất thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận;
- Xác định các nguyên nhân, quá trình thoái hóa đất và đánh giá thoái hóa đất tổng hợp thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận;
- Đánh giá, phân hạng đất đai thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận cho các loại sử dụng chính;
- Xác định hệ thống phân vị, chỉ tiêu và thành lập bản đồ phân vùng địa lý thổ nhưỡng thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận;
- Đề xuất định hướng không gian và giải pháp sử dụng đất bền vững thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận
4 Phạm vi, giới hạn nghiên cứu
- Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu: Thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận (bao gồm các huyện: Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà)
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố địa lý phát sinh - thoái hóa và tài nguyên đất
5 Luận điểm bảo vệ
- Luận điểm 1: Sự phân hóa đa dạng, phức tạp của lớp phủ thổ nhưỡng đã
phản ánh các quy luật địa lý đặc trưng và các quá trình phát sinh - phát triển
- thoái hóa đất tương ứng trên lãnh thổ thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận, thể hiện qua hệ thống các đơn vị đất và đơn vị phân vùng địa lý thổ nhưỡng với đặc điểm và tiềm năng đa dạng
- Luận điểm 2: Tích hợp các kết quả nghiên cứu đặc điểm và hướng sử
dụng - bảo vệ đất của từng tiểu vùng địa lý thổ nhưỡng với kết quả đánh giá phân hạng đất đai và đánh giá thoái hóa đất tổng hợp, tạo nên cơ sở khoa học đáng tin cậy cho việc đề xuất định hướng không gian và giải pháp sử dụng đất bền vững thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận
Trang 56 Điểm mới của luận án
- Làm rõ được đặc điểm và sự phân hóa không gian có tính quy luật của lớp phủ thổ nhưỡng lãnh thổ thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận, được minh chứng qua hệ thống các đơn vị phân vùng địa lý thổ nhưỡng thể hiện trên bản đồ ở tỷ lệ 1:100.000
- Đề xuất được định hướng không gian và giải pháp sử dụng đất bền vững thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận, trên cơ sở phân tích tổng hợp kết quả đánh giá phân hạng đất đai, đánh giá thoái hóa đất tổng hợp và phân vùng địa lý thổ nhưỡng
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Góp phần bổ sung cơ sở lý luận và phương pháp
nghiên cứu khai thác sử dụng đất đai theo tiếp cận địa lý học cho quy hoạch
và sử dụng đất bền vững các đô thị cao nguyên nhiệt đới Làm phong phú thêm hướng nghiên cứu của địa lý học ứng dụng trong quy hoạch sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cho phát triển bền vững lãnh thổ
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để địa phương
tham khảo cho tổ chức lãnh thổ, quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất theo hướng phát triển bền vững
8 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu khai thác sử
dụng đất đai theo tiếp cận địa lý học cho quy hoạch và sử dụng đất bền vững
Chương 2 Đặc điểm điều kiện địa lý phát sinh - thoái hóa đất và tài
Trang 6Độ phì là thuộc tính cơ bản của đất, được định nghĩa: “độ phì là khả
năng của đất cung cấp cho cây nước, các nguyên tố dinh dưỡng khoáng và các yếu tố cần thiết khác (không khí, nhiệt độ, ) để cho cây sinh trưởng và phát triển”
1.1.1.2 Đất đai:
Theo FAO (1976) đất đai bao gồm tất cả các yếu tố của môi trường tự
nhiên, những yếu tố này ảnh hưởng đến tiềm năng sử dụng đất, bao gồm khí hậu, địa hình, đất (soil), thủy văn, sinh vật và các kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại Do đó đất đai (land) là một khái niệm rộng hơn đất (soil)
1.1.1.3 Tài nguyên và môi trường đất
Tài nguyên đất: Được hiểu là toàn bộ lớp vỏ trái đất mà ở đó sinh vật và
con người có thể sinh sống được
Môi trường đất: Là một hệ sinh thái phức tạp, được hình thành qua các
quá trình vật lý, hóa học và sinh học
1.1.2 Đánh giá đất đai và thoái hóa đất
1.1.2.1 Đánh giá đất đai
Đánh giá đất đai (land evaluation) được định nghĩa là: “Đánh giá hiệu
quả đất đai khi được sử dụng cho một mục đích cụ thể, liên quan đến việc thực hiện các nghiên cứu về đất, khí hậu, thảm thực vật và các khía cạnh khác của đất đai để xác định và so sánh giữa yêu cầu của các loại sử dụng đất cụ thể với điều kiện đất đai cho mục tiêu đánh giá” (FAO, 1976, 2007) 1.1.2.2 Thoái hóa đất
Theo FAO (2002) đã định nghĩa: “Thoái hóa đất là sự suy giảm tạm
thời hoặc vĩnh viễn khả năng sản xuất của đất”
Trên quan điểm địa lý tự nhiên tổng hợp, Nguyễn Đình Kỳ (1987,
1990) đã cho rằng: “Trong giai đoạn phát sinh, phát triển, thoái hóa đất bị
chi phối bởi các quá trình tự nhiên vốn có gọi là thoái hóa tiềm năng Thoái hóa từng yếu tố tính chất đất hoặc thoái hóa toàn diện trong mỗi thời điểm khai thác sử dụng đất được coi là thoái hóa hiện tại”
1.1.3 Sử dụng đất bền vững, quy hoạch sử dụng đất và tổ chức không gian
1.1.3.1 Sử dụng đất bền vững
Sử dụng đất bền vững là một hình thức sử dụng đất đai giúp duy trì độ phì tự nhiên của đất và cho phép sản xuất hiệu quả cũng như tái tạo tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở lâu dài
FAO (1993) đã xây dựng định nghĩa về tính bền vững cụ thể trong
nông nghiệp: “Sử dụng đất nông nghiệp bền vững là loại sử dụng đất có
thể sản xuất đủ đáp ứng các nhu cầu cho các cư dân hiện tại và tương lai trong khi vẫn giữ gìn và nâng cao được tài nguyên đất đảm bảo sản xuất”
Trang 71.1.3.2 Quy hoạch sử dụng đất
FAO/UNEP (1999) đã đưa ra định nghĩa: “Quy hoạch sử dụng đất là
đánh giá có hệ thống tiềm năng đất và nước, các phương án sử dụng đất và điều kiện kinh tế - xã hội để lựa chọn và áp dụng các phương án sử dụng đất tốt nhất” Nói cách khác, quy hoạch sử dụng đất chính là chìa khóa để
phát triển bền vững một lãnh thổ
1.1.3.3 Tổ chức không gian
Khái niệm tổ chức không gian (spatial organization) hay tổ chức lãnh
thổ (territorial organization) được thống nhất là: Sự sắp xếp và phối hợp các
đối tượng trong mối liên hệ đa ngành, đa lĩnh vực trong một khu vực cụ thể nhằm sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lý kinh tế - xã hội và cơ sở vật chất kỹ thuật đã và sẽ tạo dựng để đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao và nâng cao mức sống dân cư của vùng đó Tổ chức
không gian/lãnh thổ đưa ra các chiến lược phát triển tổng hợp và đặc trưng cho từng vùng nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững lãnh thổ
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về đánh giá, phân hạng đất đai và thoái hóa đất
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về đánh giá, phân hạng đất đai
1.2.1.1 Trên thế giới
Phân loại khả năng đất có tưới (1951) và Phân loại đất đai dựa vào tiềm năng (1961) là hai hệ thống đánh giá được xây dựng riêng cho điều kiện nước Mỹ dựa vào những hạn chế của đất đai gây trở ngại đến sử dụng đất; Đánh giá và phân hạng đất đai theo quan điểm phát sinh của V.V Docuchaev ở Nga và Đông Âu (1960) bằng cách cho điểm các yếu tố phát sinh và tính chất đất dựa trên cơ sở thang điểm chuẩn đã thống nhất
Nhằm thống nhất các tiêu chuẩn đánh giá đất đai trên toàn thế giới, FAO
(1976) đã xây dựng “Khung đánh giá đất đai” Thực chất, đây là một tập
hợp các nguyên tắc và phương pháp, trên cơ sở đó các hệ thống đánh giá đất đai của bất kỳ quốc gia nào và ở bất kỳ tỷ lệ nào đều có thể được xây dựng FAO cũng cung cấp các hướng dẫn cụ thể về ứng dụng chi tiết của “khung
đánh giá” cho một số chuyên ngành cụ thể như: Đánh giá đất đai cho nông
nghiệp nhờ mưa (1983), đánh giá đất đai cho lâm nghiệp (1984), đánh giá đất đai cho nông nghiệp có tưới (1985), đánh giá đất đai cho đồng cỏ quảng canh (1991) Đồng thời, cùng với sự phát triển của công nghệ và việc áp
dụng vào quy trình đánh giá đất đai đã góp phần định lượng hóa, chính xác hóa các kết quả nghiên cứu Các nghiên cứu về đánh giá đất đai dựa trên cơ
sở khung hướng dẫn của FAO và ứng dụng GIS đã trở nên phổ biến trên thế giới, chủ yếu theo các hướng sau: Ứng dụng GIS và các tiện ích sẵn có của GIS; tích hợp GIS và các công cụ nâng cao (RS, GPS, ); tích hợp GIS và các phần mềm đánh giá đất tự động (ALES)
Ngoài ra, FAO cũng đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể về quy trình đánh giá đất đai trong lập quy hạch sử dụng đất cho phát triển bền vững,
Trang 8như: đánh giá đất đai cho sự phát triển (1986), hướng dẫn quy hoạch sử
dụng đất (1993), khung đánh giá đất đai phục vụ quản lý đất bền vững (FESLM, 1993), lập quy hoạch cho sử dụng bền vững tài nguyên đất (1995)
và hai hướng dẫn mới nhất về lập quy hoạch tổng hợp cho quản lý bền vững tài nguyên đất (1999) và đánh giá đất đai – hướng tới khung sửa đổi (2007) Các hướng dẫn này đã đề nghị xem xét các yếu tố liên quan đến
tính bền vững (phù hợp về tự nhiên, hiệu quả kinh tế cao, được xã hội chấp nhận và không gây tác động xấu đến môi trường) trong quy trình đánh giá đất đai, bằng phương pháp phân tích quyết định đa tiêu chí (MCDA)
1.2.1.2 Ở Việt Nam
Từ cuối những năm 1980, công tác nghiên cứu đánh giá đất đai theo FAO đã được triển khai sâu rộng ở các địa phương trên toàn quốc Đánh giá đất đai trở thành quy định bắt buộc trong lập quy hoạch sử dụng đất Các công trình được thực hiện từ các vùng sinh thái lớn đến cấp tỉnh, huyện và các khu vực nghiên cứu cụ thể, tiêu biểu có thể kể đến: Ở cấp vùng có các nghiên cứu
của Vũ Cao Thái (1988), Trần An Phong (1992), Nguyễn Văn Toàn (2005),
Vũ Năng Dũng (2015), ; Ở cấp chi tiết có các nghiên cứu của Nguyễn Khang (2001), Trần An Phong (2002, 2004), Lưu Thế Anh (2003),
Đồng thời, cùng với sự phát triển công nghệ của thế giới, hiện nay các nghiên cứu về đánh giá đất đai ở nước ta đều ứng dụng GIS, ngoài ra còn kết hợp với với RS, GPS và các phần mềm đánh giá đất tự động, phân tích quyết định đa chỉ tiêu Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến của: Trần
An Phong (2001), Nhữ Thị Xuân (2006), Lê Cảnh Định (2011), Vũ Năng Dũng (2014), Nguyễn Thanh Tuấn (2015),
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về đánh giá thoái hóa đất
1.2.2.1 Trên thế giới
Nghiên cứu thoái hóa đất dần được mở ra như một hướng nghiên cứu trong khoa học đất phục vụ đắc lực cho công tác quy hoạch và sử dụng đất bền
vững Từ năm 1987-1990, dự án “Đánh giá thoái hóa đất toàn cầu
(GLASOD)” được UNEP và ISRIC triển khai nhằm xây dựng bản đồ thực
trạng thoái hóa đất toàn cầu ở tỷ lệ 1:10.000.000
Ngoài những nghiên cứu mang tính chất quy mô toàn cầu, thoái hóa đất còn được nghiên cứu chi tiết cho các khu vực, quốc gia và vùng lãnh thổ,
có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau: Dự án đánh giá thực trạng
thoái hóa đất vùng Nam và Đông Nam Á (ASSOD) (FAO và ISRIC,
1994-1997); Dự án đánh giá thoái hóa đất vùng Trung và Đông Âu (SOVEUR) (FAO và ISRIC, 1997-2000); Dự án đánh giá thoái hóa đất các vùng khô
hạn (LADA) ở 6 nước: Argentina, Trung Quốc, Cuba, Senegal, Nam Phi và Tunisia (FAO và GEF, 2002-2008); Đánh giá thoái hóa đất ở Togo (ORSTOM, 1991 – 1994); Nghiên cứu thoái hóa đất ở Ấn Độ (NBSS, 1992); Lập bản đồ thoái hóa đất thế giới (Gibbs H.K., và cs, 2015)
1.2.2.2 Ở Việt Nam
Trang 9Các công trình nghiên cứu thoái hóa đất ở nước ta được bắt đầu từ cuối những năm 1960 và dần trở thành một nhánh nghiên cứu của khoa học đất, tập trung vào các hướng sau:
Các công trình nghiên cứu thoái hóa đất theo các loại thoái hóa: tiêu biểu
là các công trình nghiên cứu xói mòn đất của Nguyên Quang Mỹ (1980, 2005), Nguyễn Trọng Hà (1996), ; Các nghiên cứu thoái hóa đất ứng dụng
hệ thống ASSOD của Võ Quang Minh (2003), Nguyễn Xuân Thành (2009), Trung tâm Điều tra Đánh giá Tài nguyên đất - Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009-2012)
Các công trình nghiên cứu thoái hóa đất theo quan điểm địa lý tự nhiên tổng hợp của Nguyễn Đình Kỳ và cộng sự (1987, 1990, 1998, 2007, 2012, 2015);
Các công trình nghiên cứu thoái hóa đất và các biện pháp cải tạo, phục hồi của Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên (1998, 1999, 2002);
Ngoài ra, các công trình áp dụng các phương pháp đánh giá thoái hóa đất khác cho các vùng lãnh thổ phù hợp cũng đã được thực hiện, như các công trình của Nguyễn Quang Việt (2014); Nguyễn Thị Thủy (2016)
1.2.3 Các công trình nghiên cứu tại thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận
1.2.3.1 Các nghiên cứu về đánh giá, phân hạng đất đai
Từ năm 1995 – 2010, Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã tiến hành
chương trình “Đánh giá đất nông nghiệp tại Lâm Đồng”, do Viện Thổ
nhưỡng Nông hóa phía Nam thực hiện Dựa trên hướng dẫn của FAO (1976), đánh giá đất sản xuất nông nghiệp cho các xã ở bản đồ tỷ lệ 1:10.000, huyện/thành phố ở tỷ lệ 1:25.000 nhằm đánh giá chất lượng đất,
đề xuất sử dụng đất và các biện pháp thâm canh cây trồng Từ năm 2009 –
2012, Trung tâm Điều tra Đánh giá tài nguyên đất – Tổng Cục Quản lý Đất
đai thực hiện đánh giá đất đai cho sản xuất nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng ở
tỷ lệ 1:100.000 Từ năm 2011-2015, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông
nghiệp đã thực hiện đánh giá đất đai và đề xuất các giải pháp phát triển
bền vững cây công nghiệp và cây lương thực ở Lâm Đồng ở tỷ lệ 1:100.000
Ngoài ra, còn có các nghiên cứu đánh giá đất đai chi tiết ở các huyện, như của Lê Cảnh Định, Phạm Quang Khánh, (2005); Võ Thị Phương Thủy,
Lê Cảnh Định (2011);
1.2.3.2 Các nghiên cứu về thoái hóa đất
Năm 1998, trong chương trình hợp tác giữa Viện Địa lý và Viện
Nghiên cứu Phát triển Pháp (IRD), tác giả Brabant P đã thành lập “Bản đồ
thoái hóa đất tỉnh Lâm Đồng tỉ lệ 1:100.000” trên cơ sở giải đoán ảnh vệ
tinh các thời kỳ từ năm 1992-1998, kết hợp với các ảnh máy bay toàn sắc
và các kết quả khảo sát thực địa Năm 2009 – 2012, Trung tâm Điều tra
Đánh giá tài nguyên đất – Tổng Cục Quản lý Đất đai thực hiện đánh giá
thực trạng thoái hóa đất tỉnh Lâm Đồng tỷ lệ 1:100.000 trên cơ sở ứng
Trang 10dụng hệ thống đánh giá thoái hóa đất ASSOD Năm 2011 – 2015, Lưu Thế
Anh, Nguyễn Đình Kỳ và cộng sự đã thành lập các bản đồ thoái hóa đất
tiềm năng, thoái hóa đất hiện tại và thoái hóa đất tổng hợp tỉnh Lâm Đồng
tỷ lệ 1:100.000 trên quan điểm địa lý tự nhiên tổng hợp
1.3 Cơ sở lý luận về nghiên cứu khai thác sử dụng đất đai theo tiếp cận địa lý học cho quy hoạch và sử dụng đất bền vững
1.3.1 Bản chất tiếp cận địa lý học trong nghiên cứu sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Địa lý học là một hệ thống khoa học hoàn chỉnh, nghiên cứu thế giới tự nhiên trên bề mặt trái đất, điều kiện phát triển và đặc điểm phân bố sản xuất, sự tác động lẫn nhau giữa xã hội con người và môi trường địa lý (Lê
Bá Thảo, 1987) Đối tượng nghiên cứu của khoa học địa lý là các các địa tổng thể hay còn gọi là các tổng thể địa lý, trong đó lớp vỏ địa lý là địa tổng thể ở quy mô hành tinh Chính mối phụ thuộc và tác động qua lại giữa các hợp phần địa lý tạo nên sự phân hóa bên trong của lớp vỏ địa lý, hình thành các tổng thể địa lý ở quy mô khác nhau
Để có cơ sở cho việc lựa chọn lãnh thổ thích hợp nhất đối với các mục tiêu sử dụng khác nhau cần thiết phải đánh giá tổng hợp các tổng thể địa lý
tự nhiên theo các khía cạnh thích nghi sinh thái, hiệu quả kinh tế, bền vững môi trường và bền vững xã hội
Như vậy, cơ sở địa lý học trong phạm vi của luận án có thể hiểu một cách đơn giản là kết quả nghiên cứu theo hướng tiếp cận đánh giá tổng hợp các tổng thể địa lý tự nhiên được thành tạo cho các mục đích sử dụng khác nhau, làm cơ sở đề xuất định hướng quy hoạch sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cho phát triển bền vững lãnh thổ
1.3.2 Nghiên cứu khai thác sử dụng đất đai theo tiếp cận địa lý học cho quy hoạch và sử dụng đất bền vững
Đất là hàm số của tất cả các yếu tố địa lý khác, là sự biểu hiện rõ rệt nhất của tổng thể địa lý Theo đó, lớp phủ thổ nhưỡng như một địa hệ bất
kỳ có cấu trúc từ đơn giản nhất (đơn vị đất) đến phức tạp nhất (lớp phủ thổ nhưỡng) Trong đánh giá đất đai, các đơn vị đất đai được hiểu là những khoanh vi đất có những thuộc tính (tự nhiên và kinh tế - xã hội) tương đối đồng nhất mà nhờ đó có thể phân biệt được ranh giới giữa nó và các khoanh vi đất khác Như vậy, theo tiếp cận địa lý, các đơn vị đất đai cũng chính là các tổng thể địa lý (không đầy đủ) và là một đơn vị cấu trúc của lớp phủ thổ nhưỡng
Theo đó, nghiên cứu đánh giá tổng hợp các đơn vị đất đai nhằm xác định hướng khai thác sử dụng bền vững cho các mục đích cụ thể của lãnh thổ chính là cách tiếp cận địa lý học trong nghiên cứu khai thác sử dụng đất đai phục vụ quy hoạch và sử dụng đất bền vững Hay nói cách khác, chính là nghiên cứu bố trí các loại sử dụng đất trên các đơn vị đất đai một cách bền vững, vừa phù hợp với các quy luật địa lý phát sinh, phát triển của lớp phủ
Trang 11thổ nhưỡng, vừa phát huy tối đa tiềm năng đất đai tự nhiên, đem lại hiệu quả kinh tế cao và hạn chế đến mức thấp nhất những tác động xấu đến tài nguyên môi trường đất
Như vậy, việc tích hợp kết quả đánh giá phân hạng đất đai và thoái hóa đất tổng hợp với phân vùng địa lý thổ nhưỡng, sẽ thể hiện hiệu quả hơn các kết quả đánh giá tổng hợp đất đai trong mối liên hệ chặt chẽ giữa các tiểu vùng địa lý thổ nhưỡng Mục đích của quá trình này là đưa ra được định hướng không gian sử dụng đất và phát triển các vùng lãnh thổ bền vững, làm cơ sở khoa học trong quy hoạch và sử dụng đất của lãnh thổ theo hướng phát triển bền vững
1.3.2.1 Bản đồ đơn vị đất đai
Bản đồ đơn vị đất đai (Land mapping units) là bản đồ cơ sở trong đánh giá, phản ánh một cách đầy đủ, khách quan các tính chất đất đai trong mối quan hệ và tác động tương hỗ với các yếu tố địa lý tự nhiên phát sinh – thoái hóa đất Phương pháp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là chồng ghép nhiều loại bản đồ đơn tính (Factor Map) thể hiện các tính chất đất đai như: bản đồ đất, độ dốc địa hình, bản đồ đường đẳng trị mưa, nhiệt độ, khả năng tưới,… Kết quả xây dựng được các ĐVĐĐ có sự đồng nhất tương đối về tất
cả các chỉ tiêu, được thể hiện trên bản đồ là những vùng đất với những đặc tính đủ để tạo nên sự khác biệt với các ĐVĐĐ khác
1.3.2.2 Đánh giá, phân hạng đất đai
Đánh giá, phân hạng đất đai thực chất là quá trình so sánh, đối chiếu
những tính chất vốn có của đơn vị đất đai với những tính chất đất đai mà loại sử dụng đất yêu cầu phải có, để phân hạng mức độ thích hợp tự nhiên của đơn vị đất đai với loại sử dụng đất đó Mức độ thích hợp chính là số đo chất lượng của một đơn vị đất đai đảm bảo tốt đến mức nào nhu cầu của loại sử dụng đất được đánh giá Việc đánh giá và phân hạng đất đai được xác định theo các nguyên tắc, tiêu chuẩn và mức độ phổ biến sau (FAO,
1976, 1983, 1984, 1985): Nguyên tắc đánh giá: (1) Điều kiện hạn chế, (2) Yếu tố trội; Mức độ thích hợp: (1) Rất thích hợp (S1), (2) Thích hợp trung
bình (S2), (3) Ít thích hợp (S3), (4) Không thích hợp (N)
1.3.2.3 Đánh giá thoái hóa đất tổng hợp
Bản chất của thoái hoá đất là các quá trình thay đổi các tính chất của đất dẫn đến giảm hoặc mất khả năng sản xuất Các nguyên nhân gây thoái hóa rất đa dạng, phức tạp và gắn liền với điều kiện phát sinh đất, có nơi chủ yếu do tự nhiên có nơi chủ yếu do con người, theo đó chia ra các dạng khác
nhau theo tác nhân thoái hóa (Nguyễn Đình Kỳ, 1987, 1990): (1) Thoái hóa
đất tiềm năng là khả năng suy giảm độ phì tự nhiên của đất do các quá trình
tự nhiên Được đánh giá bởi thế năng gây thoái hóa đất của các điều kiện địa lý phát sinh đất (gồm: đá mẹ/tuổi của đá mẹ, vỏ phong hóa, các điều kiện địa hình và khí hậu, thủy văn mang tính chất địa phương) với giả thiết
không có lớp phủ thực vật và tác động của con người; (2) Thoái hóa đất hiện
Trang 12tại là sự suy giảm độ phì hiện tại của đất so với độ phì tự nhiên do quá trình khai
thác, sử dụng của con người Được đánh giá bởi thực trạng suy giảm các tính
chất lý hóa và sinh học đất dẫn đến giảm khả năng sản xuất của đất; (3) Thoái
hóa đất tổng hợp là kết quả dự báo mức độ thoái hóa đất khi được sử dụng
cho các mục đích cụ thể Được đánh giá bởi sự biến động mức độ thoái hóa đất hiện tại trên nền thoái hóa đất tiềm năng theo không gian
1.3.2.4 Phân vùng địa lý thổ nhưỡng
- Hệ thống phân vị được kế thừa trong luận án:
Nghiên cứu phân vùng địa lý tự nhiên nói chung chưa có một hệ thống phân vị chung, mỗi nước, thậm chí mỗi tác giả đều dựa vào kinh nghiệm của mình để đưa ra một hệ thống phân vị, nhằm đóng góp một phần vào quá trình tiến tới hệ thống phân vị chung đó
Theo Vũ Tự Lập (2011), mỗi đơn vị đất phát sinh đều mang dấu ấn của các quy luật địa lý tự nhiên cơ bản là quy luật địa đới và quy luật phi địa đới Sự phân bố của từng đơn vị đất và những kết hợp không gian của chúng, những cấu trúc của lớp phủ thổ nhưỡng trên vùng lãnh thổ tất yếu cũng phải tuân theo các quy luật đó Vì vậy, khi xác định hệ thống các đơn
vị phân vùng ĐLTN cho bất kỳ lãnh thổ tự nhiên nào đều phải phân tích một cách chi tiết và cụ thể sự diễn biến của các quy luật này
Ở Việt Nam, hệ thống phân vị áp dụng cho quy mô lãnh thổ Việt Nam (tỷ lệ 1:1.000.000) do Hội Khoa học đất Việt Nam xây dựng, gồm 4 cấp: Miền - Á miền - Khu - Vùng (Tôn Thất Chiểu, 1996) Các nghiên cứu phân vùng địa lý thổ nhưỡng sau này chủ yếu được phát triển dựa trên kế thừa hệ thống phân vị và dấu hiệu phân vùng nêu trên cho các lãnh thổ khác nhau
Số lượng các đơn vị phân vùng có thể nhiều hay ít tùy thuộc vào quy mô và tính phức tạp của lãnh thổ nghiên cứu Với các lãnh thổ nghiên cứu không lớn có thể phân chia lãnh thổ thành các đơn vị tiểu vùng
- Nguyên tắc phân vùng địa lý thổ nhưỡng:
Bao gồm phát sinh, tổng hợp và nhân tố trội, đồng nhất tương đối,
cùng chung lãnh thổ
1.3.3 Luận cứ khoa học đánh giá tổng hợp đất đai cho quy hoạch và sử dụng đất bền vững thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận
1.3.3.1 Cơ sở xác định ranh giới, phạm vi nghiên cứu: Dựa trên (1) lịch sử
phát triển thành phố Đà Lạt qua các thời kỳ; (2) Quy hoạch mở rộng thành phố Đà Lạt đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050; (3) Những đặc thù
của điều kiện tự nhiên
1.3.3.2 Một số nét đặc thù trong khai thác sử dụng đất đai thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận
Thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận mang nét đặc trưng cơ bản của khu vực đô thị cao nguyên miền núi, do đó đặc điểm khai thác sử dụng đất đai trên lãnh thổ cũng thể hiện rõ các đặc trưng này, như:
Trang 13- Sự phân hóa lớp phủ thổ nhưỡng đa dạng và phức tạp do chịu sự chi phối của các quy luật phân hóa phi địa đới, nhất là quy luật phân hóa theo đai cao và theo kiến tạo - địa mạo, thể hiện qua hệ thống các loại đất feralit trên các loại đá mẹ và đai cao khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực nghiên cứu phát triển đa dạng các loại cây trồng nông lâm nghiệp và hình thành các vùng chuyên canh cây hàng năm và lâu năm lớn trên các cao nguyên
- Diện tích tự nhiên của lãnh thổ chủ yếu là đất lâm nghiệp và đất sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, thực tế hiện nay thảm phủ rừng ở các khu vực núi đã bị suy giảm mạnh, mà nguyên nhân chủ yếu là do phá rừng để mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp Đây cũng là mâu thuẫn chính trong khai thác sử dụng đất đai ở lãnh thổ nghiên cứu Vì vậy, việc xác định không gian thích hợp, bố trí các loại hình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp một cách khoa học, không những giải quyết được mâu thuẫn trong khai thác sử dụng đất đai giữa các không gian lãnh thổ, đáp ứng được mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực, phát triển kinh tế (cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu) mà còn bảo vệ được tài nguyên đất, nước, rừng, bảo vệ môi trường tự nhiên cho phát triển bền vững lãnh thổ
- Do đặc điểm địa hình cao nguyên và núi với độ dốc lớn nên các quá trình thoái hóa đất tiềm năng (xói mòn, rửa trôi, sạt lở, trượt lở, ) rất mạnh, các khu vực mất đi độ che phủ rừng hoặc sản xuất nông nghiệp thiếu các biện pháp bảo vệ đất đã dẫn đến thoái hóa đất nghiêm trọng
- Là khu vực có các loại sử dụng đất phi nông nghiệp đa dạng và ngày càng tăng Do đó, trong định hướng không gian phát triển bền vững các vùng lãnh thổ, cần xem xét cơ cấu và đặc điểm các loại sử dụng đất phi nông nghiệp cụ thể trong từng vùng lãnh thổ đó
1.3.3.3 Đánh giá tổng hợp đất đai cho định hướng không gian và giải pháp
sử dụng đất bền vững thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận
Theo hướng tiếp cận địa lý học, đánh giá tổng hợp đất đai trên cơ sở tích hợp kết quả đánh giá phân hạng đất đai và đánh giá thoái hóa đất tổng hợp theo phân vùng địa lý thổ nhưỡng sẽ xác định được loại sử dụng đất bền vững cho các đơn vị đất đai trên lãnh thổ, từ đó đưa ra định hướng không gian và giải pháp sử dụng đất phù hợp làm cơ sở khoa học cho quy hoạch và sử dụng đất bền vững thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận
Từ các đặc thù trong khai thác sử dụng đất đai ở lãnh thổ nghiên cứu, với diện tích đất đai tự nhiên cũng như những mâu thuẫn và xung đột trong
cơ cấu sử dụng đất đai của lãnh thổ chủ yếu thuộc về không gian sản xuất nông nghiệp và không gian lâm nghiệp, luận án tập trung nghiên cứu, đề xuất định hướng và giải pháp sử dụng đất bền vững cho hai không gian này Đồng thời, phân tích kết quả định hướng sử dụng đất cho các không gian sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp - đô thị theo từng tiểu vùng địa lý thổ nhưỡng nhằm đề xuất định hướng không gian phát triển ưu tiên cho
Trang 14từng vùng lãnh thổ, hướng tới mục tiêu tổ chức không gian bền vững thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận
1.4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Quan điểm nghiên cứu: Sử dụng các quan điểm nghiên cứu đặc thù
của địa lý tự nhiên tổng hợp gồm quan điểm phát sinh học đất, quan điểm sinh thái học, quan điểm lịch sử, quan điểm hệ thống, quan điểm tổng hợp, quan điểm phát triển bền vững
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp kế thừa và tổng hợp;
Phương pháp khảo sát, điều tra; Phương pháp phân tích đặc tính lý hóa đất trong phòng thí nghiệm; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất; Phương pháp bản đồ và GIS; Phương pháp đánh giá, phân hạng đất đai; Phương pháp đánh giá thoái hóa đất; Phương pháp phân vùng địa lý thổ nhưỡng
1.5 Quy trình nghiên cứu
Hình 1.5 Sơ đồ các bước nghiên cứu
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN PHÁT SINH - THOÁI HÓA ĐẤT
VÀ TÀI NGUYÊN ĐẤT THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT VÀ VÙNG PHỤ CẬN
2.1 Các điều kiện phát sinh – thoái hóa đất
2.1.1 Vị trí địa lý
Khu vực nghiên cứu nằm về phía Bắc của tỉnh Lâm Đồng, bao gồm