Trong lời giới thiệu Tô Hoài về tác gia tác phẩm, Hà Minh Đức đã nhận xét: “Dõi theo cuộc đời sáng tác của ông gần nửa thế kỉ, người đọc thấy ở ông một ngòi bút tươi mới không bị cũ đi
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
VŨ THÙY LINH
YẾU TỐ TỰ TRUYỆN TRONG VĂN XUÔI TÔ HOÀI
SAU NĂM 1986
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thái Nguyên – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN DIỆU LINH
Thái Nguyên - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS Nguyễn Diệu Linh Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn này là trung thực Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày tháng 6 năm 2019
Người viết cam đoan
Vũ Thùy Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp cuối khóa, em đã
nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện và giúp đỡ tận tình của các thầy cô giảng
viên, các nhà nghiên cứu khoa học, Ban lãnh đạo khoa Báo chí – Truyền thông và
Văn học, Phòng Sau Đại học, Ban Giám hiệu trường Đại học Khoa học - Đại học
Thái Nguyên
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Diệu Linh đã
tận tình hướng dẫn em trong việc nghiên cứu, tìm hiểu và hoàn thành đề tài luận
văn này
Em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, Ban Giám hiệu
trường Trung học phổ thông Gang Thép tỉnh Thái Nguyên đã nhiệt tình ủng hộ,
chia sẻ khó khăn, khích lệ, động viên tinh thần trong suốt thời gian học tập và hoàn
thành luận văn
Em xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Vũ Thùy Linh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Cấu trúc của luận văn 10
NỘI DUNG 11
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 11
1.1 Một số khái niệm cơ bản 11
1.1.1 Yếu tố tự truyện 11
1.1.2 Thể loại hồi ký 14
1.2 Yếu tố tự truyện trong văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại 18
1.2.1 Yếu tố tự truyện trong văn học giai đoạn trước 1975 18
1.2.2 Sự nở rộ của yếu tố tự truyện trong văn học đương đại 21
1.3 Quan niệm nghệ thuật của Tô Hoài về con người và văn chương 26
Tiểu kết chương 1 30
Chương 2: HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ SỰ THỂ HIỆN CÁI TÔI TRONG VĂN XUÔI TÔ HOÀI SAU 1986 31
2.1 Sự tái hiện cuộc sống qua hồi ức 31
2.1.1 Bức tranh cuộc sống trong chiến tranh 31
2.1.2 Hiện thực cuộc sống trong hòa bình 36
2.1.3 Dấu ấn phong tục tập quán trong quá khứ 39
Trang 62.2 Sự tái hiện các nhân vật qua hồi ức 47
2.2.1 Chân dung các nhân vật đời thường 47
2.2.2 Chân dung các văn nghệ sĩ 51
2.3 Sự thể hiện cái tôi 62
2.3.1 Cái “tôi” sâu sắc, giàu cảm xúc 62
2.3.2 Cái “tôi” tài hoa và khéo léo 66
Tiểu kết chương 2 69
Chương 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN YẾU TỐ TỰ TRUYỆN 70
3.1 Điểm nhìn trần thuật 70
3.1.1 Trần thuật theo dòng hồi ức 70
3.1.2 Trần thuật theo các sự kiện 74
3.2 Ngôn ngữ tự truyện mang đậm chất đời thường 79
3.2.1 Ngôn ngữ tự nhiên, dung dị, mang đậm tính khẩu ngữ 79
3.2.2 Sự kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ kể, tả, bình luận 83
3.3 Giọng điệu 86
3.3.1 Giọng điệu dí dỏm, hài hước thông minh 86
3.3.2 Giọng điệu triết lý xót xa 91
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tô Hoài là nhà văn luôn hăng say sáng tạo nghệ thuật với tinh thần lao động sáng tạo không ngừng nghỉ Ông viết nhiều thể loại từ truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện thiếu nhi đến kịch bản phim với đề tài từ miền xuôi đến đề tài miền núi…Tất cả đem đến cho người đọc một luồng không khí mới Trong lời giới
thiệu Tô Hoài về tác gia tác phẩm, Hà Minh Đức đã nhận xét: “Dõi theo cuộc đời
sáng tác của ông gần nửa thế kỉ, người đọc thấy ở ông một ngòi bút tươi mới không bị cũ đi với thời gian, không tự giới hạn mình trong một khuôn khổ hay phạm vi hiện thực nào, không tự thu lại mình trong một giọng điệu văn chương nào Trước Cách mạng, giọng văn ông vừa da diết với cuộc đời chung vừa nhẹ nhàng, châm biếm những cảnh đời ngang trái, đau khổ Sau Cách mạng tháng Tám, ngòi bút Tô Hoài lại xông xáo vào những miền đất mới, chan hòa với cuộc đời mới Tiếp nhận cái đa dạng và sinh động của cuộc đời, văn chương Tô Hoài
có sức vươn tỏa mới” [11, tr 130]
1.2 Văn học Việt Nam từ sau năm 1986 đã có những thay đổi đáng kể trong quan niệm về hiện thực, con người và quan niệm của nhà văn trong mối quan hệ với tác phẩm, công chúng và với chính mình Đây là cơ sở để yếu tố tự truyện trong văn xuôi Việt Nam đương đại phát triển mạnh mẽ hơn so với văn học giai đoạn 1945 - 1975 Văn học sau năm 1986 lấy chất liệu từ cuộc đời riêng tư của tác giả và các nhân vật xung quanh cuộc đời tác giả…nhằm bộc lộ cái tôi cá nhân
rõ nét Yếu tố tự truyện trong văn xuôi giúp bạn đọc không chỉ hiểu về con người tác giả, thời đại, một xã hội mới hiện ra rõ nét và sinh động qua tiểu sử cuộc đời thật mà còn qua những trải nghiệm sống, sự tự thú chân thành Nếu như mục đích của nhật ký là viết cho riêng mình, nó mang tính riêng tư và hướng nội thì hồi ký
và tự truyện lại có tính chất hướng ngoại để giãi bày bộc bạch với người khác
1.3 Một trong những đề tài làm nên dấu ấn của Tô Hoài trong dòng văn học Việt Nam hiện đại là mảng hồi ký mang yếu tố tự truyện, đánh dấu sự thành
Trang 8công và bước chuyển mình của nhà văn vì đã có lần ông từng nói: “Tôi cho viết
hồi ký là khó khăn hơn cả sáng tác Bởi đó là cuộc đấu tranh tư tưởng để viết ra
Nó chân thành hay dối trá, nó thanh minh hay báo cáo, khoe khoang Làm thế nào cho khách quan nhất mà lại tình cảm nhất với dụng ý về chủ đề thật rõ ràng Đây là một cuộc mổ xẻ toàn diện, không phải nhẹ nhàng và chỉ có hứng thú [11,
tr 131] Ở mảng truyện này ta bắt gặp một Tô Hoài vừa dung dị vừa hóm hỉnh
vừa đời thường nhưng vô cùng sâu cay Qua giọng văn của ông người đọc lại gần
hơn với những “nhân vật lớn” của nền văn học nước nhà để thấy được phần nào
con người thật của họ Với tư cách là một chứng nhân, Tô Hoài giúp ta hiểu rõ hơn về cuộc sống của những con người gần gũi bên ông, về một Hà Nội thời thuộc Tây - một quá khứ mà khiến nhiều người còn lạ lẫm, bỡ ngỡ Yếu tố tự truyện đã làm nên thành công của Tô Hoài ở những sáng tác sau 1986, đồng thời góp phần tạo nên một gương mặt mới, lạ mà quen với bạn đọc
Xuất phát từ những lý do trên, với mong muốn có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về những đóng góp của Tô Hoài đối với nền văn học hiện đại nước nhà đặc biệt là mảng sáng tác mang tính chất tự truyện sau 1986 chúng tôi lựa chọn
đề tài Yếu tố tự truyện trong văn xuôi Tô Hoài sau năm 1986
2 Lịch sử vấn đề
Người đầu tiên tìm hiểu về văn chương Tô Hoài là nhà nghiên cứu phê bình
Vũ Ngọc Phan Trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại khi giới thiệu về Tô Hoài,
ông đã có cái nhìn đầy đủ chính xác và khách quan về phong cách viết văn xuôi
của Tô Hoài, Vũ Ngọc Phan cho rằng “Tô Hoài là nhà văn có biệt tài viết về
những cảnh nghèo nàn của dân quê” [57, tr.17]…Ông cũng sớm phát hiện chất
giọng “trào lộng và khinh bạc của Tô Hoài” [57, tr 17] Đồng quan điểm với Vũ Ngọc Phan, Hà Minh Đức cũng cho rằng: “Tô Hoài có một năng lực phát hiện và
nắm bắt nhanh chóng thế giới khách quan để tìm hiểu, chọn lựa một hướng tiếp cận hiện thực tiến bộ, cách mạng Ông không lí tưởng hóa cuộc sống nhưng cảm nhận cuộc sống có tính lí tưởng” [11, tr 135] Chính sự “nắm bắt nhanh chóng
Trang 9thế giới khách quan” đã mang đến chất liệu riêng không giống ai trong các sáng
tác của Tô Hoài nói chung và các tác phẩm hồi ký, tự truyện nói riêng
Nguyễn Đăng Mạnh khi nhận xét khái quát về tự truyện, hồi ký của Tô Hoài
đã khẳng định: “Hồi kí, tự truyện của Tô Hoài là thể văn sở trường nhất của Tô
Hoài…Ở thể văn này, nhân vật trung tâm chính là cái tôi của người viết Cho nên
sự hấp dẫn về văn phong của Tô Hoài xét đến cùng là sự hấp dẫn của cái tôi ấy”
[48, tr 3-4] Nguyễn Đăng Mạnh đặc biệt chú ý tới Cỏ dại Ông khẳng định:
“Nghiên cứu Tô Hoài, không thể không đọc Cỏ dại như một tài liệu cơ bản, vì tác
phẩm cho ta biết một cách cụ thể những gì đã tạo nên tâm hồn ấy, cây bút ấy ”
[46, tr 53] Điều này cho thấy vị trí vai trò của tác phẩm Cỏ dại trong sự hình
thành tư tưởng, phong cách của cây bút tài năng Tô Hoài Phong Lê cũng nhận
định: “Có Tô Hoài nên Cỏ dại bỗng trở thành một bổ sung độc đáo, làm mặn mà
thêm cái dư vị buồn và mòn mỏi dần của xã hội người trong Nhà nghèo, Giăng thề, Xóm Giếng” [41, tr 38]
Phong Lê đã khẳng định sức hấp dẫn của yếu tố tự truyện trong văn xuôi
Tô Hoài đối với độc giả: “Đọc Tô Hoài tôi bỗng ngạc nhiên không hiểu sao người
ta có thể viết hay đến thế về mình, để qua mình mà hiểu người, hiểu đời, hơn thế hiểu cả thời - nó là bầu khí quyển chung cho biết bao là thế hệ [41, tr 39] Hay
như “…Vẫn một trí nhớ tuyệt diệu Một cảm hứng nhất quán Một sự sống không
chút vơi cạn trong kho hồi ức Và một cái nhìn, vừa ẩn náu bên trong vừa biểu lộ
ra ngoài mà cho thấy rõ nét đến thế, một người thật Tô Hoài và một nhân vật Tô Hoài Vừa sát gần lại vừa lùi xa, và với những cự li thích hợp, hồi ức Tô Hoài vừa mời gọi ta đến lại vừa gợi lưu luyến lúc ta đi Một hồi ức đọc với bao bâng khuâng Một hồi ức theo giá trị kép: Vừa chịu sự ràng buộc của một sự thật cá biệt, vừa cho phép nới thêm các khoảng rộng của không gian và thời gian sống”
[41, tr 40]
Tác giả Vân Thanh với bài viết Tô Hoài qua Tự truyện đã nói lên sự đổi
mới trong tư tưởng và phương pháp nghệ thuật tự truyện của Tô Hoài: “Tự truyện
Trang 10được viết trên cả quá trình 30 năm, có bộ phận nói lên được sự đổi mới của tư tưởng, phương pháp nghệ thuật của Tô Hoài…Điều kì lạ là các mảng sống và chi tiết trước đây cũng như bây giờ, vẫn cứ gần như tươi rói trong kí ức nhà văn” [65, tr 400]
Sau năm 1986 Tô Hoài cho ra đời nhiều tác phẩm, cùng với đó số lượng công trình nghiên cứu văn chương của ông không ngừng tăng Những nhà phê bình có tên tuổi yêu thích văn chương Tô Hoài như: Phong Lê, Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Vân Thanh, Nguyễn Văn Long, Vương Trí Nhàn, Trần Hữu Tá, Nguyễn Đăng Điệp…đã có những đánh giá tinh tế, khách quan về các tác phẩm của ông nói chung và những tác phẩm mang yếu tố tự truyện nói riêng
Trong cuộc trao đổi giữa Trần Đức Tiến và Xuân Sách về Cát bụi chân ai,
nhà văn Trần Đức Tiến nhận xét: “Cuốn hồi kí của ông ra đời chưa phải là quá
muộn Có thể nói, bằng cuốn sách của mình, lần đầu tiên ông đã cho thế hệ cầm bút chúng tôi nhìn một số “nhân vật lớn” của văn chương nước nhà từ một cự li gần…Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Huy Tưởng thì không nói làm gì - các ông
đã trở thành người thiên cổ từ khi chúng tôi chưa ra đời, hoặc còn bé xíu Còn Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng chúng tôi cũng hầu như không có cơ hội để gần gũi, thậm chí để biết mặt Không có nhịp cầu liên hệ nào khác giữa các ông với chúng tôi, ngoài chính tác phẩm của các ông - những tác phẩm mà hàng chục năm mài đũng quần trên ghế nhà trường, chúng tôi chỉ có việc ra sức tìm bằng được những cái hay, cái tuyệt! Bây giờ qua Tô Hoài, chúng tôi được “nhìn” gần - một khoảng cách khá tàn nhẫn, nhưng chính vì thế mà chân thực và sâu sắc…” [63, tr 413]
Xuân Sách cũng nhận xét về tác phẩm này với những nhận xét xác đáng: “Tác
phẩm mang dấu ấn đậm nhất phong cách của Tô Hoài - từ văn phong đến con người Thâm hậu mà dung dị, thì thầm mà không đơn điệu nhàm chán, lan man tí chút nhưng không cà kê vô vị, một chút “u mặc” với cái giọng khơi khơi mà nói,
Trang 11ai muốn nghe thì nghe, không bắt buộc nghe rồi hiểu, đừng cật vấn…Và vì thế đúng như anh nói, sức hấp dẫn chủ yếu là sự chân thật…” [74, tr 414]
Trong bài Tô Hoài sáu mươi năm viết, Phong Lê cho rằng: “Ở đề tài
Hà Nội quê ông, tức Hà Nội ven đô, Hà Nội mà ông đã vừa trải rộng vừa đào sâu vào thế giới bên ngoài và bên trong nó, Hà Nội ấy vẫn đi theo ông, dẫu ông đi bất cứ đâu, để thành hành trang của ông, để mỗi lúc soi nhìn nó, ông lại thấy bao điều mới lạ, cả trong ba chiều: quá khứ, hiện tại và tương lai Một Hà Nội - quê hương trong ba chiều thời gian, quả đã làm nên vóc dáng một Tô Hoài, có giống và có khác với Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng - cái “bộ tứ” làm nên khuân hình và chất lượng “người Hà Nội - Văn
Nhà văn Nguyễn Văn Thọ trong bài Vài cảm giác với Chiều chiều trên báo
Văn nghệ đã chỉ ra sức hấp dẫn của tác phẩm khi thể hiện yếu tố tự truyện là ở giọng điệu trần thuật, với giọng điệu dân dã, hóm hỉnh, dí dỏm rất riêng mang
phong cách của Tô Hoài Đó là “giọng bình thản, không câu nệ thứ tự thời gian,
thứ tự các tình huống, nhân vật, nhưng thấm đượm cái nhìn rất riêng, rất dí dỏm
của tác giả Cái dòng chảy của Chiều chiều là dòng chảy tự nhiên Là thứ văn
chương đạt tới mức tự nhiên Tự nhiên, dung dị đạt được, phải là bậc thặng thừa của văn chương” [69, tr 13]
Tô Hoài viết hồi ký từ rất sớm Đến tuổi xế chiều, ông vẫn còn nhiều hứng
thú với thể loại này Tác giả Trần Hữu Tá trong cuốn sách Tô Hoài một đời văn
phong phú và độc đáo đã đánh giá về tài năng của Tô Hoài qua hồi ký như sau:
Trang 12Về mặt thể loại, Cỏ dại có hai điều đáng để suy nghĩ Một là trong văn chương,
vô số nhà viết hồi ký, nhưng ở tuổi hai mươi ít ai đã thành công như Tô Hoài Hai
là chùm tác phẩm Cát bụi chân ai, Chiều chiều đã khẳng định ông là cây bút hồi
ký có hạng” [61, tr 19]
Phong Lê đã nhận xét Những gương mặt - chân dung văn học của Tô Hoài
một cách rất sắc sảo: “Ở khu vực ký cũng rất phong phú này của Tô Hoài, theo tôi
phần đáng nhớ nhất là những chân dung văn học được ông gom lại trong tập sách
có tên Những gương mặt” [41, tr 52]
Hoàng Thị Tâm trong bài Đặc điểm nghệ thuật tự truyện của Tô Hoài sau
1986 nhận định: “Tô Hoài là nhà văn duy nhất đã xây dựng cho mình một dòng
tự truyện riêng không thể lẫn Tự truyện của ông là những câu chuyện bằng văn xuôi kể lại dĩ vãng của chính tác giả, có thể gần trọn cuộc đời, có thể thời thơ ấu hoặc thời thanh niên…người kể chuyện trùng với tác giả hoặc nhân vật chính…Nhưng khác với tự truyện nói chung (lấy cái tôi vừa làm đối tượng, vừa
là mục đích của miêu tả), tự truyện Tô Hoài lấy đời sống, lấy người khác làm
“khách thể nhận thức” để qua đó tác giả bộc lộ quan niệm nhân sinh của mình”
[62, tr 68]
Các tác phẩm của Tô Hoài viết sau 1986 những năm gần đây đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các luận văn, luận án Tác giả Nguyễn Hoàng Hà (Đại
học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên) đã triển khai luận văn ở góc độ Cái nhìn
không gian và thời gian nghệ thuật trong hồi ký Tô Hoài Tác giả đã cho người
đọc thấy được hồi kí, tự truyện của Tô Hoài mang đậm tính chất lịch sử cả về thời gian và không gian, song lại nghiêng về cuộc sống đời thường Tác giả đã tiếp cận
và nghiên cứu văn học từ góc độ thi pháp để thấy được mối quan hệ giữa nội dung
và hình thức nghệ thuật nhằm làm nổi bật các tập hồi kí tự truyện của nhà văn:
“Qua hai cuốn hồi kí Cát bụi chân ai và Chiều chiều từ phương diện cái nhìn
không gian và thời gian nghệ thuật trong hồi ký Tô Hoài, tác giả khẳng định hồi
ký của mình mang một đặc điểm riêng độc đáo để cho độc giả chiêm ngưỡng bức
Trang 13chân dung tự họa của bản thân và chân dung các nhà văn tầm cỡ trong nền văn học nước nhà Tô Hoài đã xóa nhòa khoảng cách tiếp cận và không đi theo kiểu hồi tưởng biên niên Nhà văn lựa chọn lịch sử và đời tư mà nhà văn quan tâm và
có ấn tượng nhất để ghi lại Những sự kiện sâu đậm ấy lại được hiện diện theo dòng hoài niệm lan man nhưng vẫn có định hướng để phản ánh cuộc sống và con người qua nhiều thời kì đầy sôi động của đất nước” [18, tr 102]
Trong một luận văn khác, tác giả Trần Thị Thủy (Đại học Sư Phạm - Đại
học Thái Nguyên) lại có một cái nhìn mới lạ về văn xuôi Tô Hoài, đó là: Màu sắc
tự truyện trong sáng tác của Tô Hoài Người đọc thấy được màu sắc tự truyện
thông qua việc sử dụng ngôn ngữ đặc tả chi tiết giúp nhà văn miêu tả thành công
chân dung nhân vật, sự kiện, hình ảnh Ngôn ngữ đời thường mang tính khẩu ngữ,
giọng điệu trần thuật đa sắc điệu: “Màu sắc tự truyện trong Tự truyện và Cát bụi
chân ai của Tô Hoài càng trở nên đậm nét hơn với cách tái hiện đậm dấu ấn tiểu
thuyết, với việc sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, đặc sắc cộng thêm một quan điểm và giọng điệu trần thuật hợp lí Dấu ấn tiểu thuyết đã cho những trang văn tự truyện của Tô Hoài trở nên gần gũi và đậm chất “Sống” hơn bao giờ hết” [73, tr 84]
Năm 2017, Mai Thị Khánh Hòa (Đại học Khoa Học Xã Hội và NhânVăn - Đại học Quốc Gia Hà Nội) dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Quang Long
đã tiến hành nghiên cứu thành công luận văn thạc sĩ với đề tài Giao thoa thể loại
trong hồi kí Tô Hoài (qua Cát bụi chân ai, Chuyện cũ Hà Nội, Chiều chiều)
Tác giả đã chỉ ra ngôn ngữ đậm chất phóng sự, kể tả hiện thực cuộc sống trong xã
hội: “Các tác phẩm Cát bụi chân ai, Chiều chiều, Chuyện cũ Hà Nội có sự giao
thoa giữa phóng sự và hồi ký Đọc các tác phẩm trên, chúng ta nhận thấy tính chân thực trong nội dung phản ánh được thể hiện qua bức tranh hiện thực cuộc sống cùng những vấn đề nóng hổi đang diễn ra lúc bấy giờ cùng với dấu ấn của khảo cứu văn hóa dân tộc Xét trên phương diện ngôn ngữ, chúng ta nhận thấy chất phóng sự thể hiện trong hồi ký thể hiện qua việc vận dụng linh hoạt lối tả, kể
Trang 14xen bình luận và những sáng tạo độc đáo Các yếu tố trên góp phần làm nên thành công cho bộ ba hồi ký nổi tiếng của Tô Hoài” [24, tr 108]
Thông qua những tìm hiểu trên chúng tôi thấy được những vấn đề sau: Thứ nhất, hồi ký Tô Hoài đã từng là đối tượng quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nhưng chưa có tác giả nào tập trung tìm hiểu riêng về yếu tố tự truyện trong văn xuôi Tô Hoài sau năm 1986 Thứ hai, dù chưa trực tiếp và hệ thống trong việc tìm hiểu về yếu tố tự truyện trong văn xuôi Tô Hoài sau năm 1986 nhưng các nhà nghiên cứu đã đưa ra những nhận định khá chính xác về các vấn đề có liên quan đến hồi ký, tiêu biểu là: nghệ thuật trần thuật, đặc trưng thể loại hồi ký, nhân vật người kể chuyện…
Chúng tôi coi đây là những gợi ý sáng giá để triển khai nội dung luận văn Đặc biệt nhờ kết quả nghiên cứu của các tác giả chúng tôi nhận thấy hồi ký Tô Hoài có một số đặc điểm của tự truyện, tiểu thuyết và phóng sự xét trên cả bình diện nội dung và nghệ thuật Từ đó kế thừa và phát triển kết quả nghiên cứu của
các tác giả trên, chúng tôi tiến tới tìm hiểu đề tài: Yếu tố tự truyện trong văn xuôi
Tô Hoài sau năm 1986
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung vào việc nghiên cứu: Yếu tố tự truyện trong văn xuôi
Tô Hoài sau 1986
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là toàn bộ các tác phẩm mang yếu tố tự tuyện của nhà văn Tô Hoài đặc biệt chú trọng đến bốn tác phẩm sau năm 1986:
Cát bụi chân ai (2015), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội
Chiều chiều (2015), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội
Chuyện cũ Hà Nội (2010), Nxb Thời Đại, Hà Nội
Trang 15Những gương mặt (2016), Nxb Văn học, Hà Nội
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
Chỉ ra những vấn đề cơ bản về yếu tố tự truyện trong một số sáng tác của
Tô Hoài sau 1986 Đồng thời làm rõ những nét đặc sắc riêng trong thế giới nghệ thuật để có cái nhìn đầy đủ và toàn diện về những đóng góp và sáng tạo của Tô Hoài trong nền văn học Việt Nam hiện đại
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở giải quyết những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài, luận văn làm sáng tỏ yếu tố tự truyện trong một số tác phẩm của Tô Hoài qua các phương diện cơ bản Đồng thời chỉ rõ các đặc điểm nghệ thuật thể hiện yếu tố tự truyện qua các tác phẩm tiêu biểu sau 1986
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp:
5.1 Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở phân tích tổng hợp những giá
trị nội dung và giá trị nghệ thuật chúng tôi chỉ ra được những nét đặc sắc trong các tác phẩm của Tô Hoài nhằm góp thêm một tiếng nói để tiếp tục khẳng định
tài năng của nhà văn Tô Hoài trong sự nghiệp văn học của nước nhà
5.2 Phương pháp khảo sát, thống kê: Trong quá trình triển khai đề tài, chúng
tôi sử dụng phương pháp khảo sát thống kê để có những ý kiến đánh giá, những
nhận xét, những dẫn chứng tiêu biểu phục vụ cho việc làm sáng tỏ vấn đề: Yếu
tố tự truyện trong văn xuôi Tô Hoài sau 1986
5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phương pháp này được sử dụng để làm
nổi bật sự khác biệt, độc đáo trong các sáng tác của Tô Hoài trong từng giai đoạn sáng tác
Trang 165.4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Tìm hiểu hoàn cảnh văn hóa - lịch sử
ảnh hưởng đến nhà văn và tác phẩm
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn làm rõ các yếu tố tự truyện nổi bật trong văn xuôi Tô Hoài sau
1986 qua đó khám phá những nét đẹp trong đời sống tâm hồn, cuộc sống của nhà văn Tô Hoài cũng như những đối tượng thẩm mỹ trong văn Tô Hoài
- Thông qua những kết quả nghiên cứu, luận văn cũng góp phần cung cấp cái nhìn sâu sắc và toàn diện những giá trị nghệ thuật trong tự truyện của nhà văn Tô Hoài để thấy được tài năng và vị trí của Tô Hoài trong nền văn xuôi đương đại
- Luận văn sẽ là nguồn tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy nhà văn Tô Hoài trong nhà trường
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được triển
Trang 17NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Yếu tố tự truyện
Thuật ngữ tự truyện có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp nhưng lại vô cùng quen thuộc với lí luận văn học và sáng tác văn chương ở nước ta từ trước đến nay Sự
xuất hiện của nhiều tác phẩm tự truyện đã cho thấy rõ sự lên ngôi của cái “tôi”
với những biểu hiện mới mẻ và vô cùng độc đáo Theo Từ điển thuật ngữ văn
học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên thì: “Tự truyện
là tác phẩm văn học thuộc thể loại tự sự do tác giả viết về cuộc đời mình” [20, tr
389] Còn theo Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên: “Tự truyện thường là
những câu chuyện viết bằng văn xuôi, kể lại dĩ vãng của chính tác giả…bởi vì, về quá khứ, kỷ niệm bị xóa mờ với thời gian, vì tư duy khi viết về tự truyện đã trải qua biết bao cảnh đời, và vì các sự kiện được sắp xếp, bố cục lại, suy ngẫm lại, nên khó mà trùng hợp với sự thật…Tự truyện không phải là một tập hợp những
kỷ niệm tản mạn, mà được bố trí như một truyện, một tiểu thuyết” [23, tr
905-906] Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn, cũng đưa
ra định nghĩa: “Tự truyện là tác phẩm văn học tự sự, thường được viết bằng văn
xuôi, trong đó tác giả tự kể và miêu tả cuộc đời của bản thân mình” [3, tr 22]
Tác phẩm tự truyện hướng đến vấn đề lý giải cuộc sống đã qua của tác giả
để tạo ra những đường nét mạch lạc cho thực tế cuộc sống Người viết tự truyện đôi khi cũng thêm thắt, sắp xếp lại các chi tiết nhằm làm cho việc trình bày trở nên hợp lý và nhất quán hơn Nó ghi dấu thời gian đã lùi xa để nhớ về tuổi thơ, tuổi trẻ và làm sống lại nhiều kỷ niệm nhất của cuộc đời mỗi con người Thông
qua hồi ức, cái “tôi” hiện ra như một thực thể đang phát triển và lớn dần Tự truyện
là một vấn đề được quan tâm của văn học phương Tây với mong muốn kể lại cuộc
Trang 18đời mình từ những kỉ niệm tuổi thơ song nó chỉ thật sự được xuất hiện khi nền văn học chuyển sang dòng văn học lãng mạn với chủ nghĩa cá nhân phát triển
mạnh mẽ Năm 1974 trong tiểu luận Hiệp ước tự thuật (Le Pacte
Autobiographique), Philippe Lejeune trình bày một định nghĩa nổi tiếng nhằm
xác lập những dấu hiệu về mặt hình thức của tự truyện: Đó là “thể loại tự sự tái
hiện dĩ vãng, trong đó một con người có thật kể lại cuộc sống của mình, nhấn mạnh về đời sống riêng tư, đặc biệt là về mặt lịch sử hình thành nhân cách” [39,
tr 19] Nhà văn đã biến cuộc đời nhân vật thành một bức chân dung tự họa khi viết lại câu chuyện Có thể bức chân dung ấy khác với bức chân dung thật hoặc đôi khi có những nét tương đồng nhưng được tác giả sắp xếp nhào nặn thành một
sáng tạo nghệ thuật để từ đó hình thành nên cái “tôi” tác giả nhằm phát triển nhân
cách của nhân vật trong quá khứ với tư cách là hình tượng trung tâm của tác phẩm
và tính xác thực tương đối của cốt truyện
Nguyễn Thành Thi trong Văn học thế giới mở đã viết: “Nhà văn khi sáng
tác tác phẩm bao giờ cũng sáng tác theo một mô hình thể loại xác định Thể loại tác phẩm văn học, thường được hiểu là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể” [68, tr.12] Nhà văn khi
sáng tác nên các tác phẩm luôn phải tuân thủ những quy định để tạo ra những nét riêng biệt và những đặc trưng cơ bản của thể loại đó Trong tác phẩm tự truyện
chúng ta hay gặp hai nhân vật “tôi” - một thuộc về quá khứ và một đang tồn tại song song với người đọc để kể lại câu chuyện đã qua Nhân vật “tôi” trong quá
khứ là thuộc về cái đã qua được tái hiện qua lời nói hành động của người kể
chuyện Còn cái “tôi” của hiện tại là cái “tôi” nhà văn, nhà văn dùng suy nghĩ,
tình cảm của mình…để xây dựng nên tác phẩm mang yếu tố tự truyện Từ đó,
hình ảnh nhân vật “tôi” xuất hiện bằng những xúc cảm khác nhau: Có lúc suy tư
trăn trở, có lúc lại mang những khát vọng lớn lao và đôi lúc là những kỉ niệm ào
ạt tràn về trong tâm trí nhà văn
Trang 19Do đó tự truyện là tác phẩm văn học tự sự mà tác giả viết về cuộc đời của chính mình Ở đây nhà văn đôi khi hư cấu thêm bớt các chi tiết của cuộc đời để
làm cho số phận nhân vật trở nên hợp lí hơn Nhưng theo Hà Minh Đức trong Lý
luận văn học: “Trong tác phẩm tự sự, đời tư của nhà văn chỉ là chất liệu hiện
thực được tác giả sử dụng với những mục đích khác nhau…Tự truyện có thể bao quát hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự, sử thi…” Qua các
nhân vật được xây dựng trong truyện, người viết có dịp nhớ lại những kỉ niệm tuổi thơ và tìm lại được những kinh nghiệm sống quý báu Một tác phẩm tự truyện hoàn hảo đó là khi người viết đạt được ba mục đích cơ bản, quan trọng: tự thú, thể nghiệm và triết lí Quay về quá khứ là để hướng đến tương lai để chiêm nghiệm
và nhìn rõ hơn những giá trị của cuộc sống hiện tại
Văn học Việt Nam trước 1975 do nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan nên các nhà văn thường ít khi kể lại câu chuyện của đời mình Nhưng, bước vào giai đoạn văn học sau đổi mới, tự truyện dần trở thành một khuynh hướng được nhiều nhà văn quan tâm Điều cốt yếu làm nên sự thay đổi nhận thức này chính là sự phát triển của ý thức cá nhân Bên cạnh đó là ý thức về việc tái hiện hiện thực và sự hư cấu trong sáng tác Đỗ Hải Ninh khi nghiên cứu về yếu tố tự truyện đã chia các tác phẩm văn xuôi tự truyện thành hai dạng thức cơ bản: Những thể loại hư cấu và phi hư cấu Người đọc dựa vào trình độ tiếp nhận của mình để xác định đó là tác phẩm có hư cấu hay không? Và thực tế cho thấy sự phân chia tác phẩm tự truyện là hư cấu hay phi hư cấu chỉ mang tính chất tương đối mà thôi
Như vậy, trong tác phẩm mang yếu tố tự truyện, cốt truyện thường có mối quan hệ chặt chẽ với tiểu sử, cuộc đời của nhà văn Chất liệu đời tư được nhà văn lựa chọn để xây dựng cốt truyện một cách có mục đích Yếu tố thực từ cuộc đời tác giả xuất hiện đậm đặc hơn, ít bị che khuất hơn Những câu chuyện trong tự truyện thường là những việc đã xảy ra trong quá khứ, vì vậy cái nhìn trong tự truyện là cái nhìn hồi cố, giọng văn thể hiện sự chiêm nghiệm, từng trải Trải qua
sự phát triển theo từng thời kỳ, tự truyện cũng có sự biến đổi nhất định để phù hợp
Trang 20với từng giai đoạn Các nhà nghiên cứu khi phân loại tự truyện có thể dựa vào hình thức biểu đạt chủ thể trong tự truyện để chia thành hai nhóm: Tự truyện thuần túy và tự truyện biến thể Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến cho rằng không thể có
tự truyện thuần túy vì khi viết ra câu chuyện của mình, các nhà văn đã có một khoảng cách về thời gian, trí nhớ của người kể, mục đích của người kể đã có một
độ di lệch nhất định giữa câu chuyện kể và hiện thực Tức là độ chính xác không còn Tuy nhiên, sự phát triển của văn học cũng đem lại những đặc tính riêng của
nó và mỗi thể loại đều có những ranh giới xác định một cách tương đối
Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi đồng chủ biên Các tác giả đã đưa ra khái niệm: “Hồi kí là một thể loại
thuộc loại hình kí, kể lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến” [20, tr 152] Họ còn cho rằng: “Xét về phương diện quan hệ giữa tác giả với sự kiện được ghi lại về tính chính xác của sự kiện,
về góc độ và phương thức diễn đạt, hồi kí có nhiều chỗ gần với nhật kí Còn về phương diện tư liệu, về tính xác thực và không có hư cấu thì hồi kí lại gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học” [20, tr 152] Hồi kí được tác giả suy nghĩ kỹ
trước khi viết và phải luôn đặt tính chân thật lên hàng đầu Đó có thể là một câu
Trang 21chuyện mà tác giả được chứng kiến hoặc lấy chất liệu từ chính cuộc đời của mình
để làm đối tượng khai thác
Theo Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên cho rằng: “Tác phẩm hồi
ký là một thiên trần thuật từ ngôi tác giả, kể về những sự kiện có thực xảy ra trong quá khứ mà tác giả tham dự hoặc chứng kiến” [23, tr 648] Đây là cách lý giải
ngắn gọn và dễ hiểu nhất cho mọi tầng lớp bạn đọc Tuy nhiên nó lại thiếu độ mở không phù hợp với tình hình phát triển của hồi ký hiện đại Trong thực tế các tác phẩm hồi ký ra đời vào những năm đầu thập niên của thế kỷ XXI luôn có sự đa dạng về nghệ thuật tự sự và kết cấu Nhiều tập hồi ký không chỉ là ghi chép những
sự kiện, ký ức những dòng hồi tưởng không theo dòng chảy thời gian tuyến tính
mà có sự đứt nối, chắp vá, đan xen giữa quá khứ và hiện tại vô cùng linh hoạt
Xét về thể loại thì các nhà nghiên cứu phê bình đều cho rằng: Hồi ký là một tiểu loại của ký Quan niệm này thống nhất trong hầu hết các công trình lý luận
văn học Công trình Lí luận văn học do tác giả Trần Đình Sử chủ biên lại phân
loại ký tự sự thành những tiểu loại và ghép chung nhật ký với hồi ký xem hồi ký
là “thể loại ghi chép các sự kiện quá khứ đã trải qua do đương sự thực hiện, cũng
là một hình thức văn học riêng tư, mình nói về mình, một dạng tự truyện của tác giả Hồi ký cung cấp những tư liệu của quá khứ mà đương thời chưa có điều kiện nói được” [75, tr 379 - 380]
Ta có thể thấy được sự thống nhất của các nhà nghiên cứu ở một số điểm sau: Thứ nhất hồi ký là một bức tranh tái hiện quá khứ với người thật việc thật và trong đó tác giả chính là người trong cuộc hoặc được chứng kiến Thứ hai ở từng chặng đường giai đoạn văn học, hồi ký có đời sống riêng luôn vận động thay đổi tùy theo từng thời kỳ khiến cho các khái niệm quy ước có tính quy phạm không thể lý giải hết sự đa dạng của nó Vì vậy cần phân chia ranh giới rõ ràng giữa hồi
ký với các thể loại gần Từ đó mà một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt của hồi ký với những tiểu loại khác của ký Nhóm tác giả trong
Từ điển Văn học (bộ mới) quan niệm: “Hồi ký gần nhật ký ở hình thức giãi bày,ở
Trang 22chỗ không dùng thủ pháp cốt truyện, ở cách kể thường theo thứ tự thời gian, ở việc chú ý đến các sự kiện mang tính tiểu sử” [56, tr 646 - 647] Lại Nguyên Ân
trong 150 thuật ngữ văn học có mở rộng so sánh: “Có những tác phẩm hồi ký rất
gần với văn xuôi lịch sử; lại có những tác phẩm gần với tiểu thuyết;…một dạng hồi ký viết về các nhà văn, nghệ sĩ, nhà hoạt động xã hội, gọi là chân dung văn học” [3, tr 155]
Theo các nhà nghiên cứu phê bình thì hồi kí là một thể loại văn học luôn
đề cao tính chính xác và độ chân thực của các sự kiện Tô Hoài - nhà văn rất
thành công trong thể loại hồi kí cũng đưa ra nhận định riêng của mình về: “Kí là
một thể loại mang tính cách riêng, tính cách của một lối viết ra những cảm xúc trước sự việc mắt thấy, tai nghe Kí có lối xây dựng chủ đề, nhân vật, kết cấu, tình tiết, ngôn ngữ riêng biệt” [28, tr 25], cái hấp dẫn của hồi kí là ở đó Hồi ký
là cách viết đi sâu vào thời đại Bên cạnh những câu chuyện của bản thân thì tác
giả còn viết về những câu chuyện của người khác Trong khi đó tự truyện lại chỉ tập trung vào cá nhân người viết Sự khác biệt nhau còn được thể hiện ở chỗ: hồi
kí và nhật kí là thể kí chuyên ghi chép các sự kiện còn tự truyện thuộc về thể loại
tự sự Mỗi tác phẩm tự truyện hiện ra thông qua trí tưởng tượng, sự sáng tạo xắp xếp các chi tiết, nhân vật vô cùng hợp lí của nhà văn và ghi lại dấu ấn phong cách
nghệ thuật của người viết Trong Từ điển Văn học (bộ mới), Đỗ Đức Hiểu phân
biệt: “Hồi ký có thể chỉ ghi lại những sự kiện về một thời kỳ lịch sử, mà tác giả
không phải là nhân vật chính; còn tự truyện kể chuyện của cái “tôi” tác giả Tự truyện không phải một tập hợp những kỉ niệm tản mạn, mà được bố trí như một truyện, một tiểu thuyết” [56, tr 906]
Tự truyện - hồi ký là thể loại được các nhà văn ưa chuộng và bạn đọc yêu thích bởi đây là những tác phẩm mà bằng ký ức, các nhà văn đã ngược dòng thời
gian kể về những câu chuyện đã qua về bản thân, gia đình, bạn bè với “cái tôi
nhân chứng” rõ nét Những tác phẩm như Cỏ dại, Tự truyện, Chiều chiều, Cát bụi chân ai (Tô Hoài), Đời viết văn của tôi (Nguyễn Công Hoan), Hồi ký song
Trang 23đôi (Huy Cận - Xuân Diệu), Cô bé nhìn mưa (Đặng Thị Hạnh), Nhớ lại (Đào
Xuân Quý)…là những cảm xúc chân thành và những trải nghiệm sâu sắc của mỗi
cá nhân nhà văn Tuy nhiên, cái hay của tự truyện hồi ký là nhà văn không tập trung vào việc kể lại cuộc đời mình mà thường mở rộng khái quát bức tranh xã hội của cả một thê hệ, thời đại
Trong bài Kí và giảng dạy Kí, Hoàng Như Mai viết: “Những điểm khác
nhau cơ bản giữa hồi kí và tự truyện là tự truyện thiên về kể lại những chuyện thân mật, bình thường nhiều hơn mà hồi kí thì thiên về những sự kiện có tính lịch
sử Cũng do đặc điểm này, mà sự hư cấu trong tự truyện có thể xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của người viết Cho nên nói về giá trị lịch sử thì hồi kí hơn tự truyện, nhưng đứng về tính chất văn học thì tự truyện có thể hơn hồi kí vì tự truyện thuộc phạm trù của truyện” [44, tr 218] Tự truyện là một thể loại mang
nét tương đồng gần giống với các thể loại khác: hồi ký, nhật ký nên khó phân
biệt Các thể loại này giống nhau ở chỗ đều là “chuyện đời tự kể” Điểm khác là
tự truyện và hồi kí viết về quá khứ một cách trọn vẹn thì nhật ký lại viết về hiện tại và tương lai đôi khi còn dang dở Tự truyện và hồi ký là viết cho người khác thì nhật ký lại viết cho chính mình mang tính thầm kín
Các nhà nghiên cứu phê bình cho rằng hồi kí rất gần với nhật kí ở hình thức giãi bày, ở cách kể theo trình tự thời gian đến các sự kiện mang tính chất tiểu sử Nhật ký là một dạng văn học tồn tại dưới hình thức trần thuật ở ngôi thứ nhất và ghi chép các sự kiện diễn ra hàng ngày có ghi ngày, tháng, năm Hơn hết nhật kí ghi chép đầy đủ trung thành, không hư cấu Nhật ký ghi lại những sự kiện đời tư nhằm bộc lộ những cảm xúc suy nghĩ của bản thân Trong khi đó hồi ký
là sự sắp xếp sự kiện rời rạc không liền mạch trong trí nhớ của tác giả và đặc biệt
là có thể có hư cấu: “Người viết hồi ký kể lại những điều mà mình có dịp quan
sát, hoặc nghe trực tiếp, những sự việc và con người để lại những ấn tượng sâu sắc, gắn bó với những kỷ niệm riêng, nhưng đồng thời cũng có một nội dung xã hội phong phú” [12, tr 230] Các trang hồi ký bao giờ cũng bộc lộ sự chiêm
Trang 24nghiệm về cuộc sống để dần dần hé mở những bí mật của cuộc đời Đó có thể là
bí mật riêng tư hoặc bí mật cộng đồng hay những khoảnh khắc lớn lao của thời đại những trăn trở, suy ngẫm về con người và thời cuộc Chính điều này làm cho nội dung của hồi ký gắn với những kỉ niệm riêng nhưng lại có nội dung xã hội phong phú Câu chuyện xảy ra thuộc về quá khứ song có nhiều liên hệ và gắn bó với hiện tại
Hồi ký xuất hiện như một sự tổng kết về cuộc đời để làm sống lại một lần nữa cuộc đời đã qua nhằm có cái nhìn khách quan và đánh giá lại chính cuộc đời mình bằng sự trải nghiệm của bản thân Viết hồi ký là nhu cầu để nhà văn giải tỏa những ẩn ức được thôi thúc từ bên trong Điều này khiến cho hồi ký phát triển mạnh mẽ Từ một thể tài còn non trẻ hồi ký đã đạt được những thành tựu lớn trong văn học và trở thành một thể loại độc lập có đời sống riêng, diện mạo riêng Nhờ vậy mà các tác phẩm của Tô Hoài có những đặc điểm riêng không giống ai Một mặt ông luôn tuân thủ những yêu cầu riêng của hồi ký mặt khác ông luôn in đậm
cá tính sáng tạo của mình Trong đó các tác phẩm Cát bụi chân ai, Chiều chiều,
Chuyện cũ Hà Nội và Những gương mặt là các tác phẩm tiêu biểu minh chứng
cho phong cách viết hồi ký của Tô Hoài
1.2 Yếu tố tự truyện trong văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại
1.2.1 Yếu tố tự truyện trong văn học giai đoạn trước 1975
Với tác phẩm văn học, nhân vật luôn là yếu tố quan trọng khi nó đại diện
cho ý thức của tác giả Trong các thể loại văn học, cái “tôi” tác giả vừa là chủ
thể sáng tạo đồng thời cũng là đối tượng phản ánh đầu tiên Tác phẩm mang yếu
tố tự truyện phản ánh trực tiếp và rõ nét nhất ý thức về cái “tôi” của nhà văn Sự
phát triển của yếu tố tự truyện trong văn học Việt Nam là tấm gương phản chiếu
chân thành nhất về hành trình ý thức của cái “tôi” qua các giai đoạn, thời kì
Trong giai đoạn 1930 - 1945 thể loại hồi kí và tiểu thuyết phát triển mạnh trên văn đàn Sự phát triển của các thể loại mang yếu tố tự truyện giai đoạn này
Trang 25là do có sự du nhập của văn hóa phương Tây vào Việt Nam, làm thay đổi hoàn toàn về đời sống xã hội cũng như những nhận thức tư tưởng của con người Tuy nhiên văn học Việt Nam giai đoạn này phát triển trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn nên nội dung tư tưởng của nhiều tác phẩm chưa thật sự sâu sắc, cách nhìn đời nhìn người vô cùng đơn giản, phiến diện Văn học chưa có nhiều điều kiện để tìm hiểu sâu hơn những khó khăn phức tạp của cuộc sống, những tổn thất mất mát trong chiến tranh Bởi vậy, chất lượng nội dung và nghệ thuật của nhiều tác phẩm còn non kém, sự sáng tạo của nhà văn còn mờ nhạt…
Đến thời kì 1945 - 975 khi đất nước bước vào cuộc kháng chiến thì các tác phẩm hồi ký mang yếu tố tự truyện phát triển theo một hướng khác Xã hội lúc này đang xảy ra sự xung đột dân tộc và giai cấp nên văn học chuyển hướng sang thể kí sự, bút kí nhằm kịp thời phản ánh các sự kiện dồn dập diễn ra trên khắp đất nước Đặc biệt là sự xuất hiện trở lại của hồi kí cách mạng, đây là dòng hồi tưởng của những chiến sĩ cách mạng, của các sĩ quan quân đội về những năm tháng hoạt động cách mạng đầy gian khổ với những chiến công oanh liệt mà họ
và đồng đội đã trải qua Hồi kí, tự truyện cách mạng luôn đề cao chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng để bồi đắp tình cảm yêu nước, lòng tự hào về truyền thống cách mạng của các thế hệ cha ông đi trước mở đường Những
cuốn hồi kí Hai lần vượt ngục của Trần Đăng Ninh; Bất khuất của Nguyễn Đức Thuận; Những năm tháng không thể nào quên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
do Hữu Mai thể hiện; Nhân dân ta rất anh hùng của Hoàng Quốc Việt (nhà báo Thép Mới ghi); Không còn con đường nào khác (Nguyễn Thị Định);…là những
minh chứng rõ nét cho sự phát triển của yếu tố tự truyện trong văn học Cách mạng Nhân vật trong hồi kí là những con người gắn liền với các biến cố trọng đại của Cách mạng của dân tộc Họ là những con người hi sinh hết mình chiến đấu vì nước vì dân
Ở thời kì này hồi ký phong phú hơn thời kì 1930 - 1945 do độ lùi của thời gian đủ để nhiều nhà văn nhìn lại quá khứ Diện mạo văn học đa dạng hơn, đội
Trang 26ngũ sáng tác chủ yếu là các nhà văn - nhà báo thuộc thế hệ tiền chiến: Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Vũ Bằng…Một số nhà thơ của phong trào Thơ Mới cũng góp sức mình vào thành tựu văn học của hồi ký giai đoạn này: Nguyễn Vỹ,
Vũ Hoàng Chương…Nội dung của hồi ký đều viết về đời văn - đời người khắc họa chân dung văn nghệ sĩ cùng thời qua những kí ức hoặc ghi chép luận bàn về
đời sống văn chương, báo chí Bốn mươi năm nói láo của Vũ Bằng đã cho ta thấy
cuộc đời làm báo của chính nhà văn của đồng nghiệp với nhiều điều thú vị Những trang văn đó đã ghi lại lịch sử của báo chí Việt Nam giai đoạn giữa thế kỉ với nhiều loại giọng điệu Đó là giọng chính luận của người làm báo kể về những sự kiện liên quan đến báo chí, là giọng suy tư của một con người trải qua nhiều thăng trầm nhìn lại cuộc đời mình, cùng với đó là giọng hoài niệm trữ tình của một nhà văn luôn hoài vọng Đặc biệt xuyên suốt tác phẩm là giọng hài hước, ngay từ nhan
đề tác phẩm và những dòng đầu tiên giọng hài hước, giễu cợt đã biểu hiện: “Bây
giờ, người ta gọi nghề làm báo là nghề nói láo ăn tiền Kẻ viết bài này ngã vào nghề đó đã lâu, hôm nay, ngồi giở lại cuốn sổ ký ức của mình, xin nhận ngay là
mình làm nghề “nói láo” Vì thế tác giả lấy đầu đề tập ký ức là “Bốn mươi năm nói láo” chớ không dám đề là “Bốn mươi năm làm báo vì tác giả nhận thấy rằng
“nói láo” là một cái vinh dự, làm nghề “nói láo” là làm một nghề đặc biệt ít ai
dám đem ra khoe khoang” [4, tr 11 - 12]
Trong hồi ký Đời viết văn của tôi Nguyễn Công Hoan đã đúc kết và nhìn
lại hành trình sáng tác của mình, từ đó chia sẻ kinh nghiệm của một đời văn
Nguyên Hồng với Bước đường viết văn; Một tuổi thơ văn đã kể lại chân thực về
tuổi thơ, gia đình và những mối bất hòa trong các quan hệ Những cuốn hồi ký
này đều lấy cái “tôi” tác giả làm trung tâm, đó làm điểm tựa để tác giả mở ra nhiều
cảnh đời, số phận liên quan trực tiếp nghĩa là tác giả viết về mình song đồng thời
cũng mở rộng cái “tôi” để nói đến các mối quan hệ xã hội
Tô Hoài đã từng gây được tiếng vang trong dư luận với cuốn hồi ký Cỏ dại
khi ông mới ngoài hai mươi tuổi Bằng những ký ức của một thời thơ dại ông cho
Trang 27thấy quãng đời thơ ấu nhọc nhằn đắng cay của mình Khi đến tuổi ngũ thập bằng sự
trải nghiệm trong cuộc đời trong nghề thì cuốn Tự truyện ra đời nối tiếp những dòng suy nghĩ của Cỏ dại Nhà văn đã kể lại chặng đời thiếu niên phải lang thang cơ cực
cho đến khi ông đến với văn chương và tham gia hoạt động cách mạng trong phong
trào Văn hóa Cứu quốc Với yếu tố tự truyện dày đặc người kể chuyện trong Tự
truyện luôn đứng ở vị trí trung tâm của bức tranh toàn cảnh đời sống để trực tiếp suy
tư trải nghiệm và bộc lộ quan điểm thái độ của bản thân Đó là một tâm hồn nhạy cảm trước những cảnh đời, số phận của con người
Tóm lại cùng với việc ngợi ca chiến công để tri ân cách mạng nên hồi ký cách mạng mang một vẻ đẹp riêng Đó là tái hiện cuộc sống và con người dưới góc nhìn
sử thi và cái “tôi” tác giả được xây dựng như hình ảnh con người cộng đồng
1.2.2 Sự nở rộ của yếu tố tự truyện trong văn học đương đại
Từ năm 1975 và đặc biệt là sau năm 1986 cùng với sự thay da đổi thịt của đất nước, văn học nước ta bước vào công cuộc đổi mới Chỉ trong vòng một thời gian ngắn, văn học mang yếu tố tự truyện đã bội thu về cả số lượng lẫn chất lượng nghệ thuật Hồi ký văn học ngày càng phát triển và có sức hấp dẫn riêng, nó gặt hái được nhiều thành tựu xuất sắc và được coi là một thể văn thực thụ Đội ngũ sáng tác ngày càng đông đảo với số lượng tác phẩm ngày càng phong phú: Nguyên Hồng, Tô Hoài, Vũ Bằng, Anh Thơ, Phan Tứ, Tố Hữu, Huy Cận - Xuân Diệu, Đào Xuân Quý, Đặng Thị Hạnh, Lê Minh, Ma Văn Kháng, Ngọc Giao, Hoàng Trung Thông, Đặng Anh Đào…Các nhà văn đã có sự thay đổi quan niệm về nghệ thuật, con người nhằm phát huy tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật để có những tìm tòi, phát hiện mới Do sự giao lưu với các nước trên thế giới được mở rộng cùng với truyền thống văn hóa của một đất nước có hàng nghìn năm văn hiến nên lúc này cấu trúc văn học nước nhà có sự thay đổi Những sự kiện của quá khứ của hiện tại không còn chắp vá rời rạc mà thay vào đó được người viết xâu chuỗi lại theo dòng mạch của sự chiêm nghiệm của sự tự nhận thức lại chính mình Có lúc câu chuyện là một chuỗi đối thoại giữa quá khứ và hiện tại được tác giả lục
Trang 28lọi, tìm tòi trong quá khứ của mình để tìm câu trả lời cho một vấn đề của hiện tại Cũng có khi câu chuyện lại là hàng loạt các sự kiện mà tác giả nhớ lại, băn khoăn trăn trở về một sự thật quá khứ mà bản thân mình bây giờ cũng chưa thật hiểu chưa
thật rõ Ở thời kỳ này, cái “tôi” tái hiện quá khứ không phải để trình bày mà là để
phân tích nó nhằm tìm ra gương mặt của chính mình trong miền hồi ức sâu kín ấy Trong văn học đương đại, hoạt động tự nhận thức, tự ý thức, tự phê phán của con người trở thành yếu tố quan trọng và không thể không nói đến sự tự nhận thức của chính con người nhà văn
Trong số ít các nhà văn hiện đại Việt Nam dám phơi bày trực tiếp sợi tóc mong manh giữa cái chết và tình dục phát lộ ra trong thời chiến tranh, có ý ám
chỉ sự mù lòa đầy quyến rũ của bản thân chiến tranh như trong Gia đình bé mọn
của Dạ Ngân hay hồi ức của người phụ nữ tên Chín trong Tiền định của Đoàn
Lê về cuộc đời đã qua của mình với đầy rẫy những thăng trầm Là con gái thứ chín trong một đại gia đình toàn con gái của ông thầy lang Chi Lan nhưng Chín liều lĩnh vứt bỏ sau lưng cuộc sống êm đềm để bước vào cuộc đời mới: tham vọng làm diễn viên điện ảnh…
Trong vô số tác phẩm tự truyện đương đại chúng ta bắt gặp cái “tôi” tác
giả ở thời hiện tại chưa hoàn thành chưa nói được lời cuối cùng về tính cách của
mình Ta không còn tìm thấy cái nhìn “tự trình bày” với toàn những câu trả lời
Tôi là , Tôi đã như trước đây: “Tôi là một đứa trẻ đầy nước mắt, và cái thân hình gầy gò được dễ dàng uốn xuống trên sự hèn yếu, do đấy, tôi thành ra tôi ngày nay” [9, tr 60]; hay “Tôi còn biên nhiều lắm Nhưng tin rằng một ít ngày thuật lại trên kia cũng đủ để các bạn đọc nhận thấy mau chóng và rõ rệt những
sự đày ải tối tăm của quãng đời thơ ấu của tôi, khi thầy tôi mất, mẹ của tôi bỏ chúng tôi đi tha phương cầu thực” [25, tr 69]
Trong các tác phẩm mang yếu tố tự truyện, cái “tôi” tác giả được phân vai
cụ thể, đó là một đang viết ở thời hiện tại và một đang được nói đến ở thời quá khứ Câu chuyện diễn ra từ hiện tại và nhìn về quá khứ nhằm tái hiện quá khứ giải
Trang 29thích quá khứ Từ quá khứ làm nổi bật những giá trị của hiện tại và những định hướng của tương lai Ở thời kỳ văn học đương đại, yếu tố tự truyện luôn khám phá nội tâm con người, sự chuyển dịch từ yếu tố trình bày sang yếu tố phân tích đem đến một không khí mới cho thế giới hình tượng và giọng điệu nghệ thuật
Sau 1975 yếu tố tự truyện mới thực sự góp phần đáng kể trong việc tạo lập một diện mạo riêng trong văn xuôi Việt Nam đương đại Một trong những nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển ấy là do điều kiện lịch sử xã hội Việt Nam
từ sau 1975 Nhìn từ bối cảnh xã hội, văn hóa trong xu thế hội nhập toàn cầu nên đời sống văn học có nhiều chuyển đổi và hồi ký cũng không đứng ngoài lề Sau
1975 hòa bình lặp lại xã hội có nhiều biến đổi, vì thế tâm tư tình cảm, suy nghĩ của con nguời đặc biệt là của nhà văn cũng đổi khác Bên cạnh vấn đề về vận mệnh đất nước, dân tộc thì vấn đề về số phận cá nhân được đặt ra gay gắt, ý thức
cá nhân thức tỉnh trỗi dậy mạnh mẽ Các vấn đề thuộc về cá nhân riêng tư từ trước bị kìm nén bị giấu đi trong cái chung trong cái nhân danh cái cộng đồng thì giờ đây đã được chú ý khai thác và đào sâu hơn Ý thức con người cá nhân với những nhu cầu, khát vọng đời thường mang tính bản năng được đánh thức Văn học hướng đến cảm hứng thế sự đời thường để thỏa mãn những nhu cầu thị hiếu cấp thiết của độc giả Đặc biệt, văn nghệ sĩ có dịp nhìn lại chính mình để khẳng định vai trò vị thế cá nhân trong xã hội trong văn chương
Trong số các nhà văn tiền chiến đã sáng tác qua nhiều giai đoạn văn học thì Nguyên Hồng là một trong những nhà văn viết hồi ký thành công Sau 1975 Nguyên
Hồng gây ấn tượng bởi tập hồi ký Những nhân vật ấy đã sống với tôi với phong
cách hồi ký độc đáo: “Nhà văn không hề tái hiện sự kiện, biến cố, ông tập trung vào
những điểm chính yếu, sinh động nhất để dựng lại linh khí thời quá vãng Cái mà Nguyên Hồng quan tâm hơn cả là làm sao để thể hiện một cách thật chính xác tâm trạng mình trong những thời khắc khó quên ấy Hồi ký của ông, vì thế, có thể coi là hồi ký tâm trạng” [20, tr 4] Hồi ký của Nguyên Hồng chất thơ toát lên từ cuộc đời
chứ không phải là lối thi vị hóa cảnh vật và cảnh đời
Trang 30Tô Hoài là nhà văn khơi nguồn cho mùa vàng bội thu của hồi ký sau 1975 Hồi ký là nơi mà nhà văn đã thể hiện rõ nhất sở trường cùng cá tính sáng tạo của
mình Tô Hoài tiếp tục thể hiện khả năng viết của mình ở độ tuổi “thất thập cổ lai
hy” bằng các cuốn hồi ký Cát bụi chân ai, Chiều chiều, Chuyện cũ Hà Nội, Những gương mặt Ở các tác phẩm này ông đã chứng tỏ bản lĩnh, cá tính và sự
trải đời qua những chi tiết về đời tư đã được mờ đi thay vào đó là những vấn đề
về xã hội thế sự được soi chiếu qua lăng kính của nhà văn - người kể chuyện Chuyện đời, chuyện nghề với mọi biểu hiện phức tạp tinh vi nhất hiện lên khá cận cảnh Các tác phẩm của Tô Hoài thông qua những mảng hiện thực phong phú của cuộc sống đời thường đã tái hiện sinh động sâu sắc bức tranh về những chặng đường lịch sử đầy biến cố lớn lao của dân tộc khi ông đứng ở cuối cuộc đời cũng
là ở cuối thế kỷ Tô Hoài không đi vào diện rộng như các nhà sử học nhưng những
gì mà ông nắm bắt được là những vấn đề điển hình mang tính biểu tượng, gây ấn tượng đặc biệt cho nhà văn Sự pha trộn giữa các thể loại cũng khiến bạn đọc và
giới phê bình khó xác định thể loại tác phẩm Các tập truyện Chiều chiều, Cát bụi
chân ai hay Chuyện cũ Hà Nội, Những gương mặt có người coi là hồi ký, nhưng
cũng có người coi đó là tự truyện, thậm chí nó mang dáng dấp của tiểu thuyết…Nhưng dù coi nó là thể loại nào đi chăng nữa thì tất cả đều không thể phủ nhận các tác phẩm ấy đều mang yếu tố tự truyện rõ nét
Trong diện mạo chung của hồi ký văn học đương đại nổi bật là sự có mặt của thế hệ các nhà văn - chiến sĩ, đây là loại hình nhà văn đặc biệt của giai đoạn đất nước có chiến tranh Hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử đấu tranh dân tộc đã sản sinh ra một thế hệ những người lính mang tâm hồn thi sĩ cầm súng, cầm bút Các thế hệ này đã cho ra đời những trang văn ngay trong khói lửa chiến tranh với
những dòng nhật ký thấm đẫm không khí chiến trường như Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong, Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc, Nhật ký
chiến trường của Phan Tứ, Nhật Ký Đặng Thùy Trâm…Có những nhà văn -
chiến sĩ đã ngã xuống ở tuổi hai mươi và cũng có các nhà văn nhìn lại ký ức chiến tranh với cảm xúc còn tươi mới sau một chặng đường nhiều biến động Trong số
Trang 31các nhà văn khoác áo lính Phan Tứ là người kịp viết hồi ký để tiếp nối những
dòng nhật ký chiến trường thì hồi ký Trong mưa núi in đậm phong cách của nhà
văn đã từng được khẳng định ở thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn Đó là ngòi bút đã nói lên hiện thực trần trụi với chất lý tưởng thời đại cùng với chất sử thi hào hùng Khác với hồi ký của thế hệ các nhà văn tiền chiến, Phan Tứ nhìn quá khứ ở cự ly gần Những câu chuyện những sự kiện liên quan trực tiếp đến đời sống chiến đấu của nhân dân trong giai đoạn khốc liệt nhất của lịch sử còn tươi nồng sức sống hiện lên thật rõ nét
Hiện nay, đời sống văn học đương đại xuất hiện nhiều tác phẩm tự truyện
mà các nhà văn đã dũng cảm nói lên những điều thầm kín của bản thân như chuyện công khai danh tính, những trăn trở, suy nghĩ đau đớn về trách nhiệm của đời
mình, như: Lê Vân sống và yêu (Bùi Mai Hạnh ghi), Bóng (Hoàng Nguyên và Đoan Trang ghi), Không lạc loài (Lê Anh Hoài ghi)…Đây là những tác phẩm
“người thật - việc thật”, người phát ngôn sẽ tự chịu trách nhiệm về những lời kể
và tính xác thực của câu chuyện Viết hồi ký cũng là nhu cầu của nhiều người hoạt động ở lĩnh vực ngoài văn học Các tác giả hoạt động trong lĩnh vực chính trị đã
góp phần tăng thêm số lượng hồi ký sau 1975 Tiêu biểu như: Bác Hồ về nước,
Quê hương và đồng đội (Trần Tiến Cung); Người con đất Quảng kiên trung (Lê
Hải Lý); Những năm tháng quyết định (Hoàng Văn Thái); Bác Hồ, những kỷ
niệm không quên (Phùng Thế Tài); Ký ức Tây Nguyên (Đặng Vũ Hiệp); Hồi ký Trần Văn Giàu (Trần Văn Giàu); Gia đình bạn bè, đất nước (Nguyễn Thị
Bình)…Bên cạnh bức tranh đầy màu sắc của cuộc sống đương đại các tác giả luôn luôn quan tâm đến hiện thực của đất nước
của dân tộc qua chiều dài thế kỷ đặc biệt qua hai cuộc chiến tranh cứu quốc vĩ đại
Những vấn đề tưởng như đã thuộc về “một thời quá khứ” vẫn luôn được ưu ái
trong các tác phẩm hồi ký Dạng hồi ký này đã tái hiện lịch sử ghi lại chân thực hồi ức kinh nghiệm của những người tham dự trực tiếp vào những biến cố trọng đại Nó trở thành những tư liệu quý giá mang giá trị lịch sử sâu sắc vì người kể là
Trang 32những nhân chứng sống của thời đại Các tập hồi ký cách mạng chủ yếu hướng về chủ trương đường lối cách mạng trong các thời kỳ hoạt động qua một số sự việc
cụ thể đồng thời nêu ra một số sự thật trong lịch sử hiện đại về các trận đánh của các nhà chỉ huy quân sự có cả những thành công, có cả những sai lầm dẫn đến thất bại, những quan hệ đồng đội đồng chí
Sự góp mặt của các thể loại mang yếu tố tự truyện đã chứng tỏ sự vận động không ngừng của xu hướng dân chủ hóa trong văn học Song song với sự hiện diện của con người cá nhân trong các mối quan hệ đan xen phức tạp là sự đa dạng của các thành phần tác giả Giờ đây hồi ký, tự truyện không còn là tiếng nói của các văn nhân mà còn là lời giãi bày, chia sẻ của giới trí thức về những suy tư trăn trở những uẩn khúc của bản thân trước các biến chuyển của xã hội và thời đại….Chính sự xuất hiện liên tục và đa dạng ấy đã mang một luồng sinh khí mới cho nghệ thuật văn xuôi tự sự Việt Nam đương đại
1.3 Quan niệm nghệ thuật của Tô Hoài về con người và văn chương
Tô Hoài là nhà văn sớm bước vào đời, vào nghề văn và cũng sớm tham gia cách mạng Trên hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình, ông luôn có những
cố gắng tìm tòi, khám phá những điều mới mẻ của cuộc sống Nhà văn là người luôn có ý thức về nghề nên ông rất nghiêm túc trong việc cầm bút Ông xác định mục đích sáng tác là làm thế nào để người đọc say mê, nghiền ngẫm và có thể cười hoặc khóc qua mỗi tác phẩm Với ông người cầm bút phải là người đi sâu tìm hiểu cuộc đời, biết nắm bắt những sự kiện mới, những thay đổi của con người
Rõ ràng sáng tác văn chương không chỉ đơn thuần là một công việc mà quan trọng hơn nó mang ý nghĩa nhân sinh và gây được cảm xúc cho con người thông qua việc phản ánh đúng bản chất xã hội Đó là một trong những yếu tố góp phần làm nên sức hấp dẫn, sức sống và ý nghĩa lâu bền ở tác phẩm của ông đối với đời sống tinh thần của bạn đọc nhiều thế hệ Mỗi nhà văn khi cầm bút luôn tạo cho mình một sắc thái riêng trong văn chương không lẫn với ai Tô Hoài cũng thế, ông đến với nghề văn không chỉ tạo ra cho mình nét riêng mà còn mang lại cho
Trang 33văn chương một quan niệm nghệ thuật chân chính Tô Hoài hướng ngòi bút của mình tới cuộc sống đời thường vào những chuyện làng chuyện trong nhà, cảnh
và người của một vùng quê nghèo Tô Hoài đã từng phải thốt lên “Đời sống xã
hội quanh tôi, tư tưởng hoàn cảnh của chính tôi đã vào cả sáng tác của tôi Ý nghĩ tự nhiên của tôi bấy giờ là viết những gì xảy ra trong nhà, trong làng quanh mình” [32, tr 236]
Ban đầu, Tô Hoài đến với văn chương ngoài việc thỏa mãn đam mê còn có
lý do chính đáng là để kiếm sống vì nó phù hợp với hoàn cảnh của ông khi ấy Với Tô Hoài nghề văn là một nghề luôn phải đào sâu phải học hỏi Để có được các tác phẩm để đời thì phải chịu khó nghe ngóng tìm kiếm, thu thập mọi vốn liếng thông tin Do đó ông có những quan niệm vô cùng khắt khe về nghề viết văn Người viết văn là người lao động nghệ thuật nên họ hội tụ đầy đủ vẻ đẹp cao
quý và cả những điều bình thường thậm chí là tầm thường: “Chúng tôi cũng có đủ
thói hư tật xấu của kiểu người như chúng tôi trong xã hội, những ích kỉ, ganh ghét nhỏ nhen” [36, tr 16]
Do hoàn cảnh xuất thân cùng với môi trường sống cách xa và không được giao lưu nhiều với các tầng lớp thượng lưu trong xã hội nên Tô Hoài chỉ được gần gũi với những con người bình dân, lam lũ, nghèo khổ Ông chủ yếu là viết về những con người bình thường xung quanh mình Viết về họ, Tô Hoài đã tỏ ra am hiểu tâm lí, tình cảm của họ vô cùng sâu sắc Tô Hoài đã bám riết lấy cuộc sống
và những con người bình dị để cảm nhận làm nguồn cảm hứng sáng tác của mình Đặc biệt ông chú ý đến phong tục tập quán và phong cách sinh hoạt của người
dân: “Đến tuổi trăng tròn thì tóc nuột nà dần Chải đầu, mái tóc đen nhánh, chiếc
lược thưa miết một vạch hất làn tóc vét sang hai bên, đường ngôi rẽ giữa thẳng chấm đỉnh đầu, và bên hiên tóc lưỡi trai chờ hờ sau gáy Cô gái đương thì, món tóc tự nhiên thõng ra ngoài đuôi khăn Không hiểu sao chỗ tóc dài mượt mà ấy lại có tên đùa cợt là tóc đuôi gà” [35, tr 362]
Trang 34Viết về cuộc sống bình dị xung quanh mình là điều mà nhà văn luôn tâm niệm ngay từ những ngày đầu đến với văn chương Và trước sau Tô Hoài viết về những chuyện hết sức đời thường nhưng vẫn thấy hiển hiện đầy đủ bóng dáng và âm vang của lịch sử Đó là vì nhà văn đã khái quát hiện thực theo cách riêng của mình Mảnh đất và con người ven đô đã đi vào văn chương Tô Hoài một cách tự nhiên như nó vốn có Nhà văn luôn ý thức học tập lời ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân lao
động Ông tâm sự: “Ảnh hưởng đầu tiên đối với tôi không nói về tư tưởng, lập trường
chính trị, chính là người làng Nghĩa Đô của tôi Người ta nói thế nào, tôi cứ thế mà xáo thành văn” [41, tr 39] Điều này trở thành kênh thẩm mĩ làm nên quan niệm
nghệ thuật của ông trong suốt quá trình sáng tác
Viết ở nhiều thể loại nhưng ông không quá chú trọng vào bất kì một thể loại nào nhất định Chủ yếu là ông nói lên sự thật để gây suy nghĩ cho người đọc Đối với Tô Hoài viết tự truyện, hồi kí không phải là sự sao chép thông thường những gì mình trải nghiệm mà đó là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo giống như con người có nhu cầu giãi bày tâm sự để khẳng định cảm nhận của mình về một thời dĩ vãng đã qua Hiện lên trong tác phẩm Tô Hoài là những vui buồn của cuộc sống thường nhật những bon chen vật lộn của nhà văn và là những ấn tượng những
kỉ niệm sâu sắc về một thế hệ nhà văn hiện lên nhiều chiều khiến người đọc vô cùng xúc động
Dựng lên các bức chân dung của các nhà văn để khái quát nên diện mạo lịch sử của một thời kì văn học đầy biến động, phải chăng Tô Hoài muốn đi tới một quan niệm mới về nghề văn, nhà văn đó là nhà văn cũng giống như nghề viết văn là vô cùng cao quý song đó không phải là việc gì xuất chúng phi thường Nhà văn cũng chỉ là một con người bình thường do cuộc sống nhào nặn nên Tô Hoài không ngần ngại đặt họ giữa cuộc sống bình thường để soi chiếu Chính từ quan niệm về nhà văn và về nghề văn như vậy mà suốt cuộc đời cầm bút của mình Tô Hoài luôn gắn bó mật thiết với cuộc sống bình thường của quần chúng nhân dân
Trang 35để có thể cảm nhận cuộc sống và tìm chất liệu cho ngòi bút nhằm thể hiện toàn diện quan niệm nghệ thuật ấy
Mỗi nhà văn khi xây dựng nhân vật đều xuất phát từ quan niệm nghệ thuật
về con người của riêng mình Con người trong văn Nguyễn Tuân được thể hiện ở phẩm chất tài hoa nghệ sĩ ít thấy những dung tục đời thường, ở văn Nam Cao con người lại được biết đến trong cái vặt vãnh của cuộc sống song luôn tự ý thức rõ rệt về mình đến độ họ phải dằn vặt và đau đớn trước những bi kịch của kiếp người, phải gánh chịu những kết cục hết sức bi thảm Còn Tô Hoài lại nhìn nhận con người với đầy đủ cái mạnh cái yếu cái bình thường, thậm chí là cả các thói hư tật xấu Trong quan niệm của Tô Hoài con người không phải là thánh nhân mà chỉ là những con người hết sức bình thường Dù là những con người đau khổ cùng quẫn dưới đáy xã hội cũng đều hiện lên hết sức chân thực, sinh động như những con người trong đời sống thực Ngay cả những tên tuổi lớn trong làng văn Việt Nam cũng được miêu tả gần gũi không chút khoa trương Đó là niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và khổ đau rất đỗi con người Bởi vậy ông nâng niu trân trọng từng niềm vui và chia sẻ từng nỗi buồn dù nhỏ nhất trong tâm hồn nhân vật
Tô Hoài luôn quan niệm: “Người ta ra người ta thì phải là người ta đã chứ”
để xây dựng chân dung nhân vật dù là các văn nghệ sĩ hay bất cứ ai Từ quan niệm
về con người như thế Tô Hoài ít tìm đến chiều sâu nhân bản trong những triết lí nhân sinh mà ông muốn gửi đến chúng ta một thông điệp: Hãy hiểu, hãy trân trọng mỗi phẩm chất cá tính của con người vì đó mới đúng là cuộc sống Tô Hoài đã xây dựng cho mình một thế giới nhân vật với cách nhìn cuộc sống riêng trong một giai đoạn lịch sử nhất định Ông đã rút ngắn khoảng cách giữa người kể với đối tượng để giúp bạn đọc được tiếp cận được bước vào một lãnh địa với tất cả sự trần trụi khách quan mà không phải cây bút nào cũng có được
Tô Hoài là nhà văn có cách quan sát thông minh, hóm hỉnh và rất tinh tế Chính vì vậy nhà văn dễ dàng phát hiện và thu nhận vào sáng tác của mình những chi tiết cô đọng điển hình của thế giới quan Bên cạnh đó, Tô Hoài còn có sự so
Trang 36sánh, tỉ mỉ với những liên tưởng đầy thú vị Những trang văn của Tô Hoài khi viết
về phong tục tập quán dù ở bất kỳ đâu cũng đều để lại cho người đọc một ấn tượng sâu bền, đem đến nguồn tư liệu hết sức phong phú về lịch sử, địa lý và đời sống tinh thần của dân tộc Đặc biệt, với những trang văn miêu tả ngoại hình và tâm lý nhân vật, Tô Hoài đã lựa chọn những chi tiết hết sức độc đáo, gợi cảm nhằm tác động đến nhận thức của người đọc về thân phận con người Nhà văn thường sử dụng yếu tố ngoại cảnh để góp phần làm nổi bật nội tâm nhân vật trong từng cảnh huống cụ thể Chính vì lẽ đó mà nhân vật trong tác phẩm của Tô Hoài luôn mang màu sắc riêng và gợi cho bạn đọc biết bao điều suy ngẫm
Tô Hoài luôn quan niệm cuộc đời như là văn chương nên ông đã viết những trang sách vô cùng hấp dẫn và thú vị Cuốn sách đời người ấy vượt qua bao thời gian vẫn được người đọc đón nhận với một niềm trân trọng Ở một khía cạnh khác từ những hình thức văn chương khác nhau quá khứ đã trở về, rọi cái nhìn chất vấn vào hiện tại Và xa hơn nữa tương lai sẽ là những dự phóng ẩn chứa điều nhắc nhở của lịch sử
Tiểu kết chương 1
Yếu tố tự truyện trong trong văn học Việt Nam đang ngày càng nở rộ, điều
đó đã đưa văn học Việt Nam dần hội nhập với văn học thế giới Với sự nỗ lực cách tân của các nhà văn, các tác phẩm thuộc dòng yếu tố tự truyện đã vượt qua được những thách thức của thời gian và được bạn đọc đón nhận Tìm hiểu về yếu
tố tự truyện qua các giai đoạn của văn học Việt Nam giúp chúng tôi thấy được đặc trưng cơ bản của thể loại này Thêm vào đó việc tìm hiểu về quan niệm nghệ thuật
về con người của nhà văn Tô Hoài đã giúp ta hiểu hơn về một nhà văn lớn của dân tộc
Trang 37Chương 2 HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ SỰ THỂ HIỆN CÁI TÔI TRONG VĂN XUÔI TÔ HOÀI SAU 1986 2.1 Sự tái hiện cuộc sống qua hồi ức
2.1.1 Bức tranh cuộc sống trong chiến tranh
Tô Hoài là nhà văn đã được chứng kiến và trải qua những biến động lớn lao của lịch sử dân tộc Trong những năm tháng chiến tranh, ký ức của Tô Hoài là những mảnh ghép vụn vặt với đủ các sự kiện đang diễn ra Trong những ký ức ấy người đọc thấy cả cái hay cái dở của cuộc sống Tất cả được ghép lại thành một bức tranh cuộc sống hoàn chỉnh với những mảng sáng tối và những góc khuất mà không phải là người trong cuộc thì không tài nào có thể biết hết được Ký ức chiến tranh trong những ngày giặc Mỹ đánh phá Hà Nội được khép lại với hiệp định đình chiến của Mai Đức Thọ và Kitsingio tại Hà Nội Một sự kiện to lớn như thế
mà qua ngòi bút Tô Hoài được vẽ nên bằng những nét vẽ hết sức giản đơn
Chiến tranh làm cho cuộc sống của người dân rơi vào tận cùng của những
sự khổ đau Lúc này con người hiện lên quẩn quanh với cái đói Một bức tranh về hiện thực vô cùng rõ nét trong những năm tháng chiến tranh hiện ra Sự khốn cùng
của cái đói đã được nhà văn phản ánh cụ thể chân thực trong truyện Chết đói
(Chuyện cũ Hà Nội) Nạn đói năm 1945 đã làm vơi đi nửa số dân của làng Nghĩa
Đô Chỉ tháng trước đến tháng sau mà ở các lớp học truyền bá chữ Quốc ngữ đã
vơi hẳn đi Học trò đói rạc đã bỏ đi hết hay là chết cũng không ai biết Cái đói làm cho con người trở nên điêu đứng khổ sở, nhếch nhác: như cái Lợi con nhà bác Khán lấy chồng nhưng gặp cơn đói kém, vợ chồng không ai nuôi nổi nên Lợi lại
về ở nhà bố mẹ đẻ nhưng vì không có cái ăn nên người nó nhợt nhạt bủng beo và cuối cùng Lợi chết ở đâu không ai hay Cũng bởi nạn đói ác liệt nên Hiền phải lê
la kiếm sống ở chợ Trông Hiền ủ rũ và thở khừ khừ như con mèo hen Hiền bị đánh gãy chân vì cướp nải chuối ở cửa đình Yên Thái Vì cái thảm cảnh ấy mà
Trang 38thằng Vinh con dì Tài cũng chẳng hơn Hiền là bao “chân tay nó khẳng khiu, xám
ngắt” [35, tr 64] Cái đói đã làm cho dì Tư phải ăn khô dầu: “Cả dạo đói, dì Tư
ăn khô dầu Khô dầu nuốt vào trương bụng lên, đã vài hôm, bụng vẫn ành ạch Phân bón khô dầu xưa nay vẫn bán ở các hàng dầu hỏa, hàng thuốc lào Khô dầu, từng bánh xám xịt rắn như đá Khô dầu để bón vườn ruộng nhưng thấy nói là bánh, bánh khô dầu, bánh thì chắc ăn được, bây giờ nhiều người ăn” [35, tr 65]
Mặc dù khô dầu là phân để bón ruộng “nhưng nó cũng đã giúp dì Tư sống ốm o
được tới ngày trông thấy mặt gạo” [35, tr 65] Song những bánh khô dầu ấy để
lại trong người dì Tư đủ các thứ bệnh quái ác không chữa được để cuối cùng dì bị sốt rét mà chết
Cái đói của thời kì chiến tranh đã trở thành nỗi ám ảnh của bao nhiêu người
Tô Hoài đã phải thốt lên “Bây giờ, mỗi khi đi qua chợ Bưởi, cả những ngày phiên
đương đông, bỗng chớp chớp mắt tôi lại như thấy trong các cầu chợ xuống tận hai bên bờ sông Tô Lịch, lò dò đi ra những bộ xương người lảo đảo, kheo khư, nhấp nhô” [35, tr 65] Cái đói đã làm cho con người trở nên hèn hạ và mất hết
nhân cách Vì miếng cơm manh áo mà con người sẵn sàng đánh mất lòng tự trọng
và danh dự của mình cốt làm sao lấp đầy chỗ trống trong dạ dầy để sống lay lắt qua ngày trong một giai đoạn lịch sử khốc liệt Tô Hoài ít nói đến sự ác liệt của chiến tranh nhưng chúng ta đều hiểu cái chết là điều không thể tránh khỏi Đó là cái chết của một cô bác sĩ mới lấy chồng ngày hôm trước Rồi những đợt bom nối nhau trút xuống bến xe Kim Liên làm bao người phải chết Nỗi đau mất mát ấy được tái hiện trong những trang nhật kí của những binh sĩ tử trận mà chưa kịp gửi cho người thân…Tất cả đều miêu tả sự khốc liệt của chiến tranh
Bức tranh hiện thực đời sống của những năm tháng kháng chiến được nhà
văn ghi lại qua những câu chuyện sơ tán trong thành phố: “Thành phố sôi nổi mà
lại như lặng lẽ, khinh bạc, phớt đời Lại đòn đánh mới, lại sắp bom, lại sơ tán, triệt để sơ tán Lần nào cũng tưởng đã vợi hết người rồi vẫn cứ thấy trẻ con, người già lốc nhốc ở đâu bò ra lắm thế” [33, tr 262] Cả Hà Nội thời ấy xơ xác tiêu điều
Trang 39trong sự tàn phá của giặc: “Kho xăng Đức Giang bị ném bom lúc xế trưa Máy
bay nhào xuống, một chiếc trúng đạn lết ngược vào thành phố, rơi xuống vườn chùa Thông làng Mọc…” [33, tr 275] Tuy chiến tranh diễn ra vô cùng ác liệt
nhưng cuộc sống sinh hoạt của người dân vẫn diễn ra bình thường: “Tối đến, phố
xá vẫn đông đúc một tối chủ nhật giữa tháng lĩnh lương kỳ hai Quanh Bờ Hồ và khu hàng Giầy bộn người Cả mấy quán ăn đều hết chim quay Cà phê Lâm, cà phê Ca không còn chỗ chen chân Những cửa hàng thắp đèn dầu nhấp nhoáng”
[33, tr 272]
Mặc cho còi báo động hay máy bay giặc tuôn khói chằng chịt trên bầu trời
“thế mà quán bia Chuồng Cọp bên hồ Thuyền Cuông vẫn người xếp rồng rắn
quanh hàng lan can sắt suốt ngày đến chặp tối” [33, tr 277] Khi chiến tranh tàn
phá thì các quán bia đông như hội thế mà lúc đình chiến các quán ấy lại đóng cửa Một sự kiện lẽ ra phải được tuyên bố trịnh trọng thế nhưng lại được truyền tai
nhau bởi bọn sâu bia: “Người ta kháo nhau rằng công an sợ các bợm bia bốc bên
kéo ra chặn xe ném cốc vào mặt lão Kít” [33, tr 315] Người đọc còn thấy cuộc
sống của con người vẫn diễn ra bình thản xung quanh khung cảnh tàn phá đó “kho
Đức Giang chồng đống những thùng đựng xăng cháy đỏ hắt Ngoài bờ rào, ruộng lúa mới cấy mạ đã bén rễ xanh rờn Những người đàn bà lúi húi cắt cỏ Một người đàn ông đặt thúng thóc trên đầu gối, vung tay gieo hạt, hạt lúa giống vãi xuống mặt ruộng xâm xấp còn sóng sánh đường bừa Chú bé kia nằm trên lưng trâu giữa bãi cỏ, hai cân cong như móc câu, mắt lơ đãng nhìn ra đường…” [33, tr 276]
Chiến tranh vẫn tiếp diễn song con người vẫn phải lao động vẫn phải sinh hoạt và
sự sống vẫn tiếp tục hồi sinh
Có lẽ chỉ ở trong các sáng tác của Tô Hoài việc đi tù là một nghề phổ biến dùng để kiếm miếng ăn manh áo lúc bấy giờ tưởng như vô lí nhưng thực tế nó đã
trở thành một nghề chuyên nghiệp trong xã hội thời đó Trong Bắt rượu nhà văn
đã ghi lại rất trung thực cảnh tượng này: “Thì ra Tây đoan khám rượu, bắt được
cái lò nhà ông lý hào ngoài bãi ngô dưới bờ sông Rõ ràng có đứa xấu bụng đi
Trang 40báo ăn thưởng Nồi rượu còn đương đun Không tẩu tán được mảy may Ông lý hào phải vội nhờ người đi bảo chú bếp Mỡ theo tang vật lên tỉnh Nói một câu thế, chú đã biết lệ Có gì thì chú bếp cứ đứng ra nhận nhà chú nấu rượu rồi chú vào ngồi nhà pha Qua tết, sang giêng còn phải tù hay được về, đợi ra tòa xong rồi cái ấy sẽ liệu với nhau sau Ở nhà, vợ con chú bếp được ông lý hào hẵng đưa món tiền chục bạc ăn tết đã Bên làng Mai còn nhiều nhà nấu rượu lậu, có những người đã quen đi ở tù thay người bị bắt rượu như thế ” [35, tr 23]
Qua cái nhìn của Tô Hoài thì bức tranh cuộc sống xã hội trong chiến tranh luôn được bộc lộ từ những cảnh sinh hoạt đời thường Mỗi bước thăng trầm của lịch sử được thể hiện rõ qua ngòi bút sắc sảo của ông Nhà văn đã góp nhặt những điều vụn vặt của cuộc sống sinh hoạt đời thường ấy thật khéo léo thành một bức
tranh hoàn chỉnh: “Buổi chiều, máy bay Mỹ bắn rải rác lung tung nhiều nơi trong
thành phố…ở một vòi nước công cộng ngay trên phố, một loạt đạn đã xả xuống mấy người đang nhặt rau vo gạo làm cơm chiều Mấy hôm không ai dám ra lấy nước, vòi nước vẫn mở, nước xả lênh láng suốt đêm” [34, tr 307-308] Rồi đến
những cảnh tập cáng thương băng bó trong thời chiến người bị thương nằm rên rồi đến các chuyện chữa cháy…Dường như cả cuộc sống sinh hoạt của người dân được tác giả thu nhỏ gói ghém trong hồi kí với mọi ngõ ngách tầng bậc đời thường nhất và thật như cuộc sống đang diễn ra hàng ngày
Tô Hoài là nhà văn luôn nhìn nhận cuộc sống và con người ở nhiều chiều, nhiều góc độ khác nhau Chính vì thế mà ngay giữa lúc nước sôi lửa bỏng của cuộc chiến tranh ông vẫn nhận thấy con người ngoài những điều tốt đẹp thì vẫn không từ bỏ được những thói hư tật xấu của mình Vụ bắt người đàn bà bán vé xổ
số mà trong tay có đến ba mươi sáu cái chìa khóa của ba mươi sáu cái buồng Đó
là nơi chuyên cho những người hủ hóa thuê kiếm chút tiền tiêu vặt, điều này phần nào nói lên sự suy đồi đạo đức Nghiêm trọng hơn là việc xét xử vụ lợi dụng lúc máy bay của kẻ thù tạm dừng ném bom đã nhảy ra sau xe đạp dí dao vào người rồi trấn lột đồng hồ, ví tiền, giày…nhằm bán lấy tiền tiêu xài Đáng lên án hơn cả