Những tác phẩm đã để lại ấn tượng trong lòng bạn đọc về đề tài này: Chuyện làng ngày ấy Võ Văn Trực , Bến không chồng Dương Hướng, Bước qua lời nguyền Tạ Duy Anh, Mảnh đất lắm người nhiề
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
VŨ THỊ THU TRANG
GÓC NHÌN TRỰC DIỆN VỀ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT
QUA “NƯỚC MẮT MỘT THỜI” CỦA
NGUYỄN KHOA ĐĂNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thái Nguyên – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
VŨ THỊ THU TRANG
GÓC NHÌN TRỰC DIỆN VỀ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT
QUA “NƯỚC MẮT MỘT THỜI” CỦA
NGUYỄN KHOA ĐĂNG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Ngân
Thái Nguyên – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thu Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm
ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Văn học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo
đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên
hướng dẫn TS Lê Thị Ngân đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt
thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thu Trang
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Cấu trúc của luận văn 8
NỘI DUNG 9
Chương 1: CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT – MỘT THỜI BÃO TÁP 9
1.1 Lịch sử nhìn lại 9
1.2 Quan điểm của Đảng về đổi mới văn học 15
1.3.Vấn đề cải cách ruộng đất trong văn học Việt Nam hiện đại………
Tiểu kết chương 1 19
Chương 2: NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐỜI TRONG “NƯỚC MẮT MỘT THỜI” 20
2.1 Những đau đớn và mất mát 20
2.1.1 Tước đi quyền sống của con người………
2.1.2 Những cuộc hành xác đau đớn………
2.1.3 Cuốn đi ước mơ, hoài bão………
2.1.4 Phá hoại tình đoàn kết, gắn bó vốn có của con người………
2.2 Tình yêu và lòng bao dung 36
2.2.1 Tình yêu rơi vào bi kịch………
2.2.2 Tấm lòng khoan dung, độ lượng giữa con người với con người………
Tiểu kết chương 2 46
Chương 3: NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT CỦA NGUYỄN KHOA ĐĂNG TRONG “NƯỚC MẮT MỘT THỜI” 48
Trang 63.1 Điểm nhìn trần thuật 48
3.1.1 Khái niệm trần thuật và điểm nhìn trần thuật 48
3.1.2 Điểm nhìn trần thuật trong “Nước mắt một thời” 53
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 60
3.2.1 Nhân vật và chức năng của nhân vật trong văn học 60
3.2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong “ Nước mắt một thời” 61
3.2.2.1 Đặt tên cho nhân vật………
3.2.2.2 Miêu tả chân dung ngoại hình nhân vật 3.2.2.3 Miêu tả tâm lí nhân vật Tiểu kết chương 3 74
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách ruộng đất chính thức bắt đầu ngày 25/12/1953 và kết thúc ngày 30/7/1956 với rất nhiều vinh quang và cay đắng, nhiều thắng lợi và thất bại khó thể quên Nhưng, điểm lại lịch sử cũng như các tác phẩm văn chương, phần vinh quang, phần thắng lợi được nhắc đến nhiều hơn, để tạo động lực, tạo niềm tin nhân dân vào bước đường đi tới của dân tộc Những thất bại, những cay đắng, những nước mắt có nói đến, nhưng được tiết chế Một phần
do tâm lý người Việt, hiền hòa và bao dung, luôn nhớ về những điều tốt lành hơn những điều trùng trùng cay đắng Hai là cũng có những giai đoạn, vì nhiệm vụ chính trị, văn chương phục vụ cách mạng, chưa có điều kiện để nói những điều chưa đến thời điểm nói
Thời kì đổi mới đã đem lại luồng sinh khí mới cho kinh tế, xã hội và văn hóa nước nhà Văn học được cởi trói Các nhà văn đã đọc lời “ai điếu” cho một thời văn học minh họa Đáp ứng nhu cầu nhận thức, đánh giá lại những vấn đề của quá khứ, nhiều tác phẩm đã khai thác đề tài cải cách ruộng đất Chuyện dẫu cũ, nhưng vẫn lạ vì tinh thần trung thực của văn học Những chuyện ấu trĩ, sai lầm, mặt trái của cải cách ruộng đất đã được văn học xem xét, lật xới ráo riết, sòng phẳng Những lầm lẫn, những ngộ nhận, những tổn thương nhân tính được nhắc đến dù rất đau lòng Những tác phẩm đã để lại ấn
tượng trong lòng bạn đọc về đề tài này: Chuyện làng ngày ấy (Võ Văn Trực) , Bến không chồng (Dương Hướng), Bước qua lời nguyền (Tạ Duy Anh), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Phiên chợ Giát (Nguyễn Minh Châu)…
Nhưng những tác phẩm đó mới chỉ chạm đến nỗi đau của cải cách ruộng đất Càng ngày, các nhà văn thấy thấm thía một điều, có nói lên được những mất mát, đau thương, máu chảy của một thời, thế hệ mai sau mới trong
Trang 8lành, khỏe mạnh để đi tới Nếu không nói, sự tăm tối, giả dối sẽ đeo bám đời sau Khi tự phê bình và phê bình để tìm ra bài học cho chặng đường đã qua thì mới có con đường đúng về hành trình sắp tới Ngay sau công cuộc cải cách ruộng đất diễn ra, đã có một số tác phẩm viết về đề tài này Tuy nhiên, các tác phẩm đó đã vấp phải nhiều ý kiến trái chiều Phải đến những năm đổi mới, mới có thêm một số tác phẩm hay viết về đề tài mà từ trước tới bấy giờ, văn học luôn né tránh Một trong số những tác phẩm ấy phải kể đến cuốn tiểu
thuyết Nước mắt một thời của Nguyễn Khoa Đăng được Nhà xuất bản Hội
nhà văn ấn hành năm 2009 Không khí văn học lại một lần nữa được khuấy động về đề tài này Người ta đã gọi Nguyễn Khoa Đăng “xứng đáng là một nhà văn anh hùng, khi cầm bút ghi lại những năm tháng đau thương mà sôi động của đất nước” Với bản lĩnh và khí phách của những nhà văn xác định vai trò thư ký thời đại, nhà văn Nguyễn Khoa Đăng đã dũng cảm ghi lại cái thời đầy
bùn, máu nước mắt của dân tộc Vượt khỏi giá trị văn chương, Nước mắt một
thời còn góp phần minh họa cho lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp qua
những bài học xương máu của dân tộc Bao nhiêu đắng cay, bao nhiêu uất nghẹn, bao nhiêu sợ hãi, bao nhiêu căm thù, đều được hiển hiện trên trang giấy
Nhưng Nước mắt một thời không rơi vào khuynh hướng bôi đen, phủ nhận
lịch sử Tình yêu và sự thủy chung, sự bao dung và lòng nhân ái đã làm cho độc giả nhìn thấy ánh sáng dưới cuối đường hầm để mà đi theo, để mà hy vọng
Độc giả khóc khi đọc Nước mắt một thời Nhưng khóc bằng tinh thần lạc
quan và tư duy cách mạng Đó là tính nhân văn sâu sắc của tác phẩm
Nước mắt một thời của Nguyễn Khoa Đăng xứng đáng được nghiên
cứu một cách chu đáo để thấy được một thời đã qua của lịch sử được nhìn nhận dưới góc độ văn chương; để thấy sự thay đổi quan điểm sáng tác văn chương qua từng giai đoạn; để thấy được sự bứt phá, lòng dũng cảm của các nhà văn khi làm trọn một cách đầy tự trọng vai trò của người “thư kí của thời
Trang 9đại”; để thấy được giá trị của tính thiện trong văn học có sức mạnh cảm hóa con người
Chính bởi những giá trị trên của Nước mắt một thời, chúng tôi quyết
định lựa chọn đề tài GÓC NHÌN TRỰC DIỆN VỀ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT
QUA NƯỚC MẮT MỘT THỜI CỦA NGUYỄN KHOA ĐĂNG
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Một số tác phẩm viết về cải cách ruộng đất
Nằm trong sự vận động chung của thực tế đời sống, văn học thời kì đổi mới cũng đặt ra vấn đề đổi mới cách nhìn về hiện thực Các nhà văn nhìn nhận lại vấn đề phản ánh hiện thực một cách toàn diện hơn, trung thực hơn, phản ánh với một tinh thần biện chứng năng động Đáp ứng những đòi hỏi ấy cùng với những trăn trở của bản thân người cầm bút, những vấn đề xưa cũ trong lịch sử được đào xới và phản ánh một cách nhiều chiều, trung thực hơn
Có một đề tài rất được các nhà văn quan tâm đó là đề tài về cải cách ruộng đất Trước đó, vì nhiều lý do, những bi kịch về cải cách ruộng đất chưa được các tác giả nói đến hoặc nói một cách chưa đầy đủ thì nay được phản ánh với một tầm tư tưởng mới đã trở nên mới mẻ, được độc giả hân hoan đón nhận
Năm 1991, tác phẩm Bến không chồng của Dương Hướng là cái tên
được nhắc tới khá nhiều trong các công trình nghiên cứu về văn học Tác
phẩm được nhận Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1991 Đọc tác phẩm Bến
không chồng, người ta giật mình trước sự thật quá bi đát của lịch sử Cải
cách ruộng đất đem đến cuộc sống ấm no cho những mảnh đời đói khát Nhưng cũng chính cải cách ruộng đất đã đem đến những lầm lẫn, mông muội, phá nát cái giềng mối tốt đẹp giữa người với người, làm khủng hoảng văn hóa làng quê Việt Nam
Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường
là tác phẩm xuất sắc viết về nông thôn Việt Nam sau đổi mới Ngay từ khi
Trang 10mới xuất hiện (1990), tác phẩm đã ngay lập tức gây được chú ý và vinh dự được nhận giải thưởng của Hội nhà văn năm 1991 Tác giả đã tập trung làm bộc lộ qua những trang viết một xã hội đang chuyển mình trong thời khắc giao thời giữa cái cũ và cái mới Cải cách ruộng đất đã đem lại sức sống mới cho người dân Giếng Chùa Nhưng lại làm nảy sinh một số kẻ trục lợi, những cuộc tranh chấp giữa các thế lực, người dân không phát huy được quyền làm chủ dẫn đến mất lòng tin vào hợp tác xã và muốn tách ra khỏi hợp tác xã
Tiểu thuyết Ba người khác của Tô Hoài được coi là một mảng ký ức
trong cuộc đời nhà văn, mở ra một diện mạo mới cho văn chương Việt Nam Tác phẩm là một tấn đại bi kịch về cải cách ruộng đất ở một xã đồng bằng Bắc bộ với các cuộc đấu tố, tranh giành, đẫm máu…Tất cả được tác giả lần lượt phơi bày một cách trần trụi, làm xôn xao dư luận trong và ngoài nước…
Ngoài các tác phẩm trên còn phải kể đến một số tác phẩm khác như:
Chuyện làng ngày ấy (Võ Văn Trực), Cuồng phong (Nguyễn Phan Hách), Thời của thánh thần (Hoàng Minh Tường), Lão khổ (Tạ Duy Anh), Những thiên đường mù (Dương Thu Hương), Kể chuyện làng Gôi (Đinh Nho
Hoan), Phiên chợ Giát (Nguyễn Minh Châu)…
Bên cạnh những tác phẩm nêu trên, không thể không nhắc tới tiểu
thuyết Nước mắt một thời của Nguyễn Khoa Đăng Ngay từ tiêu đề, tác
phẩm này đã gợi lên nỗi niềm u uất, những nỗi khổ đau, tủi nhục miên man, không dứt Nguyễn Khoa Đăng đã khắc họa lại những ký ức đau thương về thời kì cải cách ruộng đất ở miền Bắc với cái nhìn bao dung, độ lượng, giàu tính nhân văn Lại một lần nữa tấm màn lịch sử bị vén lên mặc cho chế độ đã
cố gắng bưng bít
2.2 Tác giả Nguyễn Khoa Đăng và những bài viết về “Nước mắt một thời”
Nguyễn Khoa Đăng là một trong những nhà văn có tác phẩm viết về cải cách ruộng đất Ông tên thật là Nguyễn Đăng Khoa Sinh ngày 1/9/1940 tại
Trang 11Vũ Thư, Thái Bình Ông từng làm nghề dạy học và làm báo Ông là một trong những nhà văn tham gia đầu tiên khi Hội văn nghệ Thái Bình được thành lập Nhà văn Nguyễn Khoa Đăng là hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1985 Ông có một sự nghiệp văn chương khá phong phú với 23 tựa sách, bao gồm các thể loại thơ, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, truyện danh nhân, tiểu thuyết, tạp văn, ngoài ra còn 4 kịch bản phim và hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau, với thể loại nào ông cũng ghi được
những dấu ấn sâu đậm Năm 1970, bài thơ viết cho thiếu nhi Em đi giữa biển
vàng được nhạc sĩ Bùi Đình Thảo phổ nhạc và được bình chọn là một trong
50 bài hát hay nhất viết cho thiếu nhi thế kỉ 20 Một số kịch bản của ông cũng được dàn dựng thành những bộ phim hấp dẫn
Năm 1989, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang - Nguyễn Tấn Dũng gặp riêng Nguyễn Khoa Đăng và đề nghị nhà văn tham gia đoàn Luật sư của tỉnh
để bào chữa, hỗ trợ cho những người dân nghèo Thế là trong 4 năm, với tư cách là bào chữa viên tỉnh Kiên Giang, nhà văn đã tham gia cãi 216 vụ án
216 lần ra tòa, đối với ông là 216 lần suy tư, vì thân chủ của ông phần lớn đều
là những người nông dân ít học và túng bấn Chính trong quãng thời gian đó, những cuốn tiểu thuyết đầy ám ảnh về số phận những con người được xuất
bản: Nước mắt một thời, Hoàng hôn lạnh, Chim mặt người, Mây chiều lảng bảng và Hành trình tìm xác con chim cuốc Trong đó, Nước mắt một thời, Hoàng hôn lạnh, Mây chiều lảng bảng là 3 tác phẩm Nguyễn Khoa Đăng
viết về đề tài Cải cách ruộng đất đã để lại trong lòng người đọc bao suy tư
ngổn ngang Tiểu thuyết Nước mắt một thời là một trong những đứa con tinh
thần của ông được độc giả yêu thích và đón nhận hơn cả
Số lượng bài viết về Nước mắt một thời, cho đến thời điểm hiện tại,
không nhiều Có nhiều lý do Trong đó đề tài của tác phẩm cũng có thể khiến
nhiều người ngần ngại Trong bài viết “Hoàng hôn lạnh vẫn ấm áp tình người” của tác giả Tuy Hòa đăng trên báo Nông nghiệp Việt Nam có đoạn
Trang 12nói về mối liên hệ giữa tác phẩm Nước mắt một thời và Hoàng hôn lạnh:
“Năm 2009, nhà văn Nguyễn Khoa Đăng đã in truyện dài “Nước mắt một thời” lý giải những đau xót ở nông thôn Bắc bộ thập niên 50 của thế kỷ trước Bây giờ, “Hoàng hôn lạnh” mở rộng thêm biên độ nhân tình thế thái liên quan đến sở hữu ruộng đất Hình ảnh người đàn bà bất hạnh ngồi khóc mỗi chiều suốt 45 năm trong tác phẩm như biểu tượng về khổ đau, về ân nghĩa, về
chia ly, về trùng phùng nơi hương thổ chôn nhau cắt rốn”[70]
Tác giả Lê Vinh Quốc trong clbnguoiyeusach.com có mấy nhận xét về
tác phẩm Nước mắt một thời: “Vượt khỏi giá trị văn chương, Nước mắt một thời còn góp phần minh họa cho lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp”;
“Nguyễn Khoa Đăng có một tình yêu lai láng dành cho con người, con vật, cỏ cây hoa lá và tất cả những gì thân thuộc với mình Tình yêu ấy tràn ngập
trong hầu hết các tác phẩm của ông, được thể hiện tinh tế trong Nước mắt một thời”; “Bất cứ độc giả nào đã từng sống trong Nước mắt một thời đều
có thể nhận thấy dường như có cả mình trong tác phẩm ấy Ai cũng cảm thấy nhà văn này nói thay mình về những điều uất ức chất chứa trong lòng suốt bấy nhiêu năm”[80] Như vậy, mặc dù tác giả Tuy Hòa và Lê Vinh Quốc có
đề cập đến tác phẩm Nước mắt một thời của Nguyễn Khoa Đăng nhưng đó
mới chỉ là những lời nhận xét khái quát về tác phẩm, tác giả, chưa có bài viết hay công trình nghiên cứu nào khai thác về tác phẩm cũng như đề tài về cải cách ruộng đất trong tác phẩm một cách trọn vẹn Chính vì vậy, chúng tôi
mạnh dạn chọn đề tài “Góc nhìn trực diện về cải cách ruộng đất qua Nước mắt một thời của Nguyễn Khoa Đăng” để phân tích, đánh giá một cách toàn diện về nội dung, nghệ thuật cũng như những đóng góp của tác giả vào công cuộc đổi mới văn học nước nhà Những nhận xét mà chúng tôi đã tìm hiểu ở trên đã góp phần gợi mở cho chúng tôi tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề: “Góc nhìn trực diện về cải cách
ruộng đất qua Nước mắt một thời của Nguyễn Khoa Đăng” Ngoài ra, luận
văn sẽ mở rộng đối tượng khảo sát qua một số tác phẩm cùng đề tài của Nguyễn Khoa Đăng và các tác giả khác để thấy được sự đồng điệu cũng như cách nhìn riêng của Nguyễn Khoa Đăng về vấn đề cải cách ruộng đất
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu toàn bộ tiểu thuyết Nước mắt một thời của Nguyễn Khoa Đăng gồm 47 chương được Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành năm 2009
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu về tiểu thuyết Nước mắt một thời Qua tác phẩm, có thêm cái
nhìn khách quan về cải cách ruộng đất, về những mất mát, tổn thương, những sai lầm ấu trĩ một thời cũng như trong hoàn cảnh dù có khốn cùng đến đâu, tình yêu, tình người vẫn sống Đánh giá những thành công của tác giả về đề tài này trong tác phẩm
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, chúng tôi tiến hành đề ra cho luận văn của mình những nhiệm vụ chính:
- Tìm hiểu công cuộc cải cách ruộng đất dưới góc nhìn lịch sử
- Tìm hiểu những biểu hiện cụ thể của số phận con người sau cải cách
ruộng đất trong Nước mắt một thời
- Tìm hiểu thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu trong Nước mắt một thời
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội: Nhằm tìm hiểu bối cảnh lịch
sử xã hội Từ đó làm rõ sự đổi mới của văn học trong việc khai thác đề tài cải cách ruộng đất
- Phương pháp so sánh – đối chiếu: Nhằm làm nổi bật dấu ấn riêng của
tác phẩm Nước mắt một thời so với các tác phẩm của các nhà văn khác trên
phương diện đề tài cải cách ruộng đất
- Phương pháp thi pháp học: Nhằm khảo sát, phân tích các yếu tố
nghệ thuật tác giả Nguyễn Khoa Đăng đã sử dụng trong tiểu thuyết Nước
mắt một thời
6 Đóng góp của luận văn
Thông qua đề tài, chúng tôi muốn góp phần tìm hiểu một cách có hệ thống và toàn diện về một thời kì đầy đau thương và mất mát của con người
do cải cách ruộng đất gây ra, cũng như tình người trong cơn giông bão ấy qua
tác phẩm Nước mắt một thời Từ đó, khẳng định đóng góp của tác giả vào
công cuộc đổi mới văn học
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cải cách ruộng đất- một thời bão táp
Chương 2: Những câu chuyện đời trong Nước mắt một thời
Chương 3: Nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Khoa Đăng trong Nước
mắt một thời
Trang 15NỘI DUNG Chương 1 CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT – MỘT THỜI BÃO TÁP
1.1 Lịch sử nhìn lại
Nằm trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc, công cuộc cải cách ruộng đất đã gặt hái được một số thắng lợi căn bản Tuy nhiên, công cuộc này cũng đã phạm một số sai lầm nghiêm trọng khiến nó trở thành một trong những giai đoạn bi thương nhất trong lịch sử phát triển của đất nước
Theo Từ điển bách khoa toàn thư, Cải cách ruộng đất tại miền Bắc
Việt Nam là chương trình nhằm xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt các
thành phần bị xem là "bóc lột", "phản quốc" (theo Pháp, chống lại đất nước),
"phản động" (chống lại chính quyền) như địa chủ phản cách mạng, Việt gian,
cường hào, các đảng đối lập được Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện vào những năm 1953–1956
Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo trong nền kinh tế của Việt Nam Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất quan trọng nhất, nông dân lao động chính là nhân tố chủ lực quyết định quá trình sản xuất, quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng vai trò của giai cấp nông dân Hồ Chí Minh cũng đã có nhận định về
vai trò của giai cấp nông dân: “Nền tảng của vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân, vì nông dân là tối đa số trong dân tộc Nền tảng của cách mạng dân chủ cũng là vấn đề nông dân, vì nông dân là lực lượng cách mạng đông nhất chống đế quốc, chống phong kiến”[11] Chính vì vậy, trong suốt quá trình
lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn coi trọng vấn đề ruộng đất cho nông dân
Trang 16Ngay từ cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp đã tiến hành ách cai trị và bóc lột đất nước ta Việt Nam lúc bấy giờ trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Chủ nghĩa đế quốc Pháp cấu kết với giai cấp địa chủ, nhất là địa chủ phong kiến ra sức cướp đất, áp bức, bóc lột nông dân một cách thậm tệ Bị mất tư liệu sản xuất, nông dân bị mất tự do, trở thành nô lệ, bị lệ thuộc vào giai cấp địa chủ và bị bọn thực dân áp bức dã man
Nắm rõ được tình hình đó, ngay từ khi Cách mạng tháng Tám năm
1945 giành thắng lợi, Đảng và Nhà nước đã tiến hành cải cách từng phần như giảm tô, giảm tức, đề ra một số nguyên tắc chia lại ruộng đất công cho cả nam lẫn nữ, tạm giao ruộng đất vắng chủ cho một bộ phận nông dân thiếu ruộng…Sau một thời gian cải cách từng phần, nhận thấy vấn đề ruộng đất chưa được giải quyết một cách triệt để nên từ năm 1953 đến 1956, Đảng quyết định tiến hành cải cách ruộng đất trên phạm vi toàn miền Bắc
Cuối năm 1953, Cải cách ruộng đất chính thức diễn ra ở nước ta với sự
cố vấn trực tiếp của các cán bộ đến từ Trung Quốc
Mục tiêu trọng tâm của Cải cách ruộng đất thể hiện rõ ràng, cụ thể trong luật cải cách ruộng đất được đưa ra vào tháng 12/1953 Đó là thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và đế quốc, xóa bỏ chế độ phong kiến, đưa ruộng đất về tay nông dân và tập trung phát triển kinh tế
Đợt thí điểm cải cách ruộng đất được diễn ra từ ngày 25 tháng 12 năm
1953 tại Thái Nguyên sau đó được triển khai tại nhiều địa phương khác Tổng cộng từ năm 1953 đến 1956 có 8 đợt giảm tô, được tiến hành tại 1.875 xã và
có 5 đợt cải cách ruộng đất, được tiến hành tại 3.314 xã
Cải cách ruộng đất (1953 – 1956) do Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện về cơ bản đã đưa ruộng đất
về tay người dân cày nghèo, giai cấp địa chủ và địa chủ Việt gian phản động
Trang 17cường hào gian ác bị trừng trị, giải phóng nhân dân khỏi ách phong kiến làm cho đời sống nhân dân phần nào được cải thiện
Tuy gặt hái được những thắng lợi căn bản nhưng ở góc độ khác, việc thực hiện Cải cách ruộng đất đã phạm một số sai lầm nghiêm trọng trong quá trình thực hiện ở các cơ sở Ở một số nơi đã xuất hiện hiện tượng quá khích, mất kiểm soát gây ra những cuộc đấu tranh giai cấp gay go và quyết liệt, những giá trị truyền thống bị phá vỡ, ảnh hưởng xấu tới khối đại đoàn kết toàn dân Qua thực tiễn cho thấy, do trình độ dân trí thấp của nông dân ở các địa phương và tình trạng lạm quyền, đi lệch chủ trương, đường lối của Đảng của một số cán bộ nên đã diễn ra tình trạng đấu tố địa chủ tràn lan, lợi dụng trả thù cá nhân, sử dụng các hành vi bạo lực, đã có nhiều người bị oan sai Điển hình như bà Nguyễn Thị Năm, một phụ nữ giỏi làm ăn ở đất cảng Hải Phòng Trong thời kháng chiến bà đã từng tham gia các cấp lãnh đạo của tỉnh Thái Nguyên và liên khu Việt Bắc Vì giàu có và sớm được giác ngộ nên gia đình bà trở thành nguồn cung cấp tài chính cho cách mạng Hơn thế nữa, hai người con của bà cũng tham gia lực lượng vũ trang ở Thủ đô Sau những cuộc đấu tố với đủ các loại tội ác bị áp đặt, bà bị nông dân địa phương quy tội địa chủ gian ác “điển hình” để đưa ra “xử lí” đầu tiên, như một “thành tích” của cải cách ruộng đất, phủ nhận tất cả những đóng góp to lớn của bà đối với cách mạng Việt Nam Hoặc trường hợp Phó Bảng Đặng Văn Hướng, Bộ trưởng phụ trách Thanh – Nghệ - Tĩnh của Chính phủ bị dân chúng địa phương đấu
tố vì lý do ông từng làm quan cho triều Nguyễn.Tình trạng mất kiểm soát đã khiến cho hàng trăm nghìn người bị oan sai, gây ra những hậu quả vô cùng
to lớn, nặng nề không chỉ ở hiện tại mà nó còn để lại cho đến cả những thế
hệ sau
Trong luật Cải cách ruộng đất có nêu “nghiêm cấm tòa án nhân dân đặc biệt tiến hành bắt giữ và giết hại trái phép, nghiêm cấm đánh đập, tra tấn hoặc dùng mọi thứ nhục hình khác”[74] Trong một bài nói chuyện tổng kết
Trang 18đợt 2, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có lời căn dặn rõ ràng thể hiện thái độ dứt khoát của Đảng và Chính phủ trước tình trạng đang diễn ra Rõ ràng những hành động bắt bớ, dùng nhục hình hoàn toàn không nằm trong chủ trương của Đảng, đó là những hành động mang tính tự phát
Nhận ra sai lầm, Đảng ta đã dũng cảm tự phê bình, tìm ra nguyên nhân sai lầm và đề ra kế hoạch sửa chữa với một thái độ nghiêm túc dứt khoát, nhanh chóng và đúng đắn trước toàn thể nhân dân Nhờ vậy, những sai lầm đã được sửa chữa, thành quả của cải cách ruộng đất được phát huy Lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Chính phủ được khôi phục
Tháng 11 năm 1958 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II họp Hội nghị lần thứ 14 đưa ra Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 14 về tổng kết cải cách ruộng đất Trong đó nói về bài học của cách mạng ruộng đất, Hội nghị nhấn mạnh:“Phải dũng cảm thừa nhận sai lầm và kiên quyết sửa sai…”
[65] Những bài học Hội nghị đưa ra đã góp phần nâng cao thêm một bước trình độ lãnh đạo của Đảng ta và tǎng cường hơn nữa sự đoàn kết, nhất trí trong toàn Đảng
Công cuộc cải cách ruộng đất (1953 – 1956) kết thúc với những thắng lợi căn bản cùng với những sai lầm nghiêm trọng, để lại những bài học vô cùng quý giá cho Đảng trong sự nghiệp xây dựng đất nước giai đoạn mới Chẳng có vinh quang nào không phải trải qua gian khổ và đắng cay, thậm chí phải bỏ cả máu và tính mạng Nhìn lại cải cách ruộng đất một thời, nhìn lại hậu quả của những sai lầm chúng ta không khỏi xót xa, nhưng có lẽ không nên nhìn mãi về những sai lầm đó mà quên đi những thành quả mà chúng ta đã gặt hái được Điều quan trọng là Đảng và Chính phủ đã thành khẩn đứng lên nhận sai lầm và kiên quyết sửa sai Những bài học rút ra từ cải cách ruộng đất sẽ giúp cho trình độ lãnh đạo của Đảng được nâng cao, tăng cường hơn sự đoàn kết nhất trí trong toàn Đảng Bên cạnh đó, mỗi cán
Trang 19bộ, Đảng viên và quần chúng nhân dân cần tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, cùng gánh một phần trách nhiệm trong việc sửa sai để biến những đau xót của những sai lầm thành sức mạnh để xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh
1.2 Quan điểm của Đảng về đổi mới văn học
Sau gần 20 năm công cuộc Cải cách ruộng đất kết thúc, đại thắng mùa xuân năm 1975 đã mở ra một trang mới cho lịch sử dân tộc Trải qua quá trình lâu dài đấu tranh giữ nước, chống thù trong giặc ngoài, nay đất nước đã hoàn toàn thống nhất, Đảng và nhân dân vô cùng phấn khởi, tự hào nhưng bên cạnh
đó những thay đổi trên mọi phương diện từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, tư tưởng cùng với những di hại mà chiến tranh để lại đã đưa đến cho Đảng và nhân dân ta những khó khăn và thách thức mới
Đứng trước những yêu cầu và đòi hỏi của vận mệnh đất nước, Đảng ta
đã tiến hành một số kì Đại hội trong đó phải kể đến Đại hội lần thứ VI của Đảng diễn ra từ ngày 15 đến ngày 18 /12 /1986 tại thủ đô Hà Nội với 1.129 đại biểu thay mặt gần 1.9 triệu đảng viên Đây được coi là Đại hội mở đầu
cho công cuộc đổi mới ở nước ta Bằng tinh thần “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đại hội đã nêu ra những mặt yếu kém,
những sai lầm, cùng phân tích để đưa ra những biện pháp khắc phục Trên cơ
sở đó, Đại hội xác định, đổi mới toàn diện, đồng bộ trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng, văn hóa, từng bước hội nhập khu vực và thế giới
Có thể nói, Đại hội Đảng lần thứ VI là sự kiện chính trị quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình to lớn trong lịch sử cách mạng Việt Nam Từ đó tạo điều kiện cho đất nước nỗ lực vượt qua khủng hoảng kinh tế xã hội, đáp ứng được lòng mong mỏi của nhân dân
Trên tinh thần đổi mới ấy, văn học cũng có những điều kiện để thay đổi
một cách thực sự Như lời nhận định của Giáo sư Hà Minh Đức: “Đại hội
Trang 20Đảng lần thứ VI đã mở ra một thời kì mới cho đất nước Cho sự đổi mới trong
tư duy, bao gồm cả tư duy nghệ thuật Thái độ thẳng thắn nhìn nhận và đánh giá đúng bản chất của các hiện tượng xã hội, tinh thần dân chủ được phát huy trong quá trình đổi mới đã tạo nên sự thúc đẩy lớn lao cho sự phát triển văn xuôi” [22]
Ngày 28/11/1987, Bộ chính trị ra Nghị quyết số 05-NQ/TW về “Đổi mới nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới”[71] Nghị quyết đã khẳng định sự cần thiết đổi mới nâng
cao trình độ lãnh đạo quản lý văn hóa văn nghệ Đảng coi trọng vai trò nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của văn học nghệ thuật trong sự nghiệp xây
dựng và phát triển đất nước:“Đảng coi trọng vai trò và vị trí chính trị, xã hội của các hội sáng tác, bảo đảm cho các hội sáng tác, với tính chất là những tổ chức xã hội nghề nghiệp độc lập, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng…”[71] Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị đã tạo điều kiện cho văn học
có bước phát triển mới, để các văn nghệ sĩ thỏa sức sáng tạo Đây được coi
là sự kiện chính trị có ý nghĩa vô cùng quan trọng tác động trực tiếp đến quá trình đổi mới của văn học Việt Nam
Đặc biệt, cuộc gặp gỡ giữa Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với gần 100 văn nghệ sĩ vào hai ngày 6 và 7/10/1987 tại Hà Nội đã càng tiếp thêm động lực cho các văn nghệ sĩ bắt tay vào công cuộc đổi mới Cuộc gặp gỡ có sự có mặt của những tên tuổi các nhà văn như nhà văn Nguyễn Khải, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyên Ngọc, Nguyễn Kiên, Chính Hữu, Bằng Việt…Tại cuộc gặp
mặt, Tổng Bí thư đã có bài phát biểu khuyên các văn nghệ sĩ “Hãy tự cứu lấy mình trước khi trời cứu”, nhấn mạnh vai trò đặc biệt của văn nghệ sĩ là
“Những người sản xuất, lại là những người sản xuất ra sản phẩm cao cấp cho xã hội”; người nghệ sĩ cũng cần phải có sự sáng tạo “không được áp đặt
Trang 21mọi công việc như đặt con tàu chạy trên đường ray”; đồng thời cũng nêu lên trách nhiệm của người cầm bút: “phải dũng cảm nêu ra những vấn đề của đời sống, của xã hội.” 72]
Trong cuộc gặp gỡ này, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã mạnh dạn
tuyên bố: “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”[10]
Nhìn lại chặng đường đổi mới văn học, được sự hậu thuẫn bởi đường
lối đúng đắn, kịp thời của Đảng, trên tinh thần “cởi trói”, “sáng tạo” nền văn
học đã phát triển theo hướng tự do hơn, dân chủ hơn Bằng sự nỗ lực, cách tân tìm tòi không ngừng của đội ngũ văn nghệ sĩ, văn học đổi mới đã đóng góp một khối lượng lớn tác phẩm có giá trị cho sự nghiệp văn học nước nhà đồng thời góp phần xây dựng một nền văn hóa dân tộc vững vàng, giàu bản sắc
1.3 Vấn đề cải cách ruộng đất trong văn học Việt Nam hiện đại
Những thành tựu văn học đổi mới đã đạt được chính là một chiến thắng vang dội trên mặt trận dựng nước của dân tộc Công cuộc đổi mới ấy chuyển động một cách dữ dội trên tất cả các phương diện sáng tác Bên cạnh cảm hứng sử thi – một đặc trưng nổi bật của giai đoạn trước là cảm hứng nhân văn xuất hiện, lấy con người làm trung tâm để đi tới một quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con người Các bình diện về đề tài, thể loại, loại hình, thủ pháp nghệ thuật… được các nhà văn tìm tòi, khám phá trở nên phong phú, đa dạng hơn Trên văn đàn xuất hiện nhiều tác giả văn học mới khiến cho đội ngũ sáng tác trở nên đông đảo về số lượng Chưa bao giờ khu vườn văn học Việt Nam lại trở nên đa sắc, đa hương đến vậy
Trên tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật, văn học đã có
sự đổi mới sâu sắc trong quan niệm phản ánh hiện thực Các nhà văn đã vượt qua khỏi bức tường rào để đi đến sáng tác những đề tài mới tạo nên những góc nhìn mới về thời kỳ trong và sau chiến tranh Văn học giai đoạn trước được nhìn nhận như là vũ khí để phục vụ cách mạng, nhà văn là người phát
Trang 22ngôn cho tư tưởng và khát vọng của cả dân tộc, “Bay theo đường dân tộc đang bay” và “Nghĩ trong những điều Đảng nghĩ” (Chế Lan Viên) Văn học
giai đoạn này hướng tới những vấn đề có ý nghĩa lịch sử, ca ngợi vẻ đẹp của con người, cuộc sống, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tin tưởng vào tương lai đất nước Chính vì vậy, phạm vi phản ánh hiện thực khá chật hẹp, chỉ phản ánh một chiều, máy móc, việc phản ánh những cái xấu, cái tiêu cực trong xã hội khiến cho người cầm bút bị buộc tội bôi đen, gieo rắc hoài nghi Văn học đổi mới không xóa bỏ chức năng của văn học giai đoạn trước Thêm vào đó,
tư duy văn học mới hình thành, văn học lúc này đi sâu vào khám phá hiện thực, hiện thực chiến tranh, hiện thực về con người trong mối quan hệ đa chiều phức tạp với một tư tưởng mới Những mảng tối mà trước đây vì nhiệm
vụ phục vụ cách mạng, người cầm bút không có điều kiện phản ánh hoặc cố tình lẩn trách, nay được soi thấu một cách kĩ lưỡng, để lại những suy ngẫm và
sự thức tỉnh trong lòng người đọc
Nông thôn là mảng đề tài rất được các nhà văn chú ý trong các thời kỳ Đặc biệt, văn học thời kỳ này, các tác phẩm viết về nông thôn đã có những bước phát triển vượt bậc thể hiện sự thay đổi về tư duy, về hiện thực Nông thôn hiện lên trong các tác phẩm văn học là nông thôn cả trong quá khứ và trong hiện tại,
là nông thôn được soi chiếu trong nhiều bình diện của đời sống, nhất là những phương diện còn khuất lấp của giai đoạn trước tạo ra những góc nhìn mới về quá khứ, trăn trở hơn, day dứt hơn Công cuộc cải cách ruộng đất chính là một trong những mảng khuất lấp mà văn học trước đó mỗi khi viết về nông thôn các nhà văn còn dè dặt, né tránh Trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, những sai lầm của công cuộc cải cách ruộng đất đã được các nhà văn đưa ra phanh phui, mổ xẻ đến tận cùng đưa đến cái nhìn sâu sắc hơn về đời sống nông thôn, số phận con người trong biến cố của lịch sử dân tộc
Mặc dù Cải cách ruộng đất là đề tài được coi là “nhạy cảm” trong văn học thời kì trước nhưng điều đó không có nghĩa là văn học thời kì trước chưa
Trang 23từng xuất hiện các tác phẩm viết về đề tài này Trên thực tế, vào năm 1957, ngay sau thời gian cuộc cải cách diễn ra đã có một số tác phẩm đề cập đến
những phần tăm tối của biến cố động trời này như Sắp cưới của Vũ Bão Đây
được coi là cuốn tiểu thuyết đầu tiên trong văn học Việt Nam đề cập đến vấn
đề này Ngay sau khi ra đời, tác phẩm đã gây ra cuộc tranh luận Một bên ủng
hộ, cho rằng tác phẩm đã phản ánh một cách trung thực chính xác đời sống nông thôn trong cuộc đấu tranh Cải cách ruộng đất Một bên lại cho rằng, tác
phẩm đã “Bôi nhọ hiện thực, bôi nhọ con người” Chính vì tác phẩm này mà
đời văn của tác giả đã phải chịu nhiều gian nan Những ngày bão táp (1957)
của tác giả Hữu Mai là tác phẩm đầu tay của ông Tác phẩm được đánh giá là
một trong những cuốn sách quan trọng về thời kì Cải cách ruộng đất Cũng
giống như tiểu thuyết Sắp cưới của Vũ Bão, Những ngày bão táp ra đời được
dư luận chú ý, với nhiều bài phê bình có khen, có chê Viết về sự thật bằng một tấm lòng hồn hậu, nhìn nhận các vấn đề một cách rõ ràng, tỉnh táo, đó có
lẽ là lí do mà sau gần 60 năm kể từ lần đầu xuất bản, tiểu thuyết Những ngày bão táp được nhà xuất bản Trẻ tái bản và được độc giả đón nhận nồng nhiệt Ngoài ra còn một số tác phẩm cũng đề cập đến vấn đề này như Ông lão hàng xóm của Kim Lân, Đầu sóng ngọn gió của Nguyễn Hùng…Do yếu tố thời đại
và do những hạn chế về tư tưởng nên sự xuất hiện của các tác phẩm trên bị các nhà phê bình phê phán mạnh mẽ và do đó Cải cách ruộng đất dường như
đã trở thành đề tài cấm kỵ với các nhà văn Việt Nam bấy giờ Phải đến năm
1986, khi công cuộc đổi mới diễn ra, đời sống văn học trở nên dân chủ hơn,
sự “cởi trói” về mặt tư tưởng đã giúp nhà văn mạnh dạn hơn trong việc đề
cập đến những vết thương đầy ám ảnh do lịch sử để lại Những thiên đường
mù (1988) của Dương Thu Hương là tác phẩm đánh dấu sự quay trở lại của
đề tài Cải cách ruộng đất sau một thời gian dài vắng bóng Tiếp theo đó là
hàng loạt các tác phẩm khác ra đời như Bước qua lời nguyền (1989), Lão khổ (1992) của Tạ Duy Anh, Ác Mộng (1990) của Ngô Ngọc Bội, Bến không
Trang 24chồng (1990) của Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990) của Nguyễn Khắc Trường, Cỏ thiêng (1998) của Hồng Phi…Trong đó, tác phẩm Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh đã đưa tên tuổi của ông đến với văn đàn Việt Nam Bến không chồng và Mảnh đất lắm người nhiều ma là hai
tác phẩm được nhận giải thưởng Văn học của Hội nhà văn Việt Nam năm
1991 Lấy chủ đề về đời sống nông thôn thời hậu chiến, trong tác phẩm Bến
không chồng của mình, không cần phải sử dụng quá nhiều câu văn, chỉ bằng
một số chi tiết nhỏ về những cuộc đấu tố địa chủ, Dương Hướng đã cho người đọc thấy được cái nhìn đầy đủ về những hệ lụy của Cải cách ruộng đất Nếu không phải là một nhà văn có tài, có tâm và có bản lĩnh thì tác phẩm của ông khó có thể gặt hái được thành công đến như vậy
Gần đây nhất là sự xuất hiện của các tác phẩm: Đi tìm nhân vật (2002)
của Tạ Duy Anh được đánh giá cao về mặt nghệ thuật trong số các sáng tác
viết về Cải cách ruộng đất Dòng sông mía (2004) của Đào Thắng là tác
phẩm xuất sắc nhất của tác giả và cũng là một trong những tác phẩm tiêu biểu viết về nông thôn thời kì đổi mới Tác phẩm gây tiếng vang lớn trong dư luận
bởi khả năng khai thác đề tài một cách tinh tường và sáng tạo Tác phẩm Ba người khác của Tô Hoài ngay từ khi mới ra mắt năm 2006 đã nhận được sự
quan tâm của độc giả và giới phê bình Chính vì gây ra được tiếng vang lớn nên vào tháng 12 năm 2006 Hội nhà văn Hà Nội đã có cuộc tọa đàm về tiểu thuyết này tại trụ sở Viện văn học để giới nghiên cứu và phê bình có dịp trao đổi với nhà văn từng có 60 năm cầm bút này
Cải cách ruộng đất được các tác giả tái hiện qua những câu chuyện khác nhau, với những số phận khác nhau và bằng những góc nhìn khác nhau
Sự trở lại của của đề tài Cải cách ruộng đất là một minh chứng cho sự nỗ lực của các nhà văn trong việc đổi mới văn học
Trang 25Có thể thấy rõ rằng, từ sau đổi mới các tác phẩm viết về Cải cách ruộng đất đã có cơ hội phát triển rầm rộ hơn và ngày càng tìm được chỗ đứng trong văn đàn Việt Nam Các tác phẩm đã dần khẳng định được giá trị của mình không chỉ ở các chi tiết hiện thực mà còn ở giá trị nghệ thuật đặc sắc của nó
Có được như vậy phải kể đến những chủ trương và quan điểm chỉ đạo hết sức
đúng đắn của Đảng Trên tinh thần “cởi trói”, các nhà văn có điều kiện khám
phá, soi chiếu những vùng sáng – tối của lịch sử đem đến những suy tư mới, chiêm nghiệm mới với những chấn thương của lịch sử để từ đó nhằm rút ra kinh nghiệm cho hiện tại và tương lai
Tiểu kết chương 1
Ở chương này, chúng tôi đã trình bày một cách khái quát về Công cuộc Cải cách ruộng đất 1953 – 1956 ở Việt Nam và những quan điểm của Đảng đối với văn học, đối với đề tài Cải cách ruộng đất Qua đó cho thấy, Công cuộc Cải cách ruộng đất do Đảng Lao Động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa thực hiện đã đem lại những thắng lợi nhất định nhưng
ở góc độ khác nó đã phạm phải một số sai lầm khiến cho Cải cách ruộng đất trở thành một biến cố của lịch sử Nhìn lại công cuộc cải cách ruộng đất chúng ta cần phải nhìn nhận nó một cách khách quan, không phủ nhận những
gì Cải cách ruộng đất đã đem lại nhưng cũng không quên những nỗi đau mà
nó để lại để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho mai sau Những vết thương
ấy bao giờ cũng là một đề tài vô cùng quan trọng trong văn học Đặc biệt, sau
Đổi mới (1986), được sự quan tâm của Đảng, văn nghệ được “cởi trói” khỏi
những tư tưởng cũ, trong bầu không khí văn học dân chủ và cởi mở ấy các nhà văn có cơ hội nhìn nhận lại và viết về Cải cách ruộng đất bằng một cách nhìn, cách nghĩ mới Sự nở rộ của một loạt các sáng tác về đề tài này cùng với những giá trị nội dung cũng như nghệ thuật mà nó đem lạilà một minh chứng cho sự nỗ lực của các nhà văn trên hành trình đổi mới văn học
Trang 26Chương 2 NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐỜI TRONG “NƯỚC MẮT MỘT THỜI”
Nước mắt một thời kể về những đau đớn, mất mát và cả những oan ức,
tủi nhục của dòng họ Nguyễn Đức tiêu biểu trong rất nhiều những dòng họ khác, gia đình khác do những sai lầm của những người thực hiện cải cách ruộng đất gây nên
Ông Cả Lân là đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương, ông từng tham gia kháng chiến chống Pháp tại địa phương Cụ Hàn Bằng, thân sinh của ông
Cả Lân, từng là một người giàu có, cái danh cái tước ấy của cụ thực ra cũng chỉ là do … mua mà có, ông đã có công đổ tiền bạc ra để giúp quê hương được hồi sinh Thế nhưng, thật trớ trêu, những kẻ ganh ghét lại đâm đơn kiện ông với lí do ông lợi dụng thiên tai địch họa để chiếm đoạt đất đai của chúng Sau vụ kiện tụng, ông bị phá sản Vì thế, ông Cả Lân, tuy có cái tiếng là con
cụ Hàn Bằng nhưng chẳng hơn gì con cái những nhà nghèo, buộc phải lặn lội vào tận miền Nam và Campuchia làm phu cao su trong đồn điền của người Pháp Còn bà cả Lân, tuy là con quan huyện nhưng là con của vợ ba nên chẳng khác nào những kẻ nghèo hèn, 10 tuổi đã phải lên Hà Nội làm con ở Khi trở về làng, vợ chồng ông đã phải nai lưng làm lụng bằng chính sức lao động của mình mới tích lũy được ít ruộng đất Mồ hôi, nước mắt, tâm sức đã được dồn cả vào đấy Nhưng tai họa cũng bắt đầu từ sự đảm đang để không
Trang 27may có của ăn, của để Như vậy, nếu xét theo luật cải cách ruộng đất, gia đình ông Cả Lân không không phải là những kẻ ăn trên ngồi trốc, bóc lột nông dân
và dĩ nhiên họ không phải là địa chủ
Nhưng luật là thế còn khi vận dụng vào thực tế họ lại bị những kẻ đội lốt Đảng, chính quyền quy oan thành địa chủ khiến họ bị mất gần như toàn bộ nhà cửa, ruộng vườn, tài sản, phải chịu đựng những giày vò, hành hạ cả về thân xác lẫn tinh thần, bị làng xóm xa lánh, khinh bỉ Bà Cả Lân bị bắt giam nhiều ngày rồi bị kết án tù treo 3 năm Ông Cả Lân bị quy oan tội làm gián điệp cho Pháp và bị đem ra xử bắn Đứa con gái út do thiếu sự chăm sóc của cha mẹ mà bị chết vì bệnh tật…Gia đình những người em và họ hàng của ông
Cả Lân cũng lâm vào tình trạng thảm thương, dù trên thực tế, họ chẳng phải
là địa chủ, cường hào ác bá
Gia đình ông cả Lân không phải là trường hợp cá biệt mà nó là trường hợp khá phổ biến trong hàng nghìn trường hợp bị oan sai khác do sai lầm của cải cách ruộng đất gây ra
Lấy không gian ở một làng quê nhỏ nằm bên bờ đê sông Hồng, nằm sát quốc lộ số 10, có con sông đỏ lựng phù sa Nơi mà mới trước đó không lâu người dân nơi đây đã phải gánh chịu những sự tàn phá nặng nề do chiến tranh gây nên Chỉ mới đó thôi, “tôi” cũng như người dân quê “tôi” đang trong tâm trạng phấn khởi, vui mừng khi đất nước thống nhất, vậy mà công cuộc cải cách ruộng đất đầy đau thương và mất mát lại ập tới Những chuỗi ngày ám ảnh kinh hoàng lại tiếp tục diễn ra, theo một hình thức khác, của những nỗi đau đớn khác…
2.1.1 Tước đi quyền được sống của con người
Mục đích của công cuộc Cải cách ruộng đất là biến ước mơ ngàn đời
“Người cày có ruộng” của những người nông dân nghèo khổ, nô lệ, không
ruộng đất trở thành hiện thực Nhưng thực tế nó lại gây ra những hậu quả
Trang 28nặng nề, ảnh hưởng tới công cuộc xây dựng đất nước trong thời kì mới Cách mạng thật sai lầm khi giao quyền hành vào tay những kẻ cơ hội, gian manh,
“đục nước béo cò” không những không đại diện cho chính nghĩa mà còn gây
ra những tổn thất to lớn cả về vật chất lẫn tinh thần cho nhân dân
Có nỗi đau nào bằng nỗi đau bị mất đi những người thân Có nỗi đau nào bằng nỗi đau mẹ mất con, con mất cha, vợ mất chồng, anh mất em Cướp đi quyền được sống của con người là nỗi đau kinh khủng nhất cải cách ruộng đất đã gây nên, để lại những vết thương mãi mãi không bao giờ có thể
bù đắp được
Cái chết của ông Lân đã để lại nỗi đau, nỗi mất mát lớn cho gia đình
ông Đọc Nước mắt một thời, chúng ta vẫn còn ám ảnh cái chết oan ức vô
cùng đau đớn ấy Cái chết ấy xuất phát từ cái “tố khổ” “tố điêu” đã được Đội khoảnh “trong nhiều đêm liền đã phải làm “đạo diễn” bất đắc dĩ cho những
“diễn viên” tự nguyện diễn theo kịch bản đã soạn sẵn Nào là tay trái đặt ở đâu, ngón tay phải phải chỉ vào mặt tên địa chủ thế nào cho đúng tư thế của
kẻ chiến thắng Rồi giọng nói phải lên xuống bổng trầm thế nào cho câu chuyện lâm ly bi đát, cái mặt, cái miệng phải khóc mếu thế nào cho rụng động lòng người nghe…”[15- tr 119] Một kịch bản vô cùng “công phu” và
“bài bản”, một “đạo diễn” vô cùng “yêu nghề” Cuộc “tố khổ” diễn ra đúng
như những gì đã sắp đặt và cái chết của ông Lân cũng chính là một sự sắp đặt
Cái chết của người cha đã đi sâu vào kí ức nhân vật “tôi” những ám ảnh không thể nào quên: “Đau lòng nhất là tôi lại nhìn thấy bố tôi bị nhốt trong cái cũi tre, giống như cái trỗng lợn, hai tay bị trói chặt cánh khỉ, đang run rẩy, sợ sệt như một con vật sắp bị đem cắt tiết”[15- tr 271] Cái chết quằn
quại đau đớn ấy cả đời này vợ con ông cũng không thể nào nguôi ngoai
Không chỉ có ông Lân, Nước mắt một thời còn để cập đến những cái chết oan
ức khác Như ông Cửu Giản, một con người hiền lành nho nhã, “cái tước Cửu
ấy chẳng qua chỉ là sự mua danh bán tước thời trước Mà có được cái đấy để
Trang 29ra oai với làng nước, ông đã phải bán đi cả 6 mẫu khoai lang”[15- tr 259] Hay như ông Hàn Lãm “rụng hết răng mà còn bị tố phạm tội hiếp dâm”,
“một trong những con người khổ ải nhất trân gian”, ông bị người ta khép vào cái tội mà “dù có muốn cụ không thể nào thực hiện được”[15- tr 261] Nhân
danh chính nghĩa ở đâu khi toàn vịn vào những cái cớ hết sức vô lí để xử tử những người dân vô tội? Thương tâm nhất có lẽ là cái chết của Thân, Cải cách ruộng đất đã gián tiếp đẩy một đứa trẻ chưa dứt vú mẹ phải chết một cách khổ
sở Thân chết vì đói, vì thiếu mẹ, bởi vì người mẹ của em đang bị những kẻ
“nhất Đội nhì trời” giam cầm Thậm chí, việc chôn cất em cũng phải làm một
cách lén lút vì sợ bị phá đám, sợ bị ông bà nông dân cho rằng đang đem vàng bạc đi chôn giấu, rồi lại bị truy bức đánh đập Đến cả việc khóc thương con,
khóc thương em cũng không dám khóc, “dù cả ba con người đều đang tan thành nước mắt”[15- tr 231] Thử hỏi còn nỗi đau nào hơn không khi con
người ta phải kìm nén nỗi đau vì mất đi người thân của mình
Cũng giống như ông Lân, ông Cửu Giản hay ông Hàn Lãm, cái chết tức
tưởi của ông Tích trong Hoàng hôn lạnh đã một lần nữa khắc sâu thêm
những nỗi đau thương mất mát của một thời đầy nước mắt:“họ lôi bố tôi ra giữa khu mả rộng lớn và cũ kĩ đầu làng, lôi ra giữa hàng ngàn người đang đằng đằng sát khí hô to những câu khẩu hiệu đả đảo bố tôi và hò reo khi sau mấy loạt đạn đanh gọn bố tôi bị ngã tụt xuống gốc chân cột bắn như vừa bị rút hết xương”[16- tr 17]
Biết bao nhiêu con người đã phải chết đau đớn dưới bàn tay của những
kẻ nhân danh chính nghĩa, biết bao nhiêu gia đình phải rơi vào cảnh ly biệt Những cái chết oan ức ấy sẽ là dấu vết tàn phá ghê gớm nhất của cách mạng ruộng đất đối với con người Đó không chỉ là nỗi đau của những người thân trong gia đình họ mà đó còn là nỗi đau không bao giờ nguôi của cả một dân tộc, cả một thời đại
Trang 302.1.2 Những cuộc hành xác đau đớn
Đọc Nước mắt một thời, người đọc cũng chẳng thể quên những cuộc
tra tấn man rợ do chính Đội Khoảnh và Kền gây lên Bằng sự kết hợp các yếu
tố hình ảnh, âm thanh vô cùng chi tiết, những tội ác ấy được tái hiện qua lời
kể của nhân vật “tôi” một cách chân thực Đó là những tiếng quát tháo của
lão Kền, tiếng đòn roi rít trong không khí, tiếng kêu la của những người bị
truy bức Những điệp khúc ấy diễn ra hằng đêm đến nỗi “không chịu nổi tôi
đã dùng ngón tay bịt hai lỗ tai để khỏi phải nghe những tiếng quát tháo chửi bới lăng mạ”[15- tr 127-128] Tiếng búa gõ lách cách mở cùm, tiếng loảng
xoảng tháo khóa, tháo xiềng, tháo xích…mỗi lần mang cơm vào cho mẹ
“nghe ghê rợn như âm thanh phát ra từ chín tầng địa ngục” đã trở thành nỗi
ám ảnh kinh hoàng đối với nhân vật “tôi” Đau lòng và khủng khiếp hơn nữa
khi có tiếng trẻ con khóc phát ra từ nơi giam giữ ấy Thậm chí không chịu nổi với những đòn truy tô, thím Sáu đã phải nhảy xuống ao tự tử khi bụng mang thai sắp đến ngày sinh đẻ Tội ác của những kẻ nhân danh chính nghĩa gây ra chẳng chừa một ai, từ những đứa trẻ đang còn trong bụng mẹ cho đến những người trưởng thành đều trở thành nạn nhân của chúng Những đòn đánh đập, truy tô thực chất chỉ nhằm đạt được mục đích cướp bóc, bòn rút mang tính chất cá nhân của chúng Những kẻ gian manh nghiễm nhiên trở thành chủ nhân mới của những tài sản do mồ hôi công sức của người nông dân làm ra Nhưng Đội Khoảnh chỉ là một trong tổng số 48.818 ông Đội, không thể hình dung nổi nếu 48.818 ông Đội ấy giống Đội Khoảnh thì người nông dân sẽ phải sống thế nào?
Cùng chủ đề với Nước mắt một thời, tác phẩm Ba người khác của nhà
văn Tô Hoài cũng nói về cải cách ruộng đất Nhưng ngôi kể khác nhau và góc
nhìn cũng khác nhau Nếu như người kể chuyện trong tác phẩm Nước mắt một thời là nạn nhân thì trong Ba người khác người kể chuyện lại là người ở trong đội cải cách Đọc Ba người khác, người đọc không khỏi rùng mình sợ
Trang 31hãi trước những đòn tra tấn dã man được nhân vật Bối, đóng vai trò là người
kể chuyện kể lại Đây là màn tra tấn nhân vật Đình thuộc cán bộ đội cải cách
ruộng đất nhưng bị cho là tay sai của Quốc dân Đảng: “Lập tức, tốp người trực ở ngoài ùa vào lôi Đình xuống sân Một cái gộc tre xù xì đạp bốp vào mồm Đình còn đương há hốc Ba chiếc răng cửa Đình văng ra như những hòn cuội, máu tuôn lênh láng Đình lăn ra thở sằng sặc Những đầu mấu tre giáng xuống như giã giò, thình thịch, vun vút, bất kể vào đầu, vào lưng Đình trợn ngược mắt, nhuôi ra Chiếc gây chọc vào lưng, lay đi lay lại Rồi gậy lại chan chát xuống, như thử biết người còn sống không Hai bàn tay Đình ruỗi như búng con quay rồi duỗn thẳng không nhúc nhích” [31- tr 58] Những người bị bắt giam, bị đánh đập, tra tấn nhiều đến nỗi “cái nhà cũ không đủ chỗ chứa, phải làm thêm đẵn tre để nguyên cả gióng chôn liền thành bức tường dài rộng đến hơn hai trăm thước chia thành ngăn, mái lộ thiên chống hốc Trông giống cái chuồng trâu Các đoàn cải cách, đoàn phúc tra, đoàn chỉnh đốn tổ chức đều có nơi giam người tương tự Có câu hù doạ “phải ngồi chuồng trâu là toi đời”, là những trại tạm giam này”[31- tr 56] Chuyện
những người vì không chịu được sức ép của những cuộc hành xác phải tìm đến cái chết cũng xảy ra nhan nhản trong trang văn của Tô Hoài
Trong Bến không chồng, tác giả Dương Hướng đã có một đoạn miêu
tả làm người đọc khá ám ảnh: “Trước mặt Nghĩa lúc này là những thây ma ngồi rũ rượi dưới các trụ cột, chân bị cùm chặt Nghĩa thấy buồn nôn vì mùi phân, mùi nước giải sực lên mũi”[33-tr 52]
Dường như những cảnh đấu tố, tra tấn, đuổi bắt đầy đau thương đã trở thành nỗi ám ảnh ở những làng quê nghèo trong cái thời đầy nước mắt ấy Rõ ràng, dường như những kẻ lưu manh được trao quyền hành trong tay đã biến những người nông dân vô tội thành tù nhân của chúng để chúng ra sức khủng
bố, tra tấn và hành hình dã man, sau đó là chia nhau giành giật chiến lợi
Trang 32phẩm, cướp không những thành quả do chính mồ hôi công sức của những người dân lương thiện làm ra
2.1.3 Cuốn đi ước mơ, hoài bão
Cải cách ruộng đất giống như một trận cuồng phong, nó lạnh lùng cuốn
đi tất cả những ước mơ, hoài bão của tuổi trẻ Tuổi thanh xuân là lứa tuổi nhiệt huyết, là lứa tuổi đẹp nhất của cuộc đời, lứa tuổi với biết bao khát khao,
mơ ước Ước mơ là động lực để con người học tập và làm việc Thế nhưng chỉ vì cái biến cố lịch sử ấy, có những người đã phải gạt đi những ước mơ dù
là giản đơn nhất “Tôi” của Nước mắt một thời là một chàng trai 16 tuổi, lứa
tuổi thần tiên, lứa tuổi đang bắt đầu trở thành một người lớn Tuổi thơ của
“tôi” từng chứng kiến những cái chết, cảnh máy bay Mỹ ném bom làm máu
người nhuộm đỏ một khúc sông, tiếng đại bác của Pháp nổ ình ình Tóm lại cả
tuổi thơ “tôi luôn phải thắt tim, sởn óc trong khói súng, trong âm thanh hãi hùng phát ra từ gót giầy đinh của bọn lính lê dương, linh bảo hoàng nện cồm cộp xuống đường làng, xuống mảnh sân gạch nhỏ trước cửa nhà, sau những giây phút yên ắng đến rợn người, khi đạn đại bác nã vào làng dọn đường cho bọn bộ binh vừa chấm dứt”[15- tr 25] Có lẽ, được chứng kiến những tội ác
của giặc, bị ám ảnh bởi những cái chết đau đớn thảm hại của người dân quê
hương vô tội Điều đó đã nhen nhóm trong “tôi” ngọn lửa căm thù giặc, làm
dấy lên ước mơ khát vọng được phục vụ cách mạng, muốn làm người có ích cho xã hội Sau khi nhường lại toàn bộ căn nhà đường hoàng nhất cho nhà
nước, gia đình “tôi” phải sống trong túp lều ba gian lợp rạ chật hẹp nhưng
chuyện đó chẳng hề nhằm nhò gì so với những khó khăn mà họ vừa trải qua trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ngược lại họ cảm thấy việc phục vụ cách mạng, cống hiến cho cách mạng là niềm vui, là niềm hạnh phúc không gì so
sánh được Kể từ khi biết mình đã trở thành người lớn “tôi rất mong muốn được tham gia công tác xã hội dù chỉ là một việc rất nhỏ Lòng tôi luôn cháy lên ước mơ sao sớm được trở thành đoàn viên Thanh niên cứu quốc”[15- tr
Trang 3385] Ước mơ và nhiệt huyết của tuổi trẻ luôn cháy bỏng cồn cào trong lòng
nhân vật “tôi” Ước mơ ấy xuất phát từ tình yêu quê hương đất nước, yêu
những con người hiền lành, chất phác trên quê hương mà mình đang gắn bó Chính vì vậy việc rời bỏ nó là điều khó có thể xảy ra Khi được một người họ
hàng vận động di cư vào Nam “tránh họa cộng sản”, nhân vật “tôi” cho rằng: “chả lẽ bây giờ tôi lại bỏ những anh bộ đội, những chị du kích, lúc nào
nụ cười cũng tươi đỏ trên môi, hết dạy chúng tôi hát lại bày trò cho chúng tôi chơi để chạy theo đuôi những con thú mặt người mà tên cai Việt là đại diện hay sao? Không, dứt khoát không Dứt khoát tôi không vào Nam Vào Nam là theo giặc, là phản bội chế độ này”[15- tr 90-91] “Tôi” đại diện cho tầng lớp
thanh niên có lý tưởng cách mạng, có lòng yêu nước, một lòng chung thủy, gắn bó với quê hương đất nước Giữa lúc những khát khao, những lí tưởng đang hừng hực cháy bỏng nơi con tim, cơn bão lịch sử cách mạng ruộng đất
đi qua, để lại trong lòng nhân vật “tôi” nỗi chán chường, tuyệt vọng không gì
có thể bù lấp được: “Đời chúng tôi còn dài lắm, tương lai đang còn ở cả trước mặt Chả lẽ chúng tôi không có quyền ước mơ, không có quyền phấn đấu, không có quyền được trở thành người hữu ích của xã hội”[15- tr 93] Cải cách ruộng đất đã trao cho nhân vật “tôi” cái mác “con địa chủ”, điều đó đồng nghĩa với việc “tôi” và gia đình sẽ bị đào thải ra khỏi cái xã hội này và những ước mơ của“tôi” sẽ không có cơ hội để trở thành hiện thực
Trong tác phẩm Mây chiều lảng bảng, tác giả Nguyễn Khoa Đăng
cũng có đề cập đến vấn đề tương tự Với cái lý lịch là “con địa chủ”, Thổ Trì
cũng không thực hiện được ước mơ vào đại học của mình nên chỉ được đào tạo vừa đủ để đi dạy học ở trường cấp hai dân lập
Thất bại lớn nhất trong cuộc đời của mỗi con người là không thực hiện
được ước mơ của mình Cải cách ruộng đất “long trời lở đất” đã thẳng tay chặt đứt mọi ước mơ khát vọng của những con người “đang muốn đứng trong hàng ngũ của họ, đi cùng với họ đến tận cùng”[15- tr 265], thật nghịch lý và
Trang 34trớ trêu Nhưng bằng ý chí của một thanh niên đầy nhiệt huyết, nhân vật “tôi”
đã vượt qua được rào cản của giai cấp để trở thành một nhà báo đứng về phía nhân dân, phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc “Tôi” là một trong những con người đại diện cho tấm lòng sắt son
của hàng triệu nông dân Việt Nam trung trinh với cách mạng, dành cả tấm lòng cho quê hương đất nước
2.1.4 Phá hoại tình đoàn kết, gắn bó vốn có của con người
Nhân dân ta vốn có truyền thống đoàn kết, yêu thương đùm bọc lẫn nhau Lịch sử đấu tranh giữ nước đã chứng minh truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta đã kết thành sức mạnh vô địch, đưa dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách để đưa đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Sau khi đất nước dành được độc lập, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân là điều kiện cần và cốt lõi trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Nhưng cuộc cách mạng ruộng đất do Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa phát động nhằm đưa ruộng đất về tay dân cày nghèo đã vô tình phá hoại truyền thống đoàn kết ấy, gây lên sự thù hằn giữa các tầng lớp
Nhân vật “tôi” cảm thấy thật ngỡ ngàng, ngao ngán trước sự thay đổi thái độ đột ngột của những người dân ở chính quê hương mình đối với gia đình mình Sự thay đổi ấy bắt đầu bằng cách xưng hô Mới hôm qua họ còn
“ông ông, bà bà, con con, cháu cháu…” thì hôm nay đã chuyển thành “mày, chúng mày” thậm chí là “thằng, con đĩ, con mụ” Nếp sống trật tự có trên có dưới của gia đình “tôi” cũng như của cả cái làng ven sông nhỏ bé này đã bị
xóa sạch chỉ trong một đêm, cứ như là nó chưa từng tồn tại Trong suy nghĩ
của Kền “Phải thế mới hạ được uy thế của chúng Chứ cứ gọi chúng bằng ông, bằng anh như trước, chúng coi thường, khó hoàn thành công cuộc cải cách lắm”[15- tr 99] Thay đổi cách xưng hô mới chỉ là đòn tấn công mở
Trang 35màn của “ông bà nông dân” vào gia đình “tôi” Đêm ấy cuộc “tố khổ” bắt đầu diễn ra, tất cả bà con trong xóm đều nhất loạt đứng lên tố địa chủ “với đủ các loại tội ác mới nghe cũng rợn cả người” Sau đêm ấy, những cuộc tố khổ được diễn ra ở khắp nơi như một “trận dịch” Vì càng khổ nhiều càng được nhiều “quả thực” cho nên họ ra sức “tố điêu”: “Không có khổ cứ việc bịa ra rằng mình khổ Không bị đánh đập cứ vu là bị đánh đập Không bị hiếp dâm
cứ nhận là bị hiếp dâm”[15- tr 118] Tiếp theo đó là màn kê khai ruộng đất,
những ông Đội chẳng cần đo đạc, cũng chẳng cần căn cứ vào bản đồ địa chính
mà căn cứ vào những lời khai của “ông bà nông dân” Dưới những cái miệng
của những tâm đố kị, dã man và ngu dốt, chuyện số diện tích ruộng đất bị
tăng vọt lên là điều vô cùng dễ hiểu Mảnh ruộng 5 sào của gia đình “tôi” bị
thổi phồng lên thành 1 mẫu 2 Diện tích tăng thì số thóc phải nộp cũng cứ thế
mà tăng lên Cả làng thi nhau tích cực “tố điêu”, “khai điêu”, “tố điêu” không đủ, người ta lại vận động, xúi bẩy người khác “tố điêu” Kền đã dụ dỗ
cả bố là ông Khán Vĩnh và em gái tố điêu, đối với hắn việc ra sức tố địa chủ mới là tiến bộ và cái cốt lõi của cái tiến bộ ấy chính là để được chia nhiều ruộng nương tài sản Khác với Kền, ông Khán Vĩnh vẫn giữ được đạo đức ở đời, nghĩ tới ơn nghĩa năm xưa nếu không có gia đình ông Lân thì cả gia đình ông đã chết đói nên ông Khán Vĩnh và Én đều không nghe theo lời dụ dỗ của hắn Không lay chuyển được suy nghĩ của Kền khiến cho ông rất đau khổ Cái
lí lẽ của Kền dường như đã trở thành chân lý, là mục đích, không biết từ lúc nào nó đã gieo rắc vào sâu trong suy nghĩ của tất cả những người dân làng
này Tất cả đang điên cuồng trong cái “tố khổ” “tố điêu” nhằm đem lại lợi
ích cho chính mình Chỉ vì những lợi ích trước mắt, họ đã quên đi cái truyền thống tốt đẹp mà ngàn đời xưa họ đã phát huy và giữ gìn
Cái thành phần giai cấp đã khiến cho mọi người xa lánh, không muốn liên quan gì với thành phần địa chủ Ngay cả những người thân ruột thịt cũng tìm cách trốn tránh như tránh người bị phong hủi Dì Sót, em gái bà Lân, có
Trang 36lần gặp bà Lân giữa đường mà không dám dừng lại Bà Lân càng đuổi, dì Sót lại càng đi nhanh Rồi dì ném phịch xuống lề đường nắm xôi sau đó lại ba chân bốn cẳng chạy đi mất Cách mạng ruộng đất đôi khi đã đẩy những con người có quan hệ máu mủ buộc phải đối xử lạnh lùng với nhau, tạo ra những cảnh bi hài kịch vừa hài hước nhưng cũng đầy xót xa
Sau màn tố khổ người ta lại bắt đầu đấu tố Bản chất hiền lành của người nông dân đã bị thay bằng những cái nắm tóc, những cái kéo đầu, lôi tai,
kéo mặt không thương tiếc, kèm theo đó là những câu quát: “Mày cúi mặt xuống Mày vểnh tai lên Mày…mày…có nhớ không?”[15- tr 238] Đến phần chia “quả thực” họ lại “tranh giành của cải cãi nhau như đám mổ bò”[15- tr
243] Một cảnh tượng hết sức nhốn nháo giống như những con diều hâu đang
tranh dành nhau ăn thịt con mồi Vì cái gọi là “quả thực”, người ta bất chấp
tất cả, kể cả lòng tự trọng của mình Cách mạng ruộng đất đã biến những người nông dân hiền lành thành những con người đầy lòng tham và sự ích kỉ
để rồi họ sẵn sàng lôi nhau xuống vực thẳm
Người dân làng Thông thi nhau “tố điêu” vì “quả thực”, họ cũng sẵn sàng “tố điêu” để vùi dập con người ta đến chết Chưa bao giờ con người lại
đối xử với nhau độc ác đến vậy Lòng tham và sự đố kị đã hủy hoại nhân cách con người, khiến họ sẵn sàng vứt bỏ cái tình nghĩa bấy lâu nay không một chút đắn đo, do dự Phiên tòa xử án ông Lân được diễn ra rầm rộ trong sự
“hưởng ứng nhiệt liệt” của những “ông bà nông dân” Có gì đó như háo hức,
như phấn khởi lắm Trên khắp các đường ngang ngõ tắt người ta treo khẩu hiệu kêu gọi diệt tận gốc cái giai cấp địa chủ như là để cổ súy cho cái gọi là
“tố điêu” của họ Khủng khiếp hơn, người ta còn chuẩn bị sẵn cả quan tài trên
ghi tên phạm nhân to tướng Điều đó có nghĩa là chưa xử đã biết kết quả rồi
Ngồi ghế Chánh án và xét xử là những ông bà nông dân “toàn những người
mù chữ, đi chợ vẫn còn phải lội bùn, vậy mà lại đứng ra dùng điều nọ, luật kia để buộc tội người khác”[15- tr 270] Thì ra, tòa án đặc biệt nghĩa là ở
Trang 37những chỗ đó Màn tố khổ bắt đầu, vẫn là những kịch bản quen thuộc đã được các ông Đội dạy đi dạy lại một cách nhuần nhuyễn, vẫn là những câu tố khổ
bịa đặt, vu khống, bắt chước nhau, những câu tố khổ “vô cảm nhưng có khả năng giết người”[15- tr 272] Trong đó đặc biệt nhất là lời tố của ông Uẩn,
một nông dân cùng xóm với ông Lân:
“Lân, mày còn nhớ không, ngày trước có lần mày dụ tao vào Đảng, cái Đảng có lá cờ đỏ mang hình búa liềm ấy, chứ không phải cờ nửa xanh nửa đỏ của cái Đảng dân chủ gì đó, tao vẫn thường thấy ở nhà thằng Sáu em mày đâu Đảng ấy là Đảng gì, mày khai ra trước tòa đi!”[15- tr 273]
Cái Đảng mà ông Uẩn đang muốn nói tới chính là Đảng cộng sản Lời
tố khổ của ông Uẩn nghe thật hài hước Những ẩn ý của tác giả rất có thể ẩn đằng sau lời tố khổ ngu si này của nhân vật Tòa án đặc biệt lại càng trở nên đặc biệt hơn bởi những con người thiếu hiểu biết Chỉ a dua, học đòi theo đám đông Chính vì vậy nên càng dễ bề trở thành tay sai phục vụ cho những kẻ nhân danh chính nghĩa
Thì ra ông Lân đã từng là Đảng viên của cái Đảng ấy Sau này vì nhiệm
vụ mà được cấp trên phân công vào làm việc cho địch để nắm tình hình và tạo thuận lợi cho bà con Cuối cùng, ông Lân bị tuyên xử tử vì những tội mà ông chưa từng gây ra Đám đông lại háo hức chen lấn, xô đẩy nhau để chạy theo xem người ta xử bắn như xem một trò vui Ông Lân bị lôi ra xử bắn, nhưng mấy viên đạn lại không giết được ông Kền phải kết thúc cuộc đời ông bằng một nhát cuốc Ông Lân phải chịu một cái chết oan thật đau đớn do chính bàn tay của những người hàng xóm “tắt lửa tối đèn”, của những người đã từng được ông giúp đỡ gây ra
Từ đâu mà con người bỗng trở nên độc ác, vô nhân đạo với nhau như vậy? Từ đâu mà cái truyền thống đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau của nhân dân đã bị phá hoại một cách dễ dàng đến như vậy? Chỉ vì thiếu hiểu biết,
Trang 38vì chút lợi ích cá nhân tầm thường mà người dân dễ dàng bị những kẻ nhân danh cái gọi là chính nghĩa dễ bề lợi dụng nhằm đạt mục đích vơ vét, đục khoét của chúng Cấp trên thật sai lầm khi giao quyền hành vào tay những kẻ không
có đạo đức cách mạng, phản lại con đường đi mà Bác Hồ đã vạch ra Những việc làm của chúng đã làm nguy hại đến uy tín của cách mạng Việt Nam
Không chỉ có làng Thông mà còn rất nhiều làng quê khác trên đất nước
cũng đang diễn ra những cảnh tương tự Đó là làng Đông trong Bến không chồng của tác giả Dương Hướng Cuộc tịch thu tài sản địa chủ Hào được diễn
ra rầm rộ “Già trẻ, trai gái, đàn ông, đàn bà lốc nhốc đến Kẻ gánh người khiêng, kẻ đội người bê các thứ được chia cứ nhốn nháo cả lên”[33- tr 39] Hình ảnh “những cụ bà lọm khọm chống gậy, đến các chị con thơ tay bồng tay bế cơm đùm cơm gói đổ dồn về sân đình Đông”[33- tr 53] để dự phiên
tòa xét xử bốn tên phản động Xung, Hinh, Xèng và Xình với những tội vô cùng ngớ ngẩn Ông Xung mắc tội đi lấy lá chuối đêm trong vườn địa chủ Hào, bác Hinh mắc tội thổi kèn lá chuối, Xèng và Xình mắc tội đặt mìn phá Cống Linh mà thực chất là ném mìn đánh cá thì đúng hơn Phiên tòa diễn ra
vô cùng sôi động với những tiếng đập bàn chan chát, tiếng hô, tiếng quát của những người ngồi trên kỳ đài Tiếp đó là hình ảnh náo động của làng Đông,
“người ùn ùn từ khắp mọi nơi đổ dồn về cánh mả Rốt” để chứng kiến người
ta xử bắn những tên tội phạm Đám đông ấy trở nên vô cảm trước những lời buộc tội, những cái chết oan ức của chính những người họ hàng của họ
Còn đây là cảnh đấu tố địa chủ Thìn trong “Ba người khác” cũng vô
Trang 39- Mày có biết tao là ai không?
Thế nào mà tiếng lão già sắp chết này vẫn nói sang sảng:
- Thưa bà nông dân… tôi không biết…
- Tao đi ở cho cháu mày
- Thế thì tôi không biết thật ạ
- Mày lấy roi cặc bò đánh tao Đả đảo địa chủ!
Rồi hớt hải chạy xuống giữa tiếng đả đảo cuồn cuộn trong đám người Cái bãi lau chen chúc lôi thôi, đần nước trắng đằng cuối Những con chim hét đen tuyền, những đàn cò trắng không dám đậu xuống, lượn quanh trên trời với mấy con diều hâu”[31-tr 74-75]
Những kẻ nhân danh Cách mạng, Đảng, Đội thô bạo, cơ hội, giáo điều còn phá hoại cả một nền luân thường đạo lý ngàn đời mà ông cha ta đã xây dựng và giữ gìn Trong phiên tòa xét xử ông Lân, người đọc không khỏi giật
mình trước những lời tố khổ của Túy Túy là con trai của chú Hai “tôi”, nghĩa
là cháu ruột của ông Lân Túy là người hiền lành, tử tế, lại có học, biết phân biệt phải trái, đúng sai Vậy mà thật không ngờ Túy lại có những lời lẽ này để
tố người bác của mình: “Cả Lân mày có nhớ không Mẹ mày ốm nặng, ăn lắm
ỉa nhiều Sáng nào mày cũng bắt anh em con cháu chúng tao phải mang hai giành cứt đi đổ!”[15- tr 276] Mẹ mày ở đây có nghĩa là cụ bà Hàn Bằng và
cũng chính là bà nội của Túy Còn đây là lời tố của một đứa con bất hiếu ở xã bên với chính người bố của mình:
“Mày có biết tao là ai không?
- Dạ, thưa con biết ạ Ông là con của tôi, do vợ con ngủ với con mà sinh ra ông ạ”
Trang 40Mày có nhớ ngày còn bé, tao chuyên trốn học đi chơi, mày đánh tao, bắt tao đi học không?
- Dạ có
Do đó tao mới thành người có học và có việc làm, không bị nghèo khổ
và để bây giờ tao không được trở thành bần cố nông như mọi người Đó là điều mày làm khổ tao!Mày có biết không?”[15- tr 275]
Không còn gì có thể táng tận lương tâm hơn những lời tố kia Không chỉ có những người nông dân ít học quanh năm chân lấm tay bùn mà còn có
cả những con người có học, có tri thức Tất cả đều “cạn tàu ráo máng” với nhau Người ta sẵn sàng chứng minh lòng trung thành của mình với Đảng bằng cách xử lý chính những người trong gia đình, trong họ hàng của mình Con tố cha, cháu tố bác, những giá trị đạo lý luân thường nay đã bị chính những kẻ được cho là trí thức kia làm đảo lộn Tình người dường như không còn giữ được vị trí của nó trong suy nghĩ cũng như trong hành động của tất cả những người dân làng Thông này
Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma miêu tả cuộc đấu địa chủ cụ Cố
Đại mà người đấu tố chính là con trai và con dâu của cụ Cuộc đấu tố được diễn
ra ngay trong sân nhà Vũ Đình Đại Mở đầu là hình ảnh:“Vợ Phúc cầm cái liềm nhảy choi choi trước mặt những kẻ bóc lột, cái mỏ liềm cứ mổ trước mặt Vũ Đình Đại, vừa mổ chị vừa kể tội bọn chúng đã bóc lột đè nén mình ra sao”[62-
tr 22] Còn đây là màn đấu tố giữa ông Phúc và ông Đại, bố ruột của Phúc:
“- Địa chủ Đại, mày có biết tao là ai không?
Ông bố đã trả lời thế này:
- Dạ thưa ông tôi có biết ông, vì tôi đã trót đẻ ra ông!
Đồng chí Hùng cường đang ngồi bàn chủ tọa phủ chiếc chăn hoa, liền đập bàn đánh rình, đứng dậy: