1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BÀI 1.LỊCH SỬ VÀ ỨNG DỤNG SIÊU ÂM TRONG Y HỌC............................

5 15 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 135,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nêu được ứng dụng của siêu âm trong y học.. Nêu được thuận lợi và giới hạn của siêu âm chẩn đoán trong chuẩn đoán y học.. ĐẠI CƯƠNG: Ngành chẩn đoán hình ảnh được chia ra làm năm chuyên

Trang 1

LỊCH SỬ, ỨNG DỤNG VÀ NGUYÊN LÝ SIÊU ÂM TRONG Y HỌC

MỤC TIÊU:

1 Kể tên 5 chuyên ngành chẩn đoán hình ảnh y học.

2 Hiểu rõ lịch sử tạo ảnh của siêu âm chẩn đoán trên thế giới và tại Việt Nam.

3 Nêu được ứng dụng của siêu âm trong y học.

4 Nêu được thuận lợi và giới hạn của siêu âm chẩn đoán trong chuẩn đoán y học.

NỘI DUNG:

1 ĐẠI CƯƠNG:

Ngành chẩn đoán hình ảnh được chia ra làm năm chuyên ngành: X quang thường qui, cắt lớp vi tính, siêu âm, cộng hưởng từ và y học hạt nhân

Nội soi không được xếp vào ngành chẩn đoán hình ảnh

2 SIÊU ÂM (ULTRASOUND, ULTRASONOGRAPHY):

2.1 Lịch sử:

2.1.1 Trên thế giới:

Siêu âm ứng dụng vào y học nói chung và siêu âm chẩn đoán nói riêng là một trong những kỹ thuật cận lâm sàng đã có ở trên các nước tiên tiến trên 50 năm nay và đã trở thành một phương tiện hữu hiệu không thể phủ nhận được trong y học

1794: Lazzaro Spallanzani cho rằng loài dơi có khả năng phát siêu âm và nhận siêu âm dội lại để tránh các vật cản khi bay ban ngày hoặc ban đêm trong các hang đá Ý kiến này đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý và khởi đầu cho hàng loạt nghiên cứu về siêu âm sau này

1842: Christian Andreas Doppler đã khám phá ra sự thay đổi về tần số của

âm vang phản xạ lúc siêu âm gặp vật cản di động xa hoặc gần, và lấy tên là hiệu ứng Doppler

1880: Anhem Jacques và Pierre Curie tìm ra sóng siêu âm qua thí nghiệm tạo ra hiệu ứng áp điện trên tinh thể tourmaline

1917: Nhà vật lý thực nghiệm Paul Langévin chế tạo máy dò tàu ngầm dạng sonar có ứng dụng siêu âm Ba năm sau, ông phát hiện bức xạ siêu âm trong các

mô sinh vật có giá trị đối với y học và là cơ sở để kết hợp giữa hai ngành vật lý siêu âm và X quang

1947: Nhà thần kinh học người Áo Karl Theodore Dussik đã ứng dụng siêu

âm chẩn đoán vào y học Ông đã chế tạo được máy phát truyền âm có đầu dò phát siêu âm và đầu thu âm vang nằm trên một đường thẳng Ông sử dụng máy này để thăm dò cấu trúc não, não thất

Trang 2

1955: Giáo sư Ian Donald (Scotland) là người đầu tiên áp dụng siêu âm để chẩn đoán trong lĩnh vực sản phụ khoa

1956: Mundt và Hughes đã áp dụng siêu âm kiểu A vào nhãn khoa

Từ đó đến nay: Có sự tham gia của điện tử và điện toán, máy siêu âm y học được cải thiện và phát triển nhanh chóng, có một bước nhảy vọt ngoạn mục, mở rộng khả năng chẩn đoán sang các ngành ngoại khoa, ngoại thần kinh, nhãn khoa, tim mạch,…

2.1.2 Tại Việt Nam:

1980: Siêu âm lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam Một công ty của những nhà X quang Pháp đã cung cấp một máy siêu âm (hiệu SIAM 80) cho bệnh viện phụ sản Từ Dũ – Tp Hồ Chí Minh Hai BS đầu tiên được hướng dẫn sử dụng máy là Nguyễn Sĩ Huyên và Phan Thanh Hải

1988: Trung tâm về siêu âm ở Tp Hồ Chí Minh đầu tiên ra đời (tiền thân của trung tâm chẩn đoán Y khoa MEDIC bây giờ) do BS Phan Thanh Hải làm giám đốc BS Phan Thanh Hải được xem như là người khai sáng tiên phong cho siêu âm chẩn đoán ở Việt Nam

2.2 Nguyên Lý:

Máy siêu âm gồm có nguồn sóng siêu âm, máy vi tính, đầu dò Đầu dò phát sóng siêu âm có tần số cao (1 – 12 MHz) xuyên qua cơ thể, đồng thời ghi nhận các sóng siêu âm phản xạ tiếp trở lại (dưới dạng tín hiệu số) Máy vi tính chuyển thông tin dạng tín hiệu số sang dạng hình ảnh với sắc thái đen, trắng và xám Giống như MRI, siêu âm có thể thực hiện các lát hình đủ mọi chiều Hình ảnh siêu âm trên màn hình là hình ảnh thực (real time) Nó giúp ta quan sát nhịp tim hay chuyển động của thai nhi trong lòng tử cung và có thể ghi lại nhờ một camera hoặc in ra dạng ảnh tĩnh trên giấy chuyên dùng

Siêu âm 2 chiều kết hợp với ứng dụng nguyên lý Doppler tạo ra một kỹ thuật siêu âm mới – siêu âm Duplex Siêu âm Duplex là một kỹ thuật rất quan trọng trong khảo sát tim và mạch máu

Siêu âm 3 chiều thời gian thực hành cho hình ảnh siêu âm theo không gian

3 chiều rõ ràng, rất hữu ích trong khảo sát chuyên ngành sản khoa, tim mạch

2.3 Ứng dụng của siêu âm trong y học:

2.3.1 Siêu âm chẩn đoán:

Máy siêu âm

Trang 3

Một vài ứng dụng:

- Sản khoa

- Não trẻ em (siêu âm xuyên thóp)

- Tinh hoàn và tiền liệt tuyến

- Vùng chậu nữ giới

- Phổi (trong khảo sát và dẫn lưu dịch màng phổi)

- Bụng (gan, lách, tụy, thận,….)

- Bệnh lý mạch máu

2.3.2 Siêu âm trị liệu:

Vì siêu âm truyền qua được các mô trong cơ thể, làm cho các tế bào bị chấn động, cơ thể hấp thu của siêu âm một nhiệt lượng đáng kể nên người ta dùng nó

để chữa một số bệnh, chẳng những ở ngoài da mà cả ở trong sâu: Siêu âm làm dãn các mạch máu ở ngoại biên để tăng cường tính thẩm thấu của tế bào biểu

bì, do đó có tác dụng chống viêm Đau dây thần kinh tọa, thấp khớp,… là những bệnh chữa bằng siêu âm có hiệu quả đáng kể

Siêu âm có cường độ lớn có thể phá vỡ mối nối của những phân tử chất rắn Ứng dụng: Phá sỏi, cạo vôi răng,……

Siêu âm làm cho mối nối của các chất dẻo nhão ra và lỏng đi -> hiện tượng nhũ tương hóa Ứng dụng: phẫu thuật thủy tinh thể (kỹ thuật mổ Phaco)

2.4 Ưu điểm và khuyết điểm của siêu âm chẩn đoán:

2.4.1 Ưu điểm và tiện lợi:

- Hình ảnh theo đủ mọi chiều

- An toàn, không tổn hại sinh học ở liều siêu âm chẩn đoán

- Không đau (không xâm lấn)

- Chi phí trả cho một lần thăm khám rẻ hơn so với CT và MRI

- Chi phí máy móc, dụng cụ rẻ hơn so với CT và MRI

- Hình ảnh động

- Rất cơ động

2.4.2 Khuyết điểm và giới hạn:

- Yêu cầu phải có kỹ năng siêu âm và phụ thuộc vào người sử dụng máy

- Không tốt trong khảo sát xương và phổi nói chung

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Trang 4

TIẾNG VIỆT

1 Phan Trường Duyệt ( 2003 ), “Kỹ thuật siêu âm và ứng dụng trong sản phụ khoa“, NXB Khoa Học và Kỹ thuật

2 Hoàng Kỷ và cộng sự ( 2001 ), “Bài giảng chẩn đoán hình ảnh“, NXB

Y học

3 Nguyễn Phước Bảo Quân ( 2006 ), “Siêu âm bụng tổng quát“, NXB Y học

TIẾNG ANH

4 A Bonnin (1997), “Cẩm nang siêu âm“, Lê Văn Tri dịch, NXB Y học

5 Matthias Hofer (1999), “Ultrasound Teaching Manual“, 1st edit, Thieme

6 Divid A Lisle (2001), “Imaging for Students“, 2nd edit, Arnold

7 P.E.S Palmer (1995), “Manual of diagnostic ultrasound“, WHO

8 Carol M Rumack et al (2005), “Diagnostic Ultrasound“, 3rd edit, Mosby

9 J Taboury (1999), “Hướng dẫn thực hành siêu âm ổ bụng“, Nguyễn Trung Hưng dịch, NXB Y học

10 Các trang Web chuyên ngành Chẩn đoán hình ảnh

CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ

Câu 1 Chọn câu đúng nhất

Ngành chẩn đoán hình ảnh được chia ra làm 5 chuyên ngành

a X quang thường qui, cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ, y học hạt nhân, siêu âm

b X quang thường qui, cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ, siêu âm, nội soi

c X quang thường qui, cắt lớp vi tính, y học hạt nhân, siêu âm, nội soi

d X quang thường qui, cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ, y học hạt nhân, nội soi

Câu 2 Chọn câu đúng nhất

Qui ước quốc tế về hình siêu âm

Trang 5

a Ở lát cắt ngang, bên trái của màn hình là bên phải của bệnh nhân, và ngược lại bên phải của màn hình là bên trái của bệnh nhân

b Phía trên màn hình là phía trước của bệnh nhân, còn phía dưới của màn hình là phía sau của bệnh nhân

c Ở lát cắt dọc thì bên trái của màn hình là phía đầu của bệnh nhân, và ngược lại bên phải của màn hình là phía chân của bệnh nhân

d a, b, c đúng

Câu 3 Chọn câu sai

Ưu điểm và tiện lợi của siêu âm:

a Hình ảnh theo đủ mọi chiều

b An toàn, không tổn hại sinh học ở liều siêu âm chẩn đoán

c Hạn chế trong khảo sát xương và phổi nói chung

d. Máy siêu âm tốt quan trọng hơn kỹ năng người siêu âm

Ngày đăng: 26/12/2019, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w