Đề tài: thực trạng pháp luật về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại nước ngoài Bao gồm các nội dung: Quy định pháp luật hiện hành về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại nước ngoài; Thực trạng pháp luật Việt Nam về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa; Đánh giá các quy định pháp luật về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại nước ngoài.
Trang 1THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA TẠI NƯỚC NGOÀI
1 Quy định pháp luật hiện hành về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại nước ngoài
Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới(WTO) và cũng đã là thành viên của các điều ước quốc tế mang tính cốt lõi của
hệ thống SHTT thế giới, bao gồm như Công ước Bơn (Berne) về Bảo hộ các tácphẩm văn học và nghệ thuật; Công ước Rôm (Rome) về Bảo hộ người biểu diễn,nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng, Công ước quốc tế về Bảo hộgiống cây trồng mới (Công ước UPOV), Công ước Xtốc-khôm (Stockholm) vềViệc thành lập Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) các điều ước quốc tế về thuậnlợi hóa thủ tục đăng ký quốc tế quyền SHTT, như Hiệp ước Hợp tác sáng chế(Hiệp ước PCT) bên cạnh đó, Việt Nam hiện cũng đang trong quá trình chuẩn bịgia nhập Hệ thống La Hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp và đặcbiệt, trong lĩnh vực về NHHH, Việt Nam đã là thành viên của các điều ước quốc
tế mang tính cơ bản nhất, cốt lõi nhất bao gồm: Công ước Pa-ri (Paris) về Bảo
hộ sở hữu công nghiệp; Thỏa ước và Nghị định thư Ma-đrít (Madrid) về Đăng
ký quốc tế nhãn hiệu các điều ước này chính là nền tảng, là cơ sở pháp lý để cácdoanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường ra nước ngoài được bảo vệ quyềnSHTT của mình
Việc trở thành thành viên của các công ước quốc tế về bảo hộ NHHH đãtạo một cơ sở nền tảng pháp lý rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam muốn mởrộng thị trường ra nước ngoài Thông qua các điều ước quốc tế, các doanhnghiệp có quyền tự mình đăng ký bảo hộ NHHH tại các nước khác và đó là tựmình bảo vệ sản phẩm trí tuệ của mình, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp phápcủa doanh nghiệp Theo đó, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay muốn đăng kýbảo hộ NHHH tại nước ngoài có thể theo hai con đường, thứ nhất là đăng ký bảo
hộ NHHH trực tiếp tại từng quốc gia theo Công ước Paris và thứ hai là đăng kýbảo hộ NHHH theo Hệ thống Madrid
Trang 21.1 Quy định pháp luật về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trực tiếp tại từng quốc gia
Đăng ký bảo hộ NHHH theo Công ước Paris được hiểu là đăng ký trực tiếptại từng quốc gia
Việc đăng ký trực tiếp tại từng quốc gia này là cách thức đăng ký bảo hộNHHH tương đối tốn kém và phức tạp bởi lẽ quyền sở hữu công nghiệp chỉ cóphạm vi trong từng quốc gia lãnh thổ, nên nếu một doanh nghiệp lớn muốn đưasản phẩm của mình ra nhiều thị trường nhiều quốc gia khác nhau thì theo côngước này phải đăng ký trực tiếp đến từng quốc gia đó vì thế vấn đề đặt ra là sẽ rấttốn kém, bên cạnh đó, pháp luật cụ thể về việc đăng ký bảo hộ NHHH của từngquốc gia là khác nhau, yêu cầu cũng khác nhau nên sẽ phức tạp trong việc đăng
ký bảo hộ NHHH ở các quốc gia khác nhau
Như vậy, một doanh nghiệp muốn nộp đơn đăng ký bảo hộ NHHH tại mộtquốc gia khác thì cần phải tuân thủ quy định chung tại Công ước Paris và nhữngquy định cụ thể về đăng ký bảo hộ NHHH theo pháp luật quốc gia mà doanhnghiệp muốn được bảo hộ
1.1.1 Quy định quốc tế về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trực tiếp tại từng quốc gia
Nền kinh tế thế giới đã được hình thành và phát triển sớm, nhu cầu về hợptác quốc tế trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp giữa các quốc gia với nhau cũngdần hình thành và lần đầu tiên xuất hiện là vào năm 1873 tại hội chợ sáng chếquốc tế ở Viennie Sau đó, đến ngày 20/3/1883 Công ước Paris dựa trên nhu cầu
đó đã được hình thành và được ký kết với sự tham gia của 14 nước thành viên,đây là Công ước quốc tế đa phương quan trọng đầu tiên về bảo hộ sở hữu côngnghiệp, cũng là nền tảng cho các sự hợp tác quốc tế sau này và hình thành nêncác Điều ước quốc tế về sở hữu công nghiệp khác Để hoàn thiện, từ ngày đầu
ký kết cho đến nay, Công ước Paris đã qua bảy lần sửa đổi, trong đó các lần sửađổi được thực hiện tại Brussels năm 1900, tại Washington năm 1911, tại La Haynăm 1925, tại Luân Đôn năm 1934, tại Lisbon năm 1958, tại Stockholm năm
1967 và lần sửa đổi cuối cùng là vào năm 1979 với 30 điều khoản được áp dụng
Trang 3từ đó cho đến tận bây giờ Tính đến ngày 15/01/2002, có 162 nước là thành viêncủa Công ước, Việt Nam đã là thành viên của Công ước Paris từ ngày08/3/1949.
Mục đích của Công ước Paris là nhằm xây dựng điều khoản có lợi cho việcđăng ký bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, mẫu hữu ích, tên thương mại,chỉ dẫn địa lý… và trong đó có cả các điều khoản có lợi cho việc đăng ký bảo hộNHHH của công dân các nước là thành viên của Công ước đồng thời xây dựngxây dựng một số nguyên tắc chung đối với hệ thống bảo hộ quyền sở hữu côngnghiệp tại các nước thành viên trên cơ sở tôn trọng pháp luật về sở hữu côngnghiệp của các nước thành viên
Công ước Paris đã có những quy định chung nhất về các nội dung sau:Thứ nhất, đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp Đối tượng của quyền
sở hữu công nghiệp hiểu theo nghĩa rộng không chỉ áp dụng cho lĩnh vực côngnghiệp và thương mại mà còn áp dụng cho cả ngành sản xuất nông nghiệp, côngnghiệp khai thác và tất cả các sản phẩm chế biến hoặc sản phẩm tự nhiên nhưrượu, ngũ cốc, thuốc lá, hoa quả, gia súc, khoáng sản, nước khoáng… Bên cạnh
đó, đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp hiểu theo nghĩa hẹp sẽ bao gồm:sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, NHHH, nhãn hiệu dịch vụ,tên thương mại, chỉ dẫn địa lý hoặc tên gọi xuất xứ hàng hóa, quyền chống cạnhtranh không lành mạnh
Thứ hai, về nguyên tắc bảo hộ Tại Điều 2 của Công ước Paris quy định:
Điều 2 Đối xử quốc gia đối với công dân các nước thành viên của Liên minh
(1) Trong lĩnh vực bảo hộ sở hữu công nghiệp, công dân của bất kỳ nước thành viên nào cũng đều được hưởng các điều kiện thuận lợi như công dân của tất cả các nước thành viên khác mà luật tương ứng của các nước đó quy định hoặc sẽ quy định mà; hoàn toàn không ảnh hưởng đến các quyền được quy định riêng trong Công ước này Do đó, họ được hưởng sự bảo hộ và công cụ bảo vệ pháp luật chống mọi hành vi xâm phạm quyền của mình như những công dân
Trang 4của nước thành viên khác, miễn là tuân thủ các điều kiện và thủ tục quy định đối với công dân nước đó.
(2) Tuy nhiên, không thể đặt ra cho công dân của các nước thành viên của Liên minh bất cứ điều kiện nào về việc cư trú hoặc việc đặt trụ sở tại nước được yêu cầu bảo hộ để được hưởng bất kỳ quyền sở hữu công nghiệp nào.
(3) Các quy định liên quan đến các đòi hỏi về thủ tục xét xử và thủ tục hành chính, thẩm quyền xét xử, việc lựa chọn địa chỉ giao dịch hoặc chỉ định người đại diện nếu có trong luật về sở hữu công nghiệp của mỗi nước thành viên được bảo lưu tuyệt đối.
Nội dung điều luật này thể hiện Công ước Paris áp dụng nguyên tắc đãi ngộnhư công dân, theo đó công dân của bất kì nước thành viên nào khác nào cũngđược hưởng mọi quyền lợi tại tất cả các nước thành viên khác mà luật tương ứngcủa các nước đó quy định hoặc sẽ quy định cho công dân nước mình Đối vớicông dân của những nước không phải là thành viên của công ước nhưng cư trúchính thức ở một nước thuộc thành viên công ước hay có những xí nghiệp thực
sự quan trọng ở đó, thì theo quy định của công ước họ cũng được bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp ngang với công dân nước sở tại
Như vậy, đối với Việt Nam, Công ước Paris đã tạo lập cơ sở chung nhấtcho các thỏa thuận đa phương và song phương khác về bảo hộ quyền sở hữucông nghiệp Dựa vào việc Công ước đề ra nguyên tắc “đối xử quốc gia”, côngdân Việt Nam có quyền được hưởng các điều kiện thuận lợi như công dân củabất kỳ một nước thành viên nào khác trong việc bảo hộ nhãn hiệu tại nước đó,miễn là tuân thủ các điều kiện và thủ tục quy định đối với công dân của nướctương ứng
Thứ ba, về quyền ưu tiên Được quy định tại Điều 4 của Công ước Paris vàđược thể hiện ở các nội dung sau:
Nếu người nộp đơn yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nộp đơn đầutiên của mình ở một nước thành viên của Công ước thì trong thời hạn nhất địnhsau ngày nộp đơn đầu tiên1 có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ ở bất kỳ nước thành
1 Cụ thể tại Điểm C –(1) Điều 4 Công ước Paris quy định thời hạn này là 06 (sáu) tháng kể từ sau ngày nộp đơn đầu tiên (ngày nộp đơn đầu tiên không tính vào thời hạn).
Trang 5viên nào khác và những đơn nộp sau được xem như có ngày nộp đơn cùng vớingày nộp đơn của đơn đầu tiên Để được hưởng quyền ưu tiên theo quy địnhnày, người nộp đơn phải ghi rõ ngày nộp đơn, nước nhận đơn thứ nhất, các nướcthành viên có thể yêu cầu người nộp đơn phải nộp các bản sao mô tả bản vẽ củađơn thứ nhất để làm bằng chứng cho việc hưởng quyền ưu tiên của mình.
Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp quy định nguyên tắc đối xửquốc gia về quyền ưu tiên, theo đó doanh nghiệp có thể đăng kí nhãn hiệu củamình ở các nước thành viên của Công ước và được hưởng sự bảo hộ đối vớinhãn hiệu đó như công dân của nước sở tại mà không có sự phân biệt đối xử(nguyên tắc đối xử quốc gia) Trong vòng 06 (sáu) tháng kể từ ngày Đơn đăng kínhãn hiệu của doanh nghiệp được Cục SHTT Việt Nam chấp nhận hợp lệ, doanhnghiệp có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu của mình tại bất cứ nước thànhviên nào của công ước và các đơn nộp sau sẽ được coi như nộp cùng ngày vớingày nộp đơn tại Cục SHTT (nguyên tắc quyền ưu tiên) Điều đó giúp chodoanh nghiệp khi muốn bảo hộ nhãn hiệu của mình ở một số nước không phảinộp đồng thời tất cả các đơn tại Việt Nam và các nước khác mà có đến 6 tháng
để quyết định xem nên nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu của mình ở nhữngnước nào và tiến hành nộp đơn ở nước được lựa chọn
Thứ tư, về tiêu chuẩn bảo hộ, điều kiện đăng ký bảo hộ NHHH
Điều 6 Công ước Paris quy định:
Điều 6 Nhãn hiệu: Điều kiện đăng ký; sự độc lập của việc bảo hộ một
nhãn hiệu tại các nước khác nhau
(1) Điều kiện nộp đơn và đăng ký nhãn hiệu hàng hoá phải được quy định tại luật quốc gia của mọi nước thành viên của Liên minh.
(2) Tuy vậy, một đơn đăng ký nhãn hiệu do công dân của một nước thành viên của Liên minh nộp tại bất cứ nước nào trong Liên minh cũng không thể bị
từ chối - hoặc một đăng ký nhãn hiệu cũng không thể bị huỷ bỏ - với lý do rằng việc nộp đơn, đăng ký, hoặc gia hạn tại nước xuất xứ không có hiệu lực.
(3) Một nhãn hiệu đã đăng ký hợp lệ tại một nước thành viên của Liên minh được coi là không phụ thuộc vào các nhãn hiệu đăng ký tại các nước thành viên khác của Liên minh, kể cả nước xuất xứ.
Trang 6Công ước Paris không quy định các điều kiện nộp đơn và đăng ký nhãnhiệu mà dành việc này cho pháp luật quốc gia của các thành viên Một doanhnghiệp muốn đăng ký bảo hộ NHHH tại một nước quốc gia thành viên nào khácthì phải đảm bảo các điều kiện theo pháp luật quốc gia đó Một khi nhãn hiệuđược đăng ký tại một nước thành viên, đăng ký đó sẽ độc lập với đăng ký có thể
có tại bất cứ nước thành viên nào khác, kể cả nước xuất xứ Có nghĩa là, trongtrường hợp nhãn hiệu đã được đăng ký tại một nước thành viên bị mất hiệu lựcthì sẽ không ảnh hưởng đến hiệu lực của nhãn hiệu đó được đăng ký ở các nướcthành viên khác
Hệ thống pháp luật về SHTT hay cụ thể là về đăng ký bảo hộ NHHH củamỗi quốc gia là khác nhau vì thế khi nhãn hiệu đã được đăng ký hợp lệ tại nướcxuất xứ, các doanh nghiệp có thể nộp đơn bảo hộ ở các nước khác với hình thứcban đầu của nhãn hiệu tuy nhiên vẫn có thể bị từ chối nếu không phù hợp vớipháp luật của quốc gia khác đó trong một số trường hợp nhất định như NHHH
có khả năng xâm phạm đến quyền đã đăng ký của các bên thứ ba, nhãn hiệukhông có khả năng phân biệt theeo dấu hiệu phân biệt của pháp luật quốc giakhác, nhãn hiệu trái với đạo đức hoặc trật tự công cộng hoặc nhãn hiệu có khảnăng lừa dối hay gây nhầm lẫn cho công chúng, người tiêu dùng
Bên cạnh đó, Công ước Paris cũng dành một điều luật quy định về nhãn
hiệu nổi tiếng, theo đó “…các nước thành viên của Liên minh có trách nhiệm từ
chối hoặc huỷ bỏ đăng ký, ngăn cấm việc sử dụng nhãn hiệu mà nhãn hiệu đó là
sự sao chép, bắt chước, biên dịch, và có khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu
đã được cơ quan có thẩm quyền của nước đăng ký hoặc nước sử dụng coi là nhãn hiệu nổi tiếng tại nước đó của người được Công ước cho hưởng lợi thế sử dụng nhãn hiệu đó trên các loại hàng hoá giống hoặc tương tự Những quy định này cũng được áp dụng trong trường hợp thành phần chủ yếu của nhãn hiệu là
sự sao chép của bất kỳ nhãn hiệu nổi tiếng nào hoặc là sự bắt chước có khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đó.” 2 trách nhiệm này được đặt ra khi pháp
luật quốc gia có quy định hay theo yêu cầu của bên có liên quan Thời hạn yêucầu hủy bỏ đăng ký nhãn hiệu như trên là không ít hơn 05 (năm) năm kể từ ngày
2 Điều 6 bis Công ước Paris
Trang 7đăng ký nhãn hiệu Các nước thành viên của Liên minh có quyền tự quy địnhthời hạn vì vậy pháp luật một số nước có thể đưa ra quy định một thời hạn cụ thểhoặc là không thời hạn hay hiểu cách khác chính là có thể yêu cầu cấm sử dụngnhãn hiệu Đặc biệt, đối với các trường hợp nhãn hiệu được đăng ký hoặc được
sử dụng với ý định xấu thì Công ước Paris quy định không được phép quy địnhthời hạn yêu cầu hủy bỏ hoặc ngăn cấm việc sử dụng những nhãn hiệu này Bêncạnh đó, mỗi nước thành viên còn phải từ chối đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hoặccấm sử dụng các nhãn hiệu chứa các biểu tượng quốc gia, huy hiệu, cờ, các biểutượng khác, các chữ viết tắt và tên của các tổ chức quốc tế liên chính phủ
Như vậy, Việt Nam đã là thành viên của Công ước Paris vì vậy các doanhnghiệp Việt Nam được hưởng các quyền lợi theo quy định của Công ước này.Nguyên tắc đối xử quốc gia cho phép doanh nghiệp Việt Nam nhận được nhiềulợi ích từ việc nhận được quyền bảo hộ từ các quốc gia là thành viên của Côngước và quyền ưu tiên cho phép doanh nghiệp Việt Nam có thể nộp đơn ở bất cứquốc gia nào sau thời hạn nhất định (06 tháng) kể từ ngày nộp đơn đầu tiên Thủtục nộp đơn sợ bộ theo Công ước Paris mà các doanh nghiệp Việt Nam cần tiếnhành để đảm bảo quyền lợi của mình trước hết doanh nghiệp Việt Nam phải nộpđơn đăng ký nhãn hiệu ra nước ngoài tại Cục SHTT, trong vòng 06 tháng kể từngày đơn đăng ký nhãn hiệu được Cục SHTT chấp nhận hợp lệ, chủ sở hữu nhãnhiệu có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu của mình tại bất cứ quốc giathành viên nào của Công ước Các đơn nộp sau sẽ được coi như nộp cùng ngàyvới ngày nộp đơn tại Cục SHTT
Ngoài các nội dung chủ yếu nêu trên, Công ước Paris còn quy định một sốvấn đề khác liên quan đến đăng ký bảo hộ NHHH tại nước ngoài Công ướcParis quy định về vấn đề hiệu lực, ngoài những điều kiện bắt buộc đã được quyđịnh trong Công ước, các nước thành viên được quyền xây dựng và áp dụng luật
sở hữu công nghiệp nói chung, pháp luật về đăng ký bảo hộ NHHH nói riêngcủa nước mình cũng như trong việc ký kết những điều ước quốc tế song phương,
đa phương về sở hữu công nghiệp và bảo hộ NHHH với điều kiện những điềuước quốc tế đó không được vi phạm những điều khoản chung của Công ướcParis Công ước Paris quy định về cạnh tranh không lành mạnh, theo đó mỗi
Trang 8nước thành viên phải dành sự bảo hộ có hiệu quả cho chủ sở hữu nhằm chốngcạnh tranh không lành mạnh Công ước chỉ quy định các nguyên tắc xác địnhhành vi cạnh tranh không lành mạnh và một danh mục các hành vi được cho làcạnh tranh không lành mạnh bên cạnh đó, Công ước không quy định cụ thể cáchthức bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh mà giao quyền quy định về chopháp luật mỗi quốc gia, các quốc gia có quyền tự do quy định về cách thức bảo
hộ chống cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật quốc gia mình, phù hợpvới điều kiện, hoàn cảnh của mỗi quốc gia
Để điều hành việc thực thi Công ước Paris, tồn tại một Liên minh (gọi làLiên minh Paris), trong đó có Hội đồng và Uỷ ban điều hành Những nước thànhviên nào của Liên minh thừa nhận các quy định về hành chính và quy định cuốicùng của Văn bản Stockholm (1967) đều là thành viên của Hội đồng Các thànhviên của Uỷ ban điều hành được bầu trong số các thành viên của Liên minh, trừThuỵ sĩ - một thành viên đương nhiên Văn phòng quốc tế của WIPO là cơ quanđiều hành Liên minh và thực hiện mọi công việc hành chính liên quan đến Liênminh
Các tranh chấp giữa hai hoặc nhiều nước thành viên của Liên minh có liênquan đến việc giải thích hoặc áp dụng Công ước Paris nếu không giải quyếtđược bằng con đường đàm phán đều có thể được giải quyết tại Toà án quốc tế
1.1.2 Quy định của pháp luật Hoa Kỳ về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
Hoa Kỳ được xem là một thị trường lớn, năng động nhất thế giới và tiềmnăng lớn cho doanh nghiệp Việt Nam, Hoa Kỳ là một trong những đối tácthương mại hàng đầu của Việt Nam Hàng năm, các doanh nghiệp Việt Namxuất khẩu hàng tỷ đô la sang thị trường này Một doanh nghiệp Việt Nam có nhucầu mở rộng kinh doanh cũng như cung cấp hàng hóa tới thị trường Hoa Kỳ cầnphải thực hiện các thủ tục pháp lý để đảm bảo quyền lợi của mình tại nước sởtại Hiện nay, cả Hoa Kỳ và Việt Nam đều đã là thành viên của Công ước Paristheo đó, các doanh nghiệp Việt Nam có thể đăng ký bảo hộ NHHH tại Hoa Kỳtheo quy định tại Công ước Paris và phù hợp với hệ thống pháp luật về SHTTcủa Hoa Kỳ Điều này cho thấy việc bảo hộ thương hiệu của các doanh nghiệp
Trang 9Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ cũng như việc tìm hiểu về quy trình, thủ tụchay các giấy tờ cần thiết khi đăng ký nhãn hiệu tại Hoa Kỳ là vô cùng cần thiết,nhất là đối với các doanh nghiệp, các nhà quản trị Việt Nam khi mong muốnkhai thác thế mạnh của thương hiệu Việt, sản phẩm Việt trên thị trường Hoa Kỳ.USPTO là cơ quan liên bang về việc cấp bằng sáng chế và thương hiệu củaHoa Kỳ, cơ quan này được chia ra làm nhiều bộ phận có chức năng theo từnglĩnh vực Theo hướng dẫn cụ thể của USPTO về quy trình đăng ký bảo hộ nhãnhiệu hàng hoa tại Hoa Kỳ cần phải trải qua 06 bước cơ bản như sau3:
Bước 1: Xem xép tính phù hợp của việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cho sản
phẩm của doanh nghiệp mình
Theo pháp luật Hoa Kỳ, nhãn hiệu, bằng sáng chế, bản quyền đều khácnhau vì vậy điều quan trọng đầu tiên là cần phải tìm hiểu xem nhãn hiệu có phùhợp với doanh nghiệp hay không Điều này được hiểu rõ hơn là một nhãn hiệuthường bảo vệ tên thương hiệu và logo được sử dụng trên hàng hóa và dịch
vụ Một bằng sáng chế bảo vệ một phát minh Một bản quyền bảo vệ một tácphẩm nghệ thuật hoặc văn học gốc Ví dụ: nếu một doanh nghiệp phát minh ramột loại máy giặt mới, doanh nghiệp đó sẽ xin cấp bằng sáng chế để bảo vệchính phát minh đó, nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu để bảo vệ tên thươnghiệu của máy hút bụi bên cạnh đó doanh nghiệp còn có thể đăng ký bản quyềncho quảng cáo truyền hình mà bạn sử dụng để tiếp thị sản phẩm Như vậy cầnxem xét đối tượng mà các doanh nghiệp hướng đến cần bảo hộ là gì để có yêucầu phù hợp Trường hợp yêu cầu bảo hộ về NHHH chính là bảo vệ tên thươnghiệu của sản phẩm đó mà không tính đến chất lượng của sản phẩm, chất lượngsản phẩm là tùy thuộc vào mỗi doanh nghiệp
Những doanh nghiệp là chủ sở hữu NHHH và thực sự mong muốn sử dụngnhãn hiệu đó tại thị trường Hoa Kỳ đều có quyền đăng ký bảo hộ NHHH tại Hoa
Kỳ Vì Hoa Kỳ đã là thành viên của Công ước Paris nên doanh nghiệp nộp đơn
có thể dựa vào một trong các căn cứ sau để tiến hành nộp đơn đăng ký NHHHtại Hoa Kỳ Baao gồm:
3 Quy trình đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tại Mỹ được hướng dẫn trên trang web chính thức của cơ quan liên bang
về việc cấp bằng sáng chế và thương hiệu của Hoa Kỳ: www.uspto.gov
Trang 10- Nhãn hiệu cần đăng ký bảo hộ đã và đang được sử dụng trong thị trườngHoa Kỳ.
- Nhãn hiệu chưa được sử dụng nhưng doanh nghiệp có ý định sử dụngnhãn hiệu đó tại thị trường Hoa Kỳ
- Nhãn hiệu đã được nộp đơn đăng ký tại một nước thành viên của Côngước Paris hoặc là nước thành viên của một thỏa ước quốc tế về nhãn hiệu màHoa Kỳ công nhận
- Nhãn hiệu đã được đăng ký tại nước xuất xứ của doanh nghiệp nộp đơn
Bước 2: Chọn NHHH.
Trên thực tế, sau khi doanh nghiệp đã xác định được loại mà doanh nghiệpmuốn bảo hộ là NHHH thì tiếp theo việc chọn nhãn hiệu là bước quan trọngtrong quy trình đăng ký chung Việc chọn nhãn hiệu cho phù hợp cần phải đượcquan tâm để làm sao vừa đạt được mục đích của nhãn hiệu và vừa được chấpnhận bảo hộ về mặt pháp lý bởi lẽ không phải mọi nhãn hiệu đều có thể đượcbảo hộ về mặt pháp lý, một số nhãn hiệu có thể không có khả năng làm cơ sởcho khiếu nại pháp lý của chủ sở hữu đang tìm cách ngăn chặn người khác sửdụng nhãn hiệu tương tự trên hàng hóa liên quan Hay nói cách khác, nhãn hiệuđược lựa chọn không đáp ứng được các điều kiện bảo họ theo pháp luật SHTTcủa Hoa Kỳ sẽ không được bảo hộ tại quốc gia này mặc dù có thể cũng chínhnhãn hiệu đó đã được bảo hộ tại Việt Nam hay một số quốc gia khác Như vậy,khó khăn lớn nhất đặt ra trong bước chọn nhãn hiệu này là doanh nghiệp thườngchọn một nhãn hiệu khó hoặc thậm chí không thể đăng ký bảo hộ tại Hoa Kỳ bởinhiều lý do, cần xem xét và khắc phục các lý do làm cho nhãn hiệu có khả năngđược bảo hộ bên cạnh đó cần luôn luôn tìm kiếm cơ sở dữ liệu tại USPTO đểxác định xem có chủ thể nào đã được bảo hộ về một NHHH tương tự và được sửdụng trên các hàng hóa liên quansau đó chuyển sang bước thứ ba là chuẩn bị vànộp hồ sơ
Bước 3: Chuẩn bị và nộp hồ sơ.
Doanh nghiệp có thể nộp đơn đăng ký bảo hộ NHHH ở Hoa Kỳ bằng cáchnộp đơn trực tiếp qua mạng, tại website www.uspto.gov của Cơ quan sáng chế
Trang 11và nhãn hiệu của Hoa Kỳ Một đơn đăng ký bảo hộ NHHH chỉ bảo hộ cho mộtnhãn hiệu dùng cho một hoặc nhiều nhóm sản phẩm hàng hóa, như vậy nếu sảnphẩm mang nhãn hiệu của nhiều nhóm phân loại quốc tế hàng hóa thì doanhnghiệp nộp đơn chỉ cần nộp một đơn.
Hồ sơ chung để tiến hành nộp đơn đăng ký bảo hộ NHHH tại Hoa Kỳ baogồm:
- Một mẫu nhãn hiệu xin đăng ký
- Danh nục cụ thể các sản phẩm hàng hóa mang nhãn hiệu (kèm theo phânloại quốc tế hàng hóa nếu biết)
- Tên đầy đủ, địa chỉ, số điện thoại, số Fax (nếu có) và quốc tịch của doanhnghiệp nộp đơn
Ngoài ra, đối với mỗi căn cứ nộp đơn khác nhau, doanh nghiệp nộp đơncòn cần cung cấp thêm các tài liệu, thông tin tương ứng Như:
Nếu căn cứ nộp đơn là nhãn hiệu chưa được đăng ký nhưng đã và đangđược sử dụng tại thị trường Hoa Kỳ thì doanh nghiệp nộp đơn cần nêu rõ trongđơn là nhãn hiệu đã được sử dụng, ngày đầu tiên sử dụng nhãn hiệu đó tại thịtrường Hoa Kỳ cũng như ngày đầu tiên nhãn hiệu được sử dụng ở bất kỳ đâu
Để chứng minh nhãn hiệu đã được sử dụng trên thực tế, doanh nghiệp nộp đơncần cung cấp thông tin về nhãn sản phẩm, mẫu bao bì hoặc ảnh chụp hàng hóathuộc nhóm sản phẩm có chứa nhãn hiệu
Nếu căn cứ nộp đơn là có ý định muốn sử dụng nhãn hiệu tại thị trườngHoa Kỳ thì trong đơn doang nghiệp cần tuyên bố rằng có ý định sử dụng trungthực nhãn hiệu trong thị trường nền kinh tế Hoa Kỳ
Nếu căn cứ nộp đơn là nhãn hiệu đã được nộp đơn đăng ký tại một nướcthành viên của Công ước Paris hoặc là nước thành viên của một thỏa ước quốc
tế về nhãn hiệu mà Hoa Kỳ công nhận thì trong đơn doang nghiệp cũng cầntuyên bố rằng có ý định sử dụng trung thực nhãn hiệu trong thị trường nền kinh
tế Hoa Kỳ Nêu rõ trong đơn tên quốc gia, số đơn và ngày nộp đơn của đơn nộptrước kèm theo bản sao công chức các đơn đã nộp
Trang 12Và nếu căn cứ nộp đơn là nhãn hiệu đã được đăng ký tại nước xuất xứ củadoanh nghiệp nộp đơn thì như các căn cứ trên trong đơn doang nghiệp cũng cầntuyên bố rằng có ý định sử dụng trung thực nhãn hiệu trong thị trường nền kinh
tế Hoa Kỳ Nêu rõ trong đơn tên quốc gia, số đăng ký, ngày đăng ký nhãn hiệukèm theo bản sao công chứng Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đã được cấp
Về lệ phí nộp đơn là phí xử lý Không phải tất cả các đơn được nộp đều dẫnđến việc đăng ký Phí đã nộp sẽ không được hoàn trả, ngay cả khi cuối cùngNHHH không được đăng ký Tất cả thông tin gửi cho USPTO tại bất kỳ thờiđiểm nào trong đơn đăng ký và quy trình đăng ký sẽ trở thành hồ sơ công khai,bao gồm tên, số điện thoại, địa chỉ email và địa chỉ của doanh nghiệp
Trong toàn bộ quá trình nộp đơn, doanh nghiệp nên theo dõi tiến trình nộpđơn của mình thông qua hệ thống Truy xuất tài liệu và trạng thái nhãn hiệu(TSDR) tại website chính thức của USPTO Điều quan trọng là phải thườngxuyên kiểm tra trạng thái của đơn đăng ký sau mỗi 3-4 tháng sau khi nộp đơnđầu tiên, để tránh bỏ lỡ các thời hạn nộp đơn theo yêu cầu của USPTO
Bước 4: Làm việc với luật sư kiểm tra USPTO được chỉ định.
Sau khi USPTO xác định rằng doanh nghiệp đã đáp ứng các yêu cầu nộpđơn tối thiểu, các thông tin về nhãn hiệu doanh nghiệp muốn đăng ký sẽ đượcchuyển đến một luật sư kiểm tra Thời gian kiểm tra này có thể mất một sốtháng Luật sư kiểm tra xem xét đơn đăng ký để xác định xem nó có tuân thủ tất
cả các quy tắc và quy chế hiện hành hay không và bao gồm tất cả các khoản phíbắt buộc Phí nộp đơn sẽ không được hoàn trả, ngay cả khi đơn đăng ký sau đó
bị từ chối đăng ký với lý do hợp pháp
Nếu luật sư kiểm tra quyết định rằng không nên đăng ký nhãn hiệu, luật sưkiểm tra sẽ có văn bản giải thích mọi lý do chính đáng để từ chối và bất kỳ thiếusót về kỹ thuật hoặc thủ tục nào trong đơn Nếu chỉ cần sửa chữa nhỏ, luật sưkiểm tra có thể liên hệ với doanh nghiệp nộp đơn qua điện thoại hoặc email.Doang nghiệp nộp đơn phải phản hồi lại ý kiến trong vòng sáu tháng kể từ ngàygửi thư, nếu không đơn đăng ký sẽ bị hủy
Bước 5: Quyết định phê duyệt hoặc từ chối đăng ký đơn
Trang 13Nếu luật sư kiểm tra không phản đối việc đăng ký hoặc doanh nghiệp nộpđơn vượt qua tất cả các phản đối, luật sư kiểm tra sẽ phê duyệt nhãn hiệu vàđăng trong "Công báo", một ấn phẩm hàng tuần của USPTO USPTO sẽ gửithông báo đăng công báo cho doanh nghiệp nộp đơn nêu rõ ngày đăng Sau khinhãn hiệu được đăng trong "Công báo", bất kỳ bên nào có lý do hợp lý để phảnđối việc đăng ký nhãn hiệu có ba mươi ngày kể từ ngày đăng công báo để nộpđơn phản đối đăng ký hoặc yêu cầu gia hạn thời gian phản đối Một sự phản đốitương tự như một vụ kiện tại tòa án liên bang, nhưng được tổ chức trước Hộiđồng xét xử và kháng cáo nhãn hiệu (TTAB), một tòa án hành chính trongUSPTO Có thể mất ba đến bốn tháng kể từ khi thông báo đăng công báo đượcgửi trước khi doanh nộp đơn sẽ nhận được thông báo chính thức về tình trạngtiếp theo của đơn đăng ký.
Nếu nhãn hiệu này dựa trên việc nhãn hiệu đã và đang được sử dụng tại thịtrường Hoa Kỳ, đăng ký nước ngoài hoặc gia hạn bảo hộ đăng ký quốc tế choHoa Kỳ và không bên nào nộp đơn phản đối hoặc yêu cầu gia hạn thời gian phảnđối, USPTO sẽ đăng ký nhãn hiệu và gửi cho chủ sở hữu nhãn hiệu giấy chứngnhận đăng ký Sau khi đăng ký nhãn hiệu, chủ sở hữu nhãn hiệu phải nộp tài liệubảo trì cụ thể để giữ cho đăng ký trực tiếp
Nếu nhãn hiệu được công bố dựa trên ý định sẽ sử dụng nhãn hiệu trongthương mại và không có bên nào phản đối hoặc yêu cầu gia hạn thời gian phảnđối, USPTO sẽ đưa ra thông báo trợ cấp khoảng tám tuần sau ngày nhãn hiệuđược công bố Người nộp đơn sau đó có sáu tháng kể từ ngày thông báo trợ cấp
để sử dụng nhãn hiệu trong thương mại và gửi một tuyên bố sử dụng hoặc có thểyêu cầu gia hạn thời gian sáu tháng để nộp bản tuyên bố sử dụng (yêu cầu giahạn)
Một tuyên bố sử dụng phải đáp ứng các yêu cầu nộp đơn tối thiểu trướckhi luật sư kiểm tra xem xét đầy đủ Nếu tuyên bố sử dụng không đáp ứng cácyêu cầu nộp đơn tối thiểu, thì luật sư kiểm tra sẽ xem xét nó để xác định xem cóthể chấp nhận cho phép đăng ký hay không Nếu không có từ chối hoặc yêu cầu
bổ sung được xác định, luật sư kiểm tra chấp thuận tuyên bố sử dụng Nếu các từchối hoặc yêu cầu vẫn phải được thỏa mãn, luật sư kiểm tra sẽ ra một văn bản
Trang 14nêu rõ các lý do từ chối hoặc các yêu cầu Đây là quá trình tương tự xảy ra trướckhi công bố nhãn hiệu nếu luật sư kiểm tra xác định rằng các yêu cầu pháp lýphải được đáp ứng Quá trình và khung thời gian vẫn giữ nguyên, ngoại trừ nếucác vấn đề cuối cùng được giải quyết và tuyên bố sử dụng được phê duyệt,USPTO sẽ đăng ký trong vòng khoảng hai tháng Nếu tất cả các vấn đề khôngđược giải quyết, đơn đăng ký sẽ bị hủy bỏ
Bên cạnh đó, nếu phản hồi của người nộp đơn không vượt qua tất cả cácphản đối, luật sư kiểm tra sẽ đưa ra lời từ chối cuối cùng Để cố gắng vượt qua
sự từ chối cuối cùng, người nộp đơn có thể, với một khoản phí bổ sung, khángcáo lên Hội đồng xét xử và kháng cáo nhãn hiệu
Bước 6: Duy trì nhãn hiệu đã đăng ký
Trong vòng khoảng hai tháng sau khi tuyên bố sử dụng được phê duyệt,USPTO cấp đăng ký Để giữ cho đăng ký "trực tiếp", doanh nghiệp đăng ký phảinộp các tài liệu bảo trì cụ thể Việc không thực hiện các hồ sơ yêu cầu này sẽdẫn đến việc hủy bỏ hoặc hết hạn đăng ký Nếu đăng ký bị hủy hoặc hết hạn,cách duy nhất là phải nộp lại đơn đăng ký hoàn toàn mới và bắt đầu lại toàn bộquá trình ngay từ đầu
Sau khi nhãn hiệu được đăng ký, doanh nghiệp vẫn nên theo dõi trạng tháiđăng ký của mình trên cơ sở hàng năm thông qua hệ thống truy xuất tài liệu vàtrạng thái nhãn hiệu (TSDR) Điều đặc biệt quan trọng là kiểm tra trạng tháiđăng ký của nhãn hiệu sau khi thực hiện bất kỳ thủ tục pháp lý nào cần thiết đểduy trì đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của doanh nghiệp, kể cả từ năm thứ năm đếnthứ sáu sau ngày đăng ký và từ năm thứ chín đến năm thứ mười sau ngày đăngký
Mỗi một doanh nghiệp phải có trách nhiệm thực thi các quyền hợp phápcủa mình nếu nhận được đăng ký bảo hộ NHHH, vì USPTO không quản lý việc
sử dụng nhãn hiệu USPTO chỉ đảm bảo rằng không có bên nào khác nhận đượcđăng ký liên bang cho nhãn hiệu giống hệt hoặc tương tự hoặc áp dụng cho hànghóa có liên quan, chủ sở hữu đăng ký phải có trách nhiệm đưa bất kỳ hành độngpháp lý nào để ngăn chặn một bên sử dụng vi phạm
Trang 15Nếu chủ sở hữu nhãn hiệu nghi ngờ rằng nhãn hiệu mình đã đăng ký đang
bị xâm phạm hoặc có thể bị vi phạm trong tương lai, nhãn hiệu đã đăng ký cóthể được ghi lại với Hải quan và Bảo vệ Biên giới Hoa Kỳ thông qua ứng dụngGhi điện tử, chủ sở hữu có quyền yêu cầu áp dụng các biện pháp: hành chính,dân sự, hình sự và kiểm soát biên giới để ngăn chặn vi phạm và đòi bồi thườngthiệt hại
1.2 Quy định pháp luật về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa theo Hệ thống Madrid
Việc đăng ký bảo hộ NHHH trực tiếp tại từng quốc gia là một việc làm hếtsức phức tạp và gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp, càng khó khăn hơn khidoanh nghiệp muốn mở rộng ra nhiều quốc gia khác nhau Bởi lẽ, tại mỗi mộtquốc gia quy định của pháp luật về sở hữu công nghiệp là không hoàn toàngiống nhau, điều kiện để một NHHH được bảo hộ tại mỗi một quốc gia vì thế
mà cũng khác nhau, doanh nghiệp muốn nhãn hiệu của mình được bảo hộ, họ lạiphải tuân thủ theo thủ tục và quy định riêng của từng quốc gia Vì vậy không ítdoanh nghiệp gặp vướng mắc trong việc đăng ký bảo hộ NHHH ở nước ngoài,vừa tốn rất nhiều công sức, thời gian và cả tiền bạc, nhiều trường hợp vẫn khôngthể được bảo hộ về NHHH của doanh nghiệp mình Để khắc phục những khókhăn trên, tạo điều kiện tốt hơn, rút ngắn thời gian hơn cho các doanh nghiệptrong việc đăng ký bảo hộ NHHH mà hệ thống đăng ký nhãn hiệu thông qua Hệthống Madrid đã ra đời
Hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Hệ thống Madrid được xây dựngdựa trên cơ sở hai văn kiện: Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế NHHH được
ký kết vào năm 1891 và Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước Madrid được kýkết vào năm 1989 Các nước tham gia ký kết một hoặc hai văn kiện này cùng tạothành Liên minh Madrid đặt dưới sự quản lý của Văn phòng quốc tế thuộc Tổchức SHTT thế giới (WIPO) có trụ sở tại Geneva, Thụy Sỹ Hệ thống Madrid là
hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu cung cấp một thủ tục duy nhất để đăng kýnhãn hiệu ở nhiều quốc gia lãnh thổ Theo số liệu thống kê của Bross &Partners4 tính đến ngày 13/4/2018, Liên minh Madrid đã có tổng cộng 101 thành
4Bross & Partners là một công ty luật sở hữu trí tuệ được thành lập năm 2008, thường xuyên lọt vào bảng xếp hạng các công ty luật sở hữu trí tuệ hàng đầu của Việt Nam do các tổ chức đánh giá luật sư có uy tín toàn cầu công bố hàng năm như Managing Intellectual Property (MIP), World Trademark Review (WTR1000), Legal 500 Asia Pacific, AsiaLaw Profiles, Asia Leading Lawyers và Asian Legal Business (ALB)