Đề tài: Những vấn đề lý luận về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại nước ngoài Bao gồm các nội dung: Khái niệm, đặc điểm nhãn hiệu hàng hóa; Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa; Nội dung pháp luật về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại nước ngoài
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA TẠI NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái niệm, đặc điểm nhãn hiệu hàng hóa
1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa
Trong quá trình không ngừng phát triển của nền kinh tế toàn cầu, nhucầu tiêu dùng của con người ngày càng nâng cao, đòi hỏi các loại hàng hóa rađời phải ngày càng tốt hơn, thuận tiện hơn và chất lượng cao hơn từ đó làmtăng tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp cùng sảnxuất, kinh doanh một loại hàng hóa, mỗi loại hàng hóa này tuy cùng loạinhưng mẫu mã, giá cả và chất lượng thì không giống nhau, người tiêu dùng cóthể có nhiều sự lựa chọn hàng hóa phù hợp với nhu cầu của mình Tuy nhiên,khi đã có một sự lựa chọn phù hợp làm cách nào để người tiêu dùng có thểphân biệt với các hàng hóa cùng loại của cơ sở sản xuất, kinh doanh kháccũng như nhớ đến nó để có nhu cầu sử dụng tiếp tục thì người tiêu dùng dựavào “nhãn hiệu hàng hóa” Có thể nói, NHHH là một công cụ để các doanhnghiệp đưa sản phẩm của mình đến với người tiêu dùng và khẳng định sảnphẩm của chính mình trên thị trường
Đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nhãn hiệu được xem là mộttrong những yếu tố đầu tiên mà doanh nghiệp cần nghĩ tới khi đưa sản phẩmcủa mình ra thị thường và đăng ký nhãn hiệu là thủ tục cần thiết nhằm xác lậpquyền SHTT của chủ sỡ hữu đối với nhãn hiệu Đối với người tiêu dùng,NHHH cho phép người tiêu dùng nhận biết và lựa chọn để mua đúng hànghóa có chất lượng cũng như giá thành phù hợp với họ, cũng nhờ vào nhãnhiệu, người tiêu dùng một phần biết được nguồn gốc xuất xứ hàng hóa mìnhđang sử dụng và từ đó đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng
Trang 2Trong thực tế, trên thế giới cũng như mỗi một quốc gia đều có các quyđịnh khác nhau về những vấn đề liên quan đến nhãn hiệu Tuy nhiên về mặtkhái niệm nhãn hiệu đều có những nét tương đồng.
đó sử dụng hoặc nhãn hiệu đó không được trung hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác được đăng ký trước đó cho cùng loại sản phẩm.” Có thể thấy, định nghĩa này của WIPO không chỉ bao hàm cả khái
niệm thế nào là NHHH mà còn bao gồm cả đối tượng nào được dùng làmNHHH cũng như điều kiện để trở thành một NHHH
Cũng từ định nghĩa này của WIPO, các nước là thành viên của Tổ chứcThương mại thế giới WTO đã có sự kế thừa và phát huy trong việc đưa rakhái niệm về NHHH cụ thể được thể hiện tại Khoản 1 Điều 15 Mục 2 Hiệpđịnh TRIPS, hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền
SHTT (ký ngày 15.4.1994) quy định: “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh
1Nguyên văn tiếng Anh tên luật mẫu này là “Model Law for Developing Countries on Marks, Trade Names,
and Acts of Unfair Competition” được ban hành bởi the United International Bureaux for the Protection of
Intellecutal Property, một tổ chức quốc tế (viết tắt là BIRPI) chịu trách nhiệm quản trị Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật khoa học và Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp BIRPI chính là tổ chức tiền thân của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) Xem Luật mẫu WIPO tại link download: https://www.wipo.int/edocs/pubdocs/en/wipo_pub_805.pdf
Trang 3nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hoá Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hoá Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ tương ứng, các Thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng Các Thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được.” Như vậy, theo quy định trên,
NHHH được hiểu là một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu có khả năng phânbiệt hàng hóa của một doanh nghiệp với hàng hóa của các doanh nghiệp khác.Nhãn hiệu có khả năng phân biệt khi được tạo thành bởi các yếu tố dễ nhậnbiết, không trùng hoặc tương tự với những nhãn hiệu đã đăng ký trước đó về
cả phần từ ngữ và hình ảnh
Ta có thể nhận thấy điểm chung cốt lõi trong hai khái niệm về NHHHđược các tổ chức quốc tế đưa ra ở đây chính là dấu hiệu có khả năng phân biệtcác hàng hóa tương ứng Các khái niệm trên mang tính chất khái quát chứkhông sử dụng phương thức liệt kê để nêu ra cụ thể các dấu hiệu có thể kếthợp được với nhau cấu tạo nên nhãn hiệu để có khả năng phân biệt hàng hóacủa doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh này với hàng hóa cùng loại của doanhnghiệp sản xuất, kinh doanh khác Bên cạnh đó, trong khái niệm cũng đã baohàm một số dấu hiệu được dùng làm nhãn hiệu, đó có thể là số, chữ cái, tênngười, yếu tố hình và sự kết hợp màu sắc… cũng như tổ hợp bất kỳ các dấuhiệu đó
Theo Luật SHTT Việt Nam 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009), cụ thể tại
Khoản 16, Điều 4 đã quy định về nhãn hiệu như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.
Đây là khái niệm mang tính chất chung, khái quát và có tính mở Theo đó, các
Trang 4dấu hiệu có khả năng “phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” đã có thể đăng ký làm nhãn hiệu Quy định này đã góp phần rất
lớn kích thích khả năng sáng tạo của các chủ thể sáng tạo ra nhãn hiệu đẹp, lạ,
ấn tượng cho sản phẩm của mình, từ đó tăng sự tiếp cận sản phẩm đối vớingười tiêu dùng Bên cạnh đó, có thể thấy quy định về nhãn hiệu của phápluật Việt Nam tuy ngắn gọn hơn nhiều so với hai khái niệm được quy định tạiLuật Mẫu WIPO về nhãn hiệu, tên thương mại và cạnh tranh không lànhmạnh cho các nước phát triển năm 1967 và Hiệp định TRIPS, hiệp định vềcác khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền SHTT nhưng nội dung vẫnkhá phù hợp và thống nhất với quy định tại các văn bản trên
Tuy nhiên, theo pháp luật Việt Nam, không phải bất kỳ dấu hiệu nàocũng được đăng ký bảo hộ là nhãn hiệu mà dấu hiệu đó phải đáp ứng các yêucầu bảo hộ cụ thể được quy định tại Điều 72 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổsung 2009), nhãn hiệu sẽ được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
“1 Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;
2 Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác.”
Có thể thấy, thay vì pháp luật quốc tế quy định chung trong một điều luật
về cả khái niệm nhãn hiệu, đối tượng của nhãn hiệu cũng như kiều kiện đểmột dấu hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu thì pháp luật Việt Nam tách thành haiđiều khoản riêng biệt nhưng bổ sung cho nhau là khái niệm nhãn hiệu và điềukiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ, các điều kiện đã bổ sung cho kháiniệm nhãn hiệu, đã giải thích và làm rõ các dấu hiệu có thể được bảo hộ lànhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam Kết hợp hai quy định nàythì có thể thấy pháp luật Việt Nam về nhãn hiệu cũng hoàn toàn phù hợp vớipháp luật quốc tế
Trang 51.1.2 Đặc điểm chung của nhãn hiệu hàng hóa
Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa của các tổ chức cánhân khác nhau Thông qua nhãn hiệu, các doanh nghiệp đưa sản phẩm củamình ra thị trường, tiếp cận với người tiêu dùng, việc sáng tạo ra nhãn hiệu vàđăng ký bảo hộ nhãn hiệu đóng một vai trò rất lớn trong hoạt động sản xuất,kinh doanh của doanh nghiệp Nhãn hiệu mang những đặc điểm sau:
Thứ nhất, là dấu hiệu có khả năng phân biệt, dùng để phân biệt hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác nhau.
Đây là đặc điểm quan trọng nhất của NHHH, bởi lẽ mục đích chính khicác doạnh nghiệp tạo ra từng nhãn hiệu riêng cho sản phẩm của mình là đểgiúp cho người tiêu dùng phân biệt được các hàng hóa cùng loại của nhiềudoanh nghiệp sản xuất, kinh doanh khác nhau Và cũng trong chính bản thânkhái niệm về nhãn hiệu trong các điều ước quốc tế cũng như pháp luật ViệtNam cũng đã chỉ ra rõ đặc điểm này, phải là dấu hiệu có khả năng phân biệt
và dùng để phân biệt hàng hóa của các tổ chức, cá nhân khác nhau
Dấu hiệu nhìn thấy được có thể được bảo hộ là nhãn hiệu nếu dấu hiệu
đó có khả năng phân biệt, không lừa dối người tiêu dùng và không có khảnăng xung đột với các quyền đã được xác lập sớm hơn của các đối tượng khácnhư nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, hoặc kiểu dáng công nghiệpcủa chủ thể khác
Tuy nhiên, không thể đồng nhất dấu hiệu có khả năng phân biệt với dấuhiệu nhìn thấy được Dấu hiệu nhìn thấy được có phạm vi hẹp hơn dấu hiệu
có khả năng phân biệt, ví dụ như mùi hương đặc trưng, vị đặc trưng, hay mộtgiai điệu đều có khả năng phân biệt nhưng không thể nhìn thấy được Vì vậy,nhãn hiệu là dấu hiệu có khả năng phân biệt, dùng để phân biệt hàng hóa của
tổ chức , cá nhân khác nhau là vô cùng đa dạng và càng đa dạng hơn khi có sựkết hợp hài hòa, độc đáo giữa các yếu tố có thể tạo nên một nhãn hiệu
Trang 6Thứ hai, mang tính chỉ dẫn thương mại.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 130 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung
2009): “Chỉ dẫn thương mại quy định tại khoản 1 Điều này là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá.” Như vậy, nhãn hiệu
là một trong những dấu hiệu của chỉ dẫn thương mại Vào thời điểm sản phẩmngày một phong phú như hiện nay, nhờ có nhãn hiệu mà hàng hóa của cácdoanh nghiệp sản xuất, kinh doanh được đặc định Cùng với các yếu tố khác,nhãn hiệu làm cho sản phẩm của mỗi doanh nghiệp in sâu vào tâm trí củangười tiêu dùng theo một cách rất riêng Cũng từ đó, nhãn hiệu thể hiện đượctính “chỉ dẫn thương mại” của mình Tức là nhãn hiệu giúp cho người tiêudùng nhận ra sản phẩm mà họ thường xuyên sử dụng và yêu thích, người tiêudùng sẽ dần trở thành người tiêu dùng thông minh bởi họ hiểu rằng đó là cácsản phẩm chất lượng đảm bảo và có uy tín, chỗ đứng trên thị trường Chính sựchọn lựa này của người tiêu dùng đã khẳng định nhãn hiệu chính là “ngườichỉ đường” cho các nhu cầu của họ
Thứ ba, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh, cạnh tranh
và phát triển thị trường của một doanh nghiệp.
Nhãn hiệu tạo ra cho doanh nghiệp những ưu thế cạnh tranh trên thươngtrường Sở dĩ như vậy là vì thứ nhất nhãn hiệu là tài sản vô hình và rất có giátrị của doanh nghiệp Một NHHH mạnh có thể đảm bảo mức độ “an toàn” lâudài, tốc độ phát triển nhanh với tỉ suất lợi nhuận cao, ổn định và sẽ làm tănggiá trị cho các tài sản hiện có của doanh nghiệp Thứ hai, nhãn hiệu tạo cơ sởpháp lý để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp, khi đăng ký NHHH doanhnghiệp đã đặt mình vào vị trí được bảo vệ trước pháp luật, có toàn quyền thựchiện các hoạt động bảo vệ và phát triển danh tiếng của doanh nghiệp mình
Trang 7trên thị trường và loại bỏ sự cạnh tranh không lành mạnh của các đối thủkhác Thứ ba, nhãn hiệu thành công tạo điều kiện tiếp cận khách hàng và mởrộng thị trường bằng cách giúp khách hàng nhận biết và có thái độ tin cậy đốivới sản phẩm của doanh nghiệp, nhờ đó mà thị trường dành cho hàng hóangày càng mở rộng hơn.
Thứ tư, là dấu hiệu nhìn thấy được
Với chức năng dùng để phân biệt hàng hóa của tổ chức, cá nhân này với
tổ chức, cá nhân khác thì nhãn hiệu phải là một dấu hiệu nhìn thấy được.Chính vì đặc điểm này các dấu hiệu như mùi hương, âm thanh sẽ không đượcpháp luật Việt Nam coi là nhãn hiệu
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 72 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung2009) về điều kiện chung đối với nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ thì mộttrong hai điều kiện để được đăng ký bảo hộ đó là nhãn hiệu phải là dấu hiệunhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình bachiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màusắc Theo quy định này có nghĩa là nhãn hiệu đó phải được nhận thức, cảmnhận bằng thị giác của con người chứ không phải là vô hình thông qua việcnhìn ngắm, quan sát nhãn hàng hóa và thấy được nhãn hiệu của hàng hóa đó
để phân biệt với hàng hóa khác Hay nói cách khác nhãn hiệu phải tồn tạidưới dạng một vật chất nhất định để con người có thể nhìn thấy được Để nhưvậy, nhãn hiệu phải tồn tại dưới dạng chữ viết, hình ảnh, hình vẽ hoặc sự kếthợp của các yếu tố trên và được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc
Trang 8Bên cạnh đó, tuy là nhãn hiệu có thể nhìn thấy được nhưng pháp luật lạiquy định dấu hiệu đó không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu khi nhãnhiệu đó thuộc một trong các trường hợp được quy định tại điều 73 Luật SHTT
2005 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) bao gồm các trường hợp:
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ,quốc huy của các nước
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng,
cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xãhội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếukhông được cơ quan, tổ chức đó cho phép
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệthiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của ViệtNam, của nước ngoài
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứngnhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêucầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu
đó làm nhãn hiệu chứng nhận;
- Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dốingười tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giátrị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá
Thứ năm, dễ bị xâm phạm quyền sở hữu như hàng giả, hàng nhái.
Nhờ vào nhãn hiệu, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khẳng địnhđược vị trí sản phẩm của mình trên thị trường, nếu sản phẩm của họ có chấtlượng tốt, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, sức mua tăng cao dẫnđến lợi nhuận họ thu về cũng tăng cao hiểu một cách khác là nhãn hiệu của họ
có giá trị thương mại cao vì thế mà các doanh nghiệp khác sản xuất, kinh
Trang 9doanh cùng một loại sản phẩm nhưng sản phẩm đó có sức mua không lớnthường sẽ dễ có hành vi xâm phạm quyền sở hữu về nhãn hiệu của các doanhnghiệp đã đăng ký trước đó, các doanh nghiệp này thường có xu hướng tạo ranhãn hiệu cho sản phẩm của mình gần giống với nhãn hiệu của các sản phẩmhàng hóa có sức mua lớn, làm cho người tiêu dùng dễ bị nhầm lẫn và lựa chọnsản phẩm của họ Như vậy, đây là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, dựavào nhãn hiệu đã có giá trị thương mại của một doanh nghiệp khác để làm lợicho mình và cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp có nhãn hiệu bịxâm phạm đáng ra được có.
Đặc biệt, nhãn hiệu nổi tiếng là đối tượng dễ bị xâm phạm hơn hết, bởinhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu có tính phổ biến và có giá trị thương mại cao,tiềm tàng khả năng bị xâm phạm quyền SHTT Vì vậy, có nhiều cá nhân,doanh nghiệp thực hiện hành vi xâm phạm quyền SHTT đối với nhãn hiệu nổitiếng
1.2 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
1.2.1 Khái niệm bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa và đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
1.2.1.1 Khái niệm bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
Dựa vào khái niệm và những đặc điểm của NHHH đã được phân tích ởtrên cho thấy NHHH có một tầm quan trọng và một giá trị rất lớn đối với mỗidoanh nghiệp, nguy cơ bị xâm hại là rất cao, từ đó cần thiết phải có sự canthiệp của nhà nước, nhà nước cần có một cơ chế được quy định thành phápluật để đảm bảo nhãn hiệu không bị xâm phạm, đảm bảo các quyền của chủ
sở hữu đáng được có Và từ đó, thuật ngữ “bảo hộ NHHH” ra đời cùng một
hệ thống pháp luật điều chỉnh về vấn đề bảo hộ NHHH Bảo hộ được hiểu là
sự giúp đỡ, che chở, ngăn chặn các hành vi xâm hại, trong lĩnh vực đang nhắc
Trang 10tới, bảo hộ nhãn hiệu được hiểu là sự can thiệp của Nhà nước nhằm ngăn chặncác chủ thể khác vi phạm nhãn hiệu.
Theo quy định tại Hiệp định TRIPs, “thuật ngữ bảo hộ phải bao gồm các vấn đề ảnh hưởng đến khả năng đạt được, phạm vi, việc duy trì hiệu lực
và việc thực thi các quyền SHTT cũng như các vẫn đề ảnh hưởng đến việc sử dụng quyền SHTT…” 2
Là một đối tượng của quyền SHTT, bảo hộ NHHH là một bộ phận củabảo hộ quyền SHTT nói chung Bảo hộ NHHH không chỉ giới hạn ở việc xáclập quyền mà còn bao gồm cả việc thực thi quyền đó trên thực tế, cụ thể làviệc áp dụng những biện pháp theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệquyền sở hữu của chủ nhãn hiệu đồng thời ngăn chặn, xử lý những hành vi sửdụng, khai thác trái phép NHHH đó
Đối với một nhãn hiệu khi được bảo hộ được thể hiện thông qua việcNhà nước công nhận một doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh là chủ sở hữunhãn hiệu thì doanh nghiệp đó có quyền độc quyền sử dụng Có quyền yêucầu các cơ quan có thẩm quyền xử lý bên có hành vi khai thác, sử dụng nhãnhiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu mà doanhnghiệp đã được pháp luật bảo hộ làm ảnh hưởng đến lợi ích của bên chủ sởhữu nhãn hiệu Bên cạnh đó, chủ sở hữu nhãn hiệu có toàn quyền định đoạtđối với nhãn hiệu của mình, có thể bán lại nhãn hiệu hoặc cho phép li xăngnhãn hiệu
Với những quyền và lợi ích như đã nêu trên, khi nhãn hiệu của mộtdoanh nghiệp sản xuất, kinh doanh đã được Nhà nước bảo hộ, bản thân doanhnghiệp đó sẽ an tâm phát triển mà không lo vấn đề bị các bên cạnh tranh khác
có hành vi xâm phạm nhãn hiệu hay khởi kiện vi phạm NHHH Ngược lại,nếu doanh nghiệp dù phát triển nhãn hiệu của mình, làm tăng giá trị của nhãn
2 Theo Phụ lục điều 4, điều 4 hiệp định TRIPs.
Trang 11hiệu nhưng không quan tâm đến vấn đề bảo hộ nhãn hiệu, không đăng ký bảo
hộ cho nhãn hiệu của doanh nghiệp mình và bị một bên khác tiến hành đăng
ký nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu màdoanh nghiệp đã tạo dựng bên cạnh đó còn yêu cầu xử lý vi phạm nhãn hiệuthì trong những trường hợp này doanh nghiệp dù đã tạo ra nhãn hiệu trướcnhưng không đăng ký bảo hộ sẽ bị cho là quân phạm quyền bảo hộ nhãn hiệu,
sẽ bị buộc phải loại bỏ nhãn hiệu ra khỏi tất cả các sản phẩm mà họ kinhdoanh, hình ảnh trên website, bị kiện bồi thường thiệt hại…
Như vậy lợi ích của việc nhãn hiệu được bảo hộ là rất lớn, tuy nhiên đểnhận được sự bảo hộ đó doanh phải hành động, vì theo quy định của pháp luậtViệt Nam, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu không phải là thủ tục bắt buộc và muốnnhận được sự bảo hộ của pháp luật thì nhãn hiệu phải được đăng ký và được
1.2.1.2 Khái niệm đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
Như đã phân tích ở trên, bảo hộ là sự giúp đỡ, che chở, ngăn chặn cáchành vi xâm hại, trong một lĩnh vực nhất định và bảo hộ nhãn hiệu được hiểu
là sự can thiệp của Nhà nước nhằm ngăn chặn các chủ thể khác vi phạm nhãnhiệu Tuy nhiên, nhà nước không mặc nhiên bảo hộ cho nhãn hiệu của mỗimột doanh nghiệp khi họ chưa hề có một động thái gì trước tiên để tạo cơ sởpháp lý cho nhà nước bảo hộ nhãn hiệu của mình Và “động thái trước tiên”được nhắc đến ở đây chính là đăng ký bảo hộ NHHH Một nhãn hiệu khôngđược đăng ký đồng nghĩa với việc không có cơ sở pháp lý để được bảo hộ.Việc thực hiện một thủ tục đăng ký nhãn hiệu chính là động thái chứngminh quyền sở hữu độc quyền đối với nhãn hiệu Đó là cơ sở vững chắc nhất
để đảm bảo hạn chế cũng như ngăn chặn những hành vi mạo danh, sao chépnhãn hiệu nhằm trục lợi
Trang 12Đăng ký bảo hộ NHHH là một quá trình nhằm thừa nhận quyền sở hữuđối với người làm đơn đăng ký bảo hộ NHHH Theo đó, đăng ký bảo hộNHHH là một thủ tục hành chính do cơ quan SHTT của mỗi một quốc giatiến hành trên cơ sở đơn đăng ký bảo hộ NHHH của chủ sở hữu nhãn hiệu.Quá trình này được thực hiện thao quy định của pháp luật về SHTT của mỗinước, người nộp đơn nếu muốn bảo hộ cần đáp ứng các điều kiện về bảo bộcũng như nguyên tắc bảo hộ Hình thức đăng ký NHHH là ghi nhận nhãn hiệu
và chủ sở hữu nhãn hiệu vào Sổ đăng ký Quốc gia về NHHH và cấp Giấychứng nhận đăng ký NHHH cho chủ sở hữu
Đăng ký bảo hộ NHHH tại nước ngoài là một việc làm của các doanhnghiệp sản xuất kinh doanh thực hiện một số thủ tục pháp lý nhất định theoquy định tại các điều ước quốc tế để xác lập quyền sở hữu về NHHH tại cácquốc gia khác trên thế giới mà doanh nghiệp muốn được bảo hộ ở đó
Khi tiến hành đăng ký bảo hộ NHHH tại nước ngoài, các doanh nghiệp
có thể tiến hành đăng ký tại từng quốc gia lãnh thổ hay đăng ký cùng một lúcmột nhóm các quốc gia, lãnh thổ trong cùng một liên minh về bảo hộ NHHH
Và do vậy, hoạt động đăng ký bảo hộ NHHH tại nước ngoài vô cùng đa dạng.Các điều ước quốc tế đa phương cũng như song phương hiện nay quy định vềcách thức tiến hành đăng ký và các doanh nghiệp cần có sự nghiên cứu hợp lý
để tiến hành lựa chọn quốc gia để mở rộng thị trường cũng như tiến hànhđăng ký bảo hộ bảo hộ nhãn hiệu tại quốc gia đó
Quá trình đăng ký bảo hộ NHHH tại nước ngoài phải cần có một khoảngthời gian nhất định và sau khi hoàn tất các doanh nghiệp mới xác lập chomình được quyền bảo hộ về NHHH tại quốc gia đó bên cạnh đó cũng là tạomột cơ sở pháp lý để khi có hành vi xâm phạm xảy ra quốc gia mà doanhnghiệp đã đăng ký bảo hộ NHHH có thể bảo hộ cho doanh nghiệp đã đăng ký
Trang 131.2.2 Đặc điểm đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
Bảo hộ nhãn hiệu được hiểu là sự can thiệp của Nhà nước nhằm ngănchặn các chủ thể khác vi phạm nhãn hiệu Quyền sở hữu công nghiệp đối vớinhãn hiệu được xác định trên cơ sở nhãn hiệu đó đã được cấp văn bằng bảo
hộ hoặc có được sự công nhận của cơ quan có thẩm quyền Để đạt được sựbảo hộ của Nhà nước cho nhãn hiệu của mình, doanh nghiệp cần tiến hànhđăng ký bảo hộ NHHH Ngày nay, tầm quan trọng của việc đăng ký bảo hộnhãn hiệu đã và đang đạt được nhận thức từ chính các doanh nghiệp, các chủ
sở hữu nhãn hiệu cho hàng hóa, dịch vụ của mình Đăng ký bảo hộ NHHH cónhững đặc điểm sau:
Thứ nhất, đăng ký bảo hộ NHHH là cách thức hữu hiệu nhất để bảo vệquyền SHTT nói chung và quyền sở hữu công nghiệp đối với NHHH nóiriêng Khi có đơn đăng ký bảo hộ NHHH, Nhà nước thực hiện rất nhiều hành
vi khác nhau, từ thực hiện thủ tục xác lập quyền, quản lí nhà nước đến xácđịnh hành vi xâm phạm và quy định biện pháp xử lí hành vi xâm phạm, cáccách thức này được quy định ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhaunhưng tổng hợp thành một hệ thống pháp luật điều chỉnh hoàn chỉnh Khi cóhành vi xâm phạm đối với nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ Nhà nước sẽtiến hành áp dụng các biện pháp khác nhau để xử lí hành vi xâm phạm tuỳtheo tính chất, mức độ xâm phạm để bảo hộ nhãn hiệu
Thứ hai, chủ thể thực hiện đăng ký bảo hộ NHHH bao gồm cả các cơquan nhà nước có thẩm quyền và chủ sở hữu NHHH Như đã phân tích ở trên,đăng ký bảo hộ NHHH là một thủ tục hành chính do cơ quan SHTT của mỗimột quốc gia tiến hành trên cơ sở đơn đăng ký bảo hộ NHHH của chủ sở hữunhãn hiệu Trên cơ sở có đơn nộp của chủ sở hữu nhãn hiệu đáp ứng đầy đủcác điều kiện để bảo hộ nhãn hiệu nhà nước mới tiến hành thừa nhận quyền
sở hữu nhãn hiệu cho chủ sở hữu và tiến hành bảo hộ nhãn hiệu đó khi có
Trang 14hành vi vi phạm Theo quy định của pháp luật nước ta, thẩm quyền đăng kýbảo hộ NHHH thuộc về: Cục SHTT Việt Nam.
Thứ ba, mục đích của việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đốivới NHHH là tạo ra một cơ chế nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cácchủ sở hữu nhãn hiệu, ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm nhãn hiệu Từ
đó tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp sản xuất,kinh doanh, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển một cách ổn định và bềnvững
Thứ tư, một đặc điểm của đăng ký bảo hộ NHHH là tính quốc gia Tínhquốc gia ở đây thể hiện ở việc doanh nghiệp muốn nhãn hiệu của mình đượcbảo hộ tại quốc gia nào phải đăng ký bảo hộ NHHH tại quốc gia đó Một nhãnhiệu được đăng ký bảo hộ tại quốc gia này không đương nhiên được đăng kýbảo hộ tại quốc gia khác Mỗi nhà nước chỉ bảo hộ cho nhãn hiệu đã đượcđăng ký trong phạm vi quốc gia của họ, và như vậy, một chủ thể khác chủ sởhữu nhãn hiệu hoàn toàn có thể đăng ký bảo hộ cùng một nhãn hiệu đó ở quốcgia khác và có hoàn toàn quyền như chủ sở hữu tại quốc gia khác đó nếu chủ
sở hữu chính thức không tiến hành đăng ký bảo hộ NHHH trước tại quốc giakhác đó Tính quốc gia này là một yếu tố mà các doanh nghiệp lợi dụng để ăncắp nhãn hiệu của thể khác nhằm thu lợi bất chính Có thể thấy, một nhãnhiệu được bảo hộ mang lại rất nhiều quyền lợi cho chủ sở hữu vì vậy, trongmôi trường cạnh tranh toàn cầu hiện nay nhãn hiệu và bảo hộ NHHH là rấtcần thiết, các doanh nghiệp cần lưu ý về nguyên tắc nộp đơn đầu tiên để kịpthời đăng ký bảo hộ NHHH tại các quốc gia mà mình có nhu cầu mở rộng thịtrường, tránh trường hợp các đối thủ ăn cắp nhãn hiệu của mình và cũng tránhtrường hợp hàng hóa của doanh nghiệp mình khi xuất khẩu sang nước ngoài
bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu của chính các đốithủ đó