LỜI CẢM ƠNTrong quá trình thực tập tốt nghiệp vừa qua, với đề tài nghiên cứu “Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống của người dân tộc H
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Để tiến hành nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống của người dân tộc H’Mông ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An” tôi đã thu thập tài liệu từ các nguồn sách, báo, tạp chí,
báo cáo của huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, đồng thời thu thập số liệu qua các phiếuđiều tra
Tôi xin cam đoan những số liệu thu thập được qua điều tra phỏng vấn là có thật
Hà Nội, ngày 08 tháng 01 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Và Bá Pò
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập tốt nghiệp vừa qua, với đề tài nghiên cứu “Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống của người dân tộc H’Mông ở huyện Kỳ Sơn - tỉnh Nghệ An” tôi đã nhận được sự
ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình của các cá nhân, tập thể đã giúp tôi hoàn thành luận văntốt nghiệp này
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học nôngnghiệp Hà Nội, Khoa Kinh tế & PTNT, Bộ môn phát triển nông thôn, phòng nôngnghiệp và phát triển nông thôn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã tạo mọi điều kiệncho tôi được học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Đặc biệt, Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của thầygiáo TS.Quyền Đình Hà (B), người đã trực tiếp chỉ bảo để tôi hoàn thành luận văntốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn UBND huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, phòng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn huyện Kỳ Sơn, Chi cục Thống kê huyện Kỳ Sơn,phòng Công thương huyện Kỳ Sơn; UBND các xã tại khu vực nghiên cứu, các hộgia đình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống đã tạo mọi điều kiệngiúp đỡ, cung cấp số liệu, tư liệu khách quan giúp tôi hoàn thành luận văn tốtnghiệp
Cảm ơn bà con nông dân, bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã động viên,khích lệ giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 08 tháng 01 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Và Bá Pò
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ vii
DANH MỤC HỘP viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ix
TÓM TẮT x
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm 4
2.1.2 Đặc điểm sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống của dân tộc H’Mông 7
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất áo váy truyền thống 10
2.2 Cở sở thực tiễn 16
2.2.1 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về khuyến khích phát triển ngành nghề truyền thống 16
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Áo váy truyền thống của một số làng nghề ở Việt Nam 19
2.2.3 Sản xuất và tiêu thụ áo váy truyền thống ở Nậm Cắn- Kỳ Sơn- Nghệ An 20
Trang 42.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ lý luận và thực tiễn 21
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 24
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 27
3.2 Phương pháp nghiên cứu 35
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 35
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 36
3.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin 38
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
4.1 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống tại các hộ điều tra 44
4.1.1 Khái quát chung tình hình sản xuất và tiêu thụ áo váy truyền thống của dân tộc H’Mông ở huyện Kỳ Sơn 44
4.1.2 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ áo váy truyền thống tại các hộ điều tra 45
4.1.3 Tình hình tiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống 54
4.1.4 Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ 58
4.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống của dân tộc H’Mông 62
4.2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất áo váy truyền thống 62
4.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống 66
4.2.3 Cơ hội và thách thức trong phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống của dân tộc H’Mông ở Kỳ Sơn – Nghệ An 70
4.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất và tiêu thụ áo váy truyền thống của dân tộc H’Mông ở huyện Kỳ Sơn – tỉnh Nghệ An 71
4.3.1 Quan điểm phát triển 71
4.3.2 Mục tiêu 72
4.3.3 Các giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ áo váy truyền thống 73
Trang 5PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KHUYÊN NGHỊ 87
5.1 Kết luận 87
5.2 Khuyến nghị 88
5.2.1 Đối với Nhà nước và địa phương 88
5.2.2 Đối với hộ sản xuất 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤC LỤC 90
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Kỳ Sơn trong 3 năm (2009- 2011)28
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động huyện Kỳ Sơn qua 3 năm (2009- 2011) 31
Bảng 3.3 Kết quả Sản xuất kênh doanh của Huyện Kỳ Sơn qua 3 năm (2010 – 2012) 34
Bảng 4.1 Số hộ sản xuất áo váy ở Huyện kỳ sơn năm (2010 – 2013) 44
Bảng 4.2 Tình hình chung của các nhóm hộ điều tra năm 2013 45
Bảng 4.3 Kinh nghiệm sản xuất áo váy truyền thống của người phụ nữ trong các hộ 47
Bảng 4.4 Tình hình máy móc phục vụ sản xuất áo váy năm 2010 48
Bảng 4.5 Tình hình sản xuất áo váy của các hộ điều tra năm 2011 50
Bảng 4.6 Chi phí bình quân cho việc sản xuất áo váy truyền thống của các hộ điều 53
Bảng 4.7 Tình hình tiêu thụ sản phẩm tại các hộ điều tra 55
Bảng 4.8 Kết quả sản xuất trung bình cho các sản phẩm áo váy truyền thống 58
Bảng 4.9 Đánh giá kết quả kinh tế cho từng sản phẩm truyền thống 60
Bảng 4.10 Một số chỉ tiêu hiệu quả sản xuất áo váy truyền thống của hộ theo từng loại sản phẩm 61
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 4.1 Kênh tiêu thụ sản phẩm áo váy Kỳ Sơn 55
Sơ đồ 4.2 Cây vấn đề về các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áováy truyền thống của dân tộc H’Mông ở Kỳ Sơn – Nghệ An 69
Trang 8DANH MỤC HỘP
Hộp 4.1 Ý kiến của người dân về vốn sản xuất 64Hộp 4.2 Ý kiến của người dân về kinh nghiệm sản xuất áo váy 64Hộp 4.3 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của sản phẩm áo váy 70
Trang 9Ủy ban nhân dânLao động nông nghiệpHợp tác xã
World Trade Organization
Strengths, Weaknesses, Opportunities và Threats
Giá trị sản xuấtLao độngThu nhập hỗn hợpChi phí trung gian
Về việcDiện tích
Cơ cấuBình quânThủy sản
Sử dụngNông nghiệp
Số lượngĐơn vị tínhGía trịVăn hóaTrung bìnhSản phẩmSản xuấtTiểu thủ công ngiệp
Trang 10TÓM TẮT
Kỳ Sơn là một huyện vùng cao có đông dân tộc H’Mông sinh sống (chiếm34,85% dân số toàn huyện) Trong quá trình phát triển dân tộc H’Mông đã hìnhthành và duy trì nghề sản xuất áo váy truyền thống Để trang bị cho cuộc sốngnhững nhu cầu cần thiết Các sản phẩm áo váy nơi đây vẫn duy trì được những nétriêng, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Áo váy làm bằng vải lanh nhuộm chàm insáp ong rất bền đẹp, cùng với kỹ thuật ghép vải màu và trang trí hạt màu có sức lôicuốn đối với khách những du khách đến nơi đây Ngành may thêu áo váy tạo ra công
ăn việc làm, đem lại thu nhập cho người sản xuất góp phần nâng cao mức sống cảithiện chất lượng cuộc sống Cùng với sự phát triển của xã hội cuộc sống của đồngbào dân tộc ngày càng được nâng cao Nhu cầu ăn mặc tăng lên, kích thích sản xuấtphát triển để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng Mặt khác lượng khách du lịch đến đây ngàymột gia tăng nhu cầu mua các sản phẩm áo váy truyền thống để làm quà kỉ niệm, để
sử dụng là rất lớn tạo cho làng nghề áo váy có nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển
Tuy nhiên sản xuất áo váy ở đây vẫn đang diễn ra một cách nhỏ lẻ manhmún, sản xuất mang tính tự phát, không có sự liên kết hợp tác trong sản xuất và tiêuthụ Từ đó làm cho số lượng sản xuất ra ít, chất lượng không cao, mẫu mã và chủngloại sản phẩm không đa dạng Nghề may thêu áo váy truyền thống đang có nguy cơmai một đi, trước sức ép của các sản phẩm áo váy khác và các sản phẩm côngnghiệp Vì vậy cần thiết phải có giải pháp để phát triển sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm áo váy truyền thống của dân tộc H’Mông ở Kỳ Sơn
Qua quá trình khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm áo váy ở Kỳ Sơn đề tài đã thu được một số kết quả như sau:
1) Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về sản xuất, tiêu thụ sản phẩm áo váycủa dân tộc H’Mông; chỉ ra các nhân tố gây ảnh hưởng đến phát triển sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm áo váy; vai trò của nghề may thêu áo váy Hệ thống hóa các chủtrương chính sách của Nhà nước về phát triển ngành nghề và làng nghề truyềnthống; kinh nghiệm phát triển sản xuất áo váy của một số dân tộc ở các địa phươngtrong nước
Trang 112) Về thực trạng sản xuất cho thấy rằng: Hầu hết các xã trong toàn huyện đều
có nghề sản xuất áo váy, tuy nhiên tập trung đông nhất là ở 4 xã Nậm Càn, Nậm Cắn,Mường Lống, Hồi Tụ Tổng số hộ sản xuất áo váy trong toàn huyện năm 2012 là 224
hộ, tốc độ gia tăng các hộ sản xuất áo váy là 5,83%/năm Đã có nhóm sản xuất áováy ở Nậm Cắn và được công nhận làng nghề truyền thống Tuy nhiên sản xuất vẫnmanh mún, nhỏ lẻ thiếu tập trung, chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa Phương tiệnsản xuất là các khung dệt lạc hậu, máy khâu thổ công, làm bằng tay Các sản phẩmsản xuất chủ yếu là: Áo, váy, khăn, mũ và túi đeo Chi phí đầu tư sản xuất áo váykhá cao, chi phí về nguyên liệu bình quân cho 1 cái áo là 660.000 đồng, váy là200.000 đồng, khăn là 35.000 đồng, mũ là 30.000 đồng Tốn rất nhiều thời gian vàcông lao động
3) Về quá trình tiêu thụ cho thấy: Các sản phẩm áo váy chủ yếu được tiêu thụ
ở các chợ phiên là: Nậm Càn, Nậm Cắn, Mường Lống, Hồi Tụ Khách hàng ở đây làdân trong vùng và khách du lịch Một phần bán buôn sang thị trường khác trongtỉnh và ngoài tỉnh Giá bán bình quân của các sản phẩm áo váy là: áo 800.000 đồng,váy là 320.000 đồng, khăn là 95.000 đồng, mũ là 110.000 đồng Sản phẩm chủ yếuđược tiêu thụ qua kênh trực tiếp chiếm 70%, qua cửa hàng bán lẻ là 18%, thông quabán buôn đến các cửa hàng, người bán lẻ là 12%
4) Đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh sản phẩm áo váy chothấy rằng: thu nhập hỗn hợp của sản phẩm áo là 29.975 nghìn đồng/hộ/năm; sảnphẩm váy là 36.075 nghìn đồng/hộ/năm; sản phẩm mũ là 23.625 nghìnđồng/hộ/năm; sản phẩm khăn là 10.000 nghìn đồng/hộ/năm
Các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế GO/1côngLĐ, VA/1công LĐ, MI/1côngLĐ,GO/IC, VA/IC, MI/IC của hộ chuyên đều cao hơn hộ so với hộ kiêm Hộ chuyênsản xuất có hiệu quả hơn hộ kiêm
Nếu so sánh các chỉ tiêu kết quả sản xuất với chi phí trung gian cho từng sảnphẩm áo váy thì mũ mang lại hiệu quả kinh tế hơn so với áo và váy Nếu so sánhcác chỉ tiêu kết quả sản xuất với tổng số công lao động/1 sản phẩm thì may váy sẽ
có thu nhập cao hơn so với áo và mũ
Trang 125) Từ quá trình khảo sát thực trạng thực tế cho thấy các nguyên nhân làm chosản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy kém phát triển là do:
* Về sản xuất: truyền thống sản xuất lạc hậu; ảnh hưởng bởi thời tiết khí hậu;trình độ sản xuất thấp, kỹ thuật lạc hậu; thiếu nguyên liệu phục vụ sản xuất; thiếuvốn, lao động tay nghề, giá cả không ổn định và cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất cònyếu kém; chính sách quy hoạch phát triển làng nghề chưa tốt
* Về tiêu thụ: chất lượng sản phẩm thấp, mẫu mã không đa dạng; mạng lướiphân phối tiêu thụ sản phẩm chưa tốt, chưa tạo được thương hiệu cho sản phẩm áováy; chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đa dạng của khách hàng; giá sản phẩm bán rathấp; sự cạnh tranh gây gát của các sản phẩm áo váy khác; chính sách quản lý, điềutiết tiêu thụ chưa tốt
6) Điểm mạnh, điểm yếu cũng như cơ hội và thách thức đối với sự phát triểncủa nghề may thêu áo váy truyền thống là:
* Điểm mạnh: Sản phẩm áo váy là sản phẩm truyền thống nên được ngườitiêu dùng ưa thích, đặc biệt là khách du lịch; Chính sách bảo tồn, phát triển làngnghề và nghề truyền thống, hỗ trợ sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, nâng caochất lượng sản phẩm của Nhà nước tạo điều kiện cho làng nghề áo váy phát triển;người thợ lao động nhiệt tình, thông minh và sáng tạo
* Điểm yếu: Khả năng phát triển và khuyếch chương thương hiệu hạn chế;Chất lượng, mẫu mã sản phẩm, chủng loại sản phẩm chưa đáp ứng nhu cầu và thịhiếu người tiêu dùng
* Cơ hội: Việt Nam gia nhập WTO tạo ra tiềm năng mở rộng các kênh phânphối đến người tiêu dùng; Viện trợ, giúp đỡ và đầu tư của nước ngoài có thể giúpnghề may áo váy phát triển; Thị trường nội địa rộng lớn; Khách du lịch đến nhiều
* Thách thức: Cạnh tranh giữa các sản phẩm áo váy cùng loại trên thị trường;tác động từ bên ngoài; quy mô nhỏ, manh mún, dây truyền sản xuất kém; Đầu tưvào sản xuất áo váy còn rất ít, chưa thật sự quan tâm đúng mức
7) Để cho nghề áo váy phát triển tốt thì đề tài đưa ra các giải pháp về sảnxuất, về tiêu thụ tiến tới phát triển bền vững làng nghề áo váy, tạo điều kiện cho chị
em phụ nữ dân tộc thiểu số vươn lên làm giàu trên quê hương của mình
Trang 138) Từ kết quả vấn đề nghiên cứu chúng tôi đưa ra khuyến nghị như sau:
* Đối với Nhà nước và chính quyền địa phương
Đối với Nhà nước: cần hỗ trợ địa phương đầu tư cơ sở hạ tầng như giaothông, thông tin, các chợ phiên, quy hoạch làng nghề nhằm thúc đẩy sản xuất nôngnghiệp và sản xuất áo váy của Si Ma Cai, có các chính sách phù hợp như chính sách tàichính, chính sách tín dụng nông thôn với lãi suất ưu đãi để người dân có thể mở rộngquy mô sản xuất cũng như trang trải đầu tư chi phí sản xuất áo váy chất lượng cao
Sử dụng nguồn vốn chương trình 30a của chính phủ để hỗ trợ cho các hộ sảnxuất áo váy, giúp họ phát triển thành làng nghề áo váy truyền thống
Giúp đỡ chị em phụ nữ tìm kiếm thị trường tiêu thụ, quảng bá sản phẩm, đàotạo tay nghề cho người sản xuất Sản xuất các sản phẩm xuất khẩu có chất lượngcao Tăng cường vai trò của các tổ chức khuyến nông trong triển khai tiến bộ khoahọc và công nghệ vào sản xuất
* Đối với hộ sản xuất
Tích cực học hỏi nâng cao trình độ kỹ thuật trong sản xuất, tiếp thu tiến
bộ khoa học kỹ thuật Tìm hiểu về nhu cầu của thị trường về từng loại sản phẩm áováy để lựa chọn sản xuất các sản phẩm phù hợp với nhiều thị trường
Sản xuất các sản phẩm áo váy đa dạng, có nhiều kiểu dáng và mẫu mã khácnhau phục vụ nhiều khách hàng khác nhau Duy trì những nét đặc trưng riêng cócủa áo váy Kỳ Sơn Để tạo nên một loại sản phẩm đặc sản từ đó mới thu hút đượckhách hàng và cạnh tranh được với các sản phẩm áo váy trên thị trường
Tập trung sản xuất theo làng nghề để tiến hành đăng ký thương hiệu làng nghề áováy truyền thống Từ đó xây dựng thương hiệu riêng cho sản phẩm áo váy truyền thốngcủa mình thành một thương hiệu nổi tiếng không chỉ được khách hàng trong nước biếtđến mà cả các thị trường nước ngoài Để sản xuất sản phẩm xuất khẩu thì mới tạo rađược thu nhập cao và ổn định, làng nghề mới phát triển bền vững
Trang 14PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Huyện Kỳ Sơn là một huyện miền núi rẻo cao ở phía Tây nam tỉnh Nghệ Ancách thành phố Vinh 250 km, là huyện có đến hơn 97% dân số là người dân tộc thiểu
số (trong đó người dân tộc H’Mông chiếm 34,85%, Khơ Mú chiếm 36,35%, Thái26,07%, Kinh 2,71%, Hoa chiếm 0,01% (Niên giám thống kê huyện Kỳ Sơn, tỉnhNghệ An năm 2011) Đời sống của đồng bào ở đây còn nhiều khó khăn, kinh tế kémphát triển, sản xuất nông lâm nghiệp mang tính tự nhiên, tự cung, tự cấp, sản phẩmhàng hóa ít và nghèo nàn, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, trình độ dân trí thấp, các hủ tục lạchậu còn nhiều Để cuộc sống của người dân nơi đây được trang bị những nhu cầu cầnthiết, tại các cộng đồng làng, xã đã hình thành nên các nghề thủ công được truyền đạt
từ đời này sang đời khác theo cùng sự phát triển của người dân Đây chủ yếu là đồngbào dân tộc người H’Mông Đơ (H’Mông trắng) nên trang phục áo váy truyền thốngmang nhiều nét riêng biệt mà trang phục truyền thống ở những vùng khác không thể cóđược Với bàn tay khéo léo và trí tượng tưởng phong phú của người phụ nữ H’Môngphối hợp với các màu sắc khác nhau đã tạo nên những hoa văn hết sức tinh tế Là sựkết tinh, sự bảo lưu, sự phát triển các giá trị văn hóa, văn minh lâu đời của dân tộcH’Mông Vì thế, các sản phẩm của làng nghề truyền thống ngoài các giá trị về kinh tế,thì nó còn có một giá trị bảo tồn văn hóa vô giá
Hiện nay, các nghề truyền thống trên địa bàn Huyện kỳ Sơn cũng có chiềuhướng ngày càng giảm dần đi, số người trẻ tuổi biết làm các nghề mà trước đây chaông mình vẫn làm ngày càng ít Tuy vậy, với những nét đặc trưng rất riêng củamình về địa lý và văn hoá, dân tộc H’Mông ở Kỳ Sơn vẫn duy trì được nghề maythêu áo váy truyền thống của dân tộc mình Trang phục áo váy truyền thống của dântộc H’Mông có màu sắc trang trí rất mộc mạc với nhiều nét hoa văn và nhuộm chàmđược làm từ vải lanh, góp phần làm phong phú, đa dạng trang phục của các dân tộcViệt Nam Cùng với ngành nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thì ngành may thêu
áo váy truyền thống của người dân tộc H’Mông đã tạo ra công ăn việc làm, đem lạithu nhập lớn cho người sản xuất Ngành may thêu áo váy truyền thống còn tạo ranhững sản phẩm độc đáo thể hiện được chiều sâu văn hóa, những sản phẩm đó
Trang 15không những được khách du lịch ưa thích mà còn là niềm tự hào của người H’Môngtại Kỳ Sơn, Nghệ An.
Mặc dù có nhiều thuận lợi nhưng việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váytruyền thống cũng gặp nhiều khó khăn về các mặt như:
- Khả năng huy động vốn và đầu tư cho phát triển sản xuất còn nhiều hạn chếdẫn tới sản xuất manh mún, thiếu đồng bộ cho nên hiệu quả thấp
- Thiếu các công cụ và đội ngũ nghệ nhân có tay nghề để tiến hành sản xuất
áo váy có chất lượng tốt
- Kiến thức tổ chức của các hộ sản xuất còn thiếu và yếu Tính năng độngsáng tạo trước những biến động của thị trường và khả năng tiếp cận thị trường củanhững người trực tiếp sản xuất chưa đáp ứng được yêu cầu dẫn tới qúa trình sảnxuất còn mang tính thụ động cao
- Mẫu mã và chủng loại hàng hóa áo váy truyền thống còn ít, thiếu những sảnphẩm đẹp có chất lượng tốt Các sản phẩm làm từ sợi vải truyền thống đã không cònnhiều, mất dần đi nét tinh hoa đặc sắc của dân tộc
- Công tác quy hoạch phát triển làng nghề, môi trường sản xuất kinh doanh
và hiệu quả trong sản xuất chưa được các cấp chính quyền quân tâm
Để góp phần nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống của dân tộc H’Mông Chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
áo váy truyền thống của người dân tộc H’Mông ở huyện Kỳ Sơn - tỉnh Nghệ An”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống củadân tộc H’Mông ở huyện Kỳ Sơn- tỉnh Nghệ An; từ đó đề xuất một số giải pháp chủyếu nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống của đồng bàodân tộc H’Mông ở huyện Kỳ Sơn – tỉnh Nghệ An
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Góp phần hệ thống hóa các cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất và tiêuthụ sản phẩm áo váy truyền thống của dân tộc H’Mông
Trang 16(2) Phản ánh thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống ởhuyện Kỳ Sơn – tỉnh Nghệ An.
(3) Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áováy truyền thống của dân tộc H’Mông trên địa bàn huyện Kỳ Sơn – tỉnh Nghệ An
(4) Đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váytruyền thống
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống của dân tộcH’Mông trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An hiện nay như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váytruyền thống ở Kỳ Sơn?
- Thuận lợi và khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy truyềnthống là gì?
- Giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ áo váy truyền thống tại địaphương hiện nay?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các hộ sản xuất và kinh doanh sản phẩm áo váytruyền thống của dân tộc H’Mông tại các xã Nậm Càn, Nậm Cắn, Mường Lống vàHồi Tụ của huyện Kỳ Sơn – tỉnh Nghệ An
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váytruyền thống của đồng bào dân tộc H’Mông tại huyện Kỳ Sơn- tỉnh Nghệ An
- Về không gian: Nghiên cứu ở huyện Kỳ sơn, tỉnh Nghệ An
- Về thời gian: Số liệu sử dụng trong 3 năm 2010 đến năm 2013
- Thông tin chung dùng trong nghiên cứu được thu thập từ các hộ nông dân sảnxuất sản phẩm áo váy truyền thống của dân tộc H’Mông ở 4 xã Nậm Càn, Nậm Cắn,Mường Lống, Hồi Tụ và hội chợ biên giới Việt- lào tại Cửa khẩu quốc tế Nậm Cắncủa huyện Kỳ Sơn – tỉnh Nghệ An
Trang 17PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm
* Khái niệm phát triển
Hiện nay tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về phát triển, mỗi khái niệmphản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau
Theo Ngân hàng thế giới (WB): phát triển trước hết là sự tăng trưởng về kinh
tế, nó còn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sựbình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do của con người (WorldBank, 1992)
Theo tác giả Raaman Weitz: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làmtăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăngtrưởng trong xã hội”
Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế.Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là
sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ởmỗi quốc gia (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2006)
* Khái niệm về sản xuất
Sản xuất (tiếng Anh: production) hay sản xuất của cải vật chất là hoạt độngchủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sảnphẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuất dựa vàonhững vấn đề chính sau: sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai?,giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồnlực cần thiết làm ra sản phẩm? (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, 2011)
Có 2 phương thức sản xuất là:
- Sản xuất mang tính tự cung tự cấp, sản phẩm sản xuất ra chỉ nhằm mụcđích đảm bảo chủ yếu cho các nhu cầu của chính họ, không có sản phẩm dư thừacung cấp cho thị trường
Trang 18- Sản xuất cho thị trường tức là phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, sảnphẩm sản xuất ra chủ yếu trao đổi trên thị trường, thường được sản xuất trên quy
mô lớn, khối lượng sản phẩm nhiều
Phát triển kinh tế thị trường phải hướng theo phương thức thứ hai Trongphát triển sản xuất phải đảm bảo tính bền vững, tức là sản xuất tìm nguồn đầu vào,đầu ra sao cho bền vững nhất và không làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên và tácđộng xấu đến môi trường
Tóm lại, sản xuất là quá trình tác động của con người vào các đối tượng sảnxuất, thông qua các hoạt động để tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụđời sống con người
* Khái niệm về tiêu thụ và kênh tiêu thụ
Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ là quá trình đưa hàng hóa đến tay ngườitiêu dùng thông qua hình thức mua bán Là hoạt động chuyển hàng hóa từ trạng tháihiện vật sang trạng thái bằng giá trị, nhằm hoàn thành dòng chu chuyển của nhà sảnxuất kinh doanh thông qua thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa
Các yếu tố cấu thành hoạt động tiêu thụ sản phẩm gồm:
+ Chủ thể kinh tế tham gia là người sản xuất, kinh doanh các hàng hóa, dịchvụ; người sử dụng các hàng hóa, dịch vụ và tác nhân trung gian trong khâu tiêu thụ
+ Đối tượng là sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và tiền tệ
+ Thị trường là nơi gặp gỡ giữa những người bán và mua
- Kênh tiêu thụ (kênh phân phối sản phẩm)
Theo quan điểm Maketting, kênh phân phối sản phẩm là một tập hợp cácdoanh nghiệp và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình đưahàng hóa từ người sản xuất tới người tiêu dùng cuối cùng
Các yếu tố cấu thành hệ thống kênh phân phối sản phẩm
+ Người cung ứng: Người sản xuất hoặc công ty thương mại
+ Người trung gian: Người bán buôn, bán lẻ, đại lý và môi giới
+ Người tiêu dùng: là người cuối cùng của kênh phân phối, họ mua sản phẩm
để tiêu dùng cho cuộc sống (Trần Minh Đạo, 2009)
Trang 19* Sản phẩm áo váy truyền thống.
Trang phục áo váy truyền thống là một trong những sản phẩm được sản xuất từvải lanh và được thêu nên từ bàn tay cần mẫn khéo léo của người phụ nữ dân tộc thiểu
số, tạo thành một loại sản phẩm mà ở đó thể hiện được những văn hóa tinh tế, đặc biệtkhác nhau của mỗi vùng miền Sự phong phú của các dân tộc trên một lãnh thổ, tạo nên
sự phong phú về văn hóa của Việt Nam Nghề may thêu áo váy truyền thống là một nghềthủ công có từ lâu đời của các dân tộc Nó được phát triển song song với sự phát triểncủa loài người Ban đầu nó được dùng làm áo, khố thay cho lá cây Chính vì vậy áo váytruyền thống là một loại áo thể hiện được văn hóa lâu đời của mỗi dân tộc Được thể hiệnqua sự khác biệt trên trang phục của mỗi dân tộc
Mỗi dân tộc đều có những loại áo váy khác nhau, được tạo nên từ các loại vảikhác nhau bằng cách dệt thủ công Các loại trang phục áo váy truyền thống được trangtrí các họa tiết và hoa văn rất phong phú thường được nổi lên mặt vải như được thêu
Có khi các họa tiết được thêu bằng nhiều sợi chỉ nhỏ với nhiều màu sắc khác nhau, tạonên sắc màu sặc sỡ như áo váy của dân tộc H’Mông Hoa, Thái Các sản phẩm áo váytruyền thống thể hiện nét đặc sắc truyền thống của mỗi dân tộc Nghề may thêu thủcông áo váy truyền thống được giữ gìn và lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác quangười phụ nữ trong gia đình Theo truyền thống thì bất cứ cô gái nào lớn lên đều được
mẹ dạy cho cách may thêu thủ công, để tự thêu cho mình những bộ áo váy và dệt maycho cả gia đình sau này Mỗi dịp tết đến xuân về các cô gái sẽ tự mình may nên những
bộ áo váy đẹp nhất để đi hội, chợ tình để lựa chọn người bạn đời Trong ngày cưới các
cô dâu được mẹ may cho những bộ quần váy đẹp hoặc tự tay thêu cho mình Áo váytruyền thống thường sử dụng các loại vải làm từ tự nhiên Vải được dệt nên từ cây lanh,sợi bông trên rừng, và nhuộm bằng các cây thuốc nhuộm tự nhiên Hoa văn cũng đượclàm từ các sợi nhuộm màu từ tự nhiên Hoa văn trang trí trên trang phục các dân tộcthường là hình các con vật, hoa lá, các hình trong hình học, chúng được thêu trong từng
ô vuông nhỏ cân đối Hoa văn tỉ mỉ và cách phối màu hoang sơ huyền bí, mỗi hoa văn
là biểu tượng của dân tộc đó
Các mặt hàng áo váy truyền thống hiện nay rất phong phú và đa dạng, ngoàicác sản phẩm như áo, váy, mũ , thì hiện nay còn có các sản phẩm như khăn trải
Trang 20bàn, gối, túi đựng điện thoại di động… Hiện nay các mặt hàng dệt may thủ công lànhững món quà lưu niệm đắt tiền rất thu hút đối với khách du lịch và để tặng chonhau (Bách khoa toàn thư mở, 2011).
2.1.2 Đặc điểm sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống của dân tộc H’Mông.
2.1.2.1 Đặc điểm về sản xuất áo váy truyền thống của dân tộc H’Mông
Sản xuất áo váy truyền thống được thực hiện qua nhiều công đoạn khác
nhau Mất nhiều thời gian và công sức Tất cả đều do bàn tay cần mẫn và khéo lẽo
của người phụ nữ tạo nên Tuy nhiên, vì quá trình sản xuất áo váy truyền thống của
các nhóm người H’Mông đều giống nhau nên chúng ta sẽ chia quá trình đó thànhhai giai đoạn Là sản xuất vải và sản xuất sản phẩm áo váy truyền thống
- Quá trình sản xuất vải
Vải lanh rất bền, có thể gấp 3, 4 lần vải bông nên đồng bào thích dùng vảilanh Cây lanh được trồng vào mùa mưa từ tháng 3 đến tháng 4 ở trong các thunglũng và thu hoạch từ tháng 7, tháng 8 (Viện dân tộc học Viện khoa học xã hội ViệtNam, 2005) Sau khi thu hoạch lanh về, cây lanh được phơi khô dưới ánh nắng mặttrời Người phụ nữ tiến hành tách vỏ lanh thành từng sợi nhỏ theo ý của họ Khi đãtách xong thành từng sợi thì họ tiến hành việc se lanh để nối các sợi lanh thànhnhững sợi dài Công việc se lanh được phụ nữ H’Mông làm ở mọi lúc mọi nơi Quátrình này thường tốn nhiều thời gian và công sức Các sợi lanh đã được nối thànhsợi dài sẽ được đem đi giã để mất đi lớp vỏ cây và được những sợi vải mềm mạihơn Các sợi vải được cuộn tròn thành từng cuộn để dễ dàng cho quá trình dệt vải
Người phụ nữ H’Mông dệt vải trên khung cửa thô sơ nên công việc tiến triển rấtchậm chạp Khung dệt làm bằng gỗ, có cấu tạo đơn giản Vải lanh mới dệt có màutrắng, cứng và thô Để cho vải mềm và đẹp thì họ tiến hành nhuộm chàm Cây chàmđược trồng hoặc lấy trong rừng Nước cây chàm có tác dụng làm cho vải màu đen
Công đoạn nhuộm chàm phải làm nhiều lần, mỗi lần 2 - 3 ngày để đạt yêucầu màu sắc đều và bền Khi nhuộm thường cho thêm vôi vào trong nước chàm đểgiúp cho vải đen và đẹp Nhuộm chàm là công việc vất vả, mất nhiều thời gian vàđòi hỏi tính kiên nhẫn cao Muốn có màu chàm đen như ý, mảnh vải phải được
Trang 21nhuộm đi nhuộm lại nhiều lần, trong nhiều ngày Người ta thường ngâm vải trongdung dịch chàm chừng một giờ đồng hồ, sau đó mới vớt ra để rváy nước rồi lạingâm tiếp Quy trình đó được lặp đi lặp lại 5- 6 lần mới đem vải đi phơi Khi nàomảnh vải khô, nó lại được mang vào ngâm tiếp, cứ như thế khoảng 8 lần Trong thờigian ngâm cho vải lên nước đen bóng thời tiết có ảnh hưởng rất lớn Gặp lúc nắngrváy, mỗi mảnh vải chỉ cần 3- 4 ngày là có thể nhuộm xong Nhưng nếu trời mưa,phơi vải lâu khô, khoảng thời gian đó có thể kéo dài từ 1 đến 2 tháng và làm chochất lượng vải lanh giảm đi rất nhiều Từ vải lanh các nhóm người H’Mông khácnhau sẽ sản xuất ra những sản phẩm áo váy khác nhau để phục vụ nhu cầu và đembuôn bán trao đổi trên thị trường Những bộ trang phục của họ luôn bền đẹp và giữmàu sắc được khoảng 3-4 năm Trong điều kiện sống tương đối cách biệt ở nhữngvùng núi cao hẻo lánh, nghề dệt may của người H’Mông đã đáp ứng về cơ bản nhucầu mặc của họ trong một thời gian dài.
- Quá trình sản xuất áo váy truyền thống.
Sản xuất áo váy truyền thống ở các nhóm người H’Mông khác nhau là khácnhau Tạo nên sự đa dạng về màu sắc, hoa văn Sản xuất áo váy truyền thống đượcthể hiện cụ thể qua các nhóm người H’Mông như sau:
Nhóm H’Mông Trắng:
- Cổ váy (pan tau)
Cổ váy để phân biệt các dân tộc H'mông khác nhau và thể hiện sự khéo léocủa bàn tay người phụ nữ Người phụ nữ sử dụng một cặp nhỏ kéo sáng tạo ra hoavăn cầu kỳ từ miếng vải mỏng, sau đó với các đường khâu nhỏ xíu tỉ mỉ, đáp cácmiếng vải nhỏ thành một lớp thứ hai lên trên nền vải đã cắt Sau đó, cô trang tríthêm vào đó Thêu đáp mảnh và các họa tiết rất đa dạng với các hoa văn được sángtạo từ cuộc sống hàng ngày Các họa tiết có thể là hoa đào, ốc, chim, dấu chân của
gà, cái đòn gánh, và cối để giã gạo, cái cầu bằng tấm ván đôi hoặc đơn
- Thắt lưng (quo xe xia)
Theo truyền thống, họa tiết của thắt lưng bao gồm các hình như hình vuông màu hồng xoay và lụa màu xanh lá cây với những miếng đáp màu trắng xoay đỉnhhoặc thêu họa tiết Họa tiết hình tròn, hoặc được thêu đáp mảnh hoặc được thêu họatiết được gọi là cu, nhìn giống con ốc
Trang 22Thắt lưng được gắn vào một tạp dề dài hình chữ nhật màu đỏ Đôi khi cácđồng xu cũ Đông Dương thời Pháp thuộc cũng được đính thêm trên thắt lưng màtrông như cô gái đang nhún nhẩy.
Ngày nay, cổ váy và các phần phụ khác trong bộ trang phục của ngườiH’mông được may màu trắng, màu hoa hồng và màu xanh lá cây nhuộm nhân tạo,mua của những thương nhân người Lào Cô gái trẻ thêu họa tiết và thêu đáp mảnh
để bán vào những ngày chợ phiên Các mảnh thêu này sau đó thêu vào thắt lưng và
cổ váy để bán cho các cộng đồng H'mông tại Lào, Mỹ
- Mũ (lu co mo or co mom bi)
Người mẹ H’Mông giành thời gian và công sức để thêu hoa văn và thêu đápmảnh trang trí cho vành mũ của đứa con mình Quả nhục đậu khấu sẽ được thêutrên mũ để phòng bệnh cho đứa trẻ Các đồng xu và các hạt mầu thường được là vậtliệu để trang trí cho những chiếc mũ
Nhóm H’Mông Đen: Trong các nhóm H’Mông, có lẽ váy phụ nữ nhóm
H’Mông này là ngắn nhất, váy may cổ tròn, cài cúc xiêng vào nách, cửa tay váy cótrang trí hoa văn hình dích dắc quả trám bàng chỉ màu Áo của nhóm H’Mông Đenthường may ngắn hơn nhóm H’Mông Trắng, hoa và đặc điểm phân biệt là nhuộmchàm đen, in hoa văn sáp ong, ít thêu thùa hơn của nhóm H’Mông Hoa Gấu áotrang trí hoa văn hình vuông, tam giác và đường thẳng song song Đặc điểm nổi bậctrong trang phục của nhóm này là có màu chủ đạo là màu đen
Nhóm H’Mông Xanh: phụ nữ mặc váy xẻ ngực, cổ thìa, tà váy xẻ lên đến
nách Nẹp tà khâu theo hình chữ A và đáp thêm miếng vải trắng hai bên sườn, cánhtay đắp 3 vòng hoa văn trắng, xanh, đen Cổ tay áo có một khoanh hoa văn hình kỷ
hà Áo của nhóm H’Mông xanh khác với áo của các nhóm khác là loại áo kín (áoống) Cạp áo may đơn màu đen, thân áo trang trí một đoạn hoa văn khoảng 20-30cmbằng phương pháp thêu và ghép vải màu theo các đường thẳng song song, mỗiđường rộng từ 0,5 đến 1cm, trên thân áo có khoảng 10 đường thẳng như vậy Cácđường thẳng được sử dụng màu sắc xen kẽ trắng xanh, đen, tím, đỏ Khoảng giữacác đường thẳng song song là mảnh hoa văn chữ thập ngoặc móc vào nhau chạyvòng theo thân áo (Viện dân tộc học Viện khoa học xã hội Việt Nam, 2005)
Trang 23- Kỹ thuật tạo hoa văn
Kỹ thuật tạo hoa văn trên trang phục áo váy truyền thống kết hợp giữa thêu,dệt, ghép màu và in sáp ong Vẽ bằng sáp ong nhuộm chàm là cách thể hiện văn hóađơn giản nhất Công cụ dùng vẽ mẫu in sáp là bút vẽ được làm bằng đồng Có nhiềuloại bút nhằm tạo các nét có kích thước to nhỏ khác nhau Trước hết, đồng bào dùngsáp ong nóng chảy để vẽ những đường nét hoa văn theo ý muốn trên tấm vải lanhtrắng, sau khi vẽ xong, người ta đem tấm vải đó nhúng vào nước chàm nhiều lần,khi nào nước chàm ăn vào vải tạo thành mầu đen vừa ý, đồng bào lại đem vải đónhúng vào nước nóng cho sáp ong tan ra, để lại những hoa văn trắng trên nền chàm.Cách thể hiện hoa văn này ta gặp trên áo phụ nữ H’Mông Hoa ở phía Bắc
Mô típ hoa văn thêu bằng chỉ màu rất phong phú Phụ nữ người H’Môngtrắng thêu những hoa văn bằng chỉ rất cầu kỳ, quá trình thêu được thực hiện rấtcông phu Trước khi thêu, người phụ nữ thường tính toán tỉ mỉ từng đường kim mũichỉ, kích thước hoa văn trên mảnh vải để bố trí cho hợp lý, hài hòa Kỹ thuật thêuhoa văn khá phức tạp vì khi thêu ở mặt trái của sợi vải nhưng hình mẫu lại nổi lên ởmặt phải, đòi hỏi người phụ nữ phải rất kiên trì, cẩn thận Chỉ dùng để thêu thường
là sợi tơ tằm, loại sợi to, bền màu
Ghép vải màu là cách thể hiện hoa văn đơn giản song vẫn đảm bảo màu sắctheo ý muốn Chị em thường ghép vải màu vào nẹp váy trước ngực, vào ống tayváy, trên áo, ghép vải để làm mũ cho trẻ em Các mô típ chính gồm có: Mô típ hìnhvuông, hình chữ nhật, hình thoi, hình xoáy trôn ốc và thỉnh thoảng ta bắt gặp những
mô típ không xác định được Nhiều người cho rằng các loại mô típ hoa văn hình học
là mô típ hoa văn cổ truyền của dân tộc H’Mông mà không có các hình người, hìnhchó, hình chim, cây thông… như của người Dao (Viện dân tộc học Viện khoa học
xã hội Việt Nam, 2005)
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất áo váy truyền thống
2.1.3.1 Yếu tố truyền thống
Sản xuất áo váy truyền thống là nghề truyền thống của dân tộc H’Mông Bất
cứ người phụ nữ H’Mông nào đều tự may cho mình những bộ trang phục để mặc
Đó là văn hóa truyền thống của dân tộc H’Mông Dân tộc H’Mông có truyền thống
Trang 24đoàn kết cao “Từ ý thức cộng đồng cao, người H’Mông có những phẩm chất đáng quý: tôn trọng sự điều hành của trưởng bản, trưởng họ; Con cái tôn trọng cha mẹ, nề nếp gia đình thuận hòa”(Hoàng Xuân Lương, 2000) Yếu tố truyền thống có ảnh hưởng lớn tới
sự phát triển của nghề sản xuất áo váy truyền thống Đây còn là yếu tố quan trọng khôngchỉ chi phối tới quá trình sản xuất mà còn chi phối tới thị trường tiêu dùng sản phẩm
Trong bản làng người H’Mông luôn có các nghệ nhân, các thợ có tay nghềcao, có kinh nghiệm sản xuất, có tâm huyến với nghề đây là những trụ cột để duy trì
và phát triển nghề truyền thống này Họ là cơ sở tồn tại của nghề trước mọi thăngtrầm và đảm bảo duy trì những nét độc đáo của nghề Yếu tố truyền thống có tácdụng bảo tồn những nét đặc trưng về văn hoá của trang phục và của cả dân tộc làmcho sản phẩm áo váy truyền thống có những tính độc đáo và giá trị nhân văn cao
- Tập quán sản xuất: Liên quan tới chủng loại sản phẩm, kỹ thuật tạo hoavăn, thiết kế mẫu mã và trang trí màu sắc Những yếu tố này quyết định tới năngsuất, chất lượng và giá trị của sản phẩm “Lâu nay người dân sản xuất áo váytruyền thống chỉ để phục vụ một nhu cầu rất nhỏ, chủ yếu cho bản thân và giađình, trước đây chỉ là nhà ai may áo váy truyền thống nhà nấy, chứ chưa hìnhthành các làng nghề sản xuất áo váy truyền thống, cùng lắm thì bán hay trao đổingay ở trong khu vực sinh sống hẹp và với giá rất rẻ” (Nguyễn Ngọc Chinh,
Phạm Thị Ngọc Kim - TT DN TN Quảng Ngãi, 2008).
Trong điều kiện hiện nay yếu tố truyền thống có hai mặt: Tích cực và tiêucực, đối với sự phát triển của nghề sản xuất áo váy truyền thống Vấn đề đặt ra ởđây là làm sao đưa ra được những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại vàonhưng vẫn giữ được những yếu tố truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc
và những sản phẩm này phải được thị trường chấp nhận
2.1.3.2 Nhân tố trình độ và kỹ thuật công nghệ
Sản xuất áo váy truyền thống đòi hỏi cần phải có kinh nghiệm sản xuất mớilàm được Sản xuất áo váy truyền thống là nghề đòi hỏi có kinh nghiệm và kỹ thuật,tay nghề rất cao Một mặt phải khéo tay, mặt khác phải có kinh nghiệm, có trí tưởngtượng tinh hoa và phong phú thì mới làm được Trình độ tay nghề của người sảnxuất sẽ quyết định đến sản phẩm áo váy được sản xuất ra Những người có tay nghề
Trang 25tốt giàu kinh nghiệm sẽ sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng tốt mẫu mã đẹp.Trình độ cao sẽ có các chiến lược Marketing tốt giúp tiêu thụ sản phẩm nhanh vớigiá cao.
Kỹ thuật sản xuất hiện đại và công nghệ mới phù hợp thay thế các công cụmay thêu thô sơ sẽ tạo ra được nhiều sản phẩm có chất lượng tốt, kiểu dáng đẹpnhưng phải đảm bảo được tính truyền thống
2.1.3.3 Nguyên vật liệu phục vụ sản xuất
Nguyên liệu cho sản xuất áo váy truyền thống có vai trò rất quan trọng ảnhhưởng trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy Để dệt được những tấmvải lanh dùng cho sản xuất áo váy truyền thống là rất khó khăn và mất thời gian dài.Nên để có đủ nguyên liệu sản xuất phục vụ nhu cầu thị trường người sản xuất dùngthêm các loại vải mua ngoài thị trường Nếu sử dụng vải nhân tạo thì khách du lịchkhông thích nữa làm ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm
Vì vậy cần phải quy hoạch vùng sản xuất vải để tạo nên nhiều vải phục vụnhu cầu may các sản phẩm, tạo nên nhiều sản phẩm đa dạng và phong phú đáp ứngnhu cầu của khách hàng
2.1.3.4 Yếu tố kinh tế
a Yếu tố về vốn
Vốn luôn là một trong những nhân tố quan trọng để thúc đẩy sản xuất áo váytruyền thống phát triển Vì vậy, đa số đồng bào dân tộc H’Mông đang nghèo, nênthiếu vốn để mở rộng quy mô sản xuất và đổi mới công nghệ Vốn còn quyết định tớiviệc tái sản xuất giản đơn hay tái sản xuất mở rộng Đầu tư nghiên cứu tìm kiếm thịtrường và các mẫu mã sản phẩm đáp ứng nhu cầu khách hàng
b Nhân tố lao động
Sản xuất áo váy truyền thống là một nghề đòi hỏi rất nhiều công lao động Dosản xuất thủ công nên cần đầu tư nhiều công sức và thời gian, có những sản phẩm phảimất hàng tháng trời mới sản xuất được Đặc biệt là những người có tay nghề cao, giàukinh nghiệm Mặt khác nghề sản xuất áo váy truyền thống vẫn chưa được coi là mộtnghề sản xuất chính trong gia đình, nên ít được đầu tư mở rộng sản xuất Trong khi đó,phụ nữ dân tộc H’Mông phải lao động vất vả với công việc trồng trọt làm nương rẫy, nên
Trang 26ít có thời gian để làm áo váy truyền thống Họ chỉ có thể tranh thủ lúc nông nhàn hoặclàm vào ban đêm.
c Yếu tố thị trường giá cả
Thị trường với các quy luật cầu – cung, cạnh tranh và quy luật giá trị, nó cótác động rất lớn đến các nhà sản xuất Sản xuất muốn phát triển ổn định cần phảinắm được các thiết yếu của thị trường và luôn tìm cách đáp ứng nhu cầu ngày càngcao của thị trường Người sản xuất chỉ sản xuất những hành hóa, dịch vụ mà thịtrường có nhu cầu và xác định khả năng của mình khi đầu tư vào lĩnh vực, hànghóa, dịch vụ nào đó mang lại lợi nhuận cao nhất, thông qua các thông tin và các tínhiệu giá cả phát ra từ thị trường Bất kỳ ngành sản xuất nào cũng liên quan đến thịtrường đầu vào và đầu ra Sự biến động giá cả ở cả hai thị trường đều tác động trựctiếp đến hiệu quả sản xuất và thu nhập của nông hộ Việc ổn định giá cả đầu ra cũngnhư nguồn cung ứng của các vật tư đầu vào, tạo lập và mở rộng thị trường tiêu thụ
sẽ mang lại tâm lý yên tâm sản xuất cho người sản xuất
d Yếu tố cơ sở hạ tầng:
Muốn phát triển sản xuất và tiêu thụ thì đòi hỏi hệ thống cơ sở hạ tầng phục
vụ sản xuất cũng cần được nâng cấp Hệ thống giao thông liên quan đến quá trìnhvận chuyển sản phẩm và vật tư Hệ thống các chợ vùng cao “ở các vùng nông thôn,chợ là một địa điểm hết sức cần thiết và lý tưởng cho việc tiêu thụ các hàng hoá,
nông sản của các hộ gia đình Thông qua các hoạt động mua bán trao đổi tại chợ
nông thôn, các hàng hoá nông sản có thể được tích tụ thành một khối lượng lớn đểchuyển qua chế biến và tiêu thụ tại thị trường trong nước và xuất khẩu Nông sảnhàng hoá và các sản phẩm ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn đều được
bày bán ở chợ” (Nguyễn Thị Tâm, 2004) Phát triển mạng lưới thông tin phục vụ
cho việc nắm bắt thông tin của người dân được tốt hơn Để họ lựa chọn các hìnhthức sản xuất phù hợp, tạo ra sản phẩm đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng, quảng básản phẩm trên thị trường Cơ sở hạ tầng tốt tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý điềuhành và các hoạt động của các tác nhân tham gia sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Trang 272.1.3.5 Chính sách quy hoạch phát triển làng nghề.
Hệ thống chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại vàphát triển của các ngành tiểu thủ công nghiệp nói chung cũng như nghề sản xuất áováy truyền thống nói riêng Chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước góp phầnđịnh hướng cho các hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống trong
cả một thời gian dài do vậy nó có vai trò rất quan trọng Quy hoạch làng nghề truyềnthống, các nhóm sản xuất áo váy truyền thống, đa dạng hóa sản phẩm sẽ làm cho
ngành sản xuất áo váy phát triển “Quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn có
ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc khai thác và sử dụng đầy đủ, hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn, sức lao động để đa dạng hoá sản xuất, tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm và sản phẩm hàng hoá xuất khẩu với chất
lượng cao, giá thành hạ”(Nguyễn Dương Đán, 1995) Phát triển du lịch văn hóa để
thu hút khách đến sẽ thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ áo váy truyền thống phát triển.2.1.3.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống
a Chất lượng và mẫu mã sản phẩm áo váy truyền thống.
Người tiêu dùng khi mua hàng trước hết nghĩ tới khả năng hàng hoá đáp ứngnhu cầu của họ, tới chất lượng mà nó có Vẻ đẹp sặc sỡ cùng với những nét hoa văntinh tế của các sản phẩm áo váy tạo ra sự thiện cảm lôi cuốn người tiêu dùng tronggiây lát để từ đó họ đi đến quyết định mua hàng một cách nhanh chóng Hàng hoá
dù đẹp và bền đến đâu cũng bị lạc hậu trước yêu cầu ngày càng cao của người tiêudùng Do đó người sản xuất áo váy truyền thống cần phải thường xuyên đổi mới vàhoàn thiện về chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã kết hợp cả yếu tố hiện đại và truyềnthống tạo những nét riêng độc đáo hấp dẫn người mua Cùng với sự phát triển của
xã hội nói chung thì nhu cầu ăn mặc của người dân cũng thay đổi theo, nhu cầu vềsản phẩm đẹp và chất lượng tốt ngày càng nhiều Đặc biệt là nhu cầu mua sản phẩm
áo váy truyền thống của khách du lịch và các nhà buôn Chất lượng và mẫu mã cũng
là yếu tố quan trọng để bảo vệ nhãn hiệu uy tín sản phẩm trong điều kiện ngày càng
có nhiều sản phẩm giống nhau, hàng thật hàng giả lẫn lộn
Trang 28b Mạng lưới phân phối sản phẩm
- Cơ sở hạ tầng cho công tác tiêu thụ
Bao gồm kết cấu kiến trúc xây dựng các khu bán hàng, hệ thống đường đitrong các chợ, cửa hàng, siêu thị, kho bãi bảo quản cất giữ sản phẩm, phương tiệnvận chuyển, hệ thống xử lý rác thải, hệ thống chiếu sáng, bảo vệ và các dịch vụkhác Cơ sở hạ tầng tốt tạo điều kiện cơ sở vật chất thuận lợi cho quản lý điều hành
và các hoạt động của các tác nhân tham gia tiêu thụ
- Quảng cáo
Tiến hành giới thiệu quảng cáo sản phẩm để người tiêu dùng biết và lựa chọnmua sản phẩm Giới thiệu cho du khách các sản phẩm áo váy truyền thống đặc sảncủa địa phương Nâng cao kỹ năng bán hàng, giao dịch và thanh toán Thông tin thịtrường cập nhật phải thông suốt giúp công tác tiêu thụ thuận lợi
c Hành vi tiêu dùng của khách hàng
Khách hàng là những người đang và sẽ mua các sản phẩm áo váy truyềnthống, khách hàng là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến hoạt động tiêu thụ sảnphẩm áo váy truyền thống cũng như sự sống còn của người sản xuất áo váy bởi vìkhách hàng tạo nên thị trường Những biến động tâm lý khách hàng thể hiện qua sựthay đổi sở thích, thị hiếu, thói quen làm cho số lượng sản phẩm tiêu thụ tăng lênhay giảm đi Việc định hướng hoạt động kinh doanh hướng vào nhu cầu của kháchhàng sẽ đem lại kết quả khả quan và thói quen tổ chức dịch vụ phục vụ khách hàng,đánh đúng tâm lý tiêu dùng là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả tiêu thụ sảnphẩm
Trang 29d Sự cạnh tranh của các sản phẩm áo váy truyền thống.
Xuất hiện nhiều sản phẩm áo váy đến từ bên ngoài gây cạnh tranh mạnh mẽtới quá trình tiêu thụ sản phẩm áo váy truyền thống Khi các sản phẩm bên ngoàitràn vào ngày càng nhiều thì cần phải có chiến lược sản xuất và đối sách tiêu thụhợp lý Để sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường
e Chính sách điều tiết của Nhà nước
Nhà nước có nhiệm vụ hướng dẫn tiêu dùng cho nhân dân, thoả mãn các nhucầu tiêu dùng Hiện nay, Đảng và nhà nước ta đang rất nỗ lực trong việc hoàn chỉnhcác chính sách về thuế, luật kinh tế và các chính sách phát triển kinh tế nhằm tạo ranhững điều kiện hoạt động tốt hơn cho các làng nghề truyền thống từng bước nângcao hiệu quả kinh tế, phát triển nền kinh tế nông thôn
Chính sách và luật pháp của Nhà nước tác động trực tiếp đến hoạt động tiêuthụ hàng hoá của làng nghề Do vậy nhà nước cần có chính sách nhằm tạo điều kiệnthuận lợi cho làng nghề áo váy truyền thống trong điều kiện kinh doanh nói chung,hoạt động tiêu thụ hàng hoá nói riêng Các chính sách của nhà nước trong tiêu thụsản phẩm đóng vai trò hết sức quan trọng trong lưu thông hàng hóa trên thị trường
và bảo quản (Văn kiện đại hội Đảng X, tr 190 – 192)
Trang 30- Quyết định số: 22/QĐ-TTg ngày 05/01/2010 của thủ tướng chính phủ vềphê duyệt Đề án “phát triển văn hóa nông thôn đến năm 2015, định hướng đến năm2020”, Nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật và các quy định về vănhóa của người dân ở nông thôn; xây dựng, củng cố và phát triển hệ thống thiết chếvăn hóa, thể thao cơ sở, tạo điều kiện để người dân ở nông thôn nâng cao mứchưởng thụ, tham gia hoạt động và sáng tạo văn hóa; nâng cao chất lượng phong tràoxây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, thực hiện các tiêu chí phát triển văn hóanông thôn mới cấp xã, tạo nền tảng vững chắc để phát triển văn hóa nông thôn mớitrên địa bàn xã; xây dựng con người, gia đình, cộng đồng nông thôn và môi trườngvăn hóa nông thôn lành mạnh, phong phú, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, tạo độnglực thúc đẩy phát triển nông nghiệp và xã hội nông thôn mới.
- Chỉ thị số: 194/CT-BVHTTDL ngày 20/10/2011 của bộ văn hóa- thể thao
& Du lịch về việc tổ chức triển khai thực hiện Đề án “Bảo tồn và phát triển văn hóacác dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”
- Chỉ thị số: 73/CT-BVHTTDL ngày 19/50/2009 của bộ văn hóa- thể thao &
Du lịch về việc tăng cường các biện pháp quản lý di tích và các hoạt động bảo quản,
- Nghị quyết số: 05-NQ/TU ngày 28/10/2011 của ban thường vụ tỉnh ủy vềphát triển du lịch Nghệ An giai đoạn 2011- 2020;
- Quyết định số: 6247/QĐ-UBND ngày 22 tháng 12 năm 2010 của ủy bannhân dân tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển Văn hóa, thể thaotỉnh Nghệ An đến năm 2020;
- Nghị quyết số: 01-NQ/HU ngày 07 tháng 12 năm 2010 của Ban chấp hànhĐảng bộ Huyện lần thứ XXI (nhiệm kỳ 2010- 2015)
Trang 31- Quyết định số 1270/QĐ- TTg ngày 27/7/2011 của thủ tướng chính phủ vềphê duyệt đề án “bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đếnnăm 2020”, Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu sốphù hợp với tình hình thực tế, đặc biệt chú trọng địa bàn các dân tộc có nguy cơ bịbiến dạng văn hóa cao (các dân tộc rất ít người không có điều kiện tự bảo vệ vănhóa của mình; bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số tại khu vực biêngiới, hải đảo, khu vực tái định cư của các thủy điện) Phát huy vai trò của các chủthể văn hóa trong phát triển văn hóa truyền thống của các dân tộc Tôn vinh các giátrị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số; khích lệ sáng tạo các giá trịvăn hóa mới Góp phần giảm dần sự chênh lệch về mức sống và hưởng thụ văn hóagiữa các vùng, các dân tộc, gắn kết giữa phát triển kinh tế với bảo tồn và phát triển vănhóa các dân tộc Tăng cường đầu tư của Nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt độngvăn hóa, huy động mọi nguồn lực cho bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu
số Việt Nam, gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, đặc biệttại các địa bàn trọng điểm: Vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệtkhó khăn, biên giới, hải đảo
- Nghị định số 66/2006/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn quy đinh
về hoạt động của ngành nghề nông thôn, công nhận nghề, làng nghề, quản lý chấtlượng sản phẩm ngành nghề nông thôn Quy hoạch phát triển ngành nghề nôngthôn Đảm bảo cho ngành nông nghiệp phát triển bền vững thực hiện công nghiệphóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Thông tư số 116/2006/TT-BNN về việchướng dẫn thực hiện một số nội dung của nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày07/07/2006 của chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn Quy định về tiêu chícông nhận ngành truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống Xác định các nộidung về quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn và nguồn kinh phí hỗ trợ
- Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ về một số chínhsánh khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn Chủ trương phát triển ngànhnghề nông thôn theo cơ chế thị trường, đảm bảo phát triển bền vững, giữ gìn vệ sinhmôi trường, có chính sách khuyến khích hỗ trợ cho ngành nghề nông thôn Bao gồmchính sách về đất đai, về nguyên liệu phục vụ sản xuất, về đầu tư tín dụng hỗ trợ tín
Trang 32dụng, vay lãi suất thấp; chính sách về khoa học công nghệ và môi trường cho ngànhnghề nông thôn; các chính sách về chất lượng sản phẩm và đào tạo lao động, phongtặng danh hiệu “nghệ nhân” và “thợ giỏi” Thông tư số 84/2002/TT-BTC của Bộ tàichính về việc hướng dẫn những vấn đề về tài chính khuyến khích phát triển ngànhnghề nông thôn Cơ sở sản xuất được hỗ trợ vốn đầu tư xây dựng đường giao thông,
cơ sở hạ tầng Được hưởng ưu đãi về thuế và lệ phí, nhà nước hỗ trợ về xuất khẩu,hoạt động phát triển thị trường Ưu tiên đào tạo nghề nông thôn, hỗ trợ kinh phí
- Quyết định 84/2006/QĐ-UBND ngày 24/8/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnhNghệ An V/v một số chính sách hỗ trợ bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu
số ở tỉnh Nghệ An Các loại hình văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Ơ đu,Khơ Mú, H’Mông, Thái, Thổ ở vùng miền núi Nghệ An Ở các vùng miền núi trình
độ dân trí thấp, đời sống còn khó khăn, không có điều kiện để bảo vệ và phát huy disản văn hóa
Như vậy, với rất nhiều các chính sách hỗ trợ từ chủ trương của Đảng, cácQuyết định, Chỉ thị của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn của các Bộ, cơ quanngang Bộ, của chính quyền địa phương đã khuyến khích phát triển làng nghề truyềnthống, ngành nghề nông thôn theo hướng hàng hoá đã góp phần quan trọng cho sự pháttriển của các ngành nghề nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá những năm qua vàcác năm tiếp theo Tuy nhiên, ở nhiều nơi việc triển khai các chủ trương chính sách củaĐảng và Nhà nước vẫn chưa thực sự tốt vẫn tồn tại nhiều bất cập cần giải quyết Nếulàm thực hiện tốt các vấn đề đó thì trong những năm tới đây ngành nghề nông thôn sẽtiếp tục phát triển về cả số lượng và chất lượng, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông thôn theo hướng công nghiệp và quan trọng hơn cả là đem lại đời sống ngàycàng tốt hơn cho người nông dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Áo váy truyền thống của một số làng nghề ở Việt Nam.
Nghề sản xuất áo váy truyền thống của các dân tộc trong cả nước đang pháttriển ở nhiều địa phương Mỗi dân tộc, mỗi địa phương có những sản phẩm mangsắc thái riêng, có quy trình sản xuất riêng với chủng loại, mẫu mã và kỹ thuật sảnxuất riêng Tuy nhiên, các sản phẩm áo váy truyền thống của các dân tộc là những
Trang 33sản phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng đặc biệt là người nước ngoài Cần tìmhiểu thêm về tình hình sản xuất cũng như tiêu thụ các sản phẩm truyền thống ở cácđịa phương để có bài học kinh nghiệm.
2.2.3 Sản xuất và tiêu thụ áo váy truyền thống ở Nậm Cắn- Kỳ Sơn- Nghệ An.
2.2.3.1 Về sản xuất
Nậm Cắn là một xã nằm ở biên giới giữa việt nam và Lào cách nước bạn Lào200m có một cửa khẩu Quốc tế Nậm Cắn, có trục quốc lộ 7A qua cửa khẩu sangnước Lào Nậm Cắn trước đây cũng chỉ là một xã nghèo của huyện Kỳ Sơn Nhưngsau những năm 80 có một bộ phần lớn người H’Mông di cư từ nước Lào sang sinhsống và làm ăn tại Nậm Cắn, thì nhóm người này đến du nhập vào cộng đồng ngườiH’Mông Nậm Cắn, từ đó cộng đồng dân tộc H’Mông ở Nậm Cắn đã đông hơn rấtnhiều, cuộc sống của họ chủ yếu vẫn chỉ dựa vào mảnh đất nương rẫy là chính cuộcsống đầy bao khó khăn và vất vả Một số ít những người di cư từ Lào sang nhậnthấy rằng Nậm Cắn có tiền năng phát triển các sản phẩm truyền thống như váy, áo,
mũ, khăn và các món dồ lưu niệm khác… cùng với đó thì Nậm Cắn lại có vị trí kháthuận lợi có một cửa khẩu Quốc tế Nậm Cắn và có hội chợ biên giới giữa việt nam
và Lào được giao lưu buôn bán giữa người H’Mông việt với người H’Mông ở Lào,mặt khác người H’Mông sinh sống ở Lào lại chiếm đại đa số, nên số người này đãtìm cách phát triển và đưa sản phẩm áo váy truyền thống Nậm Cắn du nhập vàocộng đồng H’Mông ở Lào
Nậm Cắn được công nhận là Làng văn hóa năm 2000 cùng với đó thì Nậm Cắn
từ rất lâu đã có truyền thống sản xuất các sản phẩm truyền thống từ bao đời nay Làngvăn hóa Nậm Cắn đã hội tụ bởi một phần lớn các cư dân người H’Mông vốn đã có kinhnghiệm sản xuất áo váy truyền thống di cư từ Lào sang, do đó sản phẩm áo váy truyềnthống của người H’Mông từ dó đến nay vẫn được bảo tồn và phát triển thêm Nhữngnăm gần đây được sự quan tâm giúp đỡ của các cấp chính quyền địa phương và đặcbiệt là chương trình 135 đã hỗ trợ một phần nhỏ thúc đẩy nghề sản xuất áo váy truyềnthống ở Nậm Cắn phát triển Cho đến nay Làng sản phẩm áo váy truyền thống NậmCắn đã phát triển đủ kiểu dáng và sắc màu trông thật bắt mắt Làng nghề có trên 300người tham gia Một vài sản phẩm chính có thể kể đến là: bộ sản phẩm áo váy truyền
Trang 34thống, mũ, khăn, ví đựng tiền, với đủ sắc màu rực rỡ Những sản phẩm này hoàn toàn dobàn tay khéo léo tài hoa của người phụ nữ H’Mông tạo nên với những đường nét hoa vănđược thể hiện qua các họa tiết cây cỏ hoa lá, chim muông thật tinh tế luôn gây được sự tò
mò hiếu kỳ và đặc biệt hấp dẫn các khách du lịch đến với Kỳ Sơn
2.2.3.2 Về tiêu thụ
Các sản phẩm hàng hoá làm ra ở đây được người dân và hộ sản xuất "xuấtkhẩu tại chỗ" bằng cách bán trực tiếp cho khách hoặc có thể bán gián tiếp cho dukhách thông qua việc cung cấp các mặt hàng này cho các quầy sản phẩm truyềnthống ở chợ biên giới tại Cửa khẩu Quốc tế Nậm Cắn, các cửa hàng bán đồ lưuniệm của thị trấn Mường Xén Có khoảng 70% xuất khẩu sang các nước Lào, TháiLan… được bạn hàng đánh giá cao về chất lượng, mẫu mã và sự độc đáo Mặt hàngđược tiêu thụ nhiều nhất là các loại váy, áo và mũ, số lượng mặt hàng bán ra là hơn 300loại sản phẩm, đạt giá trị gần trên 100 triệu đồng/năm Thu nhập hàng tháng mỗi thànhviên đạt từ 400.000đ đến 500.000đ/người/tháng (Câu lạc bộ sản xuất áo váy truyềnthống Nậm Cắn), góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cho gia đình Triển lãm cácsản phẩm truyền thống ở hội chợ biên giới tại Cửa khẩu Quốc tế Nậm Cắn Áo váytruyền thống là một món quà không thể thiếu được cho du khách mỗi lần đặt chân tới
Kỳ Sơn Ðối với người dân tộc vùng cao, bộ áo váy truyền thống không chỉ để dùngtrang trí, tô điểm thêm cho sắc đẹp mà còn là vật kỷ niệm của tình yêu hay trong ngàycưới của các đôi trai gái Câu lạc bộ áo váy truyền thống xã Nậm Cắn, ngoài việc giữvai trò là đầu mối sản xuất và tiêu thụ sản phẩm còn bố trí nhiều gian trưng bày, giớithiệu các sản phẩm áo váy truyền thống do chính các thành viên trong câu lạc bộ làm ranhằm phục vụ nhu cầu tìm hiểu, mua sắm của khách thăm quan mỗi khi vào thăm bản
Ngày nay, khi sản phẩm áo váy truyền thống của nhiều nơi đang bị "thương mạihoá" vì được làm bằng công nghiệp nhập từ Trung Quốc và các mẫu mã quen thuộc
"nhái lại" thì sản phẩm áo váy truyền thống của Nậm Cắn – Kỳ Sơn vẫn có những nétđộc đáo riêng, giữ được phần "hồn" của bản sắc dân tộc
2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ lý luận và thực tiễn
Từ lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất và tiêu thụ nói chung và phát triểnsản xuất và tiêu thụ áo váy nói riêng cho thấy:
Trang 35- Sản xuất áo váy truyền thống có nhiều tiềm năng để phát triển Áo váy là sảnphẩm được nhiều người tiêu dùng ưa thích, đặc biệt là người nước ngoài Đây là mộtngành sản xuất có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế cao, không gây hại cho môitrường và mang lại hiệu quả xã hội Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Vì vậy, cần phải tiếp tục phát triển các làng nghề áo váy truyền thống
- Để phát triển làng nghề áo váy truyền thống cần có điều kiện sau:
+ Cần phải có được đội ngũ những nghệ nhân có kinh nghiệm về sản xuất áováy, để đào tạo lao động sản xuất áo váy truyền thống Tạo cho làng nghề một đội ngũlao động có tay nghề cao, có khả năng sản xuất các sản phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầungày càng cao của khách hàng
+ Có các điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triểnsản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy Bao gồm hệ thống đường giao thông, thông tinliên lạc và hệ thống các chợ, cửa hàng, các trang thiết bị máy móc cho sản xuất áo váy
+ Cần có hệ thống chính sách phát triển làng nghề áo váy phù hợp với sự pháttriển kinh tế, văn hóa – xã hội, chính sách phải đủ mạnh để khuyến khích, động viên vàtạo được điều kiện thuận lợi cho nghề dệt áo váy phát triển Bao gồm các chính sách vềsản xuất và cả tiêu thụ sản phẩm Để sản xuất ra lượng đầu ra ổn định và có thị trườngtiêu thụ ổn định cho sản phẩm áo váy
Từ kinh nghiệm sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy của một số làng nghề áováy ở trong nước ta rút ra bài học là: Để phát triển làng nghề áo váy truyền thống thì tựbạn thân những người sản xuất nhỏ lẻ không thể làm được Cần phải liên kết, hợp tácvới nhau giữa những người sản xuất với nhau để tạo ra sản phẩm phong phú đa dạng cóchất lượng cao Cần phải tổ chức thành các làng nghề, HTX, hay nhóm sản xuất để sảnxuất tập trung với quy mô lớn Phối hợp với các tổ chức trong nước và nước ngoài đểtìm kiếm thị trường tiêu thụ, bạn hàng, thiết kế các mẫu sản phẩm mới, kiểu dáng mới
và cách làm mới có năng suất cao hơn Trong đó, vai trò của Nhà nước là rất quantrọng, cụ thể là việc ban hành các chính sách hỗ trợ cho sản xuất áo váy phát triển; tổchức các lễ hội, hội chợ tạo điều kiện cho làng nghề được giới thiệu, trưng bày quảng
bá sản phẩm của mình tới khách hàng, để họ biết và tìm mua sản phẩm áo váy
Trang 36Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm áo váy chịu tác động của rất nhiều nhân
tố khác nhau Vì vậy, cần có giải pháp phù hợp để thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm áo váy Nhằm duy trì làng nghề truyền thống và đem lại thu nhập cho người phụ
nữ nông thôn Cần có những đánh giá đúng đắn để đưa ra những quyết định đối với
việc lựa chọn và quyết định sản xuất Do đó, việc lựa chọn mục tiêu sản xuất, mục đíchsản xuất để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất là cần thiết Muốn phát triển sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm áo váy cần phải lựa chọn sản phẩm hợp lý, đặc biệt là các sản phẩmmang nét riêng, nét truyền thống mà sản phẩm khác không có để đáp ứng nhu cầu củakhách hàng Tạo ra được sự khác biệt so với các sản phẩm áo váy truyền thống khác
Trang 37PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý và địa hình của huyện Kỳ Sơn – tỉnh Nghệ An
Vị trí địa lý.
Kỳ Sơn là một huyện biên giới nằm ở phía tây tỉnh Nghệ An với diện tích đất
tự nhiên toàn huyện là 209.433,84 ha chiếm 12,69% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh,trung tâm huyện cách thành phố Vinh 250km
Ba phía (Bắc, Tây, Nam): Giáp nước Cộng Hòa Dân chủ nhân dân Lào vớiđường biên giới dài 192 km
Phía Đông: Giáp Huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
Kỳ Sơn có 20 xã và một thị trấn (thị trấn Mường Xén), phân bố trên một diện tíchrộng Trong đó có 10 xã tiếp giáp với nước CHDCND Lào, xã xa nhất cách trung tâmhuyện 70 km
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH NGHỆ AN
(Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Nghệ An, năm 2013)
Trang 38Địa hình.
Kỳ Sơn là huyện có địa hình hiểm trợ, có nhiều núi cao bao bọc tạo nênnhững thung lũng nhỏ và hẹp Huyện nằm trong địa bàn của đới kiến tạo: Đó là đớiphức nếp lồi Trường Sơn và phức nếp lõm sông, suối nên địa hình có nhiều lớplượn song với độ dốc trung bình 35°, độ cao trung bình 700m so với mực nước biển,
có đỉnh núi Phuxailaileng cao 2722,9 m là đỉnh núi cao nhất của dãy Trường sơn.Địa hình phân ra các vùng như sau:
+ Vùng địa hình thung lũng bằng: Diện tích đất ít chỉ chiếm khoảng 0,02%diện tích đất tự nhiên toàn huyện, phân bố rải rác ở một số nơi bãi bồi dọc theo cáccon sông, khe suối
+ Vùng địa hình đồi: Chiếm khoảng 4,58 diện tích đất tự nhiên toàn huyện,phân bố chủ yếu dọc theo tuyến Quốc lộ 7A
+ Vùng địa hình núi: Chiếm 9,4% diện tích đất tự nhiên toàn huyện, trong đóphần lớn là núi cao trên 100m
Như vậy, với vị trí địa lý và địa hình núi cao hùng vĩ, Kỳ Sơn thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch như: Thăm quan thắng cảnh, văn hoá vùng cao
và nghỉ dưỡng sức Cần phát triển ngành du lịch để thu hút khách du lịch đến nơi đây nhiều hơn
3.1.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
- Khí hậu.
Kỳ Sơn nằm trong vùng khí hậu gió mùa mang tính chất lục địa khí hậu điểnhình, song lại có một số vùng có đặc thù riêng như xã Mường Lống khí hậu lạimang tính chất ôn đới thường xuyên có mây mù bao phủ Khí hậu Kỳ Sơn một năm chialàm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3năm sau, nhiêt độ bình quân hàng năm 23,5Ċ, biên độ giao động nhiệt lớn ảnh hưởngtrực tiếp đến sinh trưởng phát triển của cây trồng và vật nuôi; lượng mưa bình quân hàngnăm thấp trung bình 1815mm, song phân bố không đều giữa các vùng Vì vậy Kỳ Sơn
có nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau, đây là một điều kiện vừa khó khăn trong cơ cấukinh tế nông nghiệp nhưng cũng là một thuận lợi cơ bản trong chiến lược phát triển kinh
tế nông nghiệp đa dạng hóa sản phẩm mà nơi khác không có được
Trang 39Nhìn chung khí hậu Kỳ Sơn rất khắc nghiệt mùa đông quá ẩm ướt trong khimùa hè lại quá khô nóng gây bất lợi cho đời sống sản xuất của người dân Mặt khácnhiệt độ mặt đất ảnh hưởng đế hệ thống cây trồng, đồng thời nhiệt độ thay đổi lớnlàm cho sự thích nghi, thích ứng của cây trồng bị hạn chế
- Thủy văn.
Kỳ Sơn có 2 hệ thống sông chính là Sông Nậm Nơ và sông Nậm Mổ Hệthống sông suối của huyện Kỳ Sơn tạo thành mạng lưới khá dày đặc, đây là nguồncung cấp nước sinh hoạt chủ yếu cho hầu hết các xã trong huyện
Tóm lại, do địa hình cao, chia cắt phức tạp, khí hậu Kỳ Sơn có những nét điển hình riêng và một năm chia làm hai mùa rõ rẹt Vì những đặc điểm về khí hậu
và địa hình như trên, người dân ở Kỳ Sơn thường chỉ sản xuất được một vụ trong một năm đối với các loại cây trồng chính (cây Ngô và Lúa)
3.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên huyện Kỳ Sơn khá dồi dào bao gồm các nguồn tài nguyên sau:+ Tài nguyên đất: Diện tích đất tự nhiên của huyện là 209.433,84 ha, chiếm12,69% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, trong đó diện tích đất thổ nhưỡng là208479,54ha chiếm 99,54% không kể diện tích núi đá, sông suối Bao gồm cácnhóm đất sau:
Nhóm đất phù sa: Chiếm 0,02% diện tích đất tự nhiên toàn huyện
Nhóm đất vùng đồi: Chủ yếu đất Feralit màu đỏ với diện tích 1880 ha, chiếm0,56% diện tích đất tự nhiên toàn huyện
Nhóm đất vùng núi thấp: (Khoảng 200m – 1000m) chủ yếu là đất Feralit màuxám với diện tích là 61365 ha, chiếm 29,30% diện tích đất tự nhiên toàn huyện
Nhóm đất Feralit màu vàng: Là phần còn lại
+ Tài nguyên nước: Bao gồm nước mặt và nước ngầm, hiện nay dùng chủyếu cho nông – lâm nghiệp và sinh hoạt gia đình của huyện là nước mặt, nước ngầmchỉ sử dụng rất ít vào mua khô sông suối cạn kiệt, hoặc lưu lượng nhỏ
+ Tài nguyên khoáng sản: Hiện nay huyện Kỳ Sơn còn một số mỏ than chưađược điều tra khảo sát đi vào khai thác như: Mỏ than Pù Sáng – Nậm Cắn với trữlượng 728 ngàn tấn và còn nhiều mỏ khác nữa
Trang 40+ Tài nguyên rừng: Năm 2011 huyện Kỳ Sơn 753.02,79 ha đất lâm nghiệpchiếm 35,96% diện tích đất tự nhiên toàm huyện, tronh đó rừng phòng hộ là69078,06 ha chiếm 91,73% diện tích đất lâm nghiệp.
+ Tài nguyên nhân văn: Kỳ Sơn là một huyện bao gồm nhiều dân tộc anh emsinh sống với nhau với 21 đơn vị hành chính cấp xã và thị trấn, đến năm 2011 dân
số toàn huyện là 71305 người trên 13817 hộ, trong đó:
Dân tộc Mông: 24853 người, chiếm 35,85%
Dân tộc Khơ Mú: 25920 người, chiếm 36,35%
Dân tộc Thái: 18591 người, chiếm 26,07%
Dân tộc Kinh: 1931 người, chiếm 2,71%
Dân tộc Hoa: 10 người, chiếm 0,01%
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.1.2.1 Tình hình sử dụng đất đai của Huyện Kỳ Sơn
Diện tích đát tự nhiên của huyện Kỳ Sơn là 209.433,84 ha, trong đó diện tích đấtnông nghiệp là 961.40,89 ha chiếm 45,91% (Năm 2011) Diện tích đất này hầu nhưkhông tăng giữa các năm 2009 và 2010, tuy nhiên bước sang năm 2011 diện tích đấtnông nghiệp đã tăng lên đáng kể với mức tăng là 192.51,42 ha (25,04%) so với năm
2010 Nhìn vào bảng 3.1 ta thấy diện tích đất nông nghiệp tăng chủ yếu do tăng về diệntích đất trồng các cây lâu năm, bình quân mỗi năm tăng 4,91% trong ba năm trở lại đây.Đây là một con số tương đối lớn bởi trong thời gian gần đây huyện đã chủ trương mởrộng thêm diện tích trồng chè, trồng cỏ voi bằng những vùng đất đồi, núi chưa được sửdụng và những vùng đất nuôi trồng thủy sản đã bị bỏ hoang Diện tích đất phi nôngnghiệp cũng tăng lên giữa các năm như sau: Năm 2010 so với 2009 tăng 1,36% ứng với28,74 ha, năm 2011 so với 2010 tăng 5,93% ứng với 127,07 ha chủ yếu do tăng về đất ở
Diện tích đất chưa sử dụng giảm mạnh với mức giảm bình quân mỗi năm là7,45%, điều này cho thấy huyện đang ngày càng tập trung vào khai thác những diệntích đất chưa sử dụng, đất bỏ hoang vào sản xuất đời sống phục vụ người dân
Diện tích đất trồng cây lanh nguyên liệu để lấy sợi phục vụ cho sản xuất áováy truyền thống chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, chưa có vùng chuyên trồng lanh Cây lanhchỉ được trồng xen kẽ trong các nương ngô hoặc một số thung lũng nhỏ Do đó,thiếu nguyên liệu cho sản xuất áo váy Cần phát triển trồng cây lanh để lấy sợi chosản xuất áo váy truyền thống