Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểu học huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.” đáp ứng đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
MAI THỊ BÍCH THỦY
PHỐI HỢP NHÀ TRƯỜNG VÀ CỘNG ĐỒNG TRONG
GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN MINH CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng
Mã ngành: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Thanh Thủy
HÀ NỘI - 2019
Trang 2CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểu học huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La” dưới sự hướng dẫn của TS Đỗ Thị Thanh Thuỷ là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu có trích dẫn nguồn chính xác, kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất
kỳ một nghiên cứu nào khác.
Người thực hiện
Mai Thị Bích Thủy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, bản thân em đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ các thầy cô giáo, bạn bè, các cơ quan trong và ngoài ngành GD&ĐT.
Em gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các phòng ban chức năng Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Tây Bắc; khoa Tâm lý - Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cùng các thầy cô đã tận tình chỉ dạy và tạo điều kiện giúp
đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn khoa học này.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đỗ Thị Thanh Thuỷ, người đã
luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn khích lệ, động viên
và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót; em rất mong nhận được sự thông cảm, chỉ dẫn, giúp đỡ và đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, các quý thầy cô, các cán bộ phối hợp và các bạn đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2019
Tác giả
Mai Thị Bích Thủy
Trang 4MỤC LỤC Trang
CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
Chương 1 7
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN MINH CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 7
Kết luận chương 1 37
Chương 2 39
THỰC TRẠNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ CỘNG ĐỒNG 39
TRONG GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN MINH CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 39
HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA 39
Bảng 2.5: Học sinh đánh giá mức độ thực hiện nếp sống văn 44
Kết luận chương 2 69
Chương 3 70
CÁC BIỆN PHÁP PHỐI HỢP NHÀ TRƯỜNG VÀ CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN MINH CHO HỌC SINH TIỂU HỌC HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA .70
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết của một số biện pháp phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 88
Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của một số biện pháp phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 90
Kết luận chương 3 92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
29 Từ Điển Xã Hội Học - Tái bản (2003), NXB Khoa học xã hội 99
30 Từ điển từ và ngữ Hán - Việt (2002), NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội 99
PHỤ LỤC 100
PHỤ LỤC 1 101
PHỤ LỤC 2 103
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
Chương 1 7
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN MINH CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 7
Kết luận chương 1 37
Chương 2 39
THỰC TRẠNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ CỘNG ĐỒNG 39
TRONG GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN MINH CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 39
HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA 39
Bảng 2.5: Học sinh đánh giá mức độ thực hiện nếp sống văn 44
Bảng 2.5: Học sinh đánh giá mức độ thực hiện nếp sống văn 44
Kết luận chương 2 69
Chương 3 70
CÁC BIỆN PHÁP PHỐI HỢP NHÀ TRƯỜNG VÀ CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN MINH CHO HỌC SINH TIỂU HỌC HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA .70
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết của một số biện pháp phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 88
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết của một số biện pháp phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 88
Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của một số biện pháp phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 90
Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của một số biện pháp phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 90
Kết luận chương 3 92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
29 Từ Điển Xã Hội Học - Tái bản (2003), NXB Khoa học xã hội 99
30 Từ điển từ và ngữ Hán - Việt (2002), NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội 99
PHỤ LỤC 100
PHỤ LỤC 1 101
PHỤ LỤC 2 103
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhờ có giáo dục, con người mới đã tiếp thu những tinh hoa của nhân loại chobản thân, rồi tiếp tục sáng tạo làm thăng tiến bản thân để trở thành con người tiến bộ
về: thể chất - tri thức - tinh thần Điều 2 của Luật Giáo dục năm 2005 nêu rõ “mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Đại hội XII của Đảng đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục đào tạo theo hướng coi trọng phẩm chất, năng lực của người học” Đây là sự tiếp tục khẳng định quan điểm của Nghị quyết Trung ương 8
khoá XI Mục tiêu này thể hiện sự chuyển biến căn bản về chất lượng, hiệu quả về giáodục đào tạo, hướng đến xây dựng một nền giáo dục hiện đại, nhân văn đáp ứng yêucầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc thời kỳ mở cửa hội nhập quốc tế Giáo dục
là một hoạt động mang tính xã hội cao
Muốn thực hiện được mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh (HS), cần phảicoi trọng cả giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Chỉ riêng nhàtrường, chỉ riêng ngành giáo dục thì không thể làm tốt công tác giáo dục toàn diệnđược Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục tháng 6/1957, Bác Hồ căn
dặn “Phải nhất thiết liên hệ mật thiết với gia đình HS Bởi vì giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng không thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”.
Văn hoá nhà trường là một dạng văn hoá tổ chức, là sự tổng hợp các giá trị nhânvăn, các chuẩn mực, các niềm tin và hành vi ứng xử của các thành viên trong nhàtrường Từ lâu, vấn đề xây dựng nhà trường văn hoá (văn hoá học đường) phải được coi
là trọng tâm, quan trọng nhất Đó là môi trường quan trọng và cần thiết để rèn luyện
Trang 9nhân cách và giáo dục thế hệ trẻ sống có hoài bão, có lý tưởng đẹp Vì vậy môi trườnggiáo dục lành mạnh là điều kiện tiên quyết để đào tạo thế hệ trẻ trở thành những ngườicông dân tốt có tài năng, đạo đức.
Ngày 10/8/2018, Bộ trưởng Bộ GDĐT Phùng Xuân Nhạ đã ký ban hành Chỉ thị
số 2919/CT-BGDDT về nhiệm vụ chủ yếu năm 2018 - 2019 của ngành Giáo dục Căn
cứ tình hình thực tiễn, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ thị toàn ngành Giáo dục
ưu tiên tập trung thực hiện các nhóm nhiệm vụ yếu trong năm học 2018 - 2019 trong
chỉ thị bộ trưởng nêu rõ nhiệm vụ: “Tăng cường giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống,
kỹ năng sống, văn hoá ứng xử trong nhà trường; thực hiện tốt hoạt động chào cờ, hát quốc ca trong các cơ sở giáo dục, chú trọng giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc; xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng chống bạo lực học đường hiệu quả; bố trí HS, sinh viên trực tiếp tham gia hoạt động vệ sinh và ý thức bảo quản nhà vệ sinh, đảm bảo trường lớp sạch, đẹp; củng cố, kiện toàn, nâng cao hiệu quả, đổi mới công tác y tế trường học, bảo đảm chăm sóc sức khoẻ cho học sinh ”
Hiện nay còn một bộ phận HS chưa ứng xử đúng mực với người lớn tuổi, với bạn
bè trong nhà trường và ngoài xã hội Nhiều HS có lối sống chưa lành mạnh, biểu hiện
rõ nhất là ở hành vi nói tục, chửi bậy, không đội mũ bảo hiểm, dàn hàng ngang trênđường gây cản trở giao thông, thiếu sự tôn trọng mọi người trong cộng đồng Vì vậy,giáo dục nếp sống văn minh trong nhà trường và cộng đồng sẽ góp phần ngăn chặnđẩy lùi thói hư tật xấu, không để xảy ra bạo lực trong học đường, khơi dậy niềm tựhào, ý thức trách nhiệm của HS với việc giữ gìn truyền thống văn hoá dân tộc Gópphần quan trọng vào nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức, giáo dục nếp sống vănminh của HS
Nhận thấy tầm quan trọng của việc giáo dục nếp sống văn minh của HS, nhất làcác em học sinh tiểu học (HSTH) là lứa tuổi chưa phát triển hoàn thiện nhân cách nêncác em nhiều khi chưa phân biệt được đúng sai mà làm theo cảm tính, theo số đông vàdẫn đến có những biểu hiện lệch lạc trong ứng xử Những điều đó đã gây ảnh hưởngkhông nhỏ tới sự phát triển toàn diện của trẻ Do vậy, ngành giáo dục huyện Mai Sơn,tỉnh Sơn La đã có nhiều biện pháp nhằm hạn chế những biểu hiện lệch lạc và rèn luyện
Trang 10đạo đức, rèn kỹ năng sống cho HS Trong đó, xây dựng nếp sống văn minh cho HSTH
là một nội dung rất được quan tâm Bởi vì giáo dục nếp sống văn minh cho HS vừa làtrách nhiệm, vừa là cơ hội của mỗi giáo viên (GV) bởi họ đang dạy môn học đặc biệt -môn dạy làm người Khi có nếp sống đẹp, văn minh học trò sẽ có tình cảm sâu sắc vàtâm lý trong sáng để việc học tập và rèn luyện hiệu quả nhất
Một trong những cách thức để xây dựng nếp sống văn minh cho HS thì các nhàtrường cần phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và cộng đồng để thực hiệnnhiệm vụ nêu trên Việc này đòi hỏi sự tham gia, phối hợp của nhiều lực lượng xã hội,
mà trực tiếp là gia đình và cộng đồng dân cư là hết sức quan trọng
Tuy nhiên, lâu nay việc giáo dục phẩm chất nói chung, giáo dục nếp sống vănminh cho HS nói riêng mới chỉ bó hẹp trong phạm vi nhà trường; trong khi giáo dục là
cả một quá trình mang bản chất xã hội sâu sắc, thể hiện nhiều góc độ, nhiều khía cạnh,
có sự tham gia chung của nhiều lực lương xã hội Việc giáo dục nếp sống văn minhcho HS nếu chỉ diễn ra trong phạm vi nhà trường tất yếu sẽ không phát huy sức mạnhtổng hợp, không toàn diện đầy đủ dẫn tới chất lượng không cao Trên địa bàn tỉnh Sơn
La nói chung và huyện Mai Sơn nói riêng, vấn đề giáo dục nếp sống văn minh choHSTH còn khá mới mẻ và hầu như chưa có ai nghiên cứu
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Phối hợp nhà trường
và cộng đồng trong giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểu học huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.” đáp ứng được yêu cầu của lý luận và thực tiễn về giáo dục nếp
sống văn minh cho HSTH
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đề xuất các biện pháp phối hợp nhà trường và cộng đồng tronggiáo dục nếp sống văn minh cho HSTH trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La,nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH góp phần thực hiệnmục tiêu giáo dục toàn diện cho HSTH
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểu học
Trang 113.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục nếp sống văn minhcho HSTH huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và cộng đồng trong giáo dục nếp sống vănminh cho HSTH huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La chưa đồng bộ, đạt hiệu quả chưa cao.Nếu đề xuất được các biện pháp phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần nâng cao hiệu quảtham gia của các lực lượng xã hội trong giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểuhọc huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hoá những vấn đề lí luận về phối hợp giữa nhà trường và cộngđồng trong giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH
5.2 Đánh giá thực trạng phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong giáo dụcnếp sống văn minh cho HSTH huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
5.3 Đề xuất và khảo nghiệm biện pháp phối hợp nhà trường và cộng đồng trong
giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp phối hợp nhà trường và cộng đồngtrong giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
6.2 Về địa bàn nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về các biện pháp phối hợp nhà trường và cộng đồngtrong giáo dục nếp sống văn minh cho HS khối 3, 4, 5 của 03 trường Tiểu học trên địabàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La gồm: Trường Tiểu học Chu Văn Thịnh, Tiểu học HátLót, TH Tô Hiệu thuộc huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La và cộng đồng trên địa bàn của 03trường nói trên của huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
6.3 Khách thể khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát 06 chuyên viên phòng giáo dục, 12 cán CBQL, 99
GV chủ nhiệm, 03 tổng phụ trách Đội, 120 HS, 120 PHHS lớp 3, 4, 5 và 06 cán bộ là
Trang 12chính quyền địa phương, 03 bí thư Đoàn thanh niên, 04 công an thị trấn Hát Lót,huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La của 03 trường TH được khảo sát.
6.4 Về thời gian
Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 5năm 2019
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá lý thuyết từ các tài liệu trongnước và nước ngoài về vấn đề phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục nếpsống văn minh cho HSTH
7.1.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Sử dụng bảng hỏi (Phụ lục 1) nhằm thu thập các thông tin, số liệu về thực trạngphối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục nếp sống văn minh cho HSTHhuyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Tổng kết kinh nghiệm hoạt động của công tác phối hợp nhà trường và cộng đồngtrong giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La qua cácnăm để so sánh và rút ra các bài học kinh nghiệm bổ ích, những ưu điểm cần học hỏi
và phát triển; làm cơ sở để đề xuất các biện pháp phối hợp nhà trường và cộng đồngtrong giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
- Phương pháp chuyên gia:
Trang 13Sử dụng phương pháp chuyên gia dưới các hình thức: tổ chức trong vấn, phiếuhỏi hoặc phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm để xin ý kiến (Bảnghỏi phụ lục 3) về những vấn đề lý luận và thực tiễn thực trạng phối hợp nhà trường vàcộng đồng trong giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
7.1.3 Phương pháp thống kê toán học
Đề tài sử dụng các công thức thống kê toán học để phân tích định lượng và định tínhcác kết quả nghiên cứu của luận văn với sự hỗ trợ của phần mềm tin học
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục vànội dung chính của luận văn được thể hiện ở 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểuhọc
Chương 2: Thực trạng phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục nếpsống văn minh cho HSTH huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Chương 3: Đề xuất biện pháp phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dụcnếp sống văn minh cho HSTH huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN MINH
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Học sinh tiểu học (HSTH) là độ tuổi gắn với giai đoạn phát triển kì diệu nhất,không lặp lại trong cuộc đời con người Việc nghiên cứu về các khía cạnh tâm lý - xãhội của nếp sống văn minh làm cơ sở cho quá trình giáo dục HS, từ lâu nay đã đượccác nhà khoa học trên thế giới rất coi trọng Trong phạm vi cho phép có thể đề cập đếnmột số nghiên cứu sau:
Theo quan điển của J.J.Ruxô (1712-1778): Thiên nhiên tạo ra con người conngười có bản chất tốt đẹp, sống tự do, hạnh phúc Ông khẳng định đối tượng giáo dục
là trẻ em, mục đích giáo dục là hạnh phúc Về phương pháp giáo dục ông chủ trươngtìm cách ngăn cản thói hư tật xấu đột nhập trái tim con người, cần chuẩn bị cho trẻ cókhả năng đấu tranh loại bỏ mọi thói hư tật xấu Theo quan điểm của J.J.Ruxô phải thayđổi phương pháp và biện pháp giáo dục theo lứa tuổi [37,17-18]
Quan điểm E.d.Ward, B.Taylor nghiên cứu về nếp sống văn hóa, văn minh ôngcho rằng nếp sống văn minh dùng để chỉ toàn bộ tập hợp bao gồm cả khoa học, tínngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những lỹ năng thói quen do conngười thu nhập được với tư cách là một thành viên trong xã hội
Trách nhiệm của nhà trường trong việc tổ chức phối hợp với gia đình để giáo dục
HS là vấn đề từ lâu đã được xã hội và các nhà giáo dục rất coi trọng Trong nền giáodục cận đại, J.A.Komenxki (1592 - 1670) là người đầu tiên nêu ra một hệ thống lýluận chặt chẽ về tầm quan trọng của mối quan hệ thống nhất giữa gia đình và nhàtrường đối với kết quả giáo dục trẻ Ông khẳng định lòng ham học của trẻ không thể
thiếu vắng sự kích thích từ bố mẹ và thầy cô: “Các bậc cha mẹ, giáo viên nhà trường, bản thân môn học, phương pháp dạy học phải thống nhất làm thức tỉnh và duy trì khát vọng học tập trong HS”… Nhiều nhà giáo dục lỗi lạc của Liên Xô đã nhấn mạnh đến
tầm quan trọng của sự phối hợp, hợp tác giữa nhà trường và gia đình trong việc thực
Trang 15hiện mục đích giáo dục trong những người công dân chân chính trong tương lai đối vớinhà nước xã hội chủ nghĩa V.A.Xukhomlinxki (1918 - 1970) đã khẳng định nếu giađình và nhà trường không có sự hợp tác để thống nhất mục đích, nội dung giáo dục thì
sẽ dẫn đến tình trạng “gia đình một đường, nhà trường một nẻo” Vào đầu thế kỷ 21
này, một số nước phương Tây đã chú ý đề cao hơn vai trò của cha mẹ trong việc kếthợp với nhà trường để giáo dục trẻ Ông Alan Hohnson, bộ trưởng Bộ Giáo dục Anh,trong bài phát biểu đã kêu gọi cha mẹ không nên phó thác việc chăm sóc, giáo dục con
em mình cho nhà trường Ngược lại, ông khẳng định vai trò của các bậc phụ huynh rất
quan trọng, thậm chí sẽ mang lại một “sự khác biệt lớn” so với những kết quả mà trẻ
đạt được từ trường học
Học thuyết Mac-Lênin đã đề cập đến vấn đề chung nhất của giáo dục gia đình.Trong mỗi gia đình thì giáo dục con cái là một chức năng vô cùng quan trọng muốngiáo dục thế hệ trẻ em phải củng cố mối quan hệ gia đình và tổ chức tốt các mối quan
hệ trong gia đình [34,180-223]
Tác phẩm "Gia đình và nhà trường" của K.N.Crupxcaia (1869-1973) đã làm rõ
tầm quan trọng của mối quan hệ trong giáo dục gia đình và giáo dục cộng đồng Theoquan điểm của bà trong gia đình phải giáo dục con em có thói quen lao động hàngngày Nếu gia đình hòa thuận sẽ giáo dục và bồi dưỡng cho con cái những phẩm chất,hành vi tốt đẹp và phù hợp với hoàn cảnh Chức năng giáo dục gia đình liên quan mật
thiết tới giáo dục trong nhà trường và giáo dục ngoài xã hội "Nhà trường có ảnh hưởng tích cực đến giáo dục trong gia đình và giáo dục ngoài xã hội." [34,230-231]
Giáo dục nếp sống văn minh là một mục tiêu quan trọng trong hoạt động giaodục ở mỗi quốc gia Bởi vậy mọi quốc gia trên thế giới đều rất quan tâm đến giáo dụcnếp sống văn minh
1.1.2 Ở Việt Nam
Ngay từ khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mới thành công Hồ Chủ Tịch đã
viết tác phẩm “Đời sống mới” để hướng dẫn sửa đổi cách ăn cách mặc, cách ở, đi lại,
cách làm việc trong cán bộ và nhân dân nhằm xây dựng cuộc sống mới, trong đó chỉrõ:
Trang 16"Đời sống mới không phải cái gì cũng bỏ hết Không phải cái gì cũng làm mới.Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ Thí dụ: Ta phải bỏ hết tính lười biếng và tham lam.
Cái gì cũ mà không xấu, nhưng thiếu phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý Thídụ: Đơm cúng quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi…
Cái gì cũ thì phải phát triển thêm Thí dụ: ta phải tương thân, tương ái, tận trungvới nước, tận hiếu với dân khi trước Cái gì mới mà hay, thì phải làm Thí dụ: ăn ở chohợp vệ sinh, làm việc cho có ngăn nắp
Làm thế nào cho đời sống của nhân dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thầnđược vui mạnh hơn Đó là mục đích, đời sống mới”
Ngày 15 tháng 1 năm 1975 Ban bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số214/CT-TW về việc thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang, ngày giờ, ngàyhội Để hướng dẫn thực hiện Chỉ thị, Phủ Thủ tướng đã ban hành Thể lệ về tổ chứcviệc cưới, việc tang, ngày giỗ, ngày hội kèm theo Quyết định số 56-CP ngày 18/3/1975của Hội đồng Chính phủ
Năm 1980, Ban Chỉ đạo Nếp sống mới Trung ương được thành lập để chỉ đạo thựchiện phong trào vận động xây dựng Nếp sống mới Gia đình văn hoá mới
Trong lịch sử giáo dục ở nước ta, từ lâu giữa nhà trường và gia đình đã có sự hợp
tác chặt chữ trong việc giáo dục trẻ, câu nói “Muốn sang thì bắc cầu Kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy Thầy” đã khái quát ý nghĩa lớn lao về mối quan hệ này Chủ tich
Hồ Chí Minh là một nhà giáo dục lớn của nước ta, Bác đã nhấn mạnh tầm quan trọng
về trách nhiệm của nhà trường phải tổ chức phối hợp với gia đình…“Phải mật thiết liên hệ với gia đình học trò Bởi vì giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” [21]
Tại khoản 2 Điều 3 của Luật GD 2005 ghi: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [26].
Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu, tổng hợp quan điểm lý luận và thựctiễn về vai trò, nhiệm vụ của gia đình và sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và
xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ như “Giáo dục gia đình” (Giáo trình đào tạo giáo
Trang 17viên THCS, NXB Giáo Dục), “Xã hội hoá công tác giáo dục” (Phạm Minh Hạc tổng chủ biên) [5], “Giáo dục học - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (Hà Thế Ngữ)[7],
“Văn hoá gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em” (Võ Thị Cúc)
[4]
Trong một số công trình nghiên cứu của mình giáo sư Nguyễn Văn Lê đã chỉ rõgiao tiếp trong cộng đồng với sự chỉ dẫn của hành vi, cử chỉ cụ thể từ việc: chào, bắttay, cảm ơn, xin lỗi, xin phép, xin mời, trong ham gia giao thông, ở rạp hát, trong bệnhviện, nơi công cộng đến cả việc ăn mặc, đúng giờ, giữ lời hứa, xử lý các tình huốngkhó xử trong trường học, trong gia đình, trong cộng đồng Có thể xem đây là nhữngnếp sống văn hóa trong đời sống xã hội của mỗi cá nhân [15, 102-119]
Trong tác phẩm "Con người văn minh sống như thế nào?" của giáo sư Nguyễn
Lân đã lý giải và chỉ ra các việc làm cụ thể của nếp sống con người văn minh từ trongđời sống của bản thân đến cuộc sống trong gia đình và xã hội Đó là con người vănminh rèn luyện về thể chất, tình thần và những tập quán tốt đẹp Trong gia đình vàngoài cộng đồng con người văn minh cần phải hình thành nên nếp sống văn minhtrong mỗi gia đình, văn minh trong cách cư sử giữa người với người, thực hiện nếpsống văn minh trên đường phố, trong sinh hoạt nơi công cộng và trong giao tiếp hàngngày [16, 102-119]
PGS Nguyễn Đức Minh với tác phẩm "Khoa học giáo dục con em trong gia đình" qua những việc cụ thể: Trong mỗi gia đình ông bà, cha mẹ giúp con học tập tốt,
giáo dục con tự giác lao động, dạy con tinh thần làm chủ, vui chơi có văn hóa, hìnhthành và giáo dục con nếp sống văn minh Đặc biệt tác giả còn chú trọng làm nổi bậtgia đình với nhiệm vụ giáo dục hành vi văn hóa cho con Nội dung những quy tắc hành
vi văn hóa cần giáo dục con trong gia đình: Có văn hóa trong ngôn ngữ, hình thức,cách ăn mặc, cách cư sử, ăn uống, giờ giấc, khi tiếp khách, ở nơi công cộng." [22, 52-106]
Theo Tạp chí Giáo dục Thủ đô số tháng 4/2016, Tác giả: Long Hà chỉ rõ sởGD&ĐT Hà Nội đã tổ chức nhiều quốc hội thảo nhằm đánh giá từ đó đề xuất các giải
pháp nâng cao chất lượng giảng dạy bộ tài liệu “Giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho HS Hà Nội” Xác định giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho HSTH
Trang 18chỉ đạt hiệu quả khi HS hứng thú và tích cực chủ động học tập, các tình huống phảigần gũi, gắn bó với cuộc sống hàng ngày của các em, vì vậy trường TH đã phát huytính tích cực của HS trong việc thực hành nếp sống thanh lịch, văn minh Các thầy côgiáo đã tổ chức các hoạt động giáo dục một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện củanhà trường, của lớp thông qua các hình thức học tập như: Tổ chức cho HS làm việctheo nhóm, làm việc cá nhân, nghiên cứu tài liệu, tổ chức cho HS được phát biểu ýkiến, bày tỏ quan điểm của mình, xử lý tình huống bằng cách đóng vai, tổ chức các tròchơi học tập, giáo viên lại cho HS suy nghĩ và bày tỏ ý kiến cá nhân Được chủ độngbày tỏ ý kiến của mình, tham khảo ý kiến của các bạn, nếp sống thanh lịch văn minh
dễ dàng hình thành trong suy nghĩ và thói quen của các em [6]
Tác giả Bùi Thị Huyền - Năm 2014 “Giáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh thông qua môn đạo đức cho HS lớp 3” Đề tài chỉ nêu chung chung các biện pháp để
giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh thông qua môn đạo đức cho HS lớp 3 [14]
Nhà văn Từ Sơn - Năm 1996 với luận văn: “Nghiên cứu xây dựng chương trình giáo dục nếp sống văn minh thí điểm trên truyền hình” [28] Luận văn cũng đã đề xuất
được một số biện pháp thuộc lĩnh vực truyền thông về xây dựng chương trình giáo dụcnếp sống văn minh thí điểm trên truyền hình, luận văn cũng chỉ ra được một số biệnpháp nếp sống văn minh khá phù hợp và với thời điểm tác giả nghiên cứu
Tác giả Nguyễn Xuân Thanh (2016), với luận văn "Các biện pháp đổi mới giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho HSTH thành phố Hà Nội" [36] Tác giả cũng đã
đề xuất được một số biện pháp nhằm đổi mới giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minhcho HSTH thành phố Hà Nội, trong luận văn tác giả cũng chỉ ra được một số biệnpháp mới về giáo dục nếp sống văn minh phù hợp với HSTH tại thành phố Hà Nội
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: “Giáo dục trong nhà trường chỉ
là một phần, còn cần phải có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình, để giúp việc giáo dục nhà trường tốt hơn Giáo dục nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” (Bài nói chuyện
của Bác Hồ với cán bộ Đảng trong ngành Giáo dục, tháng 6/1957); [19]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nếu nhà trường dạy tốt, mà gia đình ngược lại, sẽ có ảnh hưởng không tốt đến trẻ và kết quả cũng không tốt Cho nên
Trang 19muốn giáo dục các cháu thành người tốt, nhà trường, gia đình, đoàn thể xã hội đều phải kết hợp chặt chẽ với nhau” (Nói chuyện về nhiệm vụ giáo dục thiếu niên nhi
đồng, ngày 12.2.1959 NXB Giáo dục Hà Nội 1960) [20, 58]
Trong giáo trình Giáo dục học tập 2, chương XIV “Môi trường Giáo dục học”
của tác giả Trần Thị Tuyết Oanh đã khẳng định: Việc liên kết phối hợp giáo dục giađình, nhà trường và các tổ chức xã hội nhằm thực hiện mục đích phát triển nhân cáchcon người được coi là một nguyên tắc quan trọng Việc liên kết, phối hợp chặt chẽ giữa
ba môi trường giáo dục nhằm đảm bảo sự thống nhất về nhận thức cũng như cách thứchành động để hiện thực hoá mục tiêu quá trình phát triển nhân cách, tránh sự tách rời,mâu thuẫn, vô hiệu hoá lẫn nhau, gây nên tâm trạng nghi ngờ, hoang mang, dao độngđối với cá nhân trong việc lựa chọn, tiếp thu các giá trị tốt đẹp Gia đình, nhà trường
và các tổ chức xã hội liên kết, phối hợp thống nhất mục đích, mục tiêu giáo dục thểhiện ở những nội dung cơ bản nhằm phát triển toàn diện các mặt đức, trí, thể, mĩ, laođộng Mỗi môi trường đều có một ưu thế đối với việc giáo dục định hướng nghềnghiệp, rèn luyện kĩ năng, kỹ xảo, thói quen lao động chân tay, quan hệ ứng xử đối với
HS Nhà trường có ưu thế trong việc giáo dục toàn diện, đặc biệt là tri thức văn hoá, cácchuẩn mực đạo đức, ý thức công dân bằng các phương pháp, phương tiện hiện đạinhằm thúc đẩy mạnh quá trình phát triển nhân cách, các đoàn thể xã hội bằng các hìnhthức tổ chức hoạt động xã hội ngoài giờ lên lớp giúp các em mở rộng kiến thức, gắn trithức với thực tiễn, chủ trương, chính sách chung của Đảng, Nhà nước, của địa phươngcác lĩnh vực trong đời sống xã hội [23, 23-41]
PGS, TS Hà Nhật Thăng và TS Lê Tiến Hùng trong nghiên cứu về "Tổ chức hoạt động giáo dục" đã khẳng định được vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của gia đình,
nhà trường và cộng đồng trong giáo dục HS Đặc biệt là hình thức phối hợp giữa nhàtrường, cộng đồng và gia đình HS, biện pháp liên kết các lực lượng xã hội trong giáodục trẻ Đây là một trong những định hướng quan trọng cho việc xác định nội dung,biện pháp phối hợp giữa nhà trường và cộng đồng trong giáo dục HS." [35, 23-41]Việc phối hợp các môi trường giáo dục gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hộidiễn ra dưới nhiều hình thức Vấn đề cơ bản, quan trọng hàng đầu là các lực lượnggiáo dục đó phải phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động tìm ra các hình thức, giải
Trang 20pháp, tạo mối liên kết, phối hợp vì mục đích giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ thành nhữngcông dân hữu ích của đất nước Do đó, không thể coi đây là trách nhiệm riêng của lựclượng nào Tuy nhiên gia đình và nhà trường có trọng trách lớn hơn, bởi vì trẻ em làcon cái của gia đình, là HS của nhà trường trước khi trở thành công dân của xã hội.Trong lý luận cũng như trong thực tiễn giáo dục, sự thống nhất tác động giáo dục
từ nhà trường với các lực lượng xã hội được xem là vấn đề có tính nguyên tắc đảm bảocho mọi hoạt động giáo dục có điều kiện đạt hiệu quả tốt Trong việc tổ chức kết hợpcác lực lượng giáo dục, nhà trường giữ vai trò trung tâm, tổ chức phối hợp dẫn dắt nộidung, phương pháp giáo dục của gia đình và các lực lượng trong xã hội Bởi lẽ nhàtrường là một tổ chức chuyên biệt đối với công tác giáo dục, được sự lãnh đạo trực tiếpcủa Đảng và nhà nước, nắm vững quan điểm, đường lối, mục tiêu bồi dưỡng đào tạocon người xã hội chủ nghĩa Mặt khác, nhà trường luôn luôn có đội ngũ thầy cô giáo
có trình độ, năng lực, nhiệt tình, tâm huyết và yêu nghề mến trẻ, đã được đào tạo có hệthống Giáo dục nhà trường trong mọi thời đại có chức năng cơ bản là truyền thụ trithức văn hoá đã được rút kết từ các tinh hoa của nhân loại, mở mang trí tuệ cho HS.Nhờ nắm vững những tri thức văn hoá cơ bản này mà nhân cách của các em được hìnhthành và phát triển một cách vững vàng
Phối hợp nhà trường với cộng đồng để giáo dục HS là một trong những nội dung
xã hội hoá giáo dục Vấn đề xã hội hoá giáo dục nói chung đã được các nhà khoa họcgiáo dục và phối hợp giáo dục quan tâm nghiên cứu ở nhiều công trình khác nhau, cóthể kể đến các công trình nghiên cứu: Xã hội hoá giáo dục - một vấn đề lí luận và thựctiễn của Nguyễn Sinh Huy hay xã hội hoá giáo dục của Võ Quang Tuấn chủ biên Những nghiên cứu trên đã nghiên cứu vấn đề xã hội hoá trên bình diện lý luận và thựctiễn, giới thiệu một số mô hình xã hội hoá đã phát huy được các nguồn lực của cộngđồng trong hoạt động giáo dục HS và xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường, mốiquan hệ gắn bó, mật thiết giữa nhà trường, gia đình và xã hội Tuy nhiên, những nộidung cụ thể như mỗi lực lượng trong cộng đồng có vai trò, nhiệm vụ chức năng nhưthế nào trong giáo dục HS; làm thế nào để nhà trường và cộng đồng phối hợp một cáchhiệu quả trong giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH lại chưa được quan tâm nghiêncứu
Trang 21Tóm lại, qua tổng quan vấn đề nghiên cứu cho thấy: nếp sống văn minh, giáo dục
nếp sống văn minh cho HS đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâmnghiên cứu Kết quả nghiên cứu của các tác giả đã đạt được một số thành tựu nhất định
về lý luận và thực tiễn triển khai, song các công trình đó chủ yếu hướng đến nghiêncứu các giá trị đạo đức, nếp sống văn hóa một cách chung nhất, không tách biệt cũngnhư xác định rõ nếp sống văn minh hay sự ảnh hưởng của chúng với nhau, vấn đề nếpsống văn minh, giáo dục nếp sống văn minhcũng như công tác phối hợp giữa nhàtrường với cộng đồng giáo dục nếp sống văn minh cho HS còn ít và chưa hệ thống,còn nhiều khoảng trống cả về mặt lí luận và thực tiễn triển khai Đặc biệt, chưa cócông trình nghiên cứu nào về phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục nếpsống văn minh cho HSTH huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Vì vậy, sự lựa chọn đề tàinghiên cứu của luận văn đã xác định được điểm mới, đúng hướng và có ý nghĩa thựctiễn cao Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ phục vụ trực tiếp cho công tác giáo dụcnếp sống văn minh cho HS trong các trường tiểu học tỉnh Sơn La hiện nay
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Phối hợp giáo dục và biện pháp phối hợp giáo dục
Trang 22rời mâu thuẫn, vô hiệu hóa lẫn nhau gây cho các em tâm trạng nghi ngờ, hoang mang,dao động trong việc lựa chọn, định hướng các giá trị tốt đẹp của nhân cách Sự phốihợp nhà trường, gia đình và xã hội có thể diễn ra dưới nhiều hình thức Vấn đề cơ bảnhàng đầu là tất cả các lực lượng giáo dục phải phát huy tinh thần trách nhiệm, chủđộng tạo ra những mối quan hệ phối hợp vì mục tiêu giáo dục đào tạo thế hệ trẻ thànhnhững người công dân hữu ích cho đất nước.
1.2.1.2 Biện pháp phối hợp giáo dục
Trong quá trình phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục nếp sống vănminh cho HSTH được thực hiện thông qua nhiều biện pháp phối hợp giáo dục khácnhau, chúng ta có thể đề cập đến một số biện pháp như:
- Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho các lực lượng cộng đồng về vai trò củanhà trường và cộng đồng trong quá trình giáo dục và giáo dục nếp sống văn minh chohọc sinh
- Thu hút sự tham gia của Hội cha mẹ, các lực lượng xã hội trong việc tổ chứcthực hiện các hoạt động dạy học và giáo dục của nhà trường
- Xây dựng cơ chế phối hợp nhà trường và cộng đồng
- Bồi dưỡng kĩ năng tổ chức các hoạt động giá dục nếp sống văn minh, quản lícho cán bộ Hội cha mẹ HS, cho tổ trưởng tổ dân phố, trưởng các ban ngành đoàn thểđịa phương
- Bảo đảm tính dân chủ trong quá trình phối hợp nhà trường và cộng đồng thamgia và các hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH
Các biện pháp phát huy vai trò của nhà trường và cộng đồng trong quá trình giáodục nếp sống văn minh cho HSTH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mỗi biện pháp cótác dụng chủ đạo về một mặt nào đó trong hoạt phối hợp nhà trường và cộng đồng tronggiáo dục nếp sống văn minh cho HSTH, tuy nhiên, tùy thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể,
sẽ có một hay một vài biện pháp được ưu tiên sử dụng
1.2.2 Nếp sống văn minh và giáo dục nếp sống văn minh
1.2.2.1 Nếp sống văn minh
Thuật ngữ “nếp sống” được các nhà khoa học xem xét dưới nhiều góc độ khác
nhau và được khai thác ở các mức độ khác nhau:
Trang 23Theo Từ điển Tiếng Việt: “nếp sống là thói quen sinh hoạt Nếp sống mới Phong trào vận động sinh hoạt theo lối sống xã hội chủ nghĩa.” [24, 1678].
Hoặc Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam [12] “Nếp sống là lối sống hay phong cách sống, nếp sống là những nét điển hình, được lặp đi lặp lại và định hình thành phong cách, thói quen trong đời sống cá nhân, nhóm."
Giáo dục lối sống hay nếp sống thường để chỉ cách tổ chức cuộc sống sinh hoạtbao gồm cả hoạt động vui chơi giải trí, giáo dục con cái, tổ chức các lễ hội tương đối
ổn định của các thành viên trong gia đình Theo TS Ngô Công Hoàn” [17; 92-93],khái niệm lối sống thường nói một giai cấp, một dân tộc, mọt quốc gia còn nếp sốngthường dùng trong phạm vi hẹp hơn lối sống
Như vậy, nếp sống bao gồm những cách thức, hành động, suy nghĩ, những quy ước
lặp đi, lặp lại hằng ngày thành những thói quen như: Tập quán sản xuất, sinh hoạt,phong tục tập quán Nói một cách khác, nếp sống là cách thức sống, sinh hoạt, cáchứng xử của con người, của cộng đồng được lặp đi lặp lại nhiều lần, được chọn lọc có sựlắng đọng và tồn tại trong tiềm thức của nhân dân
Bách khoa toàn thử mở Wikipeadia “Văn minh là sự sáng tạo, minh là tốt đẹp, là
sự kết hợp đầy đủ các yếu tố tiên tiến tại thời điểm xét xét đến để tạo nên, duy trì, vận hành và tiến hoá xã hội loài người Các yếu tố của văn minh có thể hiểu gọn lại là di sản tích luỹ tri thức, tinh thần và vật chất của con người kể từ khi loài người hình thành cho đến thời điểm xét đến” [3]
Theo “Từ điển bách khoa Văn hóa học”, văn minh được hiểu như sau: “Văn minh
là hệ thống những phương tiện do con người tạo nên nhằm đảm bảo tính tự chủ thực tiễn và tính chủ động thực tế trong việc tạo đầy đủ tiện nghi cho cuộc sống Văn minh có hai mặt: khoa học - kỹ thuật và xã hội - pháp chế Tiêu chí phát triển của văn minh là trình độ chế ngự của con người đối với các sức mạnh thiên nhiên và sự phát triển lĩnh vực xã hội - pháp chế ( kể cả nhà nước pháp quyền), bảo đảm việc thực hiện quyền sống
và tự do của con người” [32]
Tài liệu chuyên đề giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho HS tiểu học thành
phố Hà Nội đã nêu rõ văn minh là một khái niệm khá rộng lớn nói về trình độ phát
triển đạt đến một mức nhất định của xã hội loài người, có nền văn hóa vật chất và tinh
Trang 24thần với những đặc trưng riêng Ví dụ, văn minh Ai Cập; văn minh phương Đông…Hiểu theo nghĩa hẹp thì văn minh là chỉ con người, sự vật, nếp sống, nếp sinh hoạt đãđược định hình với những đặc trưng trong sáng, đẹp đẽ của nền văn hóa phát triển cao.
Ví dụ: một nếp sống văn minh, một con người văn minh [27]
Xét về hai khái niệm "văn hóa" và "Văn minh" trong nhiều trường hợp được sửdụng với nhiều nghĩa giống nhau Văn minh xét dưới góc độ nghĩa của từ " Văn" - vẻđẹp, "Minh" - vẻ sáng; Văn minh dùng để chỉ trình độ phát triển văn hóa về phươngdiện vật chất và tinh thần đặc trưng cho một giai đoạn phát triển trong mọi khu vực vàmọi thời đại [16;07]
Với cách hiểu về nếp sống văn minh như trên, chúng tôi đưa ra quan niệm về Nếp sống văn minh là: nếp sống có văn hóa tích cực, tiến bộ phù hợp với các giá trị
sống của xã hội Nếp sống văn minh có những biểu hiện vô cùng phong phú và có giátrị văn hóa cao Người có nếp sống văn minh là người có hành vi, thói quen trong sinhhoạt (ăn, mặc, ở, nói năng, đi lại…), giao tiếp, ứng xử lịch sự, nhã nhặn ở mọi hoàncảnh và mọi nơi, mọi lúc Người văn minh là người biết kế thừa có chọn lọc những nétđẹp của truyền thống, biết tiếp thu những cái hay, cái tiến bộ và thể hiện trong đời sốnghàng ngày
1.2.2.2 Giáo dục nếp sống văn minh
Dù xét trên các góc độ, phạm vi khác nhau, chúng ta có thể nhận thấy: Giáo dục
là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích và
kế hoạch, thông qua các hoạt động và quan hệ giữa người giáo dục và người được giáodục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội loài người Chính vìvậy giáo dục luôn là một quá trình có mục đích, có kế hoạch, là quá trình tác động qualại giữa nhà giáo dục và người được giáo dục Thông qua quá trình tương tác giữangười giáo dục và người được giáo dục để hình thành nhân cách toàn vẹn (hình thành
và phát triển các mặt đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, thể chất, lao động) cho người được giáodục
Tóm lại, giáo dục nếp sống văn minh là một quá trình hình thành cho học sinh ý
thức, những thái độ và hành vi, thói quen đúng đắn cần có trong sinh hoạt, giao tiếp,ứng xử trong các môi trường: làng xóm bạn bè, tập thể và bản thân, gia đình, nhà
Trang 25trường, xã hội thể hiện trong cuộc sống hàng ngày đối với gia đình Qua quá trình giáodục nếp sống văn minh cho học sinh, các em được học cách cư xử một cách có tráchnhiệm và chia sẻ với bạn bè cùng trang lứa, với thầy cô ở trường, với anh chị em tronggia đình, với người khác nói chung HS được học cách nhận ra giá trị của gia đình,thầy cô, bạn bè trong xã hội nhỏ bé mà em đang sống và học cả cách cư xử với chínhbản thân mình biết tự phục vụ, học cách bảo vệ môi trường, trân trọng những gì em có.Không chỉ vậy, HS còn được giáo dục phải trân trọng các giá trị văn hóa truyền thống
và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Giáo dục nếp sống văn minh chú trọng giáo dụcthói quen và hành vi cư xử chuẩn mực trong cuộc sống hằng ngày cho học sinh
1.3 Đặc điểm học sinh tiểu học
1.3.1 Đặc điểm nhận thức
HSTH là trẻ em từ 6 đến 11 tuổi, là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trongsáng Ở mỗi trẻ em đều tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện vàhoạt động xã hội để đạt một trình độ nhất định về lao động nghề nghiệp, về quan hệgiao lưu và chăm lo cuộc sống cá nhân, gia đình
Trẻ em ở lứa tuổi TH là thực thể đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý,tâm lý, xã hội các em đang từng bước gia nhập vào xã hội thế giới của mọi mối quan
hệ Do đó, HSTH chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực của một công dântrong xã hội, mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của gia đình, nhàtrường và xã hội HSTH dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tươnglai Nhưng cũng thiếu sự tập trung cao đổi, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ địnhchưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét Trẻ nhớ rấtnhanh và quên cũng nhanh
Đối với trẻ em ở lứa tuổi tiểu học thì tri giác của HSTH phản ánh những thuộctính trực quan, cụ thể của sự vật, hiện tượng và xảy ra khi chúng trực tiếp tác động lêngiác quan Tri giác giúp cho trẻ định hướng nhanh chóng và chính xác hơn trong thếgiới Tri giác còn giúp cho trẻ điều chỉnh hoạt động một cách hợp lý Trong sự pháttriển tri giác của HS, GVTH có vai trò rất lớn trong việc chỉ dạy cách nhìn, hình thành
kỹ năng nhìn cho HS, hướng dẫn các em biết xem xét, biết lắng nghe Bên cạnh sựphát triển của tri giác, chú ý có chủ định của HSTH còn yếu, khả năng điều chỉnh chú
Trang 26ý có ý chí chưa mạnh Vì vậy, việc sử dụng đồ dùng dạy học là phương tiện quan trọng
để tổ chức sự chú ý cho HS Nhu cầu hứng thú có thể kích thích và duy trì chú ý khôngchủ động cho nên giáo viên cần tìm cách làm cho giờ học hấp dẫn để lôi cuốn sự chú ýcủa HS Trí nhớ có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống và hoạt động của conngười, nhờ có trí nhớ mà con người tích luỹ vốn kinh nghiệm đó vận dụng vào cuộcsống Đối với HSTH có trí nhớ trực quan - hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trínhớ từ ngữ - logic Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, dựa vào nhữngđặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể Trong sự phát triển trong duycủa HSTH, tính trực quan cụ thể vẫn còn thể hiện ở các lớp đầu cấp và sau đó chuyểndần sang tính khái quát ở các lớp cuối cấp Trong quá trình dạy học và giáo dục, giáoviên cần nắm chắc đặc điểm này Vì vậy, trong dạy học giáo viên cần đảm bảo tínhtrực quan thể hiện qua người thực, việc thực, qua dạy học, hợp tác hành động để pháttriển tư duy cho HS Giáo viên cần hướng dẫn HS phát triển khả năng phân tích, tổnghợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, khả năng phán đoán và suy luận qua hoạt động vớithầy, với bạn Ở độ tuổi này các em có sự thay đổi nhiều về thể chất, sự thay đổi về thểchất đã làm cho các em có những đặc điểm nhân cách khác nhau với các em ở lứa tuổitrước Lứa tuổi này là lứa tuổi có nghị lực dồi dào, có tính tích cực cao
Theo tâm lý học, tư duy của trẻ tiểu học mang tính đột biến Sở dĩ có nhận địnhnhư vậy là bởi trẻ trong giai đoạn mẫu giáo và đầu tiểu học tư duy chủ yếu diễn ratrong trường hành động: tức những hành động trên các đồ vật và hành động tri giác(phối hợp hoạt động của các giác quan) Thực chất của loại tư duy này là trẻ tiến hànhcác hoạt động để phân tích, so sánh, đối chiếu các sự vật, các hình ảnh về sự vật Vềbản chất, trẻ chưa có các thao tác tư duy - với trong cách là các thao tác trí óc bêntrong
Trong giai đoạn tiếp theo, thường ở đa số HS lớp 1 và lớp 3, trẻ đã chuyển đượccác hành động phân tích, khái quát, so sánh từ bên ngoài thành các thao tác trí óc bêntrong, mặc dù tiến hành các thao tác này vẫn phải dựa vào các hành động với đốitượng thực, chưa thoát ly khỏi chúng Đó là các thao tác cụ thể Biểu hiện rõ nhất củabước phát triển này tư duy của nhi đồng là các em đã có khả năng đảo ngược các hìnhảnh tri giác, khả năng bảo tồn sự vật khi có sự thay đổi các hình ảnh tri giác về chúng
Trang 271.3.2 Đặc điểm hình thành hành vi, thói quen
Thói quen là những hành vi đã được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần Vậytrong quá trình hình thành hành vi thói quen cho HSTH cần ở nhà giáo dục sự khéoléo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quan sinhđộng, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm cho các em thông qua cáchoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai, đóng các tình huống cụ thể, các hoạt động tậpthể ở trường lớp, khu dân cư
Trong giai đoạn TH việc hình thành nhân cách, hành vi, thói quen không thể diễn
ra một sớm một chiều HSTH còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt
vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triểncủa mình Dựa vào đặc điểm tâm lý đó các nhà giáo dục cần hình thành cho HS nhữnghành vi, thói quen tốt như: Dạy HSTH kỹ năng tự phục vụ; Tập luyện dáng đi, tư thếngồi; Cách bày tỏ ý kiến; Có trách nhiệm với đồ đạc của cá nhân và người khác việcgiáo dục đó phải được lặp đi lặp lại nhiều lần
Tóm lại, HSTH là lứa tuổi hình thành nhân cách, lứa tuổi rất thích hoạt động
nhưng nhận thức và khả năng còn hạn chế Đây là yếu tố chi phối việc giáo dục nếpsống văn minh cho HSTH Xét cho cùng, kết quả giáo dục nói chung và giáo dục nếpsống văn minhnói riêng phụ thuộc rất nhiều vào việc tiếp nhận của đối tượng giáo dục
Dù chủ thể giáo dục có tích cực đến đâu mà đối tượng giáo dục không tiếp nhận thìquá trình giáo dục nếp sống văn minh cho HS cũng sẽ không có hiệu quả
1.4 Lý luận về giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểu học
1.4.1 Mục tiêu giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểu học
Giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH được thể hiện ở mục tiêu chung và cácmục tiêu cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Giáo dục nếp sống văn minhlà giáo dục một khía cạnh của lối
sống văn hóa: giúp HS có khả năng thể hiện các giá trị đạo đức, lối sống bằng nhữnghành động, hành vi, trong giao tiếp, ứng xử giữa người với người, giữa con người vớithiên nhiên, môi trường thể hiện được nếp sống văn minh trong cuộc sống
- Mục tiêu cụ thể: Được thể hiện ở ba mặt: nhận thức, thái độ, hành vi.
Trang 28+ Về nhận thức: Giáo dục nếp sống văn minhgiúp HS hiểu được sâu sắc bản chất
của giá trị sống, nếp sống văn minh, vai trò, giá trị của nếp sống văn minh đối với bảnthân, gia đình, xã hội và đặc biệt là trong hoạt động học tập, rèn luyện trong giao tiếp,ứng xử giữa người với người, giữa con người với thiên nhiên để đáp ứng với yêu cầungày càng cao của xã hội
+ Về thái độ: Tích cực thể hiện nếp sống văn minh trong cuộc sống và trong học
tập, rèn luyện
+ Về hành vi: Giáo dục nếp sống văn minh giúp HS có cơ hội được trải nghiệm
và thể hiện các giá trị đạo đức, lối sống, nếp văn minh đối với bản thân, đối với ngườikhác trong cuộc sống và học tập đặc biệt là trong mối quan hệ với thầy cô, bạn bè, chỉdẫn cách thức để HS có khả năng thể hiện nếp sống văn minh, vượt qua những rào cảnkhi thể hiện các hành động, hành vi trong giao tiếp, ứng xử giữa người với người, giữacon người với thiên nhiên, môi trường sống thể hiện được nếp sống có văn minh
1.4.2 Nội dung giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểu học
Ở cấp tiểu học nội dung giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH là giáo dục hành
vi cá nhân cụ thể về ăn, mặc, nghe, nói, cử chỉ, vui chơi cơ bản, hướng dẫn về giao tiếp
và ứng xử văn minh Các nội dung đề cập ở mức sơ đẳng nhất, gần gũi và dễ vận dụngtrong đời sống hàng ngày gồm các nội dung giáo dục như:
- Giáo dục HSTH nói lời hay ý đẹp: giáo dục và giúp HS vận dụng được nhữngbài học thực tế của cuộc sống, từ những điều tưởng chừng rất nhỏ, biết nói “lời chào -cảm ơn - xin lỗi” với những người xung quanh Thân thiện với bạn bè, bình tĩnh xử lýcác tình huống phát sinh Giúp HS tích cực trong các hành vi ứng xử giao tiếp, giúp
HS từng bước hoàn thiện nhân cách và lối sống, góp phần phát huy được nếp sống vănminh
- Giáo dục HSTH biết trân trọng bản thân như: biết yêu quý giá trị của bản thân,biết tự chăm sóc bản thân, tự trọng, tự tin, trách nhiệm với lời nói và công việc đượcgiao, có những suy nghĩ và hành vi tích cực, hình thành lối sống lành mạnh, tích cực,phát triển bản thân trên cơ sở lòng tự trọng, tự tin và biết rút kinh nghiệm, sửa lỗi saumỗi lần phạm lỗi Tự giác thực hiện các quy định, nội quy học tập của trường, của lớp
Trang 29- Giáo dục HSTH biết cách lựa chọn trang phục phù hợp với lứa tuổi và môitrường văn hoá: giúp HS lựa chọn trang phục phù hợp khi ra đường, khi thể thao vàgiúp các em tự hào khi khoác lên bộ đồng phục của trường mỗi khi tới lớp
- Giáo dục HSTH giữ gìn vệ sinh chung: ý thức hơn trong việc giữ gìn, bảo vệcảnh quan lớp học, trường học, môi trường sống của mình, bỏ rác đúng nơi quy định,thực hiện tốt vệ sinh nơi công cộng, không xả rác bừa bãi, không vẽ bậy lên tường, bảo
vệ thiên nhiên, bảo tồn di sản văn hoá làm cho môi trường sống của chúng ta sáng xanh - sạch - đẹp Trong lớp học, HS biết tự sắp xếp bàn học, ngăn bàn, hộc tủ chongăn nắp
- Giáo dục ý thức trách nhiệm đối với gia đình, cộng đồng như: Giữ gìn truyềnthống tốt đẹp của gia đình, nỗ lực bản thân để đem lại niềm vinh hạnh cho gia đình.Biết quan tâm đến mọi người xung quanh và môi trường sống, tích cực tham gia cáchoạt động vì cộng đồng, tuân thủ luật pháp, chấp hành tốt an toàn giao thông, tham giacác hoạt động công ích, xã hội, hoạt động từ thiện, nhân đạo, hoạt động lao động, hoạtđộng tập thể, cùng với gia đình thực hiện các quy định của công dân ở nơi cư trú Chấphành quy định của cộng đồng, cùng với gia đình thực hiện các tiêu chí xây dựng tổ dânphố, gia đình văn hoá và cùng xây dựng nếp sống văn minh
- Giáo dục cho HS hành vi đạo đức, thái độ kỹ năng lao động, giáo dục thể chất
và thẩm mỹ: khơi dậy trong HS niềm tự hào và biết khắc phục những hành vi chưa chuẩnmực, chưa văn minh ngay từ cấp tiểu học và các cấp cao hơn, tạo điều kiện cho HS cóđược những nhận thức đúng đắn để phát triển toàn diện mọi mặt, sống có văn hoá Giáodục HS thông qua thực tiễn dạy học, qua các câu chuyện, tình huống cụ thể để các em HSphân tích, nhận thức đúng, sai, từ đó hướng HS thực hiện hành vi hợp đạo lý, đạođức cho thấy nội dung giáo dục nếp sống văn minh, nét đẹp văn hoá đặc trưng của ngườiViệt Nam
1.4.3 Phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểu học
1.4.3.1 Phương pháp giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểu học
Trong quá trình giáo dục, phương pháp giáo dục là thành tố quan trọng nhất củaquá trình giáo dục Phương pháp giáo dục phản ánh cách thức tổ chức quá trình giáo
Trang 30dục, các loại hình hoạt động phong phú đa dạng của GV và HS nhằm chuyển hoánhững yêu cầu, chuẩn mực về đạo đức, lối sống, văn hoá, thẩm mĩ do xã hội quy địnhthành phẩm chất, nhân cách, nếp sống của HS Phương pháp giáo dục là hệ thống cách
sử dụng để người giáo dục tiến hành một hay nhiều hoạt động nào đó
Các phương pháp sử dụng trong giáo dục nếp sống văn minh rất phong phú, đềudựa trên quan điểm lấy người học làm trung tâm nhằm phát huy tính tích cực của HS,tạo cơ hội để HS được luyện tập, thực hành, trải nghiệm nếp sống văn minh trong vàngoài nhà trường
Ngoài những phương pháp dạy học cơ bản như thuyết trình, vấn đáp, giáo dụcnếp sống văn minh cho HSTH giáo viên thường tập trung vào các phương pháp và kĩthuật sau đây:
- Phương pháp nêu vấn đề và giải quyết vấn đề
- Phương pháp khen thưởng
- Phương pháp nêu gương
Trên đây là các nhóm phương pháp nhằm phát huy tích cực của HS, tạo cơ hội để
HS được trải nghiệm thực tế trong nhà trường và trong cộng đồng, qua đó HS đượcbày tỏ quan điểm, suy nghĩ, cảm nhận về nếp sống văn minh và áp dụng chúng vàocuộc sống
1.4.3.2 Hình thức giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểu học
Bên cạnh đó, trong quá trình giáo dục nếp sống văn minh, GV có thể sử dụngmột số kĩ thuật dạy học như sử dụng sơ đồ tư duy, sử dụng các hình thức nghệ thuật(nhạc, vẽ tranh, chiếu phim, sáng tác thơ, truyện ), mảnh ghép, hồi tưởng, trảinghiệm tập trung Đây là những kĩ thuật đặc trưng trong giáo dục giá trị đạo đức, lốisống cũng như giáo dục nếp sống văn minh
Trang 31Trong quá trình tổ chức giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH tuỳ thuộc vàotính tập thể hay cá nhân, mức độ hoạt động độc lập của HS, hình thức tổ chức điềukhiển của các nhà giáo dục, địa điểm và thời gian giáo dục Luận văn xác định tổ chứcgiáo dục nếp sống văn minh cho HSTH bằng các hình thức cơ bản sau:
- Tích hợp giáo dục nếp sống văn minh theo chủ đề và thông qua các môn học ở cấp tiểu học:
Việc giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH thông qua dạy học lồng ghép cácmôn học đã tạo cơ hội để HS được tìm hiểu sâu hơn về các giá trị của nếp sống vănminh, nhìn nhận và đánh giá đúng về các giá trị của nếp sống văn minh ở nhiềuphương diện hơn, từ đó giúp trò phát triển và củng cố thói quen có nếp sống văn minh.Dạy học lồng ghép thông qua các môn học; Các câu lạc bộ; Các diễn đàn; Qua đócòn giúp HSTH nắm được cách thức ứng dụng các giá trị nếp sống văn minh vào cáclĩnh vực khoa học, đời sống đồng thời tạo sự thống nhất, đồng bộ các tác động giáodục đúng đắn từ phía nhà trường đến HS về mục tiêu giáo dục, giúp HS phát triển toàndiện
- Thông qua các hoạt động Đoàn, Đội:
Trong các nhà trường TH Đoàn, Đội là một tổ chức chính trị - xã hội của HS.Thông qua các hoạt động của Đoàn, Đội nhằm tạo ra môi trường thu hút mọi đối tượng
HS vào các hoạt động giúp HS học tập, rèn luyện và phát triển nhân cách Việc HStham gia vào các hoạt động Đoàn, Đội giúp HS có cơ hội trải nghiệm các cung bậccảm xúc tích cực thông qua đó nếp sống văn minh được củng cố dựa trên các giá trịcủa nếp sống văn minh đã lựa chọn và giúp HS ứng dụng các nếp sống văn minh vàocuộc sống
Giáo dục tính nếp sống văn minh cho HSTH thông qua các hoạt động của Đoàn,Đội có nhiều hình thức rất đa dạng như: Các hoạt động tập thể, các hoạt động tìnhnguyện vì cộng đồng, tìm hiểu về các nhân chứng lịch sử, các tâm gương người tốt -việc tốt, hoạt động đền ơn đáp nghĩa, các sự kiện xã hội của đất nước Ngoài ra còn cónhững hoạt động như hoạt động văn hoá - nghệ thuật, hoạt động vui chơi - giải trí Cáchoạt động tình nguyện, quyên góp ủng hộ, các dự án, hoạt động thể dục thể thao.Những hoạt động này nôi cuốn HS tham gia tạo cơ hội cho HS thể hiện các hành vi
Trang 32đạo đức, nếp sống văn minh, đồng thời trong quá trình hoạt động HS được trải nghiệmnhững cảm xúc tích cực do được thể hiện các giá trị những cảm xúc tích cực giúp HScủng cố, phát triển giá trị đạo đức, lối sống đẹp và nếp sống văn minh.
Việc tổ chức các hoạt động do Đoàn, Đội phụ trách có đạt được như mục tiêugiáo dục đã đề ra hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào nội dung và hình thức tổ chứccủa từng hoạt động mà Đoàn, Đội thực hiện Để các hoạt động của Đoàn, Đội phát huyđược hết sức mạnh của mình thì tổ chức này cần chủ động phối hợp chặt chẽ với cáclực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường trong các hoạt động đặc biệt là hoạtđộng nhằm giáo dục nếp sống văn minh cho HS
- Thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp:
Trong quá trình giáo dục các hoạt động ngoài giờ lên lớp là một bộ phân giáo dụccủa nhà trường phổ thông Đó là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các mônhọc văn hoá ở trên lớp Các hoạt động ngoài giờ lên lớp có ý nghĩa hết sức quan trọngtrong quá trình giáo dục nói chung, giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH nói riêng
Tổ chức các hội thi, hội diễn văn nghệ, đóng kịch, kể chuyện Việc giáo dục nếp sống
văn minh thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp ở cấp TH bao gồm các hình thức như:tiết chào cờ đầu tuần, các tiết sinh hoạt lớp cuối mỗi tuần học, tổ chức các chủ đề - chủđiểm của chương trình hoạt động ngoài giờ lên lớp
- Thông qua môi trường văn hoá học đường:
Như chúng ta đã biết môi trường văn hoá học đường bao gồm các môi trườngcảnh quan của lớp học, thư viện, khuân viên, quang cảnh nhà trường sạch đẹp cho đếnmôi trường tâm lý - xã hội được thể hiện trong cách ứng xử giữa các thành viên trongnhà trường đặc biệt là mối quan hệ giữa giáo viên với HS, HS với GV, HS với HS, bầukhông khí tâm lý của nhà trường đặc biệt là sự làm gương của GV Giúp HS cảm nhận
được "Mỗi ngày đến trường là một ngày vui" Chính vì lí do đó nên mỗi nhà trường
phổ thông cần xây dựng môi trường văn hoá học đường để tạo cơ hội để HS được họchỏi, vận dụng các giá trị đạo đức, nếp sống văn minh vào cuộc sống để HS được kiểmchứng, củng cố niềm tin, hình thành và phát triển năng lực thể hiện các giá trị đạo đức,nếp sống văn minh Môi trường văn hoá học đường còn đóng vai trò là phương tiện vôcùng quan trọng để giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH
Trang 33Thông qua môi trường giáo dục văn hóa để giáo dục nếp sống văn minh choHSTH bao gồm các hình thức như: xây dựng nội quy trường lớp, xây dựng nội quyứng xử học đường thể hiện các giá trị tôn trọng, trách nhiệm, hợp tác, thân thiện giữacác thành viên trong môi trường học tập và môi trường sinh hoạt của nhà trường, nêucao sự làm gương của giáo viên và cán bộ nhân viên trong các nhà trường.
- Thông qua việc tự giáo dục của học sinh:
Thông qua việc nêu cao việc tự giáo dục của mỗi HS Các nhà giáo dục giúp cho
HS có nhu cầu, động cơ tự giáo dục trên cơ sở nhận thấy sự cần thiết, ý nghĩa của giátrị sống tốt đẹp đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội mà khắc phục các ràocản để ứng dụng giá trị tốt đẹp của nếp sống văn minh vào cuộc sống và hoạt động họctập của mình
Học sinh đóng vai trò chủ đạo đối với quá trình tự giáo dục bản thân đặc biệt để
HS tự giáo dục nếp sống văn minh, HS cần có ý thức về những điều còn thiếu, nhữngkhó khăn, rào cản khi HS thể hiện có nếp sống văn minh Từ đó HS có kế hoạch rènluyện với những biện pháp khả thi để đạt được những kết quả mong đợi Bên cạnh đó,các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường đặc biệt là các GV gắn bó với HSnhiều hơn như GVCN lớp, các giáo viên bộ môn, gia đình HS, cộng đồng có thể địnhhướng và hỗ trợ HS trong quá trình HS tự giáo dục nếp sống văn minh
1.5 Phối hợp nhà trường và cộng đồng trong giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểu học
1.5.1 Mục đích phối hợp giữa nhà trường và cộng đồng trong giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểu học
Phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng được hiểu là sự hợp tác, trao đổi, cùngthống nhất hành động và hỗ trợ nhau thực hiện nhiệm vụ chung nhằm giáo dục HS cókhả năng thể hiện các giá trị đạo đức, lối sống bằng những hành động, hành vi, tronggiao tiếp, ứng xử giữa người với người, giữa con người với thiên nhiên, môi trường thểhiện được nếp sống văn minh trong cuộc sống Được thể hiện ở ba mặt: nhận thức, thái
độ, hành vi
Mục tiêu cuối cùng của công tác phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng lànhằm tạo ra sự đồng thuận và hợp tác hiệu quả giữa nhà trường và cộng đồng trong
Trang 34giáo dục nếp sống văn minh cho HS ở cả nhà trường, gia đình và xã hội trên cơ sở hiểubiết tâm lý và phát triển của đối tượng nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đặt ra, làquá trình vận động (động viên, khuyến khích, thu hút) và tổ chức Để đi đến mục tiêucuối cùng, cần đạt được các mục tiêu cụ thể sau:
- Phối hợp giáo dục giữa nhà trường tiểu học với cộng đồng nhằm tuyên truyền,phổ biến kiến thức về nếp sống văn minh sâu rộng tới mọi tầng lớp trong cộng đồng
- Phối hợp tăng cường mối quan hệ và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của cộngđồng đối với hoạt động nói chung, hoạt động giáo dục nếp sống văn minhnói riêng củanhà trường
- Phối hợp giữa nhà trường TH với cộng đồng góp phần giáo dục nếp sống vănminh cho HS, qua đó giúp HS phát triển toàn diện, đạt được các mục tiêu giáo dục đã
vụ giáo dục nếp sống văn minh cho HS
Trong sự phối hợp đó, nhà trường giữ vai trò đầu mối, cần chủ động và trongviệc hoạch định dự thảo nội dung chương trình giáo dục nếp sống văn minh cho HStrong trường và dự kiến các bên tham gia thực hiện Sau đó, nhà trường chủ động thiếtlập mối quan hệ với các bên, tạo thành một diễn đàn giáo dục Trong đó, mỗi thànhviên có cơ hội được tham gia góp ý, hoàn thiện nội dung kế hoạch chương trình hànhđộng và cùng thống nhất đưa ra cách thức phối hợp thực hiện có hiệu quả, nhằm đạtđược mục tiêu giáo dục đã đề ra
Nội dung của công tác phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH bao gồm:
- Xây dựng kế hoạch giáo dục: trong khi lập kế hoạch của chủ đề, kế hoạch tuần,BGH nhà trường cần phải đưa nội dung phối hợp với các lực lượng cộng đồng vào kếhoạch, cần nêu những yêu cầu cụ thể về vấn đề cần phối hợp với các lực lượng cộngđồng để thực hiện chủ đề giáo dục nếp sống văn minhđó cho HSTH Phối hợp với
Trang 35cộng đồng xây dựng chương trình, kế hoạch giáo dục nếp sống văn minh cho HS hàngnăm.
- Thống nhất với các lực lượng giáo dục về mục tiêu, nội quy, các hình thức,phương thức giáo dục: dựa trên một nguyên tắc chung, chỉ có như vậy mới đem lạinhững thành công cho quá trình giáo dục nếp sống văn minh cho HS
- Tổ chức các hoạt động: Thường xuyên tổ chức các buổi truyền với cộng đồng
về các hoạt động giáo dục nói chung, giáo dục nếp sống văn minhnói riêng và chútrọng giáo dục thói quen, hành vi cư xử chuẩn mực trong cuộc sống hằng ngày cho họcsinh của nhà trường Phối hợp nhà trường và các lực lượng giáo dục tổ chức giáo dụcnếp sống văn minh cho HSTH bằng hình thức dạy học tại hiện trường, tạo điều kiệntriển khai các hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho HS, đặc biệt là các hoạt độngthực tiễn, thuận lợi cho việc hình thành ở học sinh những tri thức, kĩ năng, hành vi vàthái độ phù hợp Những hiện trường có thể được vận dụng tổ chức các hoạt động khigiáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho học sinh là: sân trường, vườn trường, cáckhu di tích, một số nơi công cộng,…
- Giám sát việc học tập, rèn luyện nếp sống văn minh tại gia đình, địa phương:phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng giáo dục thường xuyên giám sát quá trìnhhọc tập, rèn luyện nếp sống văn minh cho HS ở gia đình và địa phương Kịp thời phảnánh tình hình học tập, đạo đức và nếp sống, thói quen và hành vi cư xử chuẩn mựctrong cuộc sống hằng ngày của HS ở địa phương với nhà trường Cộng đồng tham giagóp ý hoặc thông báo với nhà trường những thông tin liên quan đến hoạt động giáodục nếp sống văn minh cho HS để nhà trường có thể kịp thời điều chỉnh và phối hợpcác hoạt động nhằm thực hiện các yêu cầu giáo dục của nhà trường sao cho đảm bảolợi ích của nhà trường và lợi ích của cộng đồng Động viên khen thưởng HS có thànhtích; giáo dục HS chậm tiến bộ
- Trao đổi thông tin thường xuyên: tạo lập mối liên hệ thường xuyên giữa nhàtrường với gia đình, giữa cha mẹ HS và GVCN lớp về tất cả những gì đang xẩy ra ởlớp, ở nhà của con em mình Nhà trường cần xây dựng mối quan hệ tốt với địaphương, với các tổ chức xã hội và các cơ quan đóng trên địa bàn để cùng phối hợp
Trang 36giáo dục nếp sống văn minhvà thường xuyên rút kinh nghiệm công tác giáo dục nếpsống văn minh cho HS.
- Hỗ trợ cơ sở vật chất: nhà trường phối hợp với PHHS, các doanh nghiệp đóngtrên địa bàn, chính quyền địa phương xây dựng cơ sở vật chất, cung cấp các trang thiết
bị cần thiết phục vụ dạy và học Hỗ trợ mọi nguồn lực của cộng đồng chăm lo cho sựnghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và đảm bảo môi trường giáo dục nếpsống văn minhhiệu quả, bền vững
- Kiểm tra đánh giá công tác giáo dục nếp sống văn minh cho HSTH: Phối hợpkiểm tra, đánh giá công tác giáo dục thói quen và hành vi cư xử chuẩn mực, nếp sốngvăn minh cho HS ở cộng đồng
Trong quá trình phối hợp với các lực lượng cộng đồng, cần căn cứ vào điều kiện
và hoàn cảnh cụ thể của từng lực lượng để có hình thức phối hợp phù hợp và mang lạihiệu quả cao nhất
1.5.3 Hình thức phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểu học.
Việc phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng để giáo dục nếp sống văn minh cho
HS được thông qua dưới các hình thức sau:
- Thông qua các khoá tập huấn, triển khai các nghị quyết, văn bản có liên quanđến giáo dục nếp sống văn minh cho HS Qua các cuộc họp của chính quyền địaphương, các hội nghị mà cán bộ, giáo viên nhà trường được tham dự
- Nhà trường phối hợp với các lực lượng giáo dục biên soạn các tài liệu ngắngọn, các tờ rơi phát cho cha mẹ HS, các hộ gia đình, các tổ chức kinh tế xã hội Sửdụng hệ thống loa thông tin, truyền hình địa phương, sử dụng bản tin, pano, ápphíc để tuyên truyền nội dung giáo dục nếp sống văn minh
- Ngay từ đầu năm học nhà trường phối hợp với PHHS, trưởng các ban ngànhđoàn thể tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn về giáo dục nếp sống văn minh cho HS.Nhà trường phối hợp với các ban ngành địa phương tổ chức các buổi hội thảo, họpthường kỳ phổ biến kiến thức về văn hoá, xã hội, giáo dục của Hội phụ nữ, đoàn thanhniên, các hoạt động văn hoá, văn hoá, thể thao của địa phương để kết hợp truyềnthông, phổ biến kiến thức giáo dục nếp sống văn minh cho rộng rãi trong nhân dân về
Trang 37ý thức, thói quen, hành vi ứng xử đúng đắn với những người xung quanh Tuyêntruyền về y thức bảo vệ môi trường và nếp sống văn minh trên toàn địa bàn dân cư nơi
HS sinh sống, để làm gương cho con em mình
- Phối hợp trong kiểm tra và đánh giá thông qua các lực lượng giáo dục về: cácchuẩn mực hành vi giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểu học, về cơ bản, phảnánh những mối quan hệ ngoài nhà trường, học sinh thực hiện những hành vi, thói quencủa mình chủ yếu ở gia đình và ngoài xã hội Vì vậy, thông qua gia đình và các lựclượng giáo dục khác, giáo viên có thể biết được học sinh thực hiện hành vi và thể hiệnthái độ như thế nào Những lực lượng giáo dục giáo viên cần phối hợp để kiểm tra vàđánh giá kết quả giáo dục nếp sống văn minhcủa học sinh là: gia đình, các tổ chức,đoàn thể xã hội, dân cư nơi các em sinh sống,…Như vậy, việc đánh giá học sinh thựchiện nếp sống thanh lịch, văn minh toàn diện về các mặt và cần có sự đánh giá từ cáclực lượng giáo dục khác nhau để đảm bảo sự đánh giá toàn diện, chính xác
1.5.4 Vai trò của nhà trường và cộng đồng trong giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểu học
Phát huy vai trò của cộng đồng hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng quá
trình giáo dục học sinh trong các nhà trường nói chung và giáo dục nếp sống văn minhcho HSTH nói riêng là trách nhiệm của toàn xã hội
Phối hợp nhà trường và cộng đồng trong quá trình giáo dục nếp sống văn minhcho HSTH có sự tham gia của những lực lượng chủ yếu sau:
1.5.4.1 Nhà trường tiểu học
Theo Luật Giáo dục Khoản 2 Điều 27 Luật giáo dục đã sửa đổi năm 2009 chỉ rõ:
“Giáo dục tiểu học nhằm giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triểnđúng đắn và lâu dài về đạo đức trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản để HStiếp tục học trung học cơ sở” [25]
- Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm.Tuổi của HS vào học lớp một là sáu tuổi
- Giáo dục tiểu học nhằm giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự pháttriển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản
để HS tiếp tục học trung học cơ sở
Trang 38- Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thựchiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục.
- Theo điều lệ trường học, Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm đại diện phápluật của nhà trường, là người trực tiếp phối hợp và điều hành mọi hoạt động của nhàtrường Phó hiệu trưởng là những người giúp Hiệu trưởng phối hợp, điều hành cáchoạt động của nhà trường theo sự phân công của Hiệu trưởng và chịu trách nhiệmtrước Hiệu trưởng về các lĩnh vực được phân công Ban giám hiệu có quyền hạn vàtrách nhiệm về các lĩnh vực: Tổ chức và nhân sự, hoạt động chuyên môn, hoạt độngkhoa học công nghệ, tài chính, tài sản Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợpvới gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục Tổng phụ trách Đội,GVCN là người trực tiếp phối hợp với các lực lượng giáo dục toàn diện cho HS tronglớp mình phụ trách, là lực lượng chủ chốt trong công tác giáo dục - rèn luyện, địnhhướng cho HS trở thành những người có kiến thức vững vàng, có phẩm chất, nếp sốngvăn minh trong sinh hoạt cá nhân, trong giao tiếp, ứng xử giữa người với người, giữacon người với thiên nhiên, môi trường và năng lực đáp ứng với yêu cầu xã hội
1.5.4.2 Cộng đồng
Cộng đồng (community) được hiểu theo nghĩa chung nhất là: “một cơ thể sống/
cơ quan/ tổ chức nơi sinh sống và tương tác giữa cái này với cái khác” [17] Trongkhái niệm này, điều đáng chú ý, được nhấn mạnh: Cộng đồng là “cơ thể sống”, có sự
“tương tác” của các thành viên Tuy nhiên, các nhà khoa học, trong khái niệm nàykhông chỉ cụ thể “cái này” với “cái khác” là cái gì, con gì Đó có thể là các loại thựcvật, cũng có thể là các loại động vật, cũng có thể là con người - cộng đồng người.Cộng đồng là hình thức chung sống trên cơ sở có sự gần gũi của các thành viên
về mặt cảm xúc, hướng tới sự gắn bó đặc biệt mật thiết (gia đình, tình bạn cộng đồngyêu thương) được chính họ tìm kiếm và vì thế được con người cảm thấy có tính cộinguồn Và cộng đồng được xem là một trong những khái niệm nền tảng nhất của xãhội học, bởi vì nó mô tả những hình thức quan hệ và quan niệm về trật tự, không xuấtphát từ các tính toán lợi ích có tính riêng lẻ và được thoả thuận theo kiểu hợp đồng màhướng tới một sự thống nhất về tinh thần - tâm linh bao quát hơn và vì thế thườngcũng có ưu thế về giá trị
Trang 39Cộng đồng người có tính đa dạng, tính phức tạp hơn nhiều so với các cộng đồngsinh vật khác Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng có nhiều tuyến nghĩa khácnhau, đồng thời cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau: xãhội học, y học
Khi nói tới cộng đồng người, người ta thường quy vào những “nhóm xã hội” cócùng một hay nhiều đặc điểm chung nào đó, nhấn mạnh đến đặc điểm chung củanhững thành viên trong cộng đồng
Theo quan điểm Mác - Xít, cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân,được quyết định bởi sự cộng đồng hoá lợi ích giống nhau của các thành viên về cácđiều kiện tồn tại và hoạt động của những người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm cáchoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi các cá nhân về tưtưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủ quan của họ vềmục tiêu và phương tiện hoạt động
Quan niệm về cộng đồng theo quan điểm Mác - Xít là quan niệm rất rộng, có tínhkhái quát cao, mang đặc thù của kinh tế - chính trị Dấu hiệu đặc trưng chung củanhóm người trong cộng đồng này chính là “điều kiện tồn tại và hoạt động”, là “lợi íchchung”, là “tư tưởng”, “tín ngưỡng”, “giá trị” chung Thực chất đó là cộng đồngmang tính giai cấp, ý thức hệ
Xuất phát từ tiếng La tinh, “cộng đồng” - conmunis có nghĩa là “chung/công/cộng được chia sử với mọi người hoặc nhiều người” Đặc điểm/ dấu hiệu chungcủa cộng đồng này chính là đặc điểm để phân biệt nó với cộng đồng khác
Dấu hiệu, đặc điểm để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác có thể là bất
cứ cái gì thuộc về con người và xã hội loài người, màu da, đức tin, tôn giáo, lứa tuổi,ngôn ngữ, nhu cầu, sở thích nghề nghiệp nhưng cũng có thể là vị trí địa lý của khuvực (địa vực), nơi sinh sống của nhóm người đó như làng xã, quận huyện, quốc gia,châu lục Những dấu hiệu này chính là những ranh giới để phân chia cộng đồng.Theo từ điển xã hội học của Harper Collins, cộng đồng được hiểu là “mọi phứchợp các quan hệ xã hội được tiến hành trong lĩnh vực kinh cụ thể được xác định vềmặt địa lý, hàng xóm hay những mối quan hệ mà không hoàn toàn về mặt cư trú, màtồn tại ở một cấp độ trừu tượng hơn” [29]
Trang 40Tóm lại, trong đời sống xã hội, cộng đồng là một danh từ chung chỉ tập hợp người nhất định nào đó với hai dấu hiệu quan trọng: Một là, họ cùng tương tác với nhau; Hai là, họ cùng chia sẻ với nhau (có chung với nhau) một hoặc một vài đặc điểm
vật chất hay tinh thần nào đó
- Phân loại cộng đồng:
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà người ta phân loại cộng đồng những dấu hiệukhác nhau Trong một số tài liệu người ta lại chia cộng đồng theo 2 nhóm như sau[17]:
+ Nhóm cộng đồng theo địa vực: thôn, xóm, làng bản, khu dân cư, phường xã,
quận huyện, thị xã, thành phố, khu vực, châu thổ cho đến cả quả địa cầu của chúng ta
Ở nước ta, ở quy mô tỉnh, thành phố thì chúng ta có 63 tỉnh, thành phố, theo quy mô
xã phường thì chúng ta có trên chục ngàn xã, phường, ở quy mô thôn xóm, khu dân cư(nhỏ hơn xã phường) thì chúng ta có hàng trăm ngàn cộng đồng
+ Nhóm cộng đồng theo nền văn hoá: Nhóm này bao gồm: cộng đồng theo hệ tư
tưởng, văn hoá, tiểu văn hoá, đa sắc tộc, dân tộc thiểu số Nhóm này cũng có thể baogồm cả cộng đồng theo nhu cầu và bản sắc như cộng đồng người khuyết tật, cộng đồngngười cao tuổi
+ Nhóm cộng đồng theo tổ chức: được phân loại từ các tổ chức không chính thức
như tổ chức gia đình, dòng tộc, hội hè cho đến những tổ chức chính thức chặt chẽ hơnnhư các tổ chức đoàn thể, các tổ chức chính trị, tổ chức hành chính nhà nước, tổ chứckinh tế, tổ chức hiệp nội nghề nghiệp, xã hội từ phạm vi nhỏ ở một đơn vị hoặc trongphạm vi quốc gia cho đến phạm vi quốc tế
Cũng có thể phân loại cộng đồng theo đặc điểm khác biệt về kinh tế - xã hội:
+ Cộng đồng khu vực đô thị
+ Cộng đồng nông thôn
Trong bối cảnh Việt Nam, cộng đồng được hiểu là một chỉnh thế thống nhất baogồm những người dân (dân cư) sinh sống trong một đơn vị hành chính cơ sở: xã (địabàn nông thôn), phường (địa bàn thành thị) hay đơn vị hành chính dưới xã, phường, đó
là thôn/làng, bản (địa bàn nông thôn/ nông thôn miền núi) và tổ dân cư/ khu dân cư(địa bàn thành thị) cùng với hệ thống các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức