CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG...6 1.1.. Làm tốt công tác phối hợp giữa nhà trường với các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -BÙI MINH TRUNG
PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TRONG CỘNG ĐỒNG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MƯỜNG GIÔN - QUỲNH NHAI - SƠN LA
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lò Mai Thoan
HÀ NỘI - 2019
Trang 2Lời cảm ơn!
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban chủ nhiệm khoa, các thầy côgiáo Khoa Tâm lý – Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội, các thầy côphòng Sau đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy, chỉ dẫn, tạo điều kiệncho em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, chân thành tới TS Lò Mai Thoan, người
trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt thờigian thực hiện công trình nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, cán bộ, giáo viên và học sinhtrường THPT Mường Giôn - Quỳnh Nhai - Sơn La đã tạo điều kiện giúp đỡ tôihoàn thành luận văn của mình Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn những ngườibạn, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên, khuyến khích tạo điều kiệngiúp đỡ tôi hoàn thành khoá học và công trình nghiên cứu khoa học
Trong quá trình hoàn thành công trình bản thân đã có nhiều cố gắng, songluận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong được sựchỉ bảo, góp ý của các thầy cô
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Tác giả
Bùi Minh Trung
Trang 3CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BLQĐTD: Bệnh lây qua đường tình dụcBPTT: Biện pháp tránh thai
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 5
9 Cấu trúc của đề tài 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan 6
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 7
1.2 Giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT 10
1.2.1 Đặc điểm tuổi vị thành niên 10
1.2.2 Giáo dục sức khỏe sinh sản 11
1.2.3 Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT 14
1.4.3 Phương pháp giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh 27
1.3 Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục SKSSVTN cho học sinh THPT 39
1.3.1 Khái niệm 39
1.3.2 Mục tiêu phối hợp 39
1.3.3 Nội dung phối hợp 40
1.3.4 Nguyên tắc phối hợp 40
1.3.5 Hình thức phối hợp 40
1.3.6 Đánh giá hiệu quả phối hợp 41
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc phối hợp các lực lượng xã hội trong cộng đồng giáo dục SKSSVTN cho học sinh THPT 41
Tiểu kết chương 1 45
Trang 5CHƯƠNG 2 PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH THPT MƯỜNG
GIÔN - QUỲNH NHAI - SƠN LA 46
2.1 Khái quát về tổ chức quá trình khảo sát thực trạng 46
2.1.1 Mục đích, đối tượng, nội dung khảo sát 46
2.1.2 Phương pháp khảo sát 49
2.1.3 Cách xử lý số liệu khảo sát: 49
2.2 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 50
2.3 Thực trạng nhận thức của học sinh trường Trung học phổ thông Mường Giôn - Quỳnh Nhai - Sơn La về sức khỏe sinh sinh sản 50
2.3.1 Thực trạng nhận thức của học sinh về SKSS 51
2.3.2 Thực trạng nhận thức của cha mẹ học sinh về sức khoẻ sinh sản 2.3.2.1 Nhận thức của cha mẹ học sinh về khái niệm sứcc khoẻ sinh sản 64
2.3.3 Thực trạng nhận thức của giáo viên và cán bộ trung tâm y tế về sức khoẻ sinh sản vị thành niên 69
2.4 Thực trạng các lực lượng cộng đồng trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trường trung học phổ thông Mường Giôn, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La 70
2.4.1 Thực trạng thực hiện mục tiêu, nội dung giáo dục sức khoẻ sinh sản cho học sinh THPT 70
2.4.2 Thực trạng các phương pháp sử dụng giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông 73
2.4.3 Thực trạng tổ chức các hình thức giáo dục sức khoẻ sinh sản cho học sinh trung học phổ thông 75
2.4.4 Thực trạng huy động các nguồn lực trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông 77
2.4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông 82
2.5 Đánh giá chung về thực trạng 83
2.5.1 Những mặt đạt được 84
2.5.2 Những hạn chế 84
2.5.3 Nguyên nhân của hạn chế 85
Tiểu kết chương 2 86
Trang 6CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP PHỐI HỢP CÁC LỰC ƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC SỰC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG MƯỜNG GIÔN - QUỲNH NHAI - SƠN LA 89
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 89
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo đáp ứng mục đích giáo dục 89
3.1.2 Nguyên tắc đồng bộ 89
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với thực tiễn địa phương 89
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 90
3.2 Các biện pháp 90
3.2.1 Làm tốt công tác phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng xã hội trong cộng đồng để giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông 90
3.2.2 Tăng cường công tác bồi dưỡng nhận thức cho giáo viên, học sinh các lực lượng xã hội, cha mẹ học sinh về sức khoẻ sinh sản vị thành niên 97
3.2.3 Nhà trường phối hợp với các lực lượng xã hội phát triển năng lực cho giáo viên làm công tác giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông 104
3.2.4 Nhà trường chủ động phối hợp với các lực lượng xã hội trong cộng đồng thống nhất mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông 107
3.2.5 Nhà trường huy động kinh phí từ các nguồn lực xã hội phục vụ cho các hoạt động chăm sóc sức khỏe vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông 110
3.2.6 Dựa vào cộng đồng tổ chức thực hiện đa dạng các hình thức hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông 112
3.3 Đánh giá về các biện pháp 117
3.3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp 117
3.3.2 Tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 119
Tiểu kết chương 3 122
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 127
PHỤ LỤC 130
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Nhận thức của học sinh trung học phổ thông về nội dung của sức
khoẻ sinh sản 52
Bảng 2.2: Thực trạng nhận thức về sức khoẻ sinh sản theo giới tính và khối lớp
của học sinh trung học phổ thông 55Bảng 2.3: Thực trạng nhận thức về xâm hại tình dục của học sinh 58Bảng 2.4 Thực trạng nhận thức về cách thức phòng chống xâm hại tình dục của học
sinh trung học phổ thông 59Bảng 2.5: Thực trạng nhận thức về Quyền được chăm sóc sức khoẻ sinh sản 60Bảng 2.6: Thực trạng các nguồn thông tin mà học sinh trung học phổ thông tìm
hiểu kiến thức về sức khoẻ sinh sản 61Bảng 2.7: Thực trạng về việc trang bị kiến thức giáo dục sức khoẻ sinh sản cho
học sinh trung học phổ thông 63Bảng 2.8: Thực trạng nhận thức về các nội dung của giáo dục sực khoẻ sinh sản
vị thành niên của cha mẹ học sinh trung học phổ thông 66Bảng 2.9: Thực trạng nhận thức về mức độ cần thiết của công tác giáo dục sức
khoẻ sinh sản vị thành niên 69Bảng 2.10.Thực trạng mức độ quan tâm của cán bộ y tế xã và giáo viên về công
tác giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học phổ thông 70Bảng 2.11: Thực trạng thực hiện mục tiêu giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành
niên cho học sinh trung học phổ thông của nhà trường 71Bảng 2.12 Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục sức khoẻ sinh sản cho học
sinh trung học phổ thông 72Bảng 2.13: Thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục sức khỏe sinh sản cho
trẻ vị thành niên 73Bảng 2.14: Thực trạng sử dụng các tổ chức các hình thức giáo dục sức khoẻ sinh
sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông 76
Trang 8Bảng 2.15: Thực trạng về vai trò của các lực lượng xã hội trong giáo dục sức
khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh phổ thông 77Bảng 2.16 Đánh giá tính hiệu quả công tác giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành
niên của các lực lượng giáo dục cho học sinh trung học phổ thông 78Bảng 2.17: Thực trạng tổ chức các hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị
thành niên cho học sinh trung học phổ thông 80Bảng 2.18: Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục SKSSVTN cho học
sinh trung học phổ thông 82Bảng 3.1: Tính cần thiết của các biện pháp 120Bảng 3.2: Tính khả thi của các biện pháp 121
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một phần ba dân số thế giới ở vào độ tuổi vị thành niên - là lứa tuổi từ 10đến 19 tuổi và bốn phần năm dân số này hiện sống ở các nước đang phát triển.Vịthành niên là giai đoạn tuổi phát triển mạnh mẽ về thể chất dẫn đến có nhữngbước đột phá về sự thay đổi tâm lý như: bồng bột, thiếu chín chắn, nhưng mongmuốn khám phá thế giới mãnh liệt và không loại trừ khám phá tình dục Trongkhi đó các em lại ít có hiểu biết về giới tính, tình dục, kinh nghiệm sống và đặcbiệt là hành vi tự kiềm chế bản thân Với việc bùng nổ thông tin như hiện nay,các giá trị văn hóa phương Tây xâm nhập vào từng thành phố, làng mạc ở cácnước thứ ba, thông tin đại chúng hiện nay ngày càng nhiều hình ảnh về sex, bạolực, hút thuốc, uống rượu, ma túy làm thay đổi và ảnh hưởng rất nhiều đến suynghĩ và hành vi của lứa tuổi vị thành niên Các em đi kiếm tìm những giá trị từ
bố mẹ, thầy cô, bạn bè cùng lứa, ngôi sao điện ảnh, ngôi sao nhạc nhẹ để tựkhẳng định mình Các phương tiện thông tin đại chúng thường tránh né các vấn
đề về tình dục vị thành niên, dẫn đến những thông tin nhiều mâu thuẫn và không
rõ ràng không đáp ứng được nhu cầu của lứa tuổi vị thành niên về sức khỏe sinhsản Bên cạnh đó, tại các trường học hay ở mỗi gia đình việc giáo dục sức khỏesinh sản còn bị coi nhẹ, chưa thực sự tích cực, chỉ được lồng ghép trong các mônhọc mang tính tượng trưng, đối phó
Hiện nay ở Việt Nam trẻ vị thành niên chiếm khoảng 31% dân số, lứatuổi đang ở ngưỡng cửa cuộc đời nhưng lại đang phải đối mặt với nhiều khókhăn, thách thức như nạn tảo hôn, mang thai và sinh đẻ, nuôi con ở tuổi vị thànhniên, HIV/AIDS, xâm hại tình dục, nạo phá thai,… Theo thống kê mỗi năm trênthế giới có khoảng 15 triệu trẻ em do các cô gái tuổi vị thành niên sinh ra, chiếmkhoảng 11% tổng số sinh Theo số liệu của bệnh viện Phụ sản trung ương - ViệtNam là 1 trong 5 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất trên thế giới, có 300.000ca/năm, cao nhất Đông Nam Á, trong đó 20% ca nạo phá thai là đối tượng trẻ vịthành niên Theo Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em (Bộ Y tế), tỷ lệ vị thành niên cóthai trong tổng số người mang thai tăng liên tục qua các năm: Năm 2016: 2,9%;năm 2017: 3,1%; năm 2018: 3,2%, tương ứng tỷ lệ phá thai ở lứa tuổi này là2,2% (2016), 2,4% (2017) và 2,3% (2018) Các kết quả nghiên cứu khác cũngcho thấy, độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu ở vị thành niên Việt Nam ngày càngsớm Tuy nhiên, kiến thức của vị thành niên về phòng tránh thai, HIV và cácbệnh lây truyền qua đường tình dục khác vẫn còn rất hạn chế - chỉ có khoảng
Trang 1020,7% sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên… .Những con số trên cảnh báo sự suy giảm chất lượng nòi giống dân tộc, nguồnnhân lực quốc gia và tình hình bất ổn xã hội trong tương lai An toàn tình dục vàsức khỏe sinh sản là một phần trong tổng thể sức khỏe con người trong cả cuộcđời, nó liên quan chặt chẽ đến đời sống vật chất và tinh thần, ảnh hưởng đến sựphát triển nhân cách của con người
Đối với học sinh THPT Mường Giôn - Quỳnh Nhai - Sơn La nằm tronglứa tuổi vị thành niên việc thiếu kiến thức về sức khỏe sinh sản dẫn đến bịnhững biến chứng nặng nề vì phá thai như: chảy máu, viêm nhiễm, thủng tửcung, vô sinh có khả năng rất cao Như chúng ta đã biết vô sinh đối với phụ
nữ chưa có con đối với trẻ tuổi vị thành niên như học sinh THPT là nỗi đau êchề về thể chất và tâm hồn, gây nỗi ám ảnh suốt cuộc đời cho các em Chưa kểđến sự thiếu hiểu biết còn là nguyên nhân dẫn tới các bệnh lây truyền như viêmnhiễm, nấm ngứa, lậu, giang mai và HIV/AIDS Nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng trên phần lớn là do học sinh lứa tuổi vị thành niên nói chung, nữ vị thànhniên của nhà trường nói riêng thiếu sự quan tâm giáo dục sức khỏe sinh sản củagia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội Các phụ huynh còn khá dè dặt trongviệc trao đổi với con em mình về sức khỏe sinh sản, đùn đẩy trách nhiệm chonhà trường Trong khi đó, chương trình học chính khóa đã quá dày nên việc giáodục chăm sóc sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành niên ở trường chỉ mang tínhphong trào Những nguyên nhân khách quan và chủ quan nói trên đẩy trẻ vịthành niên vào thế “tự tìm hiểu”
Trước tình hình thực tế như trên, trang bị kiến thức về giới tính, sinh lýsinh sản cho các em lứa tuổi học sinh THPT là việc làm có ý nghĩa thiết thực vềsức khỏe sinh sản và có những cách phòng tránh trước những điều bất lợi có thểxảy ra Trong những năm qua, Bộ GD&ĐT đã xây dựng chương trình đưa giáodục giới tính vào các trường phổ thông, các trường đã thực hiện hoạt động nàyvới nhiều hình thức tổ chức khá đa dạng Tuy nhiên, hoạt động này chưa đượcquan tâm đúng mức và kết quả cũng còn hạn chế, bất cập Vấn đề cấp thiết đặt ra
là phải phối hợp giữa các lực lượng cộng đồng tham gia giáo dục sức khỏe sinhsản vị thành niên cho học sinh trường trung học phổ thông Mường Giôn, huyệnQuỳnh Nhai, tỉnh Sơn La nhằm nâng cao chất lượng giáo dục sức khỏe sinh sảncho các em, giúp các em có nhận thức đúng đắn và có ý thức bảo vệ sức khỏemột cách khoa học, tránh được những hệ lụy đáng tiếc có thể xảy ra
Trang 11Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, đề tài: “Phối hợp
các lực lượng cộng đồng trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trường trung học phổ thông Mường Giôn, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La” được tôi lựa chọn nghiên cứu.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục sức khỏe sinhsản vị thành niên cho học sinh Trường THPT Mường Giôn - Quỳnh Nhai - SơnLa
4 Giả thuyết khoa học
Công tác giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh TrườngTHPT Mường Giôn - Quỳnh Nhai - Sơn La đã được quan tâm nhưng chưathường xuyên, chưa có hệ thống, chất lượng chưa cao Nếu có các biện phápđồng bộ, thích hợp để phối hợp các lực lượng cộng đồng thì sẽ góp phần nângcao chất lượng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh Trường THPT MườngGiôn - Quỳnh Nhai - Sơn La
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tổng hợp cơ sở lý luận về giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinhtrung học phổ thông
5.2 Khảo sát thực trạng phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dụcsức khỏe sinh sản cho học sinh Trường THPT Mường Giôn - Quỳnh Nhai - SơnLa
5.3 Đề xuất một số biện pháp phối hợp các lực lượng cộng đồng tronggiáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh Trường THPT Mường Giôn - QuỳnhNhai - Sơn La
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Trang 12Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp giáo dục sức khỏe sinh sản chohọc sinh Trường THPT Mường Giôn - Quỳnh Nhai - Sơn La Nghiên cứu xácđịnh biện pháp cho các chủ thể: cán bộ xã, cán bộ nhân viên Trung tâm Y tế, cha
mẹ trẻ VTN, cộng tác viên và trung tâm giáo dục cộng đồng
Số liệu thống kê từ năm 2007-2018
6.2 Phạm vi về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai tại Trường THPT Mường Giôn - Quỳnh Nhai
- Sơn La
6.3 Phạm vi về thời gian
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10/2018 đến tháng 5/2019
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc và phân tích các tài liệu:
- Các tài liệu nghiên cứu về giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
- Các tài liệu nghiên cứu tâm lý lứa tuổi
- Các tài liệu về đặc thù huyện Quỳnh Nhai và địa bàn xã Mường Giônhuyện Quỳnh Nhai, trường THPT Mường Giôn - Quỳnh Nhai - Sơn La
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát thái độ, hành vi của học sinhh là vịthành niên khi được giáo dục sức khỏe sinh sản trong cộng đồng
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Phiếu trưng cầu gồm các câu hỏiđóng và mở về vấn đề hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên, phốihợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên chohọc sinh trường THPT Mường Giôn - Quỳnh Nhai - Sơn La Đối tượng khảo sát
là giáo viên, cán bộ quản lý nhà trường từ bộ môn đến Ban Giám hiệu, cán bộĐoàn thanh niên, học sinh trường THPT Mường Giôn - Quỳnh Nhai - Sơn La;Cán bộ lãnh đạo địa phương, trung tâm giáo dục cộng đồng, cơ quan y tế củahuyện Quỳnh Nhai
- Phương pháp phỏng vấn sâu: thực hiện phỏng vấn 5 học sinh vị thànhniên có thai ngoài ý muốn hoặc nạo phá thai hoặc tảo hôn để tìm hiểu nguyênnhân và hậu quả mà học sinh phải chịu đựng cả về thể chất và tâm lý
+ Phương pháp khảo nghiệm (lấy ý kiến chuyên gia): Sử dụng trí tuệ củađội ngũ chuyên gia để xem xét nhận định bản chất của đối tượng, tìm ra giảipháp tối ưu
7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học
Trang 13Sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm lượng hoá các kết quả thuđược để tăng độ tin cậy cho việc nghiên cứu.
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
8.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Làm cơ sở khoa học cho việc định hướng, phối hợp các lực lượng tronggiáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THPT Mường Giôn - Quỳnh Nhai -Sơn La
8.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Hướng cộng đồng tích cực tham gia giáo dục sức khỏe sinh sản cho họcsinh THPT Mường Giôn - Quỳnh Nhai - Sơn La
Giáo dục học sinh có ý thức chủ động tìm hiểu kiến thức về giới tính, sứckhỏe sinh sản vị thành niên từ cha mẹ, thầy cô, anh chị, người thân và bạn bè
Có thái độ đúng đắn trong quan hệ tình bạn, tình bạn khác giới để không ảnhhưởng tới học tập, cuộc sống gia đình; biết tôn trọng và yêu quý mọi ngườitrong gia đình, bảo vệ và tôn trọng người cùng giới, khác giới
9 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,
Trang 14CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG
TRONG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Vấn đề giáo dục giới tính nói chung được nhiều nước ở Châu Âu quan tâm
từ rất sớm Có thể nói rằng Thụy Điển là quốc gia đầu tiên, cái nôi nảy sinhnghiên cứu vấn đề này Năm 1921 đã coi tình dục là quyền tự do của con người,
là quyền bình đẳng nam nữ, là trách nhiệm đạo đức của công dân đối với xã hội
Họ đã thành lập “Hiệp hội quốc gia tình dục” (1933) với mục tiêu là:
- Thông tin phổ biến kiến thức về giới tính, tình dục
- Sản xuất và buôn bán thuốc tránh thai, dụng cụ tránh thai.Bộ Giáo dụcThụy Điển đã quyết định đưa thí điểm GDGT vào nhà trường (1942) và đến năm
1956 thì chính thức dạy phổ cập trong tất cả các loại trường từ tiểu học đếntrung học
Hầu hết các nước Đông Âu (Đức, Tiệp, Ba Lan…), Tây Âu, Bắc Âu cũng
có những quan điểm xem xét vấn đề GDGT là vấn đề lành mạnh, họ đã tuyêntruyền rộng khắp cho mọi người hiểu rõ những quy luật hoạt động của tình dục
và vấn đề này cũng được đưa vào dạy ở các trường học theo những vấn đề tựchọn
Ở Châu Á, GDGT bị xem là lĩnh vực cấm kị, do ảnh hưởng của nhữngquan niệm phong kiến và tôn giáo Dân số gia tăng quá nhanh, chất lượng cuộcsống không được đảm bảo đã khiến các nước ở Châu Á đã thức tỉnh và nhìnnhận vấn đề một cách thích đáng Họ đã thống nhất ý kiến về tầm quan trọng và
sự cần thiết phải GDGT cho thế hệ trẻ, giúp họ làm chủ quá trình sinh sản củamình một cách khoa học, phù hợp với tiến bộ xã hội
GDDS đã được thực hiện ở một số nước trên thế giới, đặc biệt ở các nướcđang phát triển Tuy nhiên, trước năm 1994 chính sách dân số và nội dungGDDS của các nước đều tập trung vào các vấn đề dân số phát triển (quy mô dân
Trang 15Nếu trước năm1994, GDDS nhấn mạnh đến các nội dung dân số phát triểnthì từ sau năm 1994, GDDS nhấn mạnh tới các nôi dung SKSSVTN như là một
ưu tiên
GDSKSS và SKSSVTN là những vấn đền mới chính thức được thừa nhậntại hội nghị quốc tế về “Dân số và phát triển” ở Cairo - Ai Cập (1994) SKSSđược coi là định hướng chỉ đạo của hầu hết các chương trình dân số thế giới Hộinghị này đã thống nhất một chương trình hành động về dân số và phát triểntrong 20 năm tới, nó đã đưa ra một khái niệm chiến lược mới về SKSS, đề ra 15nguyên tắc khẳng định con người mới là trung tâm đối với sự phát triển bềnvững Cũng chính tại hội nghị này, một khái niệm mới về SKSS bao GDSKSgồm tất cả các nội dung liên quan tới tình trạng sức khỏe, quá trình sinh sản vàchất lượng cuộc sống đã được trình bày cặn kẽ trong chương trình hành độngcủa ICPD Sau hội nghị này, hàng loạt các quốc gia trên thế giới cũng lần lượt tổchức nhiều hội nghị bàn về vấn đề SKSSVTN như:
- Hội nghị quốc tế tại Bắc Kinh (1995)
- Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại The Hague Hà Lan (1999)
- Hội nghị dân số cấp cao của ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á – TháiBình Dương (ESCAP) và quỹ dân số liên hợp quốc (UNFPA) tại Băng Cốc.Đặc biệt thông điệp của Tiến sĩ Nafit Sadik – Giám đốc điều hành Quỹ dân
số Liên Hợp quốc đã nêu “Giới trẻ ngày nay có ý thức về SKSS hơn và họ biếtSKSS rất quan trọng Họ đều muốn xử sự một cách có trách nhiệm, muốn bảo
vệ sức khỏe của chính mình và của cả người mình yêu vì họ biết rằng đây là việcnên làm Phần lớn trong số họ khát khao tìm hiểu, họ muốn có thông tin về tìnhdục và sức khỏe tình dục Họ muốn biết làm thế nào để bản thân họ và ngườiyêu họ không có thai ngoài ý muốn, tránh được các bệnh lây truyền qua đườngtình dục bao gồm cả HIV/AIDS”
Nhân dịp ngày dân số thế giới (11/7/1998) UNFPA đã gửi thông điệp tớicác nước trên thế giới: “Những quan tâm hàng đầu hiện nay được tập trung vàocác vấn đề về SKSSVTN”
Như vậy, ở hầu hết các nước trên thế giới đều đã hết sức quan tâm tới vấn
đề SKSS, coi đó là một vấn đề có tính chiến lược quốc gia
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến Phương Đông trước đây,SKSS ở Việt Nam chỉ được quan tâm ở khía cạnh đạo đức hết sức gò bó vàphiến diện, vấn đề thực sự bức xúc, ảnh hưởng không dám trực tiếp nghiên cứu,
Trang 16hầu như mọi người đều né tránh, dẫn tới nhiều hậu quả đáng tiếc xảy ra trongđời sống nhân dân Việt Nam Nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiệnKHHGĐ, GDDS cuối thể kỉ XIX đầu thế kỉ XX Đảng và nhà nước ta đã coiGDDS là công tác thuộc chiến lược con người, đặc biệt chú trọng tới việc bảo
vệ, chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ.Ngày 18/12/1961 trong quyết định 217/TTg của Chính phủ về việc hướngdẫn sinh đẻ có kế họach, văn bản đầu tiên của Nhà nước Việt Nam về DS -KHHGĐ đã ghi rõ: “Vì sức khỏe của người mẹ, vì hạnh phúc và sự hài hòa củagia đình để cho việc giáo dục và chăm sóc sức khỏe con cái được tốt hơn, việcsinh đẻ của nhân dân cần được hướng dẫn một cách thích hợp” [30]
Nghị định đầu tiên 216/CP của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề SKSS dothủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 26/12/1961 (được lấy làm ngày Dân số ViệtNam) có nội dung “Vì sức khỏe người mẹ, vì hạnh phúc và sự hòa thuận của giađình để cho việc nuôi dạy con được tốt Việc sinh đẻ của nhân dân được quantâm, hướng dẫn một cách thích hợp” [31]
Thủ tướng chính phủ ban hành chỉ thị 99/TTG phát động cuộc vận độngsinh đẻ có kế hoạch, thành lập ủy ban Bảo vệ bà mẹ trẻ em từ trung ương đến địaphương
Ngày 24/12/1968 chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã có chỉ thị 176A với nộidung chỉ đạo: “Bộ giáo dục, Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp, tổng cụcdạy nghề phối hợp với các tổ chức liên quan xây dựng chương trình chính khóanhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức khoa học về giới tính, về hônnhân gia đình, về nuôi dạy con cái” [11]
Sau khi nhà nước thống nhất, năm 1976 ngay trong nghị quyết Đaị hội toànquốc lần thứ IV của Đảng đã ghi rõ: “Đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động sinh đẻ
có kế hoạch, ra sức phòng và chữa bệnh phụ khoa và các bệnh nghề nghiệp củaphụ nữ” [24] Sau khi có nghị quyết Trung ương IV về chính sách DS - KHHGĐ
và chiến lược DS - KHHGĐ đến năm 2000, do đó có sự cộng hưởng của nhiềuyếu tố lãnh đạo, chỉ đạo, tăng cường kinh phí và đổi mới cơ chế quản lý, củng cố
hệ thống tổ chức, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ truyền thông và KHHGĐ, sự thamgia của các nghành, đoàn thể vì công tác DS - KHHGĐ, sự tham gia của cácnghành, các đoàn thể vì công tác DS - KHHGĐ đã có chuyển biến rõ rệt, đạtđược những kết quả rất đáng kích lệ Kết quả đó góp phần đáng kể vào việc nângcao điều kiện sức khỏe trong đó có SKSS cho các cặp vợ chồng và tuổi vị thànhniên
Trang 17Năm 1985, Trung ương hội liên hiệp phụ nữ đã triển khai phong trào giáodục “Ba triệu bà mẹ nuôi con khỏe, dạy con ngoan” trong đó có nội dungGDSKSS ở tuổi dậy thì Hình thức chủ yếu được sử dụng là nói chuyện, diễngiảng Hiệu quả mới chỉ dừng lại ở tính chất phong trào chứ chưa thể có chấtlượng sâu sắc được.
Phải chờ tới năm 1998, được sự tài trợ của quỹ dân số liên hiệp quốc(NFPA), cùng với sự giúp đỡ của kĩ thuật của UNESCO khu vực, do Bộ giáodục và đào tạo đã giao cho Viện khoa học giáo dục Việt Nam thực hiện đề ánVIE/98/P09 với sự tham gia của nhiều giáo sư, tiến sĩ, nhà khoa học có trình độchuyên môn cao, chương trình thử nghiệm tập trung chủ yếu vào hai chủ điểm
về tâm lí giáo dục và sinh học Lần đầu tiên trong nhà trường phổ thông ở nước
ta học sinh được học một cách có hệ thống về “những điều bí ẩn” của chính mình
và mối quan hệ với người khác giới
Ở nước ta trong giai đoạn từ 1989 đến 1992 các dự án GDDS đã bắt đầuđược thử nghiệm Giai đoạn từ 1994 đến 1998 bước đầu đã thể chế hóa GDDStrong nhà trường Lần đầu tiên GDDS được đưa vào chương trình tích hợpGDDS với 5 chủ đề cơ bản: Nhân khẩu học, môi trường, gia đình, giới, dinhdưỡng Các nội dung SKSS đã được chính thức lồng ghép vào nội dung một sốmôn học từ bậc tiểu học đến trung học và khẳng định rằng trong giai đoạn nàytrọng tâm của công tác GDDS phải là GDSKSS cho VTN Tháng 10 năm 1996hội thảo vì SKSSVTN đã nhấn mạnh đầu tư giải quyết vấn đề SKSSVTN là mộtyêu cầu quan trọng trong vấn đề phát triển đất nước Tuy nhiên, trong giai đoạnnày nội dung GDDS quá thiên về dân số phát triển, chưa chú trọng tới SKSS nhưmột mục tiêu ưu tiên quốc gia Với sự ra đời của chương trình mới về giáo dụcphổ thông cho giai đoạn sau 2000, các dự án GDDS giai đoạn mới được xâydựng Mục tiêu GDDS trong giai đoạn này ở các trường phổ thông gồm: Xâydựng chương trình tích hợp GDDS mới phù hợp với chương trình giáo dục phổthông sau năm 2000 trên tinh thần nhấn mạnh tới SKSSVTN; xây dựng các tàiliệu hướng dẫn giảng dạy, tài liệu tham khảo và các tài liệu trực quan; tập huấngiáo viên… song chúng ta vẫn chưa xây dựng được chương trình GDDS vàSKSS cho THCS mặc dù các mục tiêu cho cấp học này đã được xác định
Ủy ban phòng chống AIDS đã tổ chức nhiều hoạt động truyền thông, hoạtđộng can thiệp tại cộng đồng, tổ chức nghiên cứu, khảo sát thực trạng tìnhhình… nhằm bảo vệ VTN, nâng cao hiểu biết và kỹ năng dự phòng của VTN
Trang 18trước sự tấn công của đại dịch HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội Thông qua cáchoạt động đó cũng góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDSKSS cho VTN.
Ủy ban Dân số gia đình và Trẻ em cũng rất quan tâm đến việc GDSKSScho VTN, trong chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 nêu rõ: “Tạo
sự chuyển đổi hành vi bền vững về dân số, SKSS, KHHGĐ trên cơ sở cung cấpđầy đủ, chính xác thông tin với nội dung và hình thức phù hợp với từng vùng,từng khu vực và từng nhóm đối tượng Chú trọng hình thức tư vấn, đối thoại,vận động trực tiếp các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, nam giới, thanh niên
và những người chưa thành niên” [37]
Năm 2004, Ủy ban dân số gia đình và trẻ em triển khai đề án “Mô hìnhcung cấp thông tin và dịch vụ SKSS/ KHHGĐ cho VTN và thanh niên” tại 10tỉnh thành phố Năm 2006 mở rộng ra 28 tỉnh thành phố Mục tiêu chính của đề
án nhằm nâng cao nhận thức về SKSS/ KHHGĐ, bao gồm các vấn đề liên quan
về giới, giới tính, tình dục an toàn, BLTQĐTD, HIV/AIDS góp phần làm giảmcác hành vi gây tác hại đến SKSSVTN
Ngoài ra trong những năm gần đây, có thể kể đến nhiều công trình nghiêncứu về vấn đề SKSS như:
- Dự án VIE/97/P13 của Bộ giáo dục - đào tạo đã sản xuất tài liệu: Phươngpháp giảng dạy các chủ đề nhạy cảm về “SKSS” (2000); và bộ tài liệu tự họcdành cho giáo viên “GDSKSSVTN” (2001)
- Nguyễn Thế Hùng (2005): “Biện pháp bồi dưỡng năng lực GDSKSSVTN đối với các bậc cha mẹ”
- Nguyễn Ngọc Thái (2006): “Quản lý GDSKSS cho VTN thông qua môhình giáo dục đồng đẳng tại tỉnh Quảng Nam”
- Nguyễn Thị Hải Lý (2008): “Ảnh hưởng của giáo dục nhà trường tớinhận thức của học sinh THPT về SKSS”
- Nguyễn Thị Phương Nhung (2009): “Biện pháp GDSKSS cho học sinhlớp 9 huyện Giao Thủy – Nam Định”
Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu việc giáo dục sức khỏe sinh sản
vị thành niên cho học sinh THPT dưới góc độ giáo dục và phát triển cộng đồng
1.2 Giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT
1.2.1 Đặc điểm tuổi vị thành niên
Trong cuộc đời của mỗi con người (cả nam và nữ) tuổi dậy thì được coi làgiai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất về thể chất cũng như quá trình tích lũy kiếnthức, kinh nghiệm xã hội, định hình nhân cách, khả năng hòa nhập cộng đồng
Trang 19Giai đoạn này được thừa nhận là giai đoạn chuyển tiếp giữa trẻ con và người
lớn, giữa tuổi ấu thơ và tuổi trưởng thành: VTN là một giai đoạn trong quá trình phát triển của con người với đặc điểm lớn nhất là sự tăng trưởng nhanh chóng
để đạt tới sự trưởng thành về cơ thể, sự tích lũy kiến thức, kinh nghiệm xã hội, định hình nhân cách để có thể nhận lãnh trách nhiệm xã hội [14].
Thuật ngữ Adolescent (VTN ra đời vào năm 1904) theo đề xuất của nhàtâm lý học G.Stanlay Hal, dùng để chỉ quan niệm đồng nghĩa với tuổi đang lớnhoặc tuổi đang trưởng thành
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng thì VTN là những người chưa đếntuổi trưởng thành để chịu trách nhiệm về những hành động của mình [37]
Trong các văn bản hiện hành của Nhà nước ta như bộ luật Dân sự, Bộ luậtHình sự, Bộ luật Lao động có dùng thuật ngữ “người chưa thành niên” và có quyđịnh rõ hơn về độ tuổi và mức độ mà người chưa thành niên phải chịu tráchnhiệm đối với từng hành động của mình
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), VTN là những người trong độ tuổi từ
10 đến 19 tuổi
Ở mỗi nước khác nhau căn cứ vào những điều kiện của mình mà trongluật hôn nhân và gia đình quy định và chia tuổi VTN cũng khác nhau ở mỗinước Còn ở Việt Nam hiện nay, tuổi VTN theo quy định của Đoàn thanh niên là
từ 15 đến 28 tuổi Theo Vụ bảo vệ sức khỏe bà mẹ và KHHGĐ thuộc Bộ Y tế thìtuổi VTN được chia thành 2 nhóm tuổi như sau:
- Nhóm 1 từ 10 – 14 tuổi
- Nhóm 2 từ 15 – 19 tuổi
1.2.2 Giáo dục sức khỏe sinh sản
Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển năm 1994 tại Cairô (ICPD) đã
định nghĩa: SKSS là trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan tới hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản, chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hoặc tàn phế trong bộ máy
đó (Điều này hàm ý, mọi người, kể cả nam và nữ đều có quyền nhận được thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả, dễ dàng và thích hợp tùy theo sự lựa chọn của
họ đảm bảo cho phụ nữ trải qua thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạo cho các cặp
vợ chồng những điều kiện tốt nhất để có những đứa con khỏe mạnh) [38].
Cũng trong chương trình hành động của hội nghị đã nêu rõ: SKSS là trạngthái sung mãn hoàn hảo về thể chất, tinh thần, xã hội và không chỉ là không có
Trang 20bệnh tật hay không bị tàn phế về tất cả những gì liên quan tới hệ thống, chứcphận và quá trình sinh sản Như thế, SKSS có nghĩa là mọi người có thể có cuộcsống tình dục an toàn, hài lòng, họ có khả năng sinh sản, tự do quyết định cósinh con hay không, sinh con khi nào và sinh bao nhiêu con Ngầm hiểu trongđiều cuối là quyền của người đàn ông và đàn bà có thông tin, có thể tiếp cậnđược các biện pháp KHHGĐ an toàn, có hiệu quả, có khả năng chi trả, có thểchấp nhận được, do họ lựa chọn để điều hóa sinh sản nếu như không trái phápluật; quyền được tiếp cận với những dịch vụ chăm sóc sức khỏe thích hợp, giúp
họ dễ dàng trải qua thai nghén và sinh sản một cách an toàn, cung cấp cho họnhững cơ may để họ co được những đứa con khỏe mạnh Phù hợp với địnhnghĩa nói trên, chăm sóc SKSS và hạnh phúc về sinh sản, bằng cách đề phòng vàgiải quyết những vấn đề về SKSS Nó cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục, màmục đích của nó là tăng cường cuộc sống và mối quan hệ, tư vấn và những chămsóc liên quan đến SKSS và các BLTQĐTD [37]
Theo Chiến lược chăm sóc SKSS Việt Nam giai đoạn từ năm 2001 đến
2010 thì SKSS bao gồm 7 vấn đề cần được ưu tiên đó là:
- Quyền sinh sản
- KHHGĐ, giảm phá thai và phá thai an toàn
- Làm mẹ an toàn và chăm sóc trẻ sơ sinh
- BLTQĐTD, kể cả HIV/AIDS và vô sinh
- Phòng và chữa ung thư đường sinh sản
- Sức khỏe sinh sản vị thành niên
- Bình đẳng giới trong lĩnh vực chăm SKSS [24]
Điều này chứng tỏ rằng, chúng ta không chỉ quan tâm đến KHHGĐ màcòn phải giải quyết nhiều vấn đề hơn nhằm bảo vệ và chăm sóc SKSS của nhândân
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa: Sức khoẻ là một trạng thái hoàn hảo cả về mặt thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh tật hoặc tàn phế.Như vậy có thể thấy, khái niệm sức khoẻ là một khái niệm rộng
hơn nhiều so với những quan niệm đơn giản như: sức khoẻ là có một cơ thểcường tráng, sức khoẻ là không ốm đau, sức khoẻ là người lành lặn, không bịtàn phế…
Tương tự như vậy, sức khoẻ sinh sản là trạng thái khoẻ mạnh, hoàn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống
Trang 21sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không
có bệnh tật hay tổn thương ở bộ máy sinh sản.
Sức khoẻ sinh sản bao gồm nhiều khía cạnh, trong đó có cả khía cạnh liênquan đến sức khoẻ tình dục Hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trìnhsinh sản của con người được hình thành, phát triển, và tồn tại trong suốt cuộcđời Sức khoẻ sinh sản có tầm quan trọng đặc biệt đối với cả nam giới và nữgiới Quá trình sinh sản và tình dục là một quá trình tương tác giữa hai cá thể, nóbao hàm sự tự nguyện, tinh thần trách nhiệm và sự bình đẳng
Theo thống kê của hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, mỗi năm nước ta
có khoảng 300.000 ca đình chỉ thai nghén ở độ tuổi từ 15 - 19 tuổi Với con sốnày, Việt Nam đang dẫn đầu Đông Nam Á và xếp thứ năm trên thế giới về tỷ lệnạo phá thai ở trẻ vị thành niên
Trước đây, tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên chỉ chiếm 5 - 7% tổng số
ca nạo phá thai, tuy nhiên vài năm gần đây, tỷ lệ này tăng lên 10% Việc mangthai ngoài ý muốn tăng một phần bởi một bộ phận giới trẻ có suy nghĩ quá dễ dãitrong quan hệ tình dục
Thực tế đang diễn ra cho thấy vai trò quan trọng của việc cung cấp chophụ nữ đặc biệt là trẻ em gái những kiến thức chung về kế hoạch hóa gia đình.Nếu không hiểu biết, phải đình chỉ thai nghén dù một lần hay nhiều lần cũng cónguy cơ gây hậu quả khôn lường với những tai biến nguy hiểm
Trong quan niệm xưa vấn đề SKSS người ta cho rằng chỉ liên quan đếnnhững người đã có gia đình, những cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ Nhưngtrên thực tế (đặc biệt là trong sự phát triển xã hội như hiện nay) ta thấy rằng,thanh thiếu niên chưa có gia đình chưa có gia đình cũng đã có quan hệ tình dục
Do đó, vấn đề SKSS VTN đã trở thành một vấn đề đang được toàn xã hội quan
tâm SKSSVTN là trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan tới hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản, của trẻ VTN.
Hiện trạng SKSSVTN đang ở mức báo động, điều đó được thể hiện bằngnhững con số sau:
- Nạn tảo hôn và kết hôn ở tuổi VTN: Theo điều tra của Tổng cục thống
kê, có 17.000 VTN tuổi từ 13 – 14; 126.000 VTN tuổi từ 15 – 17 đã có vợ cóchồng Nguyên nhân của tình trạng trên là do cha mẹ muốn đảm bảo các quan hệtình dục phải trong khuôn khổ hôn nhân, do quan niệm giá trị chính yếu của congái là làm mẹ, làm vợ, do các em thiếu cơ hội được học hành và tìm kiếm việc
Trang 22làm [6].
- Mang thai ngoài ý muốn, phá thai ở tuổi VTN: Theo kết quả khảo sát của
Bộ Y tế năm 2002, có 11,2% VTN có quan hệ tình dục, trong đó có 33,9%không sử dụng biện pháp tránh thai nào Hàng năm có hơn 300.000 phụ nữ thainghén dưới tuổi 20%, trong đó 80% có thai mà không biết, khoảng 30% số caphá thai là những phụ nữ trẻ chưa lập gia đình Nguyên nhân của hiện trạng trên
là do thiếu hiểu biết, thiếu chỉ dẫn, thiếu các cơ sở dịch vụ thiên thiện cho nênVTN ít có khả năng thực hiện tình dục an toàn, ít sử dụng các biện pháp tránhthai [6]
- Nhiễm các bệnh lây truyền qua dường tình dục và HIV/AIDS: ở nước tatính đến tháng 5/2015 đã có 240.000 người nhiẽm HIV trong cộng đồng, trong
đó VTN và thanh niên chiếm khoảng 60% Thiếu thông tin, kiến thức, công tácgiáo dục, tư vấn về tình dục an toàn còn hạn chế, thiếu các dịch vụ phòng chốngHIV/AIDS là nguyên nhân dẫn đến hiện trạng trên [5]
- Bị xâm hại và lạm dụng tình dục: ở nước ta có khoảng 80 ngàn gái mạidâm, trong đó 10% là VTN Theo báo cáo của tòa án tối cao, một nửa nạn nhântrong tổng số 1407 trường hợp bị lạm dụng tình dục là VTN Do hoàn cảnh giađình khó khăn, do bạn bè lôi kéo, do lối sống buông thả, do thiếu hiểu biết kĩnăng sống là nguyên nhân dẫn đến hiện trạng trên [5]
Từ những yếu tố trên mà những người lớn, những bậc cha mẹ cần phảihiểu được những khó khăn mà lứa tuổi VTN gặp phải để từ đó có sự quan tâmkịp thời Và bản thân VTN cũng phải nhận thấy những thay đổi mạnh mẽ về thểchất cũng như tâm lí của bản thân để đối phó một cách tích cực với những tácđộng mạnh mẽ của môi trường xung quanh
1.2.3 Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT
1.2.3.1 Giáo dục
Theo nghĩa rộng (giáo dục xã hội): Giáo dục là lĩnh vực hoạt động của xãhội nhằm truyền đạt những kinh nghiệm xã hội, lịch sử chuẩn bị cho thế hệ trẻtrở thành lực lượng tiếp nối sự phát triển của xã hội, kế thừa và phát triển nềnvăn hóa của loài người và của dân tộc [37]
1.2.3.2 Giáo dục sức khỏe sinh sản
GD SKSS là khái niệm kết hợp giữa khái niệm giáo dục và SKSS
GD SKSS là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức thông qua nộidung, chương trình, phương pháp cụ thể của chủ thể (nhà trường/ gia đinh/ các
tổ chức đoàn thể…) nhằm cung cấp kiến thức về giới, giới tính, cấu tạo, chức
Trang 23năng của cơ quan sinh sản, tình dục, tình yêu… để hình thành ý thức, thái độ,hành vi đúng đắn, có trách nhiệm trong mối quan hệ giữa bản thân và ngườikhác giới, bảo vệ bản thân.
1.2.3.3 Khái niệm giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
GDSKSSVTN được coi là một nội dung quan trọng trong GDDS Từ sauHội nghị quốc tế Cairo (1994), Bộ Giáo dục - Đào tạo đã nhất trí vấn đề trọngtâm của công tác giáo dục phải là GDSKSS cho VTN
GDSKSSVTN là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức thông qua nội dung, chương trình, phương pháp cụ thể cung cấp các thông tin thích hợp bằng mọi phương tiện, nhằm mục đích chính là nâng cao nhận thức và sự hiểu biết của VTN đối với một số vấn đề sức khỏe nhất định nhằm động viên họ chấp nhận các hành vi lành mạnh để ngăn chặn những nguy cơ như: có thai ngoài ý muốn, các BLTQĐTD [37].
GDSKSSVTN là một trải nghiệm giáo dục nhằm phát triển khả năng củaVTN để hiểu những vấn đề về tính dục trong khuôn khổ về tâm, sinh lý, vănhóa, xã hội và những khía cạnh sinh sản; đồng thời giúp cho VTN nắm bắtnhững kỹ năng để quyết định và hành động có trách nhiệm những hành vi tìnhdục và SKSS của mình, hướng tới cuộc sống hạnh phúc trong tương lai
1.2.3.4 Vai trò của GDSKSS VTN đối với sự phát triển nhân cách học sinh THPT
Giáo dục SKSS góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, giống nòi Giáo
dục SKSS là nền tảng để nâng cao ý thức trách nhiệm của con người khi bướcvào tuổi trưởng thành
Giáo dục SKSS được thực hiện tốt sẽ góp phần hình thành cho thế hệ trẻ những hành vi văn hoá ứng xử tốt đẹp Các bạn trẻ hiểu biết những đặc điểm
tâm sinh lý của người khác giới để có cách ứng xử thích hợp; Có thiện chí trongquan hệ giao tiếp và biểu hiện thiện chí bằng cử chỉ và ngôn ngữ thích hợp, đồngcảm, vị tha, hào hiệp, khiêm tốn, nhã nhặn, trung thực, tế nhị trong quan hệ giaotiếp, nhận thấy trong tình yêu đôi lứa không chỉ là quan hệ mới, trách nhiệmmới, nghĩa vụ mới mà còn là những niềm vui và hạnh phúc do chính đôi lứa tạonên hàng ngày Đó chính là hiệu quả của công tác giáo dục SKSS
Giáo dục SKSS VTN đáp ứng những quy luật phát triển về tâm sinh lý của con người nói chung và học sinh THPT nói riêng Hoạt động sinh lý tình dục là
một hoạt động bình thường, phát triển theo quy luật tự nhiên Sự quan tâm đếncác vấn đề giới tính, việc tò mò về các hành vi tình dục con người là một hiện
Trang 24tượng tất yếu có tính quy luật Nó nảy sinh do chính đời sống sinh lý cơ thể vàđời sống xã hội của học sinh Vì vậy, nếu không có sự hướng dẫn đầy đủ chuđáo của người lớn (các lực lượng giáo dục: Giáo viên, cha mẹ, đoàn thanhniên ) các em sẽ gặp phải nhiều khó khăn
Giáo dục SKSS góp phần ngăn ngừa hiện tượng có thai ngoài ý muốn.
Quan hệ tình dục trước hôn nhân, quan hệ tình dục không an toàn đang tiềm ẩnnhiều rủi ro như có thai ngoài ý muốn, phá thai không an toàn, lây nhiễm cácbệnh tình dục
1.2.3.5 Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông
Học sinh THPT còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu
từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niên được tính
từ 15 đến 25 tuổi, được chia làm 2 thời kì:
+ Thời kì từ 15-18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên
+ Thời kì từ 18-25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinhviên)
Tuổi thanh niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặt của hiệntượng, nó được giới hạn ở hai mặt: sinh lí và tâm lý Đây là vấn đề khó khăn vàphức tạp vì không phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triển tâmsinh lý cũng trùng hợp với các thời kỳ trưởng thành về mặt xã hội Có nghĩa là
sự trưởng thành về mặt thể chất, nhân cách trí tuệ, năng lực lao động sẽ khôngtrùng hợp với thời gian phát triển của lứa tuổi Chính vì vậy mà các nhà tâm lýhọc Macxit cho rằng: Khi nghiên cứu tuổi thanh nên thì cần phải kết hợp vớiquan điểm của tâm lý học xã hội và phải tính đến quy luật bên trong của sự pháttriển lứa tuổi Do sự phát triển của xã hội nên sự phát triển của trẻ em ngày càng
có sự gia tốc, trẻ em lớn nhanh hơn và sự tăng trưởng đầy đủ diễn ra sớm hơn sovới các thế hệ trước, nên tuổi dậy thì bắt đầu và kết thúc sớm hơn khoảng 2 năm
Vì vậy, tuổi thanh niên cũng bắt đầu sớm hơn Nhưng việc phát triển tâm lý củatuổi thanh niên không chỉ phụ thuộc vào giới hạn lứa tuổi, mà trước hết là dođiều kiện xã hội (vị trí của thanh niên trong xã hội; khối lượng tri thức, kỹ năng
kỹ xảo mà họ nắm được và một loạt nhân tố khác…) có ảnh hưởng đến sự pháttriển lứa tuổi Trong thời đại ngày nay, hoạt động lao động và xã hội ngày càngphức tạp, thời gian học tập của các em kéo dài làm cho sự trưởng thành thực sự
về mặt xã hội càng đến chậm Do đó có sự kéo dài của thời kì tuổi thanh niên vàgiới hạn lứa tuổi mang tính không xác định (ở mặt này các em được coi là người
Trang 25lớn, nhưng mặt khác thì lại không) Điều đó cho ta thấy rằng thanh niên là mộthiện tượng tâm lý xã hội.
Nhìn chung ở tuổi này các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổithiếu niên Thể chất của các em đang ở độ tuổi phát triển mạnh mẽ rất sung sức,nên người ta hay nói: “Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu” Sự phát triển thể chất ở lứatuổi này sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và nhân cách đồng thời nó cònảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của các em
* Điều kiện sống và hoạt động
Trong gia đình, các em đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm như ngườilớn, cha mẹ bắt đầu trao đổi với các em về một số vấn đề quan trọng trong giađình Các em cũng thấy được quyền hạn và trách nhiệm của bản thân đối với giađình Các em bắt đầu quan tâm chú ý đến nề nếp, lối sống sinh hoạt và điều kiệnkinh tế chính trị của gia đình Có thể nói rằng cuộc sống của các em trong độtuổi này là vừa học tập vừa lao động
Ở nhà trường, học tập vẫn là hoạt động chủ đạo nhưng tính chất và mức
độ thì phức tạp và cao hơn hẳn so với tuổi thiếu niên Đòi hỏi các em tự giác,tích cực độc lập hơn, phải biết cách vận dụng tri thức một cách sáng tạo Nhàtrường lúc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nội dung học tập không chỉnhằm trang bị tri thức và hoàn chỉnh tri thức mà còn có tác dụng hình thành thếgiới quan và nhân sinh quan cho các em Việc gia nhập Đoàn TNCS HCM trongnhà trường đòi hỏi các em phải tích cực độc lập, sáng tạo, phải có tính nguyêntắc, có tinh thần trách nhiệm, biết phê bình và tự phê bình
Trang 26Xã hội đã giao cho lứa tuổi học sinh THPT quyền công dân, quyền thamgia mọi hoạt động bình đẳng như người lớn Tất cả các em đã có suy nghĩ vềviệc chọn nghề Khi tham gia vào hoạt động xã hội các em được tiếp xúc vớinhiều tầng lớp xã hội khác nhau, quan hệ xã hội được mở rộng,các em có dịphòa nhập và cuộc sống đa dạng phức tạp của xã hội giúp các em tích lũy vốnkinh nghiệm sống để chuẩn bị cho cuộc sống tự lập sau này.
Tóm lại: Ở lứa tuổi học sinh THPT, các em có hình dáng người lớn, cónhững nét của người lớn nhưng chưa phải là người lớn, còn phụ thuộc vào ngườilớn Thái độ đối xử của người lớn với các em thường thể hiện tính chất hai mặt
đó là : Một mặt người lớn luôn nhắc nhở rằng các em đã lớn và đòi hỏi các emphải có tính độc lập, phải có ý thức trách nhiệm và thái độ hợp lý Nhưng mặtkhác lại đòi hỏi các em phải thích ứng với những đòi hỏi của người lớn…
* Hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ
Hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo đối với học sinh THPTnhưng yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các em.Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học, các em phải có một trình độ tư duykhái niệm, tư duy khái quát phát triển đủ cao Những khó khăn trở ngại mà các
em gặp thường gắn với sự thiếu kĩ năng học tập trong những điều kiện mới chứkhông phải với sự không muốn học như nhiều người nghĩ Hứng thú học tập củacác em ở lứa tuổi này gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp nên hứng thúmang tính đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn
Thái độ của các em đối với việc học tập cũng có những chuyển biến rõrệt Học sinh đã lớn, kinh nghiệm của các em đã được khái quát, các em ý thứcđược rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời tự lập Thái độ có ýthức đối với việc học tập của các em được tăng lên mạnh mẽ Học tập mang ýnghĩa sống còn trực tiếp vì các em đã ý thức rõ ràng được rằng: cái vốn nhữngtri thức, kĩ năng và kĩ xảo hiện có, kĩ năng độc lập tiếp thu tri thức được hìnhthành trong nhà trường phổ thông là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệu quảvào cuộc sống lao động của xã hội Điều này đã làm cho học sinh THPT bắt đầuđánh giá hoạt động chủ yếu theo quan điểm tương lai của mình Các em bắt đầu
có thái độ lựa chọn đối với từng môn học Rất hiếm xảy ra trường hợp có thái độnhư nhau với các môn học Do vậy, giáo viên phải làm cho các em học sinh hiểu
ý nghĩa và chức năng giáo dục phổ thông đối với giáo dục nghề nghiệp và đốivới sự phát triển nhân cách toàn diện của học sinh
Trang 27Mặt khác,ở lứa tuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập của các
em đã trở nên xác định và được thể hiện rõ ràng hơn Các em thường bắt đầu cóhứng thú ổn định đặc trưng đối với một khoa học, một lĩnh vực tri thức hay mộthoạt động nào đó Điều này đã kích thích nguyện vọng muốn mở rộng và đàosâu các tri thúc trong các lĩnh vực tương ứng Đó là những khả năng rất thuận lợicho sự phát triển năng lực của các em Nhà trường cần có những hình thức tổchức đặc biệt đối với hoạt động của học sinh THPT nhất là học sinh cuối cấp đểtạo ra sự thay đổi căn bản về hoạt động tư duy, về tính chất lao động trí óc củacác em
Lứa tuổi học sinh THPT là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trítuệ Do cơ thể các em đã được hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh phát triểnmạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ
Cảm giác và tri giác của các em đã đạt tới mức độ của người lớn Quátrình quan sát gắn liền với tư duy và ngôn ngữ Khả năng quan sát một phẩmchất cá nhân cũng bắt đầu phát triển ở các em Tuy nhiên, sự quan sát ở các emthường phân tán, chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất định, trong khi quansát một đối tượng vẫn còn mang tính đại khái, phiến diện đưa ra kết luận vộivàng không có cơ sở thực tế
Trí nhớ của học sinh THPT cũng phát triển rõ rệt Trí nhớ có chủ định giữvai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Các em đã biết sắp xếp lại tài liệu học tậptheo một trật tự mới, có biện pháp ghi nhớ một cách khoa học Có nghĩa là khihọc bài các em đã biết rút ra những ý chính, đánh dấu lại những đoạn quantrọng, những ý trọng tâm, lập dàn ý tóm tắt, lập bảng đối chiếu, so sánh Các emcũng hiểu được rất rõ trường hợp nào phải học thuộc trong từng câu, từng chữ,trường hợp nào càn diễn đạt bằng ngôn từ của mình và cái gì chỉ cần hiểu thôi,không cần ghi nhớ Nhưng ở một số em còn ghi nhớ đại khái chung chung, cũng
có những em có thái độ coi thường việc ghi nhớ máy móc và đánh giá thấp việc
ôn lại bài
Hoạt động tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh Các em đã có khảnăng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn Nănglực phân tích, tổng hợ, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em
có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng Các em thích khái quát,thích tìm hiểu những quy luật và nguyên tắc chung của các hiện tượng hàngngày, của những tri thức phải tiếp thu…Năng lực tư duy phát triển đã góp phầnnảy sinh hiện tượng tâm lý mới đó là tính hoài nghi khoa học Trước một vấn đề
Trang 28các em thường đặt những câu hỏi nghi vấn hay dùng lối phản đề để nhận thứcchân lý một cách sâu sắc hơn Thanh niên cũng thích những vấn đề có tính triết
lí vì thế các em rất thích nghe và thích ghi chép những câu triết lý
Nhìn chung tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh, hoạt động trí tuệlinh hoạt và nhạy bén hơn Các em có khả năng phán đoán và giải quyết vấn đềmột cách rất nhanh Tuy nhiên, ở một số học sinh vẫn còn nhược điểm là chưaphát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theocảm tính Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn, giúp đỡ các em tư duy một cách tíchcực độc lập để phân tích đánh giá sự việc và tự rút ra kết luận cuối cùng Việcphát triển khả năng nhận thức của học sinh trong dạy học là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng của người giáo viên
* Những đặc điểm nhân cách chủ yếu của học sinh THPT
Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của họcsinh THPT, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này.Biểu hiện của sự tự ý thức là nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểmtâm lý của mình theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, theo quan điểm về mụcđích cuộc sống… Điều đó khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý,những phẩm chất nhân cách và năng lực riêng Các em không chỉ nhận thức vềcái tôi hiện tại của mình mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội tươnglai Các em không chỉ chú ý đến vẻ bên ngoài mà còn đặc biệt chú trọng tớiphẩm chất bên trong Các em có khuynh hướng phân tích và đánh giá bản thânmình một cách độc lập dù có thể có sai lầm khi đánh giá Ý thức làm người lớnkhiến các em có nhu cầu khẳng định mình, muốn thể hiện cá tính của mình mộtcách độc đáo, muốn người khác quan tâm, chú ý đến mình…
Nhìn chung thanh niên mới lớn có thể tự đánh giá bản thân một cách sâusắc nhưng đôi khi vẫn chưa đúng đắn nên các em vẫn cần sự giúp đỡ của ngườilớn Một mặt, người lớn phải lắng nghe ý kiến của em các, mặt khác phải giúpcác em hình thành được biểu tượng khách quan về nhân cách của mình nhằmgiúp cho sự tự đánh giá của các em được đúng đắn hơn, tránh những lệch lạc,phiến diện trong tự đánh giá Cần tổ chức hoạt động của tập thể cho các em có
sự giúp đỡ, kiểm tra lẫn nhau để hoàn thiện nhân cách của bản thân
Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong tâm lý thanh niên vì các
em sắp bước vào cuộc sống xã hội, các em có nhu cầu tìm hiểu khám phá để cóquan điểm về tự nhiên, xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử, những địnhhướng giá trị về con người Các em quan tâm đến nhiều vấn đề như: thói quen
Trang 29đạo đức, cái xấu cái đẹp, cái thiện cái ác, quan hệ giữa cá nhân với tập thể, giữacống hiến với hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm… Tuy nhiênvẫn có em chưa được giáo dục đầy đủ về thế giới quan, chịu ảnh hưởng của tưtưởng bảo thủ lạc hậu như: có thái độ coi thường phụ nữ, coi khinh lao độngchân tay, ý thức tổ chức kỉ luật kém, thích có cuộc sống xa hoa, hưởng thụ hoặcsống thụ động…
Nhìn chung, ở tuổi này các em đã có ý thức xây dựng lý tưởng sống chomình, biết xây dựng hình ảnh con người lý tưởng gần với thực tế sinh hoạt hàngngày Các em có thể hiểu sâu sắc và tinh tế những khái niệm, biết xử sự mộtcách đúng đắn trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau nhưng có khi các emlại thiếu tin tưởng vào những hành vi đó Vì vậy, giáo viên phải khéo léo, tế nhịkhi phê phán những hình ảnh lý tưởng còn lệch lạc để giúp các em chọn chomình một hình ảnh lý tưởng đúng đắn để phấn đấu vươn lên
Thanh niên đã xuất hiện nhu cầu lựa chọn vị trí xã hội trong tương lai chobản thân và các phương thức đạt tới vị trí xã hội ấy Xu hướng nghề nghiệp cótác dụng thúc đẩy các mặt hoạt động và điều chỉnh hoạt động của các em Càngcuối cấp học thì xu hướng nghề nghiệp càng được thể hiện rõ rệt và mang tính
ổn định hơn Nhiều em biết gắn những đặc điểm riêng về thể chất, về tâm lý vàkhả năng của mình với yêu cầu của nghề nghiệp Tuy vậy, sự hiểu biết về yêucầu nghề nghiệp của các em còn phiến diện, chưa đầy đủ, vì cậy công tác hướngnghiệp cho học sinh có ý nghĩa quan trọng Qua đó giúp cho học sinh lựa chọnnghề nghiệp sao cho phù hợp với hứng thú, năng lực và phù hợp với yêu cầu của
xã hội
Các em khao khát muốn có những quan hệ bình đẳng trong cuộc sống và
có nhu cầu sống cuộc sống tự lập Tính tự lập của các em thể hiện ở ba mặt: tựlập về hành vi, tự lập về tình cảm và tự lập về đạo đức, giá trị Nhu cầu giao tiếpvới bạn bè cùng lứa tuổi trong tập thể phát triển mạnh Trong tập thể, các emthấy được vị trí, trách nhiệm của mình và các em cũng cảm thấy mình cần chotập thể Khi giao tiếp trong nhóm bạn sẽ xảy ra hiện tượng phân cực – có nhữngngười được nhiều người yêu mến và có những người ít được bạn bè yêu mến.Điều đó làm cho các em phải suy nghĩ về nhân cách của mình và tìm cách điềuchỉnh bản thân
Tình bạn đối với các em ở tuổi này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng.Tình bạn thân thiết, chân thành sẽ cho phép các em đối chiếu được những thểnghiêm, ước mơ, lí tưởng, cho phép các em học được cách nhận xét, đánh giá về
Trang 30mình Nhưng tình bạn ở các em còn mang màu sắc xúc cảm nhiều nên thường cóbiểu hiện lí tưởng hóa tình bạn Có nghĩa là các em thường đòi hỏi ở bạn mìnhphải có những cái mình muốn chứ không chú ý đến khả năng thực tế của bạn.
Ở tuổi này cũng đã xuất hiện môt loại tình cảm đặc biệt – tình yêu nam
nữ Tình yêu của lứa tuổi này còn được gọi là “tình yêu bạn bè”, bởi vì cá emthường che giấu tình cảm của mình trong tình bạn nên đôi khi cũng không phânbiệt được đó là tình bạn hay tình yêu Do vậy mà các em không nên đặt vấn đềyêu đương quá sớm vì nó sẽ ảnh hưởng đến việc học tập Tình yêu của nam nữthanh niên tạo ra nhiều cảm xúc: căng thẳng vì thiếu kinh nghiệm, vì sợ bị từchối, vì vui sướng khi được đáp lại bằng sự yêu thương Chúng ta cần thấy rằngđây là bắt đầu một giai đoạn bình thường và tất yếu trong sự phát triển của conngười Tình yêu ở lứa tuổi thanh niên về cơ bản là tình cảm lành mạnh, trongsáng nhưng cũng là một vấn đề rất phức tạp, nó đòi hỏi sự khéo léo tế nhị củacác nhà giáo dục Một mặt họ phải làm cho các em có thái độ đúng đắn trongquan hệ tình cảm với bạn khác giới, phải làm cho các em biết kìm chế nhữngcảm xúc của bản thân; mặt khác, phải nghiên cứu từng trường hợp cụ thể để đưa
ra cách giải quyết thích hợp Bất luận trong trường hợp nào cũng đều khôngđược can thiệp một cách thô bạo, không chế nhạo, phỉ báng, ngăn cấm độc đoán,bất bình mà phải có một thái độ trân trọng và tế nhị, đồng thời cũng không đượcthờ ơ, lãnh đạm tránh những phản ứng tiêu cực ở các em
Tóm lại: Học sinh THPT được sinh ra trong một môi trường xã hội cónhiều thuận lợi, nhưng ở các em cũng có những ưu điểm và nhược điểm màtrong công tác giáo dục cần lưu ý:
Ở một số thanh niên tình cảm cách mạng và ý chí phấn đấu còn yếu,trình độ giác ngộ về xã hội còn thấp Các em có thái độ coi thường lao độngchân tay, thích sống cuộc sống xa hoa lãng phí, đua đòi, ăn chơi…
Thanh niên là lứa tuổi mộng mơ, khao khát sáng tạo, thích cái mới lạ,chuộng cái đẹp hình thức nên dễ bị cái đẹp bề ngoài làm lung lay ý chí, có mớinới cũ…
Thanh niên rất hăng hái nhiệt tình trong công việc, rất lạc quan yêu đờinhưng cũng dễ bi quan chán nản khi gặp thất bại
Thanh niên là tuổi đang phát triển về tài năng, tiếp thu cái mới nhanh, rấtthông minh sáng tạo nhưng cũng dễ sinh ra chủ quan, nông nổi, kiêu ngạo ít chịuhọc hỏi đến nơi đến chốn để nâng cao trình độ Các em thích hướng đến tươnglai, ít chú ý đến hiện tại và dễ quên quá khứ
Trang 31đó một cách tích cực nhằm giáo dục lẫn nhau và tự giáo dục.
Giúp đỡ tổ chức Đoàn thanh niên một cách khéo léo tế nhị để hoạt độngĐoàn được phong phú hấp dẫn và độc lập Người lớn không được quyết địnhthay hay làm thay cho các em Nếu làm thay các em sẽ cảm thấy mất hứng thú,cảm thấy phiền toái khi có người lớn
Người lớn cần phối hợp các lực lượng giáo dục để tạo nên sức mạnhtổng hợp đến các em ở mọi nơi, mọi lúc theo một nội dung thống nhất
Nhìn chung thanh niên mới lớn là thời kỳ đặc biệt quan trọng đối vớicuộc đời con người Đây là thời kì lứa tuổi phát triển một cách hài hòa, cân đối,
là thời kì có sự biến đổi lớn về chất trong toàn bộ nhân cách để các em sẵn sàngbước vào cuộc sống tự lập Do đó, chúng ta phải nhận thức đầy đủ vị trí của lứatuổi này để có nội dung, phương pháp giáo dục thích hợp nhằm đem lại hiệu quảtối ưu trong hoạt động sư phạm
1.2.3.6 Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học phổ thông
* Mục tiêu chung
Cung cấp thông tin và giáo dục về sức khỏe sinh sản để giúp học sinhTHPT tự khám phá những tính cách, các tiêu chuẩn và những chọn lựa của riêngmình, đồng thời cũng nâng cao kiến thức và hiểu biết của các em về các vấn đềSKSS Ở hầu hết các nước, học sinh THPT hiếm khi trao đổi với cha mẹ mìnhhoặc những người lớn tuổi hơn về các chủ đề tình dục (VD: giao hợp, tình dục,hiện tượng có kinh và “mộng tinh”…) Hầu hết thông tin về những chủ đề nàythường từ bạn bè đồng lứa là những người ít có kinh nghiệm hiểu biết hoặc hiểusai như họ, hoặc từ các phương tiện truyền thông không chính thức với xuhướng đại diện cho những hình mẫu rập khuôn hay quá khích về tình dục và giớitính Do vậy, các em cần được trang bị và cung cấp đầy đủ những thông tin vềSKSS để từ đó các em xây dựng được những quan niệm đúng đắn về vai trò vàtrách nhiệm của người đàn ông và người phụ nữ trong tương lai và vì cuộc sốnghạnh phúc cũng như trách nhiệm đối với gia đình của chính bản thân mình
Nhận thức được tầm quan trọng của việc GDSKSS VTN đối với học sinh
Trang 32THPT, hệ thống giáo dục nhà trường và ngoài nhà trường hiện nay không chỉdạy về tri thức mà còn chú ý đến việc xây dựng kĩ năng sống cho học sinh Mụcđích của GDSKSS VTN là nhằm cung cấp kiến thức và sự hiểu biết về các vấn
đề dân số, SKSS cho học sinh, đồng thời hình thành và phát triển thái độ vàhành vi giúp các em có được những quyết định có trách nhiệm liên quan đếnlĩnh vực này cho cuộc sống hiện tại cũng như trong tương lai
Theo chương trình hành động của ICPD mục tiêu cơ bản của GDSKSSVTN là: Giải quyết những vấn đề SKSS VTN và tình dục, bao gồm: mang thaingoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn và các BLTQĐTD kể cả HIV/AIDSthông qua việc nâng cao trách nhiệm về lối sống tình dục và sinh sản lành mạnhcùng với việc cung cấp các dịch vụ, tư vấn thích hợp cho lứa tuổi này [3]
Nâng cao trách nhiệm của các lực lượng giáo dục trong việc giáo dụcSKSS VTN cho học sinh, phát triển nhân cách học sinh THPT và góp phần xâydựng xã hội công bằng dân chủ, văn minh
* Nội dung giáo dục sức khoẻ sinh sản cho học sinh
Để học sinh THPT có nhận thức đúng, chủ động tháo gỡ những khó khănthường gặp về SKSS VTN, khi tiến hành giáo dục cần phải nắm vững những nộidung cụ thể và cần nhấn mạnh, chuyển tải các thông điệp, định hướng thái độ,hành vi cho các em Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THPT, nộidung giáo dục SKSS VTN cho học sinh bao gồm:
Trang 33nhiều nhóm bạn khác nhau thích dành nhiều thời gian để trò chuyện, vui chơi,học tập… Tuy nhiên, kết bạn không chỉ để cho vui mà còn để quan tâm, giúp đỡ,
sẻ chia lúc vui, lúc buồn, lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn Cũng cần nhớrằng, ở tuổi học sinh THPT, tình bạn có thể cuốn hút tới mức làm cho các em cóthể xao nhãng việc học hành
- Tình yêu và tình dục
Tình yêu đôi lứa là một loại tình cảm đặc biệt, là biểu hiện cao nhất củatình người, thúc đẩy hai người khác giới đi đến hòa nhập về tâm hồn và cả cuộcđời Ở lứa tuổi học sinh THPT các em đã bắt đầu để ý đến nhau và có nhữngrung động, xuất hiện tình cảm mang màu sắc giới tính Các em thường bị nhầmlẫn giữa tình bạn khác giới với tình yêu, các em chưa hiểu tình yêu đích thựcnghĩa là như thế nào? Do vậy, học sinh bị chi phối nhiều thời gian, ảnh hưởngnhiều đến học tập, thi đua, phấn đấu Ở tuổi này, các em chưa suy nghĩ chưachắn, chưa biết làm thế nào để xây dựng một tình yêu trong sáng, đôi khi cónhững suy nghĩ lệch lạc như: yêu là phải hết mình, yêu là phải có quan hệ tìnhdục, có quan hệ tình dục thì mới giữ được người yêu và có như vậy mới thể hiệnđược tình yêu… Với lối suy nghĩ đó đã dẫn đến những hậu quả đáng tiếc như:
có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn… ảnh hưởng đến sức khỏe,học tập, tinh thần cũng như tương lai tươi sáng của các em
- Phòng tránh mang thai, phá thai ở học sinh THPT
Lứa tuổi học sinh THPT tuy rằng về mặt thể chất các em phát triển chưahoàn chỉnh, nhưng các em đã có khả năng sinh sản Do đó, cần phải cung cấpcho các em những kiến thức về SKSS VTN để các em biết thế nào là hiện tượngthụ thai, mang thai sớm và hậu quả của nó… Đồng thời, cũng cho các em biếtrằng:
Chỉ cần quan hệ tình dục không được bảo vệ dù chỉ một lần bạn gái có thể
có thai ngoài ý muốn
Mang thai, phá thai ở tuổi học sinh THPT đều ảnh hưởng đến sức khỏethể chất, tinh thần và xã hội của cả bạn nam và bạn nữ
Sử dụng bao cao su đúng cách trong quan hệ tình dục sẽ giúp học sinhTHPT tránh mang thai ngoài ý muốn, bệnh lây qua đường quan hệ tình dục và
Trang 34SKSS VTN, cơ sở y tế tin cậy để xét nghiệm và phá thai an toàn.
Khi có dấu hiệu mang thai cần chia sẻ với cha mẹ, người thân để được hỗtrợ cả về vật chất lẫn tinh thần
Cần đến trung tâm tư vấn SKSSVTN để được cung cấp thông tin và tưvấn cách lựa chọn, sử dụng các biện pháp tránh thai phù hợp với học sinh THPT
Biết thương thuyết với bạn tình sử dụng bao cao su trong QHTD
- Phòng tránh các bệnh lây qua đường tình dục
Cung cấp những thông tin, kiến thức để học sinh THPT có được nhữnghiều biết và những kỹ năng cơ bản về BL QĐTD Các BL QĐTD là những viêmnhiễm được truyền từ người bệnh sang người lành trong quá trình QHTD Cácbệnh này do các tác nhân gây bệnh gây ra như: siêu vi trùng, ký sinh trùng và vitrùng BL QĐTD vô cùng nguy hiểm nó không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, khảnăng sinh sản của cá nhân học sinh, mà còn ảnh hưởng đên kinh tế gia đình, sựphát triển của xã hội, tương lai nòi giống Cách phòng tránh BL QĐTD tốt nhất
là tìm hiểu, tiếp cận với thông tin, kiến thức, kỹ năng sống và dịch vụ thích hợp
để tự bảo vệ bản thân và bạn của mình
- Quyền chăm sóc sức khỏe sinh sản:
Học sinh THPT có quyền được biết đầy đủ thông tin về SKSS ở lứa tuổicủa mình và sức khỏe tình dục một cách thường xuyên, liên tục dưới mọi hìnhthức
Các em có quyền được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc SKSS thuậntiện, phù hợp Các cán bộ chuyên môn, dịch vụ cần tạo mọi điều kiện để các em
có thể thực hiện được quyền của mình
Các em cần được sự giúp đỡ, an ủi khi các em bị vi phạm quyền
Học sinh THPT cần được giúp đỡ để có nhận thức đúng và thực hiệnquyền sinh sản đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và xãhội một cách tốt nhất
Trang 35**Về thái độ và hành vi: Thông qua giáo dục, hình thành ở học sinhTHPT thái độ đúng đắn, nâng cao ý thức trách nhiệm trong chăm sóc SKSS chobản thân, các thành viên trong gia đình và bạn khác giới Cụ thể:
Thông qua hiểu về quá trình mang thai, sinh đẻ, chăm sóc trẻ làm cho họcsinh THPT biết quý trọng ông bà, cha mẹ, tôn trọng giá trị đạo đức, tinh thần vàchăm sóc bản thân cũng như các thành viên khác
Nam giới sẽ chia sẻ trách nhiệm với phụ nữ về SKSS ở lứa tuổi vị thànhniên và sức khoẻ tình dục Góp phần làm giảm gánh nặng cho phụ nữ do phảiphá thai, phải đẻ nhiều hay không được chăm sóc chu đáo trong thời kỳ mangthai, sinh đẻ, nuôi dưỡng trẻ nhỏ Mọi thành viên trong gia đình có trách nhiệmchăm sóc bà mẹ khi mang thai, khi đẻ, sau đẻ, chăm sóc trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ tốtnhất
Học sinh THPT biết cách chia sẻ để được sự giúp đỡ, an ủi khi gặp khókhăn liên quan đến vấn đề giới tính, tình bạn, tình yêu Qua đó, học sinh THPT
có được nhận thức đúng về quyền sinh sản đi đối với nghĩa vụ, trách nhiệmtrong gia đình, cộng đồng và xã hội một cách tốt nhất
Biết cách phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, các bệnhlây qua đường tình dục và HIV/AIDS
Học sinh THPT có các thông tin đầy đủ về các biện pháp tránh thai, hiểu
về các BPTT, lựa chọn và sử dụng đúng các biện pháp tránh thai phù hợp đểphòng tránh thai Trong trường hợp bắt buộc phải phá thai cần phá thai sớm tại
cơ sở y tế có đủ điều kiện phá thai
Học sinh THPT biết cách xây dựng tình yêu lành mạnh, tình dục an toàn,
có kỹ năng sống, biết từ chối những hành vi không lành mạnh như sinh hoạt tìnhdục trước hôn nhân, sinh hoạt tình dục mà không sử dụng BPTT…
1.4.3 Phương pháp giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh
Trong cuộc sống, con người – đặc biệt là học sinh THPT luôn phải đốimặt với rất nhiều vấn đề có liên quan đến SKSSVTN Do vậy, các em cần phải
có cách thức, kỹ năng nhằm đảm bảo tác động tích cực lên cuộc sống của chínhmình Khi có đầy đủ các kỹ năng về SKSSVTN thì các em sẽ có đủ tự tin cũngnhư sẽ có được những hành vi đúng đắn để bảo vệ bản thân Trong công tácGDSKSS phải đổi mới phương pháp giáo dục theo tinh thần nâng cao vai tròtích cực chủ động của học sinh và phải đảm bảo thông qua các hoạt động các em
có thể tự khám và chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng mới SKSS là một bộ phận củanhân cách, nên về cơ bản vẫn sử dụng các nhóm phương pháp giáo dục nhân
Trang 36cách trong quá trình GD SKSS đó là: (1) Nhóm phương pháp hình thành ý thức
cá nhân: Diễn giảng, trò truyện, tranh luận, nêu gương, thuyết phục (2) Nhómphương pháp tổ chức hoạt động để tích lũy kinh nghiệm ứng xử xã hội: phươngpháp tạo tình huống, phương pháp rèn luyện, phương pháp tập luyện, phươngpháp sinh hoạt tập thể, tạo dư luận xã hội (3) Nhóm phương pháp kích thíchhành vi qua khen thưởng và trách phạt
Tuy nhiên, GD SKSSVTN cũng có những đặc trưng riêng của nó, là lĩnhvực mang tính chất vừa khoa học vừa gắn với đời sống lại “thầm kín” và “tếnhị”, do đó để đạt hiệu quả cao cần có những phương pháp đặc trưng, cụ thể sau:
Nhóm phương pháp chung
Phương pháp trò chuyện: Đây là phương pháp thường được sử dụng
nhiều nhất trong giáo dục SKSSVTN, dễ tạo sự thân mật, cởi mở và chân tìnhkhi nói chuyện với đối tượng giáo dục Tuy nhiên, đối tượng giáo dục giáo dụcphải trả lời câu hỏi theo đúng sự thật khoa học, đúng lúc, đúng chỗ Người làmcông tác giáo dục khi trao đổi trò chuyện với đối tượng giáo dục phải có nhữngthông tin mà học sinh có thể hiểu được và có lợi cho học sinh, đồng thời câu trảlời phải dí dỏm hài hước giảm bớt sự căng thẳng nghiêm túc, tạo hứng thú chocác em
Phương pháp diễn giải kết hợp với hỏi đáp và tranh ảnh minh họa: GD
SKSS VTN là một lĩnh vực có tính tổng hợp cao đòi hỏi nhà giáo dục phải cókiến thức sâu rộng và khả năng vận dụng một cách nhuần nhuyễn, liên tưởng tốt
để giúp đưa các em vào tình huống thực tế Nhà giáo dục gợi mở, huy động kiếnthức, những suy nghĩ, gợi nhớ quan sát… để xây dựng và tổng hợp kiến thức.Bên cạnh đó, nhà giáo dục phải trang bị một hệ thống tranh ảnh minh họa làmdụng cụ trực quan khi giáo dục giúp học sinh dễ nhớ, dễ hiểu và lôi cuốn các emvào các hoạt động giáo dục
Phương pháp thảo luận: Hầu hết ở lứa tuổi VTN nói chung, học sinh
THPT nói riệng các em rất ngại nói ra vấn đề của mình về lĩnh vực SKSS, do đó
để giải đáp những thắc mắc của các em, người giáo dục có thể sử dụng hình thứctổng hợp câu hỏi qua giấy/ thư giấu tên nhằm giúp học sinh dễ bộc lộ những bănkhoăn giảm bớt ngại ngùng như khi hỏi trực tiếp Sau đó nhà giáo dục có thể nêucâu hỏi để thảo luận chung Thảo luận có thể được tiến hành theo nhóm nhỏ sau
đó cử đại diện lên phát biểu dưới sự chỉ đạo điều khiển hoạt động của nhà giáodục
Trang 37Phương pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm, cuộc thi theo chủ đề:
Phương pháp này điều kiện cho học sinh THPT có kỹ năng trong việc tìm hiểucác vấn đề SKSSVTN, liên hệ với thực tế cuộc sống đồng thời phát huy tính chủđộng sang tạo Nhà giáo dục hay người lớn cần phải học cùng các em, trao đổivấn đề, uốn nắn những lệch lạc trong suy nghĩ – thái độ - hành vi; tạo ra các tìnhhuống xã hội, đưa ra các vấn đề yêu cầu học sinh tự mình tìm hiểu nghiên cứugiải quyết, bên cạnh đó phải có quy định về khen thưởng, tiêu chí chấm điểm
Nhóm phương pháp cụ thể
Phương pháp động não: Động não là phương pháp giúp đối tượng trong
một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đềnào đó Đây là một phương pháp có ích để đưa ra một danh sách các thông tin
Phương pháp thảo luận nhóm: Là phương pháp đặt đối tượng vào môi
trường học tập (nghiên cứu, thảo luận…) theo các nhóm Thảo luận nhóm được
sử dụng rộng rãi nhằm giúp đối tượng tham gia một cách tích cực, chủ động vàoquá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ýkiến để giải quyết vấn đề có liên quan đến nội dung bài học
Phương pháp đóng vai: Là phương pháp đối tượng được thực hành một
hoặc một số nhiệm vụ hay cách ứng xử nào đó trong một môi trường được quansát bởi nhiều người khác theo một tình huống nhằm tạo ra những vấn đề chothảo luận
Phương pháp nghiên cứu tình huống: Nghiên cứu tình huống thường là
nghiên cứu một câu chuyện được viết nhằm tạo ra một tình huống thật để minhchứng một vấn đề hay một loạt vấn đề Đôi khi nghiên cứu tình huống có thểđược thực hiện trên video hay một băng catset mà không phải trên dạng chữ viết
Phương pháp giải quyết vấn đề: Giải quyết vấn đề là kỹ năng cơ bản nhất
cần phát triển ở học sinh THPT khi giáo dục SKSSVTN cho các em Đó là khảnăng xem xét, phân tích điều đang xảy ra và các bước nhằm cải thiện tình hình.Khi biết cách sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề, chúng ta có thể tìm racách giải quyết cho từng vấn đề cụ thể gặp phải trong cuộc sống hàng ngày
Phương pháp thuyết trình: Là phương pháp giáo dục phổ biến thường
được nhà giáo dục vận dụng trong quá trình giáo dục Phương pháp này đượchiều là nhà giáo dục trình bày nội dung bằng cách giới thiệu khát quát bài, giảithích các điểm chính của chủ đề và giao bài cho đối tượng
Trang 38Phương pháp trò chơi: Là phương pháp tổ chức cho đối tượng tự tìm hiểu
một vấn đề, biểu hiện thái độ hay thực hiện hành động, việc làm thông qua tròchơi nào đó
* Nguyên tắc giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh
Nguyên tắc về sự tin cậy trong giáo dục SKSSVTN cho học sinh THPT:
Sự tin cậy là điều kiện cơ bản để GDSKSSVTN đạt hiệu quả cao Mối quan hệgiữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục càng chặt chẽ, gần gũi, cởi mở, tạođược sự tin tưởng thì càng thúc đẩy đối tượng chia sẻ, bộc lộ nhưng băn khoănsuy nghĩ và dễ tiếp nhận những ý kiến giúp đỡ của nhà giáo dục Bởi đây là nộidung giáo dục hết sức nhạy cảm nhất là đối tượng giáo dục lại đang ở độ tuổi vịthành niên Để thực hiện nguyên tắc này, nhà giáo dục phải thực sự tôn trọng đốitượng giáo dục, cảm thông và thấu hiểu không chế giễu, phê phán đối tượng
Nguyên tắc đặt đối tượng và vấn đề của đối tượng là trọng tâm hoạt động:Những tác động của giáo dục phải là những tác động định hướng cho quá trìnhphát triển của đối tượng giáo dục Nhà giáo dục phải đặt đối tượng và việcnghiên cứu xác định vấn đề của đối tượng là mối quan tâm hàng đầu, nhằm biếtđược tất cả những gì đang diễn ra trong tâm hồn của đối tượng bằng những biệnpháp tế nhị, kín đáo Hơn nữa nhà giáo dục còn phải xác định được thời gian, địađiểm thuận lợi cho việc cung cấp các thông tin giáo dục để có tác dụng khắc sâu
ấn tượng cũng như góp phần tích cực hình thành tính cách và hành vi tốt cho họcsinh, ngăn chặn những ảnh hưởng từ nguồn tin sai lệch bên ngoài
Nguyên tắc tôn trọng sự thật và trong sáng trong GD SKSSVTN: Tínhkhách quan, tôn trọng sự thật trong GD SKSSVTN phải đi đôi với việc trình bàyvấn đề mà học sinh yêu cầu một cách trong sáng, giản dị, dễ hiểu Tránh lời nóimập mờ cũng như trình bày sự thật một cách “trần truồng”, thô bạo, tục tĩu, kíchthích trí tò mò của các em Tùy theo trình độ phát triển tâm lý, tùy theo tính chấtđạo đức của vấn đề mà có những giải thích cần thiết mở rộng phạm vi ảnhhưởng tích cực đối với học sinh
Nguyên tắc thức tỉnh trách nhiệm, sức mạnh cá nhân trong GDSKSSVTN: khi con người đã trưởng thành về mặt sinh học thì cũng là lúc xã hộiđòi hỏi họ phải chịu trách nhiệm về những hành vi của cá nhân của mình trongmối quan hệ với người khác giới Đó là trách nhiệm đối với sức khỏe của mình,đối với bạn tình, đối với tương lai của con cái Đó là trách nhiệm của công dânđối với Tổ Quốc, của con người đối với cộng đồng xã hội loài người Nguyên
Trang 39tắc này đòi hỏi nhà giáo dục phải tin tưởng và khả năng tự giải quyết của đốitượng và thức tỉnh sức mạnh nội tại của đối tượng.
Nguyên tắc của tính liên tục và sự ôn lại: Nội dung giáo dục cần được tiếnhành một cách liên tục, có hệ thống và không ngừng nâng cao phù hợp với mức
độ sinh lý của lứa tuổi, đáp ứng những thắc mắc nảy sinh trong quá trình cungcấp kiến thức mới Các kiến thức cũ tạo nền tảng, là cơ sở để tiếp thu lĩnh hộikiến thức mới, kiến thức mới giúp làm sâu rộng và hiểu biết rõ hơn kiến thức cũ
Nguyên tắc thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục: SKSSVTN làkiến thức kết hợp của nhiều kiến thức: chính trị - xã hội, sinh lý tình dục, tâm lýhọc, giáo dục học, vệ sinh y học, pháp luật… Do đó khi trình bày kiến thức phảikết hợp nhiều khía cạnh của vấn đề, rút ra những kết luận thực tiễn, những bàihọc bổ ích cho thế hệ trẻ
* Các hình thức tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh
**Tuyên truyền
- Khái niệm: “Tuyên truyền” theo nghĩa rộng là hoạt động có mục đíchcủa chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến đốitượng, biến những kiến thức, giá trị tinh thần đó thành nhận thức, niềm tin, tìnhcảm của đối tượng, thôi thúc đối tượng hành động theo những định hướng,những mục tiêu do chủ thể tuyên truyền đặt ra Chủ Tịch Hồ Chí Minh nói:
“Tuyên truyền là đem một việc gì đó nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm Nếu không đạt mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”.
- Vai trò công tác tuyên truyền:
Tuyên truyền là một trong những bộ phận quan trọng của công tác tưtưởng, có nhiệm vụ phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng, chủ trương, đường lối củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến quần chúng nhân dân Tuyêntruyền gắn liền với cổ động, nên tuyên truyền còn là sự cổ vũ, động viên, thúcđẩy quần chúng hăng hái tham gia các phong trào, biến nhận thức, niềm tinthành nhiệt huyết của quảng đại quần chúng, thành hành động cách mạng
Công tác tuyên truyền uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh vớinhững quan điểm, hành động sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng, chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp phần xây dựngcon người mới, cuộc sống mới
Tuyên truyền góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức, hìnhthành và củng cố niềm tin, giáo dục lý luận, đạo đức, lối sống, lẽ sống; bồi
Trang 40dưỡng phương pháp, kỹ năng hành động cho cán bộ, đảng viên và quần chúngnhân dân.
- Các kỹ thuật tuyên truyền
+ Tuyên truyền, thuyết phục cá nhân (gặp gỡ trực tiếp, thăm tại nhà, vậnđộng hành lang)
+ Tuyên truyền, thuyết phục nhóm (thảo luận nhóm nhỏ, diễn thuyết trướccông chúng)
- Các loại tuyên truyền
+ Tuyên truyền miệng
+ Tuyên truyền thông qua sinh hoạt tổ - nhóm, qua các câu lạc bộ
+ Tuyên truyền thông qua sử dụng hệ thống thông tin đại chúng
+ Tuyên truyền thông qua hoạt động thư viện, sách báo, tranh ảnh, nhàvăn hóa, câu lạc bộ, v.v ; các hình thức trực quan như khẩu hiệu, panô, áp phích,
- Ưu – nhược điểm:
+ Ưu điểm: tuyên truyền thường phổ biến kiến thức trên phạm vi rộng chonhiều đối tương; hoạt động phong phú thường kết hợp với các hoạt động tròchơi nên tạo nên hứng thú cho đối tượng tuyên truyền; Nội dung dễ hiểu, trựcquan
+ Nhược điểm: Do tiến hành trên nhiều số lượng nên đôi khi công tác tổchức tốn kém và dễ mất kiểm soát không quản lý được;
- Điều kiện tiến hành công tác tuyên truyền: phải chuẩn bị địa điểm rộng,sức chứa lớn, cần trang bị các phương tiện kỹ thuật hiện đại (màn hình, loa đài,dụng cụ trực quan tranh ảnh, .) hỗ trợ cho thuyết trình, bên cạnh đó cần cópanô, áp phích, tờ rơi; cần tìm hiểu đối tượng tuyên truyền và xây dựng đềcương chi tiết kỹ càng
** Tư vấn/ tham vấn tâm lý
- Khái niệm: Là mối quan hệ trợ giúp giữa nhà tư vấn/ tham vấn và đốitượng/ thân chủ Trong đó nhà tư vấn/ tham vấn cung cấp thông tin, trợ giúp khókhăn, chỉ báo hay hường dẫn cá nhân hoặc một tổ chức/ tập thể khi họ có yêu