1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIÁO dục PHÒNG TRÁNH hôn NHÂN cận HUYẾT CHO THANH, THIẾU NIÊN dân tộc XINH MUN HUYỆN yên CHÂU – TỈNH sơn LA

126 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biện pháp 2: phát huy vai trò tuyên truyền của các già làng, trưởng bản trong giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng như giáo dục phòng chống h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LÊ VĂN HƯNG

GIÁO DỤC PHÒNG TRÁNH HÔN NHÂN CẬN HUYẾT CHO THANH, THIẾU NIÊN DÂN TỘC XINH MUN

HUYỆN YÊN CHÂU – TỈNH SƠN LA

Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng

Mã số: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn: TS Trần Đình Chiến

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, trích dẫn trong luận văn là đầy đủ, chính xác và trung thực Nội dung luận văn chưa được công bố ở bất cứ nơi nào khác Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về các nội dung nêu trong luận văn

Hà nội, ngày 28 tháng 5 năm 2019

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Văn Hƣng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo của trường Đại học sư phạm

Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu, thực hiện đề tài tại nhà trường

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Tiến sĩ Trần Đình Chiến – người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí cán bộ phòng Dân số và kế hoạch hóa gia đình của huyện Yên Châu đã cung cấp các số liệu cần thiết để tác giả hoàn thiện luận văn; các đồng chí là CBQL các nhà trường, các đồng chí là lãnh đạo thôn bản của xã Lóng Phiêng, Tú Nang, Phiêng Khoài, Chiềng

On đã tạo điều kiện giúp tôi trong suốt quá trình điều tra, nghiên cứu và thể nghiệm phục vụ cho đề tài

Trong quá trình hoàn thiện luận văn, có thể không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô và các bạn để luận văn của em được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn./

Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2019

Tác giả luận văn

Lê Văn Hƣng

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Khảo sát nhận thức về nguyên nhân của vấn nạn hôn nhân cận

huyết trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 51 Bảng 2.2 Khảo sát nhận thức về hệ lụy của hôn nhân cận huyết 53 Bảng 2.3 Khảo sát về mục tiêu giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết

cho tầng lớp thanh thiếu niên đồng bào DTTS Xinh Mun trên địa bàn

huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 55 Bảng 2.4 Khảo sát về nhiệm vụ giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết

cho tầng lớp thanh thiếu niên đồng bào DTTS Xinh Mun trên địa bàn

huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 58 Bảng 2.5 Khảo sát về nội dung giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết

cho tầng lớp thanh thiếu niên đồng bào DTTS Xinh Mun trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 60

Bảng 2.6 Khảo sát về phương pháp giáo dục phòng chống hôn nhân cận

huyết cho tầng lớp thanh thiếu niên đồng bào DTTS Xinh Mun trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 62 Bảng 2.7 khảo sát về phương tiện giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết

cho tầng lớp thanh thiếu niên đồng bào DTTS Xinh Mun trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 63 Bảng 2.8 Khảo sát về các hình thức giáo dục phòng chống hôn nhân cận

huyết cho tầng lớp thanh thiếu niên đồng bào DTTS Xinh Mun trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 66 Bảng 2.8 Khảo sát về kiểm tra, đánh giá kết quả công tác giáo dục phòng

chống hôn nhân cận huyết cho tầng lớp thanh thiếu niên đồng bào DTTS Xinh Mun trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 67 Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các Giải pháp 87

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÒNG TRÁNH HÔN NHÂN CẬN HUYẾT THỐNG CHO THANH, THIẾU NIÊN DÂN TỘC XINH MUN 7

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 7

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 8

1.1.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu dưới góc độ tiếp cận vấn đề ở cộng đồng 10

1.2 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 10

1.3 Những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng hôn nhân cận huyết 16

1.3.1 Nguyên nhân khách quan 16

1.3.2 Nguyên nhân chủ quan 19

1.4 Hậu quả của hôn nhân cận huyết 22

1.4.1 Ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh 22

1.4.2 Ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng dân số, suy giảm giống nòi và chất lượng nguồn nhân lực 23

1.4.3 Rơi vào vòng luẩn quẩn: Đói nghèo - thất học - tảo hôn 23

Trang 6

1.4.4 Là rào cản đối với việc hoàn thành các mục tiêu phát triển thiên niên

kỷ của Việt Nam 24

1.5 Công tác truyền giáo dục thông qua các hoạt động tại cộng đồng 24

1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi Thanh, thiếu niên 24

1.5.2 Mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục 27

1.5.3 Nội dung giáo dục 28

1.5.4 Phương pháp, phương tiện giáo dục 29

1.5.2 Phương tiện giáo dục 31

1.5.5 Các hình thức tổ chức tuyên truyền, giáo dục 32

1.5.6 Kiểm tra, đánh giá kết quả công tác tuyên truyền, giáo dục thông qua việc tổ chức các hoạt động tại cộng đồng 32

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết 33

1.6.1 Các yếu tố chủ quan 33

1.6.2 Các yếu tố khách quan 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÒNG TRÁNH HÔN NHÂN CẬN HUYẾT CHO THANH THIẾU NIÊN DÂN TỘC XINH MUN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA 41

2.1 Khái quát về tự nhiên, kinh tế - xã hội, GD&ĐT huyện Yên Châu, Tỉnh Sơn La 41

2.1.1 Về điều kiện tự nhiên 41

2.1.2 Về kinh tế - xã hội 43

2.2 Vài nét về cộng đồng dân tộc Xinh Mun tại huyện Yên Châu 43

2.3 Tổ chức khảo sát thực trạng 45

2.3.1 Mục đích khảo sát 45

2.3.2 Nội dung khảo sát 46

2.3.3 Khách thể khảo sát 46

2.3.4 Phương pháp khảo sát 47

Trang 7

2.4 Khái quát về tình hình giáo dục và giáo dục phòng tránh hôn nhân cận huyết trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 47

2.4.1 Khái quát về tình hình giáo dục huyện Yên Châu 47 2.4.2 Khái quát về tình hình giáo dục phòng tránh hôn nhân cận huyết trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 49

2.5 Thực trạng về hôn nhân cận huyết trên địa bàn 50

2.5.1 Thực trạng hôn nhân cận huyết trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn

La 50 2.5.2 Thực trạng nhận thức về nguyên nhân của vấn nạn hôn nhân cận huyết trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 51

2.6 Thực trạng công tác giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 55

2.6.1 Thực trạng về mục tiêu giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết cho tầng lớp thanh thiếu niên đồng bào DTTS Xinh Mun trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 55 2.6.2 Thực trạng về nhiệm vụ giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết cho tầng lớp thanh thiếu niên đồng bào DTTS Xinh Mun trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 58 2.6.3 Thực trạng về nội dung giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết cho tầng lớp thanh thiếu niên đồng bào DTTS Xinh Mun trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 60 2.6.4 Thực trạng về phương pháp giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết cho tầng lớp thanh thiếu niên đồng bào DTTS Xinh Mun trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 61 2.6.5 Thực trạng về phương tiện giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết cho tầng lớp thanh thiếu niên đồng bào DTTS Xinh Mun trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 63

Trang 8

2.6.6 Thực trạng về các hình thức giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết cho tầng lớp thanh thiếu niên đồng bào DTTS Xinh Mun trên địa bàn huyện

Yên Châu, tỉnh Sơn La 66

2.6.7 Thực trạng về kiểm tra, đánh giá kết quả công tác giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết cho tầng lớp thanh thiếu niên đồng bào DTTS Xinh Mun trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 67

2.7 Đánh giá chung về thực trạng 68

2.7.1 Đánh giá chung về thực trạng 68

2.7.2 Nguyên nhân của những hạn chế 70

CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG HÔN NHÂN CẬN HUYẾT CHO THANH, THIẾU NIÊN DÂN TỘC XINH MUN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA 72

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 72

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 72

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 72

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ, tác động vào các khâu của quá trình giáo dục phòng tránh hôn nhân cận huyết cho đồng bào dân tộc thiểu số 73

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 73

3.2 Các biện pháp giáo dục phòng tránh hôn nhân cận huyết cho thanh, thiếu niên dân tộc Xinh Mun, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 74

3.2.2 Biện pháp 2: phát huy vai trò tuyên truyền của các già làng, trưởng bản trong giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng như giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết cho thanh, thiếu niên dân tộc Xinh Mun, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 76

3.2.3 Biện pháp 3 tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền, phổ biến, giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết cho thanh, thiếu niên dân tộc Xinh Mun, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 77

Trang 9

3.2.4 Biện pháp 4 tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể nhằm tạo nâng cao trách nhiệmvà hiệu quả phối hợp của cả hệ thống chính trị về công tác giáo dục phòng, chống hôn

nhân cận huyết 79

3.2.5 Biện pháp 5: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước và thực thi nghiêm minh theo pháp luật trong công tác phòng, chống tảo hôn, hôn nhân cận huyết cho thanh, thiếu niên dân tộc Xinh Mun, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 81

3.3 Mối quan hệ giữa các Biện pháp 83

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp 86

3.4.1 Tổng hợp tên các giải pháp đề xuất 86

3.4.2 Mục đích khảo nghiệm 86

3.4.3 Thang đo và phương pháp khảo nghiệm 86

3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 87

Kết luận chương 3 89

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 97

Trang 10

Trong một số nền văn hóa và cộng đồng, hôn nhân cận huyết được coi

là lý tưởng và được khuyến khích tích cực; bên cạnh đó ở một số quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc, Philippines và 24 trong số 50 bang của Hoa Kỳ [14] [15] hiện tượng này chịu sự kỳ thị xã hội, được coi là loạn luân và bị cấm về mặt pháp lý Những người ủng hộ hôn nhân cận huyết có thể xem sự cấm đoán là phân biệt đối xử, [1] [10] Trên toàn thế giới, hơn 10% các trường hợp hôn nhân là hôn nhân cận huyết giữa những người anh em họ thế hệ đầu tiên hoặc thứ hai [11]

Hôn nhân cận huyết đã và đang tạo ra những hiểm họa cho tương lai giống nòi của hàng chục triệu gia đình tại nhiều cộng đồng Các nghiên cứu

đã chứng minh những đứa trẻ sinh ra từ các cặp vợ chồng hôn nhân cận huyết rất dễ có nguy cơ mắc các bệnh di truyền do sự kết hợp của các gien lặn mang bệnh [3] Trẻ mắc bệnh có thể bị biến dạng xương mặt, bụng phình to, có thể dẫn đến nguy cơ tử vong Những gen lặn bệnh lý ở chồng và vợ kết hợp với

Trang 11

2

nhau còn có thể sinh ra con dị dạng hoặc bệnh di truyền như mù màu, bạch

tạng, da vảy cá, đặc biệt phổ biến là căn bệnh tan máu bẩm sinh Thalassemia

Vì vậy, người ta gọi các tập quán hôn nhân như vậy là một vấn nạn của tương lai - cũng là một trong những trở ngại lớn đối với sự nghiệp phát triển bền vững của nhân loại [2]

Ở Việt Nam hôn nhân cận huyết là một tập quán, hủ tục có từ lâu đời

và hiện nay bị pháp luật nghiêm cấm Tại điểm d khoản 2 điều 5 Luật Hôn nhân gia đình 2014 có quy định về các trường hợp cấm kết hôn, trong đó có quy định về hôn nhân cùng huyết thống như sau: “Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người

có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.”

Trong những năm qua, tình trạng hôn nhân cận huyết vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) diễn ra khá phổ biến, nhất là ở các vùng miền núi phía Bắc Theo điều tra thực trạng kinh tế - xã hội 53 DTTS năm 2015 của Ủy ban Dân tộc, tỷ lệ tảo hôn chung của các DTTS lên đến 26,6%, trong đó một

số dân tộc có tỷ lệ tảo hôn hơn 30% như: dân tộc Mông 59,7%, Xinh Mun 56,3%, La Ha 52,7% [5] Thống kê cho thấy, dân tộc Xinh Mun có tỉ lệ hôn nhân cận huyết thuộc nhóm cao nhất

Tỉnh Sơn La có 12 dân tộc cùng sinh sống và là một trong những tỉnh

có tỷ lệ tảo hôn và kết hôn cận huyết cao Theo thống kê của Cục chăm sóc và bảo vệ trẻ em, Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội năm 2009, tỷ lệ tảo hôn trong độ tuổi từ 12-19 của nữ lên đến 29,08%, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2014

đã thống kê được 255 trường hợp tảo hôn và 26 cặp kết hôn cận huyết Kết quả điều tra của Trung tâm Truyền thông và sức khoẻ cũng cho thấy dân tộc Mông

có tỷ lệ tảo hôn cao nhất vùng núi phía Bắc với 33%, dân tộc Thái chiếm 23,1%, dân tộc Mường chiếm 15,8% [7] Yên Châu là một huyện miền núi, biên giới

Trang 12

có những hiểu biết cơ bản về sức khỏe sinh sản vị thành niên trước khi bước vào cuộc sống hôn nhân gia đình thì sẽ góp phần ngăn chặn, đẩy lùi nạn hôn nhân cận huyết trong đồng bào các dân tộc huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La

Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Giáo dục phòng tránh hôn nhân cận huyết cho thanh, thiếu niên dân tộc Xinh Mun huyện Yên Châu – tỉnh Sơn La” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Giáo dục và Phát triển cộng đồng

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực trạng của vấn đề nghiên cứu, đề tài

đề xuất các biện pháp giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết cho thanh, thiếu niên dân tộc Xinh Mun trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hiện tượng hôn nhân cận huyết trong cộng đồng dân tộc Xinh Mun

3.2 Đối tƣợng nghiên cứu:

Các biện pháp giáo dục phòng tránh hôn nhân cận huyết cho thanh, thiếu

niên dân tộc Xinh Mun huyện Yên Châu – tỉnh Sơn La

Trang 13

4

4 Giả thuyết khoa học

Do nhiều yếu tố khác nhau tác động đến cộng đồng dân cư dân tộc Xinh Mun trên địa bàn mà hiện tượng hôn nhân cận huyết vẫn tồn tại phổ biến Chủ thể của hiện tượng trên đa số là các thanh, thiếu niên Việc các em thiếu hiểu biết và không được trang bị những kiến thức cần thiết về luật hôn nhân gia đình, bên cạnh sự tồn tại của những hủ tục ở địa phương đã dẫn đến hiện tượng hôn nhân cận huyết trong thanh, thiếu niên

Nếu nghiên cứu xây dựng được các biện giáo dục tại cộng đồng một cách phù hợp sẽ giúp thanh, thiếu niên và gia đình của họ có hiểu biết cơ bản

về luật hôn nhân và gia đình, những tác hại của việc kết hôn cận huyết và có quan điểm, hành vi kết hôn đúng pháp luật quy định, góp phần giảm thiểu tình trạng hôn nhân cận huyết trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về hôn nhân cận huyết

- Khảo sát thực trạng của hiện tượng hôn nhân cận huyết cộng đồng

người dân tộc Xinh Mun tại huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La

- Đề xuất các biện pháp giáo dục phòng tránh hôn nhân cận huyết cho

thanh, thiếu niên dân tộc Xinh Mun huyện Yên Châu – tỉnh Sơn La

6 Giới hạn nghiên cứu

6.1 Giới hạn địa bàn nghiên cứu:

Nghiên cứu được tiến hành ở các xã Lóng Phiêng, xã Phiêng Khoài, xã

Tú Nang – 3 xã đặc biệt khó khăn, nơi có số đông người dân tộc thiểu số, đặc biệt là người dân tộc Xinh Mun sinh sống

6.2 Giới hạn nội dung nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu một số biện pháp giáo dục phòng tránh hôn nhân cận huyết cho thanh, thiếu niên dân tộc Xinh Mun huyện Yên Châu

– tỉnh Sơn La

Trang 14

5

6.3 Giới hạn thời gian nghiên cứu:

Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận

Trong quá trình nghiên cứu tác giả dựa trên cơ sở đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi thanh, thiếu niên, đặc điểm dân cư và những đặc trưng của cộng đồng người dân tộc thiểu số ở trên địa bàn và vai trò, nhiệm vụ của nhà trường và cộng đồng trong công tác giáo dục tại địa phương để làm căn cứ nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

- Nghiên cứu các tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài, các văn bản

có liên quan đến trường THPT, các văn bản hướng dẫn giáo dục phòng tránh hôn nhân cận huyết cho thanh thiếu niên đồng bào DTTS, Nghị định của Chính phủ,…

- Tìm hiểu các tài liệu giáo dục phòng tránh hôn nhân cận huyết và các giải pháp giáo dục giáo dục hôn nhân cận huyết của các địa phương có tình hình kinh tế, xã hội và đặc điểm dân số gần giống với tỉnh Sơn La

- Nghiên cứu tài liệu bao gồm nghiên cứu lý thuyết liên quan đến vấn đề giáo dục phòng trành hôn nhân cận huyết cho lứa tuổi thanh thiếu niên đồng bào DTTS, cụ thể như: khái niệm, vai trò, các thành phần và quy trình phối hợp trong giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết; các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề giáo dục phòng tránh hôn nhân cận huyết cho thanh thiếu niên vùng DTTS

Trang 15

7.2.4 Phương pháp chuyên gia

Xin ý kiến chuyên gia, các nhà giáo có kinh nghiêm thực tế và các biện pháp đề xuất

Chương 3: Các biện pháp giáo dục phòng tránh hôn nhân cận huyết cho

thanh, thiếu niên dân tộc Xinh Mun huyện Yên Châu – tỉnh Sơn La

Trang 16

7

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÒNG TRÁNH HÔN NHÂN CẬN HUYẾT THỐNG CHO THANH, THIẾU NIÊN DÂN TỘC XINH MUN

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Vấn đề hôn nhân cận huyết trên thế giới đã thu hút rất nhiều nhà khoa học tìm hiểu và nghiên cứu, trong đó có một số bài viết liên quan đến chủ đề

hôn nhân cận huyết như: “Bí mật của dòng họ vua Tut”, Zahi Hawass; “Sinh sản cận huyết: “Dịch bệnh Hoàng gia' và những hậu quả khôn lường”, Thirty Verse; “lợi ích và nguy cơ của sự loạn luân hoàng tộc”, David Dobbs; “sụp

đổ triều đại vì hôn nhân cận huyết”, theo Livescience; cuốn sách “Darwin và

các con: Di sản khác”, Tim M Berra;

Vào năm 1870, Charles Darwin đã tuyên bố trong một lá thư viết cho

nghị sỹ John Lubbock: "những cuộc hôn nhân chung dòng máu sẽ dẫn đến

bệnh điếc, câm và mù lòa" Charles Darwin đã đề xuất ra những câu hỏi để

đưa vào thống kê dân số Anh liên quan đến những căn bệnh, và ông cũng thu thập thêm nhiều thông tin về dân số dựa trên tần suất của hôn nhân cận huyết

trong nước cũng như tác động của chúng đối với trẻ em

Tác giả E Erikson với tiểu luận về lý thuyết phát triển tâm lý xã hội

“Người lớn trẻ”[17] đã đưa ra các lí thuyết về hôn nhân và lý thuyết phát triển tâm lý giới trẻ Tác giả David Dobbs với bài biết “Lợi ích và nguy cơ của sự loạn luân Hoàng Tộc”[18] nói về vấn đề hôn nhân cân huyết thống của gia đình hoàng tộc Tác giả Zahi Hawass trong quấn sách “Bí mật dòng họ vua Tut”[19 cuốn sách nói về dòng họ vua Tut, mối quan hệ cận huyết thống trong dòng họ và những hậu quả của nó Tác giả: Suresh Lal.B có nghiên cứu “Con nuôi trẻ em ở Ấn Độ: Các trường hợp tại quận Warangal of Telangan” cũng

đề cập đến các trường hợp trẻ em sinh ra do kết hôn cận huyết

Trang 17

8

Theo một nghiên cứu Tại Thổ Nhĩ Kỳ và Ma rốc, khi phỏng vấn những người có kết hôn cận huyết, khoảng 16% số người được hỏi đồng ý một phần hoặc đồng ý hoàn toàn với tuyên bố rằng các cặp vợ chồng kết hôn cận huyết thống không nên có con vì có các nguy cơ bị tật bẩm sinh, 26% không trả lời

và 58% không đồng ý [20]

Tóm lại, trên thế giới đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về vấn

đề tảo hôn và hôn nhân cận huyết, các nghiên cứu đã đưa ra được một số vấn

đề căn bản về vấn đề tảo hôn và kết hôn sớm trên thế giới Nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào nghiên cứu các tác động giáo dục để phòng chống

hôn nhân cận huyết tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Việt Nam

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Năm 2017, tác giả Nguyễn Văn Mạnh trường Đại Học Khoa Học Huế

đã có đề tài nghiên cứu về “Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Bình, Quảng trị” nghiên cứu đã phân tích được thực

trạng và hậu quả của hôn nhân cận huyết thống của dân tộ thiểu số tỉnh Quảng

Bình, Quảng Trị Nghiên cứu chỉ ra rằng: “những trường hợp hôn nhân cận

huyết không chỉ vi phạm thuần phong mỹ tục, đạo đức truyền thống, phong tục của ông cha ta, mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế

hệ con cháu sau này, tiềm ẩn nguy cơ những đứa trẻ bệnh tật, suy thoái nòi

giống” [15]

Nghiên cứu của tác giả Trương Đình Thuận tại tỉnh Sơn La trong giai đoạn 2008-2011 cho thấy nhận thức về hôn nhân cận huyết thống của cán bộ cũng thay đổi tích cực theo năm, năm 2008 có 39,1% cán bộ nhận thức không đúng về hôn nhân cận huyết đến năm 2011 nhận thức đúng là 86% [21]

Kết quả nghiên cứu tại tỉnh Lai Châu tác giả Lý Thị Thắng cho thấy nhận thức của chính quyền và các ban ngành đoàn thể tại địa phương về tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống có sự thay đổi năm 2007 có 65,2% cán bộ cho rằng tảo hôn và hôn nhân cận huyết không có ảnh hưởng xấu đến

Trang 18

9

năm 2008 đã giảm xuống 52,2% năm 2010 giảm xuống còn 28% Nhận thức của người dân cũng thay đổi theo từng năm năm 2007 có 75% nhận thức không đúng về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống đến năm 2010 tỷ lệ hiểu biết của người dân về vấn đề này tăng lên 49% [22]

Nghiên cứu của tác giả Đỗ Ngọc Tấn tại tỉnh Lai Châu và tỉnh Cao Bằng cho thấy, có 46,71% người được hỏi có thái độ bình thường với tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, nhận thức của người dân về luật hôn nhân và gia đình còn rất nhiều hạn chế có 37% cho rằng họ chưa từng nghe nói đến luật hôn nhân và gia đình bao giờ, 63% số người đã từng nghe đến Luật nhưng đề trả lời là không hiểu nội dung của luật quy định [23]

Ngoài ra còn các nghiên cứu của các tác giả khác như: Khuất Thị Thu Hạnh (2009), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, với Luận văn thạc sĩ

“Chế định kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000”; Trần Thị Phương Thảo (2014), Trường Đại học Luật Hà Nội, Luận văn thạc sĩ: “Các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành; Nguyễn Kim Thoa (2014), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận văn thạc sỹ: “Hoàn thiện chế định kết hôn trong Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2000”; Vũ Thị

Thu Huyền (2014), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận văn thạc sĩ:

“Cấm kết hôn theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000”, Hà Nội, 2014; Ngô Thị Hường, “Mấy vấn đề về quy định cấm kết hôn giữa những người cùng

giới tính”[24, 25]

Qua nghiên cứu cho thấy, các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra được một số vấn đề và giải pháp tuy nhiên các nghiên cứu chưa đề cấp đến các biện pháp giáo dục cụ thể cho thanh thiếu niên là người dân tộc thiểu số

có nguy cơ kết hôn cận huyết cao và đặc biệt hơn nữa chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề được triển khai cho cộng đồng dân tộc Xinh Mun tại tỉnh Sơn la

Trang 19

- Có giải pháp thiết thực, đồng bộ, hiệu quả với sự tham gia của các lượng (gia đình, nhà trường, cộng đồng) sẽ thúc đẩy hoạt động giáo dục nâng cao trình độ hiểu biết về pháp luật, trình độ dân trí cũng như thay đổi quan niệm, ý thức trách nhiệm xã hội cho lứa tuổi thanh, thiếu niên từ đó giảm thiểu tình trạng hôn nhân cận huyết trên địa bàn Huyện Yên Châu – Tỉnh Sơn La

1.2 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu

lâu xong vẫn thể hiện được một số đặc điểm cốt lõi của hôn nhân như: Tính chất tự nguyện, tính bền vững và tính chất dị giới

Ngoài khái niệm trên, một số luật gia ở Châu Âu và Mỹ ngày nay quan

niệm: “Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng” [27 , hoặc: “Hôn nhân là hành vi hoặc tình trạng chung sống giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng”

[28, tr.39] Các khái niệm này đều nhấn mạnh tới tư cách vợ chồng của hai người khác giới

Tuy nhiên ngày nay, với sự phát triển đa dạng của xã hội, vấn đề giới tính được đặt ra bàn luận dưới cơ sở vững chắc về quyền con người đã khiến

Trang 20

11

một số quan điểm pháp lý mà đặc biệt là quan niệm về hôn nhân được thay đổi một cách phù hợp hơn, đó là việc thừa nhận hôn nhân đồng tính Trong phiên bản mới cuốn từ điển giải thích nổi tiếng của Pháp: Le Petit Robert,

khái niệm “hôn nhân” được giải thích là “sự kết hợp hợp pháp giữa nam và

nữ và trong một vài hệ thống pháp luật là sự kết hợp giữa hai người cùng giới” Hay trong phần diễn giải từ điển Oxford có nêu: “Hôn nhân có thể là một mối quan hệ chính thống có đối tác là đồng giới”

Ở nước ta, trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực, chưa có một khái niệm chính thức nào về hôn nhân được ghi nhận trong luật Một khái niệm được sử dụng phổ biến trong giai đoạn này là “giá thú”, “giá thú (hay hôn thú) là sự phối hợp của một người đàn ông và một người đàn bà theo thể thức luật định” [29, tr.239 , hoặc “giá thú” cũng được hiểu: “sự trai gái lấy nhau trước mặt viên hộ lại và phát sinh ra những nghĩa vụ tương hỗ cho hai bên về phương diện đồng cư, trung thành và tương trợ” [30, tr.100

Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê đưa ra một khái niệm ngắn gọn

“Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng” [31, tr.461]

Trong Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000, khái niệm hôn nhân đã được các nhà làm luật và các nhà nghiên cứu luật học quan tâm hơn với quy định:

“Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” (Khoản 6, Điều

8), Luật HN&GĐ năm 2014 cũng giữ nguyên khái niệm về hôn nhân như Luật HN&GĐ năm 2000 (Khoản 1, Điều 3) Còn theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của trường Đại học Luật Hà Nội, hôn nhân được hiểu là: “Sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm chung sống với nhau suốt đời

và xây dựng gia đình hạnh phúc và hoà thuận” [32, tr.148

Từ những cách hiểu về hôn nhân như đã trình bày, có thể thấy hôn nhân thực chất là việc xác lập quan hệ vợ chồng trước pháp luật thông qua sự kiện

Trang 21

12

kết hôn với tính chất tự nguyện, tính bền vững, tính chất một vợ một chồng, tính dị giới và tính chất luật định

1.2.2 Cận huyết và hôn nhân cận huyết

Huyết thống trước hết được hiểu là quan hệ về di truyền sinh học, là quan hệ giữa cha, mẹ và con trong đó người này sinh ra người kia Quan hệ này tiếp tục phái sinh theo chiều dọc khi những người con tiếp tục quá trình sinh sản Mặt khác, theo quan niệm truyền thống của Việt Nam, huyết thống còn được hiểu là quan hệ ruột thịt với nhau như quan hệ anh chị và em, ông bà và cháu, cô dì, chú bác, cậu với các cháu hay còn gọi là quan hệ họ hàng Không

có một giới hạn nào nói là quan hệ đến đời thứ mấy thì không còn được gọi là cùng huyết thống, tuy nhiên việc kết hôn giữa những người này không phải là

tự do mà đặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật hôn nhân và gia đình

Theo từ điển Hán Việt: “Cận” có nghĩa là gần, cạnh bên, ám chỉ khoảng cách gần gũi xét về mức độ “Huyết thống” là dòng dõi cùng một máu mủ và

“Huyết tộc” là người họ nội, họ ngoại có quan hệ huyết thống với nhau, do một ông tổ -tiên sinh ra [33, tr.324 Như vậy có thể hiểu cận huyết thống là tình trạng một hoặc nhiều người có quan hệ gần gũi về mặt máu mủ, có thể là

có nguồn gốc do cùng một người sinh ra hoặc có bố, mẹ, ông, bà do cùng một người sinh ra, mức độ gần gũi giữa những người này còn phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể Việc xác lập quan hệ vợ chồng giữa những người nêu trên được gọi là hôn nhân cận huyết thống

Dưới góc độ xã hội, hôn nhân cận huyết thống không được ủng hộ bởi những ảnh hưởng tiêu cực của nó đối với sức khỏe thế hệ trẻ Hôn nhân cận huyết thống chính là một trong những nguyên nhân làm suy giảm sức khỏe, tăng tỷ lệ bệnh tật đối với những đứa trẻ được sinh ra, gây suy thoái chất lượng giống nòi Dưới góc độ pháp luật, hôn nhân cận huyết thống là một trong những yếu tố pháp lý thuộc về điều kiện kết hôn Điều kiện kết hôn là một trong những nội dung quan trọng thuộc phạm vi điều chỉnh của chế định

Trang 22

13

kết hôn Có thể hiểu điều kiện kết hôn là những yêu cầu mà pháp luật đặt ra đối với người kết hôn dưới dạng các quy phạm pháp luật, buộc người kết hôn phải tuân thủ để đảm bảo lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội Nếu xét trên phương diện quyền và nghĩa vụ thì để thực hiện được quyền kết hôn, các bên nam nữ phải có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật về điều kiện kết hôn và một trong những điều kiện đó là: Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời

Pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm chính thức thế nào là hôn nhân cận huyết thống, thuật ngữ hôn nhân cận huyết thống cũng không được nhắc đến như một khái niệm pháp lý chính thống được ghi nhận trong luật Điểm d, khoản 2, Điều 5, Luật HN&GĐ năm 2014 đưa ra một trong những điều kiện để hôn nhân được công nhận hợp pháp và dường như đã mô tả khái niệm hôn nhân cận huyết thống bằng ngôn ngữ pháp lý Theo đó, hôn nhân

cận huyết thống dưới góc độ pháp lý được hiểu là việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời

Về khái niệm những người có họ trong phạm vi ba đời, Khoản 18, Điều

2, Luật HN&GĐ 2014 giải thích: “Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị,

em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba” Phạm vi ba đời được tính từ “gốc”, tức là một cặp vợ chồng là đời thứ nhất thì những người con của họ là đời thứ hai, trong đó bao gồm cả con chung và con riêng Quan

hệ giữa những người thuộc đời thứ hai được xác định là anh, chị, em ruột (cùng cha, mẹ) hoặc anh , chị, em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha Đời thứ ba là con của những người thuộc đời thứ hai, giữa những người ở đời thứ

ba được xác định là có quan hệ anh, chị, em con cô, con cậu, con bác, con dì Những người thuộc phạm vi nêu trên không được phép kết hôn với nhau theo

Trang 23

14

quy định của pháp luật

1.2.3 Điều kiện kết hôn

Kết hôn được coi là hợp pháp nếu đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Cụ thể các

điều kiện bao gồm:

Về độ tuổi: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên Độ tuổi này được thừa nhận ở hầu hết các nước trên thế giới và rất phù hợp với thực

tế vì ở độ tuổi như vậy, cả nam và nữ đều đã là người đủ năng lực hành vi dân

sự, có thể tự lao động để nuôi bản thân cũng như có đủ trưởng thành để xây

dựng cuộc sống hôn nhân

Về ý chí: Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định Việc kết hôn cũng được coi như một giao dịch dân sự vậy, các bên tham gia vào quan hệ vọ chồng phải tự mình tham gia, tự mình thỏa thuận và tự nguyện, không được

lừa dối, cưỡng ép kêt hôn

Về năng lực chủ thể: nam nữ kết hôn không bị mất năng lực hành vi dân sự Tại thời điểm kết hôn, nam nữ tham gia đăng ký kết hôn phải là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Điều kiện này đi kèm với điều kiện về ý trí, khi các bên tham gia đăng ký kết hôn mà bị mất năng lực hành vi dân sự thì không thể tự mình tham gia, không thể tự mình quyết

định việc đăng ký kết hôn

Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn sau: Kết hôn giả tạo; Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như

vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha

Trang 24

15

dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng

Về kết hôn đồng giới, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bỏ quy định “cấm kết hôn với những người cùng giới” thay vào đó là quy định “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” Theo đó thì những người đồng giới tính vẫn có thể thực hiện kết hôn với nhau nhưng không được pháp luật và nhà nước thừa nhận (làm thủ tục đăng ký kết hôn), tức là không được nhà nước bảo vệ nếu như có tranh chấp xảy ra Xét trong hoàn cảnh nước ta chưa có chuẩn bị về việc thừa nhận hôn nhân đồng giới thì quy định này hoàn toàn hợp lý, đây cũng là bước đệm để có thể thừa nhận hôn nhân đồng giới và thực hiện quyền con người theo công ước quốc tế trong

tương lai

1.2.4 Dân tộc thiểu số

Dân tộc thiểu số được định nghĩa tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc như sau:“Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam

“Thiểu số” là một trong những vấn đề phức tạp được đặt ra từ rất lâu

trong đời sống xã hội Khái niệm nhóm người thiểu số được dùng để chỉ các

nhóm người có những sự khác biệt về một phương diện nào đó với cộng đồng người chung trong xã hội Họ có thể khác biệt với nhóm người đa số về phương diện ngôn ngữ và văn hoá Khác biệt về nhận thức và tôn giáo, về hoàn cảnh kinh tế, điều kiện sống và thu nhập v.v và đi kèm theo đó là sự khác biệt về phương thức ứng xử của cộng đồng đối với chính họ

Dưới góc độ nhân chủng học, khái niệm dân tộc thiếu số được dùng khá thông dụng Nó thường được sử dụng để chỉ những dân tộc ít người so với cộng đồng dân tộc chiếm đa số Trong nhiều trường hợp chỉ cần nói về một người là thiểu số tức là chúng ta đã có thể hiểu như họ là đã thuộc về những dân tộc ít người rồi, mặc dù trong xã hội còn có nhiều nhóm thiểu số khác

Trang 25

16

được phân biệt không phải trên những tiêu chí về dân tộc

1.3 Những nguyên nhân dẫn đến hiện tƣợng hôn nhân cận huyết

Theo Đề án giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong Đồng bào dân tộc thiểu số, năm 2014 của Ủy Ban dân tộc của Quốc hội [34] và các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng tảo hôn, bao gồm cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ

quan, trong đó, nguyên nhân chủ quan là nguyên nhân quan trọng nhất

1.3.1 Nguyên nhân khách quan

1.3.1.1 Do ảnh hưởng của những quan niệm, thành kiến, phong tục tập quán lạc hậu

Phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số tồn tại và ăn sâu trong nhận thức của người dân từ nhiều đời nay và ảnh hưởng, chi phối mạnh mẽ trong đời sống, sinh hoạt của phần lớn đồng bào các dân tộc thiểu số Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, việc kết hôn chủ yếu được thực hiện theo phong tục, tập quán; việc lấy vợ, lấy chồng mà chỉ cần sự đồng ý của những người đứng đầu trong làng hoặc của cha mẹ hai bên nam nữ và sự chứng kiến của gia đình, họ hàng, làng xóm Quan niệm cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy; quan niệm kết hôn trong họ tộc để lưu giữ tài sản trong gia đình không mang của cải sang họ khác hay như tục lệ bắt vợ của người Mông ở vùng Tây Bắc, tục

“nối dây” ở một số dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, hủ tục hứa hôn, cưỡng ép hôn mang tính gả bán,

1.3.1.2 Do những bất cập, hạn chế trong các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và các quy định pháp luật liên quan

Nhiều quy định áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đối với các dân tộc thiểu số còn chung chung, thiếu tính khả thi và chậm được hướng dẫn thi hành; công quản lý, thực thi pháp luật về hôn nhân và gia đình còn nhiều bất cập Tình trạng lơi lỏng pháp luật, thực thi pháp luật chưa kiên quyết trong quản lý đăng ký kết hôn ở vùng miền núi dân tộc còn lỏng lẻo;

Trang 26

17

các chế tài xử phạt vi phạm trong hôn nhân chưa đủ mạnh để ngăn ngừa, răn

đe tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết trong vùng dân tộc thiểu số

- Về tuổi kết hôn:

Thực tiễn thi hành quy định về tuổi kết hôn còn rất nhiều bất cập giữa quy định của pháp luật và tập quán về tuổi kết hôn Ở một số địa phương, cộng đồng, người dân vẫn kết hôn theo độ tuổi trong tập quán dẫn tới tình trạng tảo hôn vẫn còn tồn tại ở các nhóm cộng đồng này Báo cáo tổng kết của một số địa phương cho thấy, tỷ lệ kết hôn trước tuổi luật định ở vùng cao, nơi đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống còn khá cao Khi được tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình, bà con hiểu quy định của pháp luật về tuổi kết hôn, nhưng do phong tục, tập quán đã đi vào cuộc sống của người dân từ rất lâu đời, các gia đình thường dựng vợ gả chồng cho con từ rất sớm (15 - 16 tuổi thậm chí từ 14 tuổi) Vì chưa đủ tuổi theo luật định, nên việc kết hôn không được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng hai bên gia đình vẫn tổ chức đám cưới theo phong tục; họ hàng hai bên, cộng đồng dân cư của

cả bản vẫn mặc nhiên công nhận đó là một cặp vợ chồng

- Về áp dụng tập quán trong hôn nhân và gia đình:

Khoản 1 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình quy định trách nhiệm của Nhà nước và xã hội: “Vận động nhân dân xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu

về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc; xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ”, và Điều 6 của Luật quy định nguyên tắc: “Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc quy định tại Luật thì được tôn trọng và phát huy” Tuy nhiên, qua tổng kết thi hành Luật hôn nhân và gia đình cho thấy những quy định này tính khả thi còn thấp, vì chỉ mới thể hiện được thái độ tôn trọng của nhà nước đối với phong tục, tập quán mà chưa thực sự tạo căn cứ pháp lý

rõ ràng và đầy đủ để các cơ quan có liên quan áp dụng tập quán trong giải

Trang 27

18

quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình

Về điều kiện để áp dụng tập quán: quy định về điều kiện áp dụng tập quán trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là không cụ thể, rất khó có sự thống nhất trong áp dụng Điều kiện chung là những tập quán tốt đẹp thì được

kế thừa, phát huy, nhưng “tính chất tốt đẹp” lại là một giá trị trừu tượng, có thể được hiểu ở nhiều góc độ khác nhau Nội dung của giá trị này có thể thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của kinh tế - xã hội, phụ thuộc vào quan niệm của từng cá nhân, gia đình, cộng đồng, tầng lớp xã hội Vì vậy, trong thực tế, rất khó xác định tập quán nào là tốt đẹp cần được kế thừa và phát huy; tập quán nào không tốt đẹp cần được xóa bỏ Do đó, việc đưa Luật hôn nhân

và gia đình đi vào đời sống xã hội còn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở các địa bàn ở vùng sâu, vùng xa, vùng đông bào dân tộc ít người

Nhiều trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn, nhưng lại được cộng đồng dân cư nơi họ cư trú công nhận, bảo vệ Khi xảy ra tranh chấp, Tòa án căn cứ vào quy định của Luật hôn nhân

và gia đình để tuyên bố không công nhận hôn nhân của các đương sự Tuy nhiên, đương sự, gia đình và dòng họ hai bên lại không đồng tình với quyết định của Tòa án Cũng có trường hợp nam nữ khi kết hôn không vi phạm quy định của Luật về cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm ba đời, nhưng theo tập quán, họ vẫn thuộc phạm vi quan hệ họ hàng không được kết hôn, do vậy, họ đã bị gia đình, cộng đồng không cho kết hôn hoặc không thừa nhận hôn nhân… Ngoài hai trường hợp trên, việc tranh chấp về các lễ vật, sính lễ trong ngày cưới, kết hôn cũng đang tiếp tục xảy ra và được giải quyết một cách không thống nhất do thiếu quy định cụ thể áp dụng tập quán

Bên cạnh đó, việc xem xét, xử lý lý hành chính đối với các trường hợp

vi phạm là người dân tộc thiểu số lại càng khó khăn và không phải dễ thực hiện đối với những người có thẩm quyền xử lý vi phạm Nếu xử phạt ở mức thấp nhất là cảnh cáo thì họ cũng không chấp hành bởi tính răn đe không cao,

Trang 28

19

còn nếu áp dụng hình thức xử phạt bằng tiền có tính răn đe cao hơn thì phần lớn những người dân đó đều là dân nghèo không có tiền để nộp phạt, và trong trường hợp đó, khả năng thực hiện các biện pháp cưỡng chế nộp phạt của chính quyền địa phương là điều không thể thực hiện được

1.3.1.3 Do tác động, ảnh hưởng của những mặt trái của cơ chế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, con người dần biến đổi để thích nghi được với những điều kiện mới Họ trở nên năng động, sáng tạo, linh hoạt và độc lập hơn trong cách nghĩ cách làm Quan điểm đời sống của họ cũng trở nên cởi

mở hơn, đơn giản hơn, không bị gò bó bởi quan niệm thành kiến đạo đức xưa

Vì vậy, con người dễ dàng thiết lập các mối quan hệ với nhau Một trong những hệ lụy đó là việc chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ trở nên hết sức bình thường và làm gia tăng tỉ lệ mang thai sớm dẫn đến tăng tỉ suất sinh con vị thành niên (từ 99%0 năm 2011 lên 116%0 năm 2013 ở nhóm 15-18 tuổi của phụ nữ dân tộc tộc thiểu số) [35 Đây cũng là nguyên nhân khách quan làm gia tăng tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở vùng dân tộc thiểu số

1.3.2 Nguyên nhân chủ quan

1.3.2.1 Do trình độ dân trí và ý thức pháp luật của người dân còn hạn chế

Tuy đã đạt được những thành tựu nhất định về phổ cập giáo tiểu học, nhưng đối với vùng dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng đặc biệt khó khăn vẫn đang gặp phải các thách thức lớn về chất lượng giáo dục và bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục giữa nhóm dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, giữa nông thôn và thành thị và giữa các vùng, miền

Tình trạng học sinh bỏ học vẫn tái diễn mà nguyên nhân chính là do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, bố mẹ chưa nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục, nâng cao dân trí, không khuyến khích con em họ đến trường mà muốn con cái ở nhà làm việc giúp đỡ gia đình; mặt khác, rào cản

Trang 29

20

về ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng cản trở khả năng học tập của học sinh dân tộc thiểu số khiến họ không theo kịp học sinh khác trong lớp dẫn đến tình trạng không thích học và bỏ học

Tỉ lệ biết chữ ở nhóm dân tộc thiểu số từ 10 tuổi trở lên ở mức thấp và

có sự chênh lệch lớn so với nhóm dân tộc Kinh (83,8% so với 96,8% năm 2012) Ở nhóm tuổi 15-24, chỉ có 82,3% phụ nữ dân tộc thiểu số biết đọc biết viết (tỷ lệ chung là 96,4%), nghĩa là cứ 5 phụ nữ dân tộc thiểu số ở nhóm tuổi 15-24 thì có 1 người sống trong các hộ gia đình dân tộc thiểu số không biết đọc biết viết; một số tỉnh có tỉ lệ biết chữ đặc biệt thấp, như: Lai Châu (69,3%), Điện Biên (73,5%), Hà Giang (76,0%), Sơn La (77,2%) [36]

Thực tế cho thấy, đối với đồng bào dân tộc thiểu số do trình độ dân trí thấp, nhận thức và ý thức pháp luật còn nhiều hạn chế đã tác động làm gia tăng tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết, nhất là đối với nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số

1.3.2.2 Công tác tuyên truyền còn bất cập, hạn chế và hiệu quả chưa cao

Tuyên truyền phổ biến pháp luật cho người dân luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Sau khi Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực, Chính phủ ban hành Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 quy định việc áp dụng Luật đối với các dân tộc thiểu số Các quy định của Luật và Nghị định 32/2002/NĐ-CP đã kế thừa các quy định của Luật hôn nhân và gia đình trước đây, đồng thời ghi nhận những phong tục, tập quán tốt đẹp trong hôn nhân và gia đình của các dân tộc thiểu số, đảm bảo việc kết hôn do nam,

nữ tự nguyện quyết định, không phân biệt đối xử trong kết hôn, kết hôn không

hợp với nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, bình đẳng và không phân biệt đối xử Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Luật hôn nhân và gia đình nói chung, việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình nói riêng đối với các dân tộc thiểu số theo quy định tại Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002

Trang 30

21

của Chính phủ góp phần quan trọng trong nâng cao sự hiểu biết, ý thức chấp hành pháp Luật hôn nhân và gia đình của các cơ quan, tổ chức và nhân dân trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tuyên tuyền, phổ biến pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở vùng dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại và hiệu quả chưa đạt được như mong muốn

Với địa bàn rộng lớn, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, đại

bộ phận người dân tộc ít người thường xuyên sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí tương đối thấp, tập quán “du canh, du cư”, nhiều hủ tục lạc hậu trong việc kết hôn, ly hôn, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con hoặc bất bình đẳng nam nữ trong quan hệ hôn nhân… vẫn tồn tại Mặc dù Luật hôn nhân và gia đình năm và các quy định pháp luật áp dụng đối với đồng bào dân tộc thiểu số đã có hiệu lực thi hành hơn 10 năm nay; công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình đã được chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội, các cơ quan bảo vệ pháp luật như Toà án, Viện kiểm sát thường xuyên thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng một

bộ phận người dân, nhất là người đồng bào dân tộc thiểu số vẫn chưa nhận thức hoặc chưa nắm vững về chế độ hôn nhân và gia đình, quyền và nghĩa vụ cũng như các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình đã cản trở hôn nhân tiến bộ và hiệu lực, tính khả thi của Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 cũng như Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chính phủ, quy định về việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu

số Vì vậy, phần lớn trường hợp tảo hôn đều rơi vào các hộ nghèo, đối tượng

vị thành niên, thanh niên thất học, hiểu biết pháp luật hạn chế và việc tiếp cận với các phương tiện thông tin đại chúng còn khó khăn

1.3.2.3 Sự can thiệp từ phía chính quyền địa phương đối với các trường hợp tảo hôn còn chưa mạnh mẽ, thiếu kiên quyết

Việc loại bỏ những phong tục tập quán lạc hậu nói chung, loại bỏ tục

Trang 31

22

tảo hôn và hôn nhân cận huyết ra khỏi đời sống xã hội đạt được hiệu quả không nhỏ nếu có sự can thiệp một cách mạnh mẽ, kiên quyết từ phía cơ quan địa phương Tuy nhiên, trên thực tế tảo hôn vẫn còn tiếp diễn và một phần lỗi không nhỏ thuộc về chính quyền địa phương Và thực tế cho thấy, không chỉ những người dân mà cả gia đình cán bộ, Đảng viên là lãnh đạo xã, phường cũng tiếp tay, thậm chí tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống còn diễn ra ngay trong gia đình của những cán bộ này

1.4 Hậu quả của hôn nhân cận huyết

1.4.1 Ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh

Hôn nhân cận huyết, kết hôn sớm, mang thai và sinh đẻ trong lứa tuổi

vị thành niênkhi cơ thể người mẹ chưa phát triển hoàn thiện, thiếu hiểu biết, kinh nghiệm và chưa sẵn sàng về mặt tâm sinh lý để mang thai và sinh con đã ảnh hưởng lớn tới sức khỏe bà mẹ, sự phát triển bình thường của thai nhi và trẻ sơ sinh Đây là nguyên nhân làm gia tăng tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em, tăng

tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi, tăng tỷ lệ tử vong của bà mẹ liên quan đến thai sản [37]

Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở thể thiếu cân, thể thấp còi cao gấp khoảng hơn 2 lần giữa vùng nông thôn so với thành thị (13,9%, 26,8% so với 6%, 11,8%), giữa nhóm DTTS với nhóm dân tộc Kinh (22%, 40,9% so với 10%, 19,6%) và gấp 6,5 lần giữa nhóm hộ DTTS nghèo nhất với giàu nhất (20,6%, 40,9% so với 3,1%, 6,1%) [38]

Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi năm 2011 của nhóm dân tộc thiểu số cao gấp 3 lần so với nhóm dân tộc Kinh (30%0, 39%0 so với 10%0, 12%0) và gấp hơn 2 lần giữa nhóm hộ nghèo nhất so với nhóm giàu nhất (23%0, 28%0 so với 11%0, 12%0) Vùng Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên có tỷ suất tử vong trẻ em tương ứng cao gấp khoảng 2-3 lần so với vùng thấp nhất là Đông Nam bộ (23%0, 24,3%0 và 35%0, 37%0 so với

9,3%0 và 13,9%0) [38]

Trang 32

1.4.2 Ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng dân số, suy giảm giống nòi và chất lượng nguồn nhân lực

Là một trong những lực cản đối với sự phát triển kinh tế- xã hội, tiến bộ

xã hội và sự phát triển bền vững của vùng dân tộc thiểu số

Tảo hôn và hôn nhân cận huyết không chỉ đi ngược với thuần phong,

mỹ tục của người Việt mà còn vi phạm pháp luật và nguy hại hơn nữa, những hậu quả để lại cho thế hệ tương lai thật khó lường Thực tiễn và khoa học đã chứng minh những trẻ em được sinh ra từ các cặp vợ chồng hôn nhân cận huyết có tỷ lệ mắc các bệnh dị tật bẩm sinh, chậm phát triển, suy dinh dưỡng,

tử vong sơ sinh cao hơn so với những trẻ em bình thường khác

Như vậy, tảo hôn và hôn nhân cận huyết với những hậu quả khôn lường cho thế hệ tương lai, là gánh nặng cho gia đình và xã hội Tảo hôn ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến chất lượng dân số, suy giảm giống nòi, chất lượng nguồn nhân lực và gây hậu quả tiêu cực đến sự phát triển và tiến bộ xã hội

1.4.3 Rơi vào vòng luẩn quẩn: Đói nghèo - thất học - tảo hôn

Thực tế cho thấy, các tỉnh có tỷ lệ nghèo đói cao, đồng thời tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết cũng gia tăng; tảo hôn vừa là nguyên nhân, vừa

là hậu quả của nghèo đói, thất học và suy giảm chất lượng cuộc sống Hôn nhân cận huyết làm cho chậm phát triển kinh tế lần suy thoái nòi giống ảnh hưởng về sức khỏe con người Nhìn qua các giai đoạn ta có thể thấy được hiệu quả của phòng chống tảo hôn trong những năm vừa qua tại các vùng có

tỷ tỷ lệ tảo hôn và hôn nhân cận huyết thấp sẽ có nên kinh tế phát triển tốt

Trang 33

tảo hôn sẽ là dào cản cho sự phát triển của quốc gia

1.5 Công tác truyền giáo dục thông qua các hoạt động tại cộng đồng

1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi Thanh, thiếu niên

Theo các nhà nghiên cứu tâm sinh lý giới hạn lứa tuổi thanh thiếu niên hay còn gọi là tuổi vị thành niên trong khoảng từ 10 - 20 tuổi, đây là giai đoạn chuyển tiếp của sự phát triển từ tuổi thơ sang người lớn, giai đoạn đặc biệt của cuộc đời mỗi con người vì ở đó sẽ đồng thời xảy ra một loạt những thay đổi nhanh chóng, rõ nét về thể chất, tinh thần, tâm lý

Khi trẻ khoảng 10-14 tuổi được gọi là giai đoạn vị thành niên sớm, tương đương với tuổi thiếu niên Đứa trẻ lúc này bước vào tuổi dậy thì Ngoài những biến đổi về sinh học, phát triển nhanh về chiều cao, cân nặng còn có những biến đổi tâm lý đặc trưng Mặc dù tuổi thiếu niên vẫn còn mang nhiều đặc trưng của một đứa trẻ, phụ thuộc nhiều vào gia đình, nhưng mối quan tâm đến bạn bè bắt đầu nổi lên như là một đáp ứng chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới Trẻ chú ý và coi trọng mối quan hệ bạn bè, xuất hiện những tình trạng mâu thuẫn, vừa gắn bó tuân thủ cha mẹ, vừa chống đối muốn tách khỏi

sự bảo hộ của cha mẹ

Trang 34

25

Từ 13 - 17 tuổi, tương đương với tuổi thiếu niên lớn, sự dậy thì đầy đủ thường xảy ra ở giai đoạn này, thể hình cơ bắp phát triển, cơ quan sinh dục dần hoàn thiện, các tuyến nội tiết hoạt động, trẻ gái đã có kinh nguyệt, trẻ trai

có phóng tinh không chủ định, có khả năng sinh hoạt tình dục và sinh con Những biến đổi tâm lý đặc trưng, thường thấy của giai đoạn này là trẻ nỗ lực tìm kiếm sự độc lập, muốn tách khỏi sự quản lý, kiểm soát của gia đình Tuổi này có nhu cầu đặc biệt về tình bạn, cảm nhận được những tinh tế trong tình bạn Tuổi thiếu niên lớn tràn đầy xúc cảm, dễ xúc động, khó kềm chế xúc cảm bộc phát, dễ bị tổn thương

Từ 17- 20 tuổi là giai đoạn sau dậy thì, lứa tuổi đầu thanh niên, các em

đã trở nên giống người lớn hơn về nhiều phương diện Các em đã có cách suy nghĩ, nhận xét, cam kết, chín chắn của người lớn trong quan hệ với công việc, trong quan hệ với người khác Các em giống người lớn hơn trong nhận thức,

tự đánh giá về bản thân, trong nhìn nhận các giá trị đạo đức, đạo lý, về mục đích sống của bản thân và có tính thực tế hơn Các em được thừa nhận về mặt

xã hội như người lớn Tuy nhiên, các em vẫn cần một khoảng thời gian nữa để thực sự trưởng thành Vị thế xã hội của lứa tuổi thanh niên có nhiều thay đổi

so với lứa tuổi trước đó Những thay đổi trong vị thế xã hội, sự thách thức khách quan của cuộc sống dẫn đến làm xuất hiện ở lứa tuổi thanh niên những nhu cầu về hiểu biết thế giới hiểu biết xã hội và các chuẩn mực quan hệ người

- người, hiểu mình và tự khẳng định mình trong xã hội

Các nghiên cứu tâm lý học cho thấy rằng hoạt động tư duy của thanh thiếu niên rất tích cực và có tính độc lập tư duy lý luận phát triển mạnh Thanh thiếu niên có khả năng và rất ưa thích khái quát các vấn đề Sự phát triển mạnh của tư duy lý luận liên quan chặt chẽ với khả năng sáng tạo

Các em ở lứa tuổi thanh, thiếu niên cảm nhận được các rung động của bản thân và hiểu rằng đó là trạng thái "cái tôi" của mình Cảm nhận về "tính người lớn" của chính 'bản thân mình là một trong những nét tâm lý đặc trưng

Trang 35

26

xuất hiện trong giai đoạn chuyển từ lứa tuổi thiếu niên sang tuổi thanh niên các em có cảm nhận rõ rệt rằng mình đã lớn hay mình cũng gần giống người lớn, sắp trở thành người lớn hướng tới các giá trị của người lớn, so sánh mình với người lớn, mong muốn được tự lập, tự chủ trong giải quyết các vấn

đề của riêng bản thân Để chuẩn bị bước vào đời, thanh niên thường trăn trở với các câu hỏi về ý nghĩa và mục đích cuộc sống, về cách xây dựng một kế hoạch sống có hiệu quả, về việc lựa chọn nghề nghiệp cho phù hợp và có ý nghĩa

Một trong các khía cạnh quan trọng của quá trình hình thành thế giới quan ở lứa tuổi thanh, thiếu niên là trình độ phát triển ý thức đạo đức Các nghiên cứu tâm lý học cho thấy rằng thế giới quan về lĩnh vực đạo đức bắt đầu hình thành ở con người' từ tuổi thanh, thiếu niên Các em thanh, thiếu niên biết đánh giá phân loại hành vi của bản thân và của người khác theo các phạm trù đạo đức khác nhau, có khả năng đưa ra những chính kiến tương đối khái quát của riêng mình về các vấn đề đạo đức Ở khía cạnh tình cảm các chuẩn mực đạo đức đã có được những ý nghĩa riêng tư đối với thanh, thiếu niên, nhờ đó các hành vi tương ứng với các chuẩn mực đạo đức nhất định có thể khơi dậy ở họ những xúc cảm đặc biệt Nói cách khác ở lứa tuổi vị thành niên niềm tin, đạo đức đã bắt đầu hình thành Sự hình thành niềm tin đạo đức biến thanh niên từ chỗ là người chấp nhận, phục tùng các chuẩn mực đạo đức trở thành chủ thể tích cực của chúng Điều này thể hiện đặc biệt rõ trong việc tìm kiếm hình mẫu lý tưởng Học sinh nhỏ tuổi tiếp nhận hình mẫu lý tưởng xuất phát từ tình cảm khâm phục một con người cụ thể và khi đó hình mẫu lý tưởng sẽ chi phối hành vi đạo đức của các em

Tuổi vị thành niên là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn người trưởng thành Đây là một thời kỳ phát triển phức tạp nên cần phải tôn trọng nhịp độ sinh học tự nhiên trong sự phát triển tâm sinh lý để có thể vững vàng

vượt qua giai đoạn này và trưởng thành hơn về mọi mặt

Trang 36

- Nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật về hôn nhân và gia đình, góp phần giải quyết tình trạng hôn nhân cận huyết, nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực ở vùng DTTS

- Giúp cho các em biết trân trọng và bảo vệ những giá trị cao cả và thiêng liêng của của tình yêu sâu nặng và giá trị của gia đình, biết được cái hay cái đẹp của nếp sống văn hoá văn minh

- Chuẩn bị về tinh thần và khả năng thực tiễn cho thế hệ trẻ, giúp cho

họ phát triển nhân cách toàn diện, biết cách tổ chức và xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xây dựng và thúc đẩy xã hội phát triển, giàu mạnh

- Tạo cho các em một bản lĩnh chống lại các tệ nạn xã hội, phê phán những hủ tục lạc hậu

- Nhận thức được những hệ lụy do kết hôn của những người có cùng dòng máu trực hệ trong phạm vi ba đời

1.5.2.2 Nhiệm vụ giáo dục

- Bồi dưỡng tri thức đúng đắn khoa học về tình yêu, hôn nhân, đời sống gia đình, về đạo lí, tâm lí xã hội, về cách cư xử và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với mọi người, với người khác giới, với người yêu, người vợ, người chồng, cha mẹ, con cái, việc sinh đẻ và nuôi dạy con cái

- Bồi dưỡng ý thức trách nhiệm đối với sức khoẻ của bản thân và của người khác, ý thức được tác hại của việc kết hôn sớm

- Giáo dục ý thức trách nhiệm xã hội trong quan hệ giới tính con người

Trang 37

28

Như vậy, nhiệm vụ của giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết cho lứa tuổi thanh thiếu niên ngoài việc thực hiện hiệu quả, thúc đẩy hoạt động giáo dục nâng cao trình độ hiểu biết về pháp luật, trình độ dân trí cũng như thay đổi quan niệm, ý thức trách nhiệm xã hội cho lứa tuổi thanh, thiếu niên

mà còn bao gồm cả việc truyền thụ tri thức về mối quan hệ nam nữ và các mối quan hệ khác (với người lớn, với gia đình, xã hội, bản thân…) và cả việc giáo dục những phẩm chất đạo đức, những hành vi cư xử với mọi người, nhất

là làm cho các em biết được những hành vi tốt và xấu, đúng và sai trong phong tục tập quán ở địa phương, những tri thức và quan niệm đúng đắn về đời sống giới tính của con người, từ đó giảm thiểu tình trạng hôn nhân cận huyết

1.5.3 Nội dung giáo dục

1.5.3.1 Giáo dục nhận thức cho thanh thiếu niên về hệ lụy và hậu quả của việc hôn nhân cận huyết, đó là:

- Ảnh hưởng đến chất lượng dân số, suy giảm giống nòi, là một trong những lực cản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ xã hội và sự phát triển bền vững của vùng dân tộc thiểu số

- Ảnh hưởng nghiêm trọng đến văn hóa, đạo đức gia đình, phá vỡ giá trị truyền thống văn hóa gia đình tốt đẹp của dân tộc ta

- Rơi vào vòng luẩn quẩn: Đói nghèo - thất học - kết hôn cận huyết hôn nhân cận huyết vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả của nghèo đói, thất học và suy giảm chất lượng cuộc sống, ảnh hưởng tiêu cực đến việc hoàn thành các mục tiêu thiên niên kỷ và thực hiện công bằng trong phát triển và tiến bộ xã hội của đất nước

1.5.3.2 Giáo dục định hướng hành vi, hoạt động cho thanh thiếu niên trong việc phòng tránh hôn nhân cận huyết

- Phê phán, bác bỏ những nhận thức, hành vi không đúng đắn về tình

Trang 38

- Tham gia và thực hiện năng nổ trong các phong trào thi đua tìm hiểu

về giới tính, luật hôn nhân và gia đình đồng thời tích cực vận động mọi người cùng tham gia

1.5.4 Phương pháp, phương tiện giáo dục

1.5.4.1 Phương pháp giáo dục

Cầ có những phương pháp hoạt động phù hợp nhằm thực hiện đúng vai trò, nhiệm vụ và những mục tiêu của hoạt động giáo dục phòng tránh hôn nhân cận huyết Bao gồm các phương pháp sau:

- Phương pháp tuyên truyền,thuyết phục:

Tuyên truyền, thuyết phục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch bằng lý lẽ và việc làm mẫu mực để người được tuyên truyền hiểu được mục đích của vấn đề, tin theo và làm theo Tuyên truyền là một nghệ thuật nằm trong nghệ thuật giao tiếp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức

Có nhiều dạng tuyên truyền: tuyên truyền bằng tình cảm, bằng lý trí, bằng khuyến khích lợi ích hoặc đề cao nghĩa cử để thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ mà tham gia hoạt động

Đối tượng thuyết phục bao gồm: toàn thể thanh thiếu niên tại các cơ sở giáo dục

Để thực hiện tốt phuơng pháp tuyên truyền giáo dục đòi hỏi các cơ sở giáo dục, các cơ quan ban ngành, các CBQL cũng như các cán bộ, giáo viên tuyên truyền phải thâm nhập thực tiễn, sâu sát tình hình, hiểu biết tâm tư nguyện vọng, hoàn cảnh, trình độ của từng đối tượng cụ thể để xác định nội dung và phương pháp thực hiện

Trang 39

30

Đối với các tổ chức đoàn thể ở địa hương cũng như các cơ quan, ban ngành, các tổ chức chính trị - xã hội cần hăng hái tham gia phát triển hoạt động tuyên truyền trong nhà trường cũng như địa phương nơi sinh sống của các em nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ của hoạt động giáo dục phòng chống hôn nhân cận huyết cho HS

- Phương pháp hành chính - tổ chức

Phương pháp hành chính – tổ chức là cách thức tác động trực tiếp của chủ thể quản lý, cụ thể ở đây là các cơ sở giáo dục phối hợp với các sở, ban ngành bằng các quyết định dứt khoát mang tính chất bắt buộc, đòi hỏi các em học sinh lứa tuổi thanh, thiếu niên phải chấp hành nghiêm chỉnh, nếu vi phạm

sẽ bị xử lý kịp thời, thích đáng Các quyết định được cụ thể hóa dưới dạng các quy chế, quy định, quyết định, nội quy cụ thể

- Phương pháp tổ chức các phong trào hoạt động

Tổ chức phong trào, hoạt động gồm những hình thức chủ yếu là:

+ Tổ chức các phong trào thi đua học tập về giới tính, hiểu biết pháp luật về hôn nhân và gia đình trong nhà truờng và trên từng địa phương

+ Tổ chức tham gia xây dựng đổi mới phuơng pháp tuyên truyền, giáo dục nhằm phát huy hiệu quả trong hoạt động phòng chống hôn nhân cận huyết

Trang 40

31

+ Tổ chức các hoạt động, các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể thao nhằm tôn vinh giá trị đạo đức gia đình, giá trị văn hóa của dân tộc, từ đó định hướng cho HS ý thức giữ gìn các giá trị truyền thống tốt đẹp đó

+ Tổ chức hội nghị tổng kết hằng năm; sơ kết, tổng kết, khen thưởng kịp thời những cá nhân có thành tích trong các phong trào thi đua

1.5.2 Phương tiện giáo dục

- Biên soạn, cung cấp tài liệu, sản phẩm truyền thông; tài liệu tập huấn

về kiến thức, kỹ năng truyền thông, vận động, tư vấn pháp luật liên quan về hôn nhân và gia đình ở vùng dân tộc thiểu số Đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, vận động, thay đổi hành vi của đồng bào dân tộc

thiểu số về hôn nhân cận huyết

- Dựa trên mục tiêu giáo dục phòng tránh hôn nhân cận huyết cùng các chương trình, chính sách của Đảng, các cơ sở giáo dục phối hợp với chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị phát động tổ chức các hoạt động tuyên truyền tạo chuyển biến mạnh mẽ nhận thức của các thanh thiếu niên trong việc phòng tránh hôn nhân cân huyết

- Hướng dẫn kiến thức giới tính, hôn nhân và gia đình sớm cho HS thông qua những hoạt động ngoài khóa, những buổi trò chuyện tại nhà trường

- Triển khai các hoạt động truyền thông, giáo dục với nội dung, hình thức

và cách tiếp cận phù hợp với từng vùng, từng nhóm đối tượng, chú trọng khu vực khó khăn, đối tượng khó tiếp cận, mở rộng giáo dục về dân số, giới và bình đẳng giới và đặc biệt là kiến thức pháp luật hôn nhân và gia đình

- Tiếp tục đẩy mạnh giáo dục về giới tính, pháp luật hôn nhân và gia đình cũng như các giá trị đạo đức, truyền thống văn hóa dân tộc đã được đưa vào các chương trình giảng dạy chính thức trong nhà trường, bổ sung thêm kiến thức và kỹ năng sống liên quan đến giới tính, tình dục an toàn, giới và bình đẳng giới vào nội dung giảng dạy phù hợp với các cấp học: trung học cơ

sở, trung học phổ thông, cao đẳng, đại học và các trường dạy nghề

Ngày đăng: 25/12/2019, 21:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w