1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại vietnam motor show từ năm 2012 đến năm 2017

218 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 218
Dung lượng 12,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong NTTB tại các TLTM VMS có thể thấy: Thứ nhất, tư duy mỹ thuật trong vấn đề bố cục không gian, tạo hình, nhịp điệu, đườngnét, màu sắc, chất liệu và chiếu sáng được chú trọng, đáp ứng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Nghiên cứu sinh xin cam đoan luận án tiến sĩ Nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại “Vietnam Motor Show” từ năm 2012 đến năm

2017 là công trình nghiên cứu của tôi viết Các kết quả nghiên cứu và kết luận

trong luận án này là trung thực, khách quan và chƣa từng bảo vệ ở bất kỳ học

vị nào Việc tham khảo các tài liệu đƣợc trích dẫn và ghi nguồn đúng quyđịnh

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Tp Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 9 năm 2019

Nghiên cứu sinh

Hồ Nam

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ……….……… ……… i

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT ……… ……….… … iv

MỞ ĐẦU … ……… ……… 1

NỘI DUNG ……… ………… 9

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN, KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT TRƯNG BÀY TẠI CÁC TRIỂN LÃM THƯƠNG MẠI “MOTOR SHOW” TẠI VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI ….… 9 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ……… … 9

1.2 Cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài luận án ……… ……… 24

1.3 Khái quát về nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại “Motor Show” tại Việt Nam và thế giới ……… … 36

Tiểu kết ……… ………… 49

Chương 2: HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA NGHỆ THUẬT TRƯNG BÀY TẠI CÁC TRIỂN LÃM THƯƠNG MẠI “VIETNAM MOTOR SHOW” TỪ NĂM 2012 ĐẾN NĂM 2017 ……… ……… 51

2.1 Bố cục không gian ……… ……… 53

2.2 Tạo hình ……… ……… 62

2.3 Ánh sáng ……… ……… 79

2.4 Các nghệ thuật trình diễn và âm thanh 90

Tiểu kết ……… ……… 96

Chương 3: GIÁ TRỊ THẨM MỸ VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THẨM MỸ CỦA NGHỆ THUẬT TRƯNG BÀY TẠI CÁC TRIỂN LÃM THƯƠNG MẠI “VIETNAM MOTOR SHOW” ………….……… 98

3.1 Giá trị thẩm mỹ của nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại “Vietnam Motor Show” ……… ……… ……… 98

3.2 Xu hướng phát triển thẩm mỹ của nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại “Vietnam Motor Show” ……… ……… ……… 125

Trang 5

Tiểu kết ……… ……… 146KẾT LUẬN ……….……… …… ……… 148DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ……….……… 153

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… ………… …… ……… 154PHỤ LỤC ……… ………… ……… ……… 166

Trang 6

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT

Triển lãm thương mạiThành phố Hồ Chí Minhtrang

Hiệp hội các nhà sản xuất Ô tô Việt Nam (VietnamAutomobile Manufacturers’ Aossication, tên viết tắt giaodịch VAMA)

Vietnam Motor Show (Tạm dịch: Trưng bày Ô tô ViệtNam)

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hoạt động triển lãm thương mại Việt Nam xuất hiện từ thời kỳ Phápthuộc Trải qua một chặng đường dài song hành cùng lịch sử đấu tranh dântộc, phải đến thời điểm đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, diện mạo mỹ thuậttrong vấn đề trưng bày tại các triển lãm thương mại (TLTM) mới có sự biếnchuyển rõ nét và trở nên đa dạng trong những năm đầu thế kỷ 21 nhờ sự tiến

bộ của khoa học và công nghệ “Vietnam Motor Show” (tạm dịch: Trưng bày

Ô tô Việt Nam - VMS) là sự kiện TLTM mang tầm quốc gia và quốc tế được

tổ chức lần đầu tiên vào năm 2002 tại Hà Nội

Các kỳ TLTM VMS đều tăng nhanh số lượng khách tham quan, đối tác

và ký kết thành công nhiều hợp đồng thương mại giá trị Việc tổ chức đượcthường niên sự kiện này tại Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh khẳng định vị thế và

sự ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội Năm 2012 với chiến lược “Hướngtới người tiêu dùng” và để đảm bảo cho sự kiện lần thứ 8 diễn ra một cáchchuyên nghiệp, Hiệp hội các nhà sản xuất Ô tô Việt Nam (VAMA) đã đưa ranhững lựa chọn khắt khe với đối tác tổ chức và truyền thông dựa theo tiêuchuẩn quốc tế, góp phần tạo nên diện mạo mới trong nghệ thuật trưng bày(NTTB) tại các TLTM VMS

Kể từ sự kiện này những hình thức biểu hiện của tạo hình không gian có

sự biến chuyển rõ nét, có giá trị lan tỏa và ảnh hưởng tới NTTB tại các TLTMViệt Nam nói chung Trong NTTB tại các TLTM VMS có thể thấy: Thứ nhất,

tư duy mỹ thuật trong vấn đề bố cục không gian, tạo hình, nhịp điệu, đườngnét, màu sắc, chất liệu và chiếu sáng được chú trọng, đáp ứng quy luật vốn cócủa thẩm mỹ học và nghệ thuật học; Thứ hai, là loại hình nghệ thuật có tínhchiếm lĩnh không gian thuộc lĩnh vực Mỹ thuật ứng dụng,

Trang 8

đã có sự vận dụng linh hoạt các xu hướng mỹ thuật Hiện đại và tiếp thu xuhướng mỹ thuật Hậu hiện đại thông qua các kỳ TLTM VMS những năm gầnđây; Thứ ba, giá trị tạo sự khác biệt độc đáo tạo hình mang bản sắc Việt được

đề cập và khai thác ngày càng sâu sắc khi hội nhập và tiếp biến với NTTB tạicác TLTM “Motor Show” có nguồn gốc phương Tây NTTB tại các TLTMVMS là một trong những thành tố quan trọng góp phần tôn vinh và nâng caogiá trị các sản phẩm hàng hóa, tăng cường xúc tiến thương mại, trực tiếp tạo

đà phát triển kinh tế xã hội

Từ trước tới nay, ở Việt Nam chưa có hệ thống nghiên cứu một cáchtoàn diện về vấn đề này Trên thực tế công tác lý luận phê bình mỹ thuật lĩnhvực NTTB tại các TLTM nói chung và NTTB tại các TLTM VMS nói riênggần như chưa được đề cập Nhiệm vụ đặt ra với công tác lý luận phê bình làcần phải hướng tới những tiếp cận lý thuyết khoa học, áp dụng các thành tựumới của xã hội hiện đại để nâng tầm chất lượng thẩm mỹ cho NTTB tại cácTLTM VMS

Với những vấn đề đặt ra trên, nhằm hệ thống một cách nghiêm túc vàsâu sắc các khía cạnh của mỹ thuật tạo hình không gian trong NTTB tại cácTLTM VMS thời gian qua, nghiên cứu sinh (NCS) mong muốn phát triển nền

tảng nghiên cứu về Nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại

“Vietnam Motor Show” từ năm 2012 đến năm 2017.

Trang 9

- Xác định cơ sở lý luận liên quan đến nghiên cứu NTTB tại các TLTMVMS.

- Làm rõ hình thức biểu hiện nghệ thuật thị giác của NTTB tại cácTLTM VMS thông qua: bố cục không gian, tạo hình, ánh sáng, các nghệ thuật trình diễn và âm thanh

- Làm rõ sự hội nhập và tiếp biến của NTTB tại các TLTM VMS thông qua các hình thức biểu hiện nghệ thuật

- Làm rõ giá trị thẩm mỹ, hạn chế, xu hướng phát triển của NTTB tạicác TLTM VMS

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

NTTB thông qua các hình thức biểu hiện nghệ thuật tạo hình khônggian tại các TLTM VMS

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Nghiên cứu NTTB của các nhà sản xuất lớn trong

nước là thành viên trực thuộc VAMA, tham dự thường niên các sự kiện TLTMVMS như: Mercedes-Benz, Toyota, Lexus, Honda và Ford Như vậy phạm vikhông gian được chọn đồng thời là các nhà sản xuất có lịch sử kinh nghiệm vềNTTB tại châu Âu, Bắc Mỹ, châu Á và có vị thế thương hiệu trên thế giới

Phạm vi thời gian: Nghiên cứu các đối tượng trên từ năm 2012 đến năm

2017 Cụ thể là NTTB của các nhà sản xuất: Toyota năm 2012 tại Hà Nội,Honda năm 2013 tại Tp Hồ Chí Minh, Ford năm 2014 tại Tp Hồ Chí Minh,Lexus năm 2016 tại Hà Nội, Mercedes-Benz năm 2017 tại Hà Nội

Năm 2012 là thời điểm NTTB tại các TLTM VMS đi vào chuyênnghiệp hóa theo tiêu chuẩn quốc tế về tổ chức sự kiện triển lãm NCS nhậnthấy khoảng thời gian này là điều kiện cần và đủ để đánh giá một cách khách

Trang 10

quan, toàn diện về hình thức biểu hiện của đối tượng để rút ra những bài họchữu ích cho công tác lý luận và lịch sử mỹ thuật về NTTB tại các TLTM VMShiện tại và tương lai.

4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý thuyết

Các công trình nghiên cứu về NTTB tại các TLTM VMS dựa trên cơ sở

lý luận mỹ thuật học, thẩm mỹ học đối với loại hình nghệ thuật có tính chiếmlĩnh không gian thuộc lĩnh vực Mỹ thuật ứng dụng Căn cứ mục đích nghiên

cứu cụ thể của luận án, sẽ liên quan chủ yếu đến lý thuyết Hình thái học của nghệ thuật của M.Cagan, lý thuyết chủ nghĩa Hậu hiện đại với đại diện tiêu

biểu là Jean F Lyotard và Jacques Derrida trong lĩnh vực nghệ thuật học, lýthuyết lan tỏa các nền văn hóa của Franz Boas và Ruth Benedict thông quatiến trình: di chuyển, hội nhập, tiếp biến và lý thuyết giá trị được khởi nguồn

từ Karl Marx để vận dụng đánh giá các tiêu chí thẩm mỹ

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu thứ cấp: Phân tích, tổng hợpcác tài liệu thứ cấp là các công trình khoa học liên quan đến nội dung đề tàiluận án, các hình ảnh thực tế và bản vẽ miêu tả không gian TLTM VMS baogồm: mặt bằng, mặt đứng, phối cảnh, ảnh chụp thực tế Phương pháp này giúpNCS tiếp cận đối tượng nghiên cứu trong sự vận động và phát triển Bên cạnh

đó nhận diện các hình thức biểu hiện nghệ thuật, chỉ ra hạn chế và rút ra cácbài học kinh nghiệm

- Phương pháp thống kê, phân loại: Áp dụng phương pháp thống kê,phân loại trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án để xác định các không giantrưng bày tiêu biểu từ năm 2012 đến năm 2017 để đánh giá về NTTB tại cácTLTM VMS, bên cạnh đó kết hợp với một số phương pháp cụ thể như: mô tả,diễn giải, chứng thực

Trang 11

- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Trên quan điểm duy vật biện chứng,

sử dụng kết quả nghiên cứu của lĩnh vực nghệ thuật học, lịch sử và văn hóahọc Sử dụng phương pháp phân tích mỹ thuật học nhận định về các biểu hiệnnghệ thuật thị giác trong tạo hình của NTTB tại các TLTM VMS thông quacác nguyên lý mỹ thuật học, nguyên lý design từ quan điểm nền tảng chủnghĩa Hiện đại dịch chuyển hướng tới chủ nghĩa Hậu hiện đại trong tạo hìnhkhông gian Nghiên cứu luận án tiếp cận lịch sử để NCS có cái nhìn tổng quan

về NTTB tại các TLTM “Motor Show” trên thế giới nói chung và NTTB tạicác TLTM VMS nói riêng, nắm rõ quy luật hình thành của đối tượng nghiêncứu và dự đoán xu hướng phát triển Bên cạnh đó, nghiên cứu luận án tiếp cậnvăn hóa học để làm sâu sắc thêm sự lan tỏa các nền văn hóa thông qua NTTBtại các TLTM “Motor Show” có nguồn gốc phương Tây trong bối cảnh ViệtNam hiện nay Phương pháp này giúp NCS có cái nhìn đa chiều trong biệnluận những vấn đề đặt ra của luận án nhằm hướng tới kết quả một cách kháchquan và toàn diện

5 Câu hỏi nghiên cứu

- Câu hỏi 1: NTTB tại các TLTM VMS có những vấn đề gì? Vị trí,

diện mạo của nó trong tiến trình lịch sử mỹ thuật Việt Nam nói chung và lịch

sử NTTB tại các TLTM “Motor Show” trên thế giới nói riêng?

- Câu hỏi 2: Hình thức biểu hiện của NTTB tại các TLTM VMS thông

qua cấu trúc và phương tiện biểu hiện nghệ thuật nào?

- Câu hỏi 3: Giá trị thẩm mỹ của NTTB tại các TLTM VMS có những

thành tựu và vấn đề gì? Xu hướng phát triển thẩm mỹ của NTTB tại các

TLTM VMS trong xu thế thế giới hội nhập và phát triển?

Từ các câu hỏi trên, NCS đi đến giả thuyết sau:

Trang 12

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Giả thuyết 1: NTTB tại các TLTM VMS là một loại hình nghệ thuật

có tính chiếm lĩnh không gian thuộc lĩnh vực Mỹ thuật ứng dụng Loại hìnhnày có những đặc điểm riêng tương ứng với cấu trúc độc đáo của nó, đồngthời vận động và phát triển theo xu hướng chung của tiến trình lịch sử mỹthuật Việt Nam nói chung và lịch sử NTTB tại các TLTM “Motor Show” trênthế giới

Mục tiêu của giả thuyết này nhằm làm rõ cơ cấu nội tại của NTTB tạicác TLTM VMS Xác định các yếu tố cấu thành nghệ thuật và làm rõ nhữngđặc điểm riêng tương ứng với cấu trúc độc đáo của NTTB tại các TLTM VMStrong sự vận động và phát triển của loại hình Xác định vị trí đối tượng nghiêncứu trong tiến trình lịch sử mỹ thuật Việt Nam nói chung và lịch sử NTTB tạicác TLTM “Motor Show” trên thế giới

- Giả thuyết 2: NTTB tại các TLTM VMS có những hình thức biểu

hiện nghệ thuật tương ứng với bản chất cơ cấu nội tại của nó đồng thời vậnđộng và phát triển theo quy luật thẩm mỹ học, mỹ thuật học

Mục tiêu của giả thuyết này là tìm hiểu bản chất thẩm mỹ của đối tượngnghiên cứu theo quy luật thẩm mỹ học và mỹ thuật học Trên cơ sở đó nhậndiện những nét riêng thông qua hình thức biểu hiện của loại hình này Đây làđóng góp quan trọng về mặt lý luận các hình thức biểu hiện thẩm mỹ củaNTTB tại các TLTM VMS

- Giả thuyết 3: NTTB tại các TLTM VMS có những giá trị thẩm mỹ, có

xu thế phát triển gắn liền với thành tựu của NTTB tại các TLTM “Motor

Show” trên thế giới, có dấu ấn bản sắc riêng và gắn liền với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ

Mục tiêu của giả thuyết này là nhìn nhận được những giá trị thẩm mỹ của NTTB tại các TLTM VMS trong biện luận đối chiếu với những giá trị

Trang 13

thẩm mỹ của NTTB tại các TLTM “Motor Show” thế giới Xác định rõ cácyếu tố biểu hiện thẩm mỹ của NTTB tại các TLTM “Motor Show” thế giớitrong việc di chuyển vào Việt Nam Xác định quá trình hội nhập và tiếp biến

của nó nhằm xây dựng NTTB “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Bên cạnh

đó mở ra các hướng phát triển thẩm mỹ của NTTB tại các TLTM VMS nhằmtiếp cận với xu thế thế giới Xác định vai trò của khoa học công nghệ hiện đạiđối với NTTB tại các TLTM VMS trong xu thế thế giới hội nhập và phát triển

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu xác định cơ sở lý luận và phương thức tiếp cận mới so vớinhững nghiên cứu đi trước, đồng thời chỉ ra hình thức và phương tiện biểu đạtcủa loại hình NTTB tại các TLTM VMS trong sự vận động và phát triển

Nghiên cứu khẳng định NTTB tại các TLTM VMS là bộ phận quantrọng của NTTB TLTM “Motor Show” trên thế giới, có giá trị to lớn đối với

Mỹ thuật ứng dụng Việt Nam hiện đại

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về NTTB tại các TLTM VMS Kếtquả nghiên cứu có thể sử dụng làm cơ sở lý luận, tài liệu tham khảo và ứngdụng thực tiễn cho các đơn vị đào tạo, công ty thiết kế mỹ thuật các công trìnhTLTM VMS nói riêng và TLTM Việt Nam nói chung

Nghiên cứu chỉ ra những điểm mạnh, hạn chế và xu hướng phát triểnthẩm mỹ của NTTB tại các TLTM VMS trong xu thế thế giới hội nhập nhằmhướng tới những chân giá trị của thời đại

8 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu (8 trang), Kết luận (5 trang), Danh mục các côngtrình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài luận án (1 trang), Tài liệu tham

Trang 14

khảo (12 trang) và Phụ lục (47 trang), nội dung luận án gồm ba chương:

- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận, khái quát

về nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại “Motor Show” tại Việt Nam và thế giới (42 trang)

- Chương 2: Hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày tại các triểnlãm thương mại “Vietnam Motor Show” từ năm 2012 đến năm 2017 (47 trang)

- Chương 3: Giá trị thẩm mỹ và xu hướng phát triển thẩm mỹ của nghệthuật trưng bày tại các triển lãm thương mại “Vietnam Motor Show” (50 trang)

Trang 15

Chương 1:

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN, KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT TRƯNG BÀY TẠI CÁC TRIỂN LÃM THƯƠNG MẠI “MOTOR SHOW” TẠI VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Căn cứ vào mục tiêu đề tài luận án, NCS định hướng, tìm kiếm và khảosát tư liệu Đến thời điểm hiện tại NCS chưa phát hiện được công trình nghiêncứu hay bài viết nào có liên quan trực tiếp đến nội dung đề tài luận án, mà chủyếu là các nghiên cứu gần hoặc liên quan gián tiếp Các công trình nghiên cứuliên quan đến lý thuyết triết học nghệ thuật, hình thái học nghệ thuật là nềntảng để NCS xác định rõ bản chất cơ cấu nội tại của đối tượng nghiên cứu.Đối với lĩnh vực mỹ thuật học, các công trình nghiên cứu về lịch sử mỹ thuậtViệt Nam và thế giới, một số lý luận chuyên biệt đối với vấn đề Mỹ thuật ứngdụng như phương pháp luận design, hệ giá trị thẩm mỹ là cơ sở cho các phântích, đánh giá lĩnh vực nghiên cứu Quan trọng hơn cả, các công trình liênquan gần đến đề tài luận án là NTTB tại các TLTM là nguồn tài nguyên phongphú để NCS kế thừa, phát triển hệ thống lý thuyết chuyên sâu Cuối cùng, đốivới những nghiên cứu lĩnh vực mỹ thuật, không thể tách rời các giá trị văn hóahọc, vấn đề bản sắc và truyền thống Trên cơ sở hệ thống tư liệu tập hợp được,NCS phân chia các công trình liên quan theo bốn nhóm các lĩnh vực sau: Triếthọc nghệ thuật và hình thái học nghệ thuật; Mỹ thuật học, mỹ thuật ứng dụng,phương pháp luận design và hệ giá trị thẩm mỹ; Nghệ thuật trưng bày triểnlãm thương mại; Văn hóa học và nghệ thuật tạo hình truyền thống trong mỹthuật

1.1.1 Triết học nghệ thuật và hình thái học nghệ thuật

Cuốn Mỹ học [16] (Huyền Giang dịch năm 2003) của Denis Huisman

(sinh năm 1926) cho một cái nhìn tổng quan về toàn bộ hệ thống lịch sử mỹ

Trang 16

học thế giới Tác giả giới thiệu“hàng chục thuyết mỹ học khác nhau và tất nhiên, với chừng ấy định nghĩa về cái Đẹp, hay nói rộng hơn, về cái Nghệ thuật” [16, tr.154] Mỗi giai đoạn của mỹ học, Denis Huisman đưa ra những

tác giả mỹ học tiêu biểu của từng thời đại: Platon (427-347 TCN), Aristote(384-322 TCN), Kant (1724-1804), Hegel (1770-1831) và đến những nhà mỹhọc hiện đại Denis Huisman đưa ra tập hợp các cách tiếp cận về mỹ học: triếthọc, tâm lý học và xã hội học Cách tiếp cận triết học của ông đề cập tới bảnchất, tiêu chuẩn và các giá trị của nghệ thuật Cách tiếp cận tâm lý học đề cậptới sự thưởng thức, sự sáng tạo và biểu diễn nghệ thuật Cách tiếp cận xã hộihọc đề cập tới công chúng, tác phẩm và môi trường của chúng

Đối với Kant: “Tự nhiên là đẹp khi nó mang bộ mặt nghệ thuật, và nghệthuật chỉ được gọi là đẹp khi chúng ta thấy nó vừa là nghệ thuật nhưng lại vừa

mang vẻ đẹp bên ngoài của tự nhiên” [16, tr.147] Hegel còn rõ ràng hơn khi

cho rằng: “Vẻ đẹp trong tự nhiên chỉ hiện ra như một sự phản chiếu của vẻđẹp vào tinh thần” [16, tr.147] Lần đầu tiên Mỹ học Hegel có sự phân tích cấutrúc về thế giới nghệ thuật là sự dung hợp và sự dung hợp hữu cơ với sự phân

tích lịch sử Quan điểm của Hegel là Hệ thống các nghệ thuật cá biệt không

phải là một cấu trúc tĩnh mà là một tương quan sinh động biến đối và chuyểnđộng theo những quy luật của những hình thức sáng tạo nghệ thuật

Nhà mỹ học xô-viết M.Cagan (1921-2006) với công trình Hình thái học của nghệ thuật [46] (Phan Ngọc dịch năm 2004) kế thừa và phát huy những

quan điểm của những nhà mỹ học đi trước Nhận thức luận của M.Cagan dựatrên quan điểm mỹ học duy vật biện chứng Ông đã đưa ra một cách nhìn tổngquan về lịch sử và lý luận về cơ cấu bên trong của thế giới nghệ thuật xoay

quanh trục biện luận: Tác giả - Thời đại - Công chúng NCS đặc biệt quan tâm

đến nhận thức những quy luật tổ chức bên trong của thế giới nghệ thuật với tưcách là một hệ thống những lớp, những nhóm, những loại hình (bao

Trang 17

gồm: loại hình lớn, loại hình con) và các thể của nó Theo M.Cagan, sự phân

loại nghệ thuật phải dựa vào hai tiêu chuẩn: tiêu chuẩn bản thể học và tiêu chuẩn ký hiệu học M.Cagan hoàn toàn xác đáng khi cho rằng nhóm nghệ thuật không gian thuộc kiểu không miêu tả có các loại hình của sáng tạo kiến trúc tính Tên gọi của nó lại vượt qua hình thức nghệ thuật như tính kiến trúc

mà lại không phải đặc quyền của kiến trúc M.Cagan cho rằng, yếu tố chủ đạo

về mặt cấu trúc của ngôn ngữ nghệ thuật của chúng là giá trị mỹ học của mối

tương quan những yếu tố tạo hình từ đó hình tượng nghệ thuật được tạo nên,

đó là phương tiện biểu hiện của các nghệ thuật ứng dụng Trên phương diện

mỹ học, M.Cagan biện luận rằng mục đích của cách tổ chức triển lãm là “làmcho người xem có một trạng thái tâm hồn nhất định, gây nên ở anh ta một thái

độ cảm xúc thẩm mỹ đối với những vật được trình bày và đối với với sức sángtạo của con người, của xí nghiệp, của nhà nước, của các chế độ xã hội màchúng đại diện” [46, tr.356]

M.Cagan cho rằng nghệ thuật của triển lãm là lĩnh vực một ngành nghệ

thuật mới của thời đại, là loại hình nghệ thuật xây dựng hình thức và gắn liền

với những tiến bộ kỹ thuật [46, tr.354] M.Cagan đã biện luận và chỉ ra rằng

đặc điểm của loại hình triển lãm có tính tạm thời, tính quảng cáo [46, tr.357]

và tính sân khấu [46, tr.516] Các phương tiện nghệ thuật tham gia vào chỉnh thể nghệ thuật triển lãm đều đóng vai trò có tính chất bổ trợ NCS đặc biệt quan tâm đến nghiên cứu về những sức mạnh hội nhập của quá trình lịch sử nghệ thuật của M.Cagan, khi ông cho rằng: “Từ chỗ giữa các nghệ thuật có sự

tồn tại độc lập bắt đầu hình thành những liên hệ và những ảnh hưởng qua lạidẫn tới những cấu trúc nghệ thuật mới và phức tạp, những cấu trúc tổng hợp”[46, tr.325] M.Cagan chỉ rõ ngôn ngữ của nghệ thuật triển lãm:

Là ngôn ngữ của những đồ vật thực sự, chứ không phải là những biểu hiện của nó bằng lời Các đồ vật được tập hợp ở đây, được so

Trang 18

sánh và được tổ chức về mặt bố cục không phải theo cái lôgíc thuầntúy kỹ thuật hay kinh tế, như điều xảy ra trong các kho hàng hóahay các chủ hàng ở các cửa hiệu mà theo một lôgíc đặc biệt [46,tr.356].

M.Cagan cho rằng việc xây dựng chủ đề triển lãm là cần thiết nhằm tổ

chức cách tri giác của người xem trong khoảng thời gian nhất định một cách

logic và tuần tự Như vậy, lý thuyết về hình thái học nghệ thuật của M.Cagan

sẽ hỗ trợ cho luận án những cơ sở lý luận về cấu trúc và đặc thù của nghệ

thuật triển lãm với những ảnh hưởng đan xen nhau trong một hợp thể nghệthuật tạo hình không gian một cách toàn vẹn

Nếu như các công trình liệt kê trên đề cập các vấn đề nhận thức luậnđến thời kỳ hiện đại thì mỹ học Hậu hiện đại được tiếp nối với quan điểm của

triết gia Pháp: Jean F Lyotard (1924-1998) qua ấn phẩm Hoàn cảnh hậu hiện đại [40] (Ngân Xuyên dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính và giới thiệu năm

2008) Nếu ở thời hiện đại, có hai đại tự sự ảnh hưởng lớn là triết học củaHegel và Marx thì Jean F Lyotard đưa ra định nghĩa về chủ nghĩa kỳ Hậu hiệnđại như “một sự hoài nghi đối với các đại tự sự” Ông cho rằng Hậu hiện đại là

thời kỳ của sự phân mảnh và đa nguyên luận Đa nguyên luận đòi hỏi nắm rõ

từng tình huống cụ thể và tạo ra những chuẩn mực cụ thể Do đó sẽ có đượcnhững phong phú về chuẩn mực và phán quyết Jean F Lyotard chủ trương sựcần thiết của một quan niệm công bằng về truyền thông, trong đó không chỉ

cho phép tồn tại mà còn bảo vệ sự đa dạng, có thể liên tục phá vỡ sự đồng

thuận tạm thời Đặc trưng của Hậu hiện đại là sự đa dạng của nhiều thái độ vàcách tiếp cận khác nhau cho các vấn đề xã hội

Để làm rõ thêm về chủ nghĩa Hậu hiện đại, tác giả Trần Quang Thái với

ấn phẩm: Chủ nghĩa hậu hiện đại - Các vấn đề nhận thức luận [60] (xuất bản

năm 2011) cho thấy một cái nhìn toàn cảnh về các nhận thức luận của các triết

Trang 19

gia chủ nghĩa Hậu hiện đại Đáng chú ý là những thành tựu khoa học côngnghệ, truyền thông đa phương tiện, công nghệ thực tại ảo xâm nhập ngày cànggia tăng vào các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật [60, tr.11] Tác giả đi đến nhậnđịnh rằng: tính đồng nhất, cứng nhắc, hàn lâm, đơn điệu trước đây của nhữnghoạt động văn hóa nghệ thuật đang nhường chỗ cho sự ra đời của những loại

hình văn hóa nghệ thuật đề cao sự sáng tạo cá nhân, tính giải trí và tính quần chúng [60, tr.11] Có thể thấy trong quan điểm mỹ học Hậu hiện đại của hai

triết gia tiêu biểu là Jean F Lyotard (1924-1998) và Jacques Derrida

(1930-2004) được biểu hiện thông qua các yếu tố như: Yếu tố hiện sinh, Yếu tố thực chứng, Yếu tố duy lý, Yếu tố chiết trung.

Qua tập hợp các tư liệu trên, NCS kế thừa thành tựu về Hình thái học của nghệ thuật của M.Cagan về nghệ thuật triển lãm dựa trên quan điểm duy

vật biện chứng lịch sử Bên cạnh đó, bổ sung các yếu tố mới của chủ nghĩaHậu hiện đại nhằm làm rõ nội dung và hình thức biểu hiện nghệ thuật của đốitượng nghiên cứu trong bối cảnh hiện nay và xu hướng phát triển

1.1.2 Mỹ thuật học, mỹ thuật ứng dụng, phương pháp luận design và

hệ giá trị thẩm mỹ

1.1.2.1 Mỹ thuật học

Ấn phẩm Nghệ thuật học [42] (xuất bản năm 2011) của Đỗ Văn Khang

(chủ biên) trình bày khái quát nguồn gốc của nghệ thuật, các thành tựu cơ bảncủa nghệ thuật phương Tây, phương Đông, nghệ thuật hiện đại và các phương

pháp sáng tác nghệ thuật Tác phẩm và hình tượng nghệ thuật chính là cơ sở

để khám phá, sáng tạo và thưởng thức các loại hình nghệ thuật như: kiến trúc,điêu khắc, hội hoạ, Ấn phẩm cho NCS cái nhìn tổng quan các loại hình nghệthuật thị giác, có tác dụng bổ trợ đối chiếu trong quá trình nghiên cứu luận án

Cuốn Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật [12] (Nguyễn Như Huy dịch

năm 2010) của Cynthia Freeland khái quát những nét chính của đặc điểm lịch

Trang 20

sử nghệ thuật tạo hình Tác giả lập luận rằng, lịch sử nghệ thuật chính là lịch

sử của những khái niệm nghệ thuật Khái niệm “nghệ thuật là sự mô phỏng”(Art as Imitation) khởi nguồn từ Platon (427-347 TCN) và Aristote (384-322TCN) Khái niệm này có ảnh hưởng lớn đến các quan niệm nghệ thuật ởphương Tây đến đầu thế kỷ 19 và bị suy chuyển bởi sự ra đời của nhiếp ảnh.Tuy nhiên, khái niệm này đã thực sự trở nên bế tắc khi bắt đầu có sự xuất hiệncủa hội họa trừu tượng Tác phẩm của các nghệ sĩ trường phái trừu tượng đãtriệt tiêu toàn bộ tính chất mô phỏng của nghệ thuật, thay vào đó là những

đường nét và màu sắc thuần túy Tiến trình lịch sử nghệ thuật tiếp tục gây

tranh cãi với các tác phẩm nghệ thuật khởi xướng cho trào lưu nghệ thuật Hậuhiện đại với tên tuổi của Christo, Jeanne-Claude và Duchamp Điều này phảinhắc tới quan điểm của Kant Theo Kant, một điều đẹp đẽ luôn sở hữu cái gọi

là “tính hợp mục đích không có mục đích” Với Kant, bất kể một vật thể nào,

dù có sở hữu sự mô phỏng hay không, nếu như nó mang những đặc trưng nào

đó, về đường nét, màu sắc, lối kiểu đan dệt, bố cục, gây ra được cho ngườithưởng ngoạn một xúc động về mặt thẩm mỹ - thúc đẩy một trò chơi tương tác

tự do giữa các quan năng nhận thức, là trí tuệ, tri giác, và sự tưởng tượng của

họ - vật thể ấy đã sở hữu một tính chất quan trọng nhất - đó là cái Đẹp CáiĐẹp của Kant ảnh hưởng tới lý thuyết hình thức của Clive Bell (1881-1964).Bell cho rằng trong mỗi tác phẩm nghệ thuật thị giác, đường nét, màu sắc liêngộp theo một cách nào đó cùng với các mô dạng và mối liên hệ của nó tạo nêncảm xúc thẩm mỹ Đó là chất lượng chung cho mọi tác phẩm nghệ thuật thịgiác Công trình trên giúp cho NCS cái nhìn tổng quan biến chuyển quan niệm

về cái Đẹp và cấu trúc tác phẩm nghệ thuật thị giác.

Cuốn Tiếp xúc với nghệ thuật - In Touch With Art [74] (xuất bản năm

2009) của Thái Bá Vân là ấn phẩm tập hợp các bài viết và nghiên cứu về cáccuộc trưng bày lĩnh vực nghệ thuật tạo hình thông qua lối viết tinh tế giàu

Trang 21

thông tin, giàu trí tuệ Trong ấn phẩm thấy rõ một quan niệm đúng đắn về hiệnthực trong tác phẩm nghệ thuật mới, phân biệt mạch lạc đời sống vật thể và

đời sống hình tượng của tác phẩm Theo quan điểm của tác giả, mục đích của một tác phẩm nghệ thuật là vươn tới cái đẹp của hình tượng như một giá trị tinh thần Trong ấn phẩm này, tiểu luận “Sử học mỹ thuật như một hệ thống” cho đến thời điểm này vẫn còn nguyên giá trị, đó là vấn đề: sử học mỹ thuật Việt Nam không thể đứng ngoài hệ thống mỹ thuật thế giới Trong hoàn cảnh

nghiên cứu của đề tài, NCS thấy rằng phải tiếp thu thành tựu học thuật phêbình mỹ thuật của những người đi trước, nhìn nhận vấn đề NTTB tại cácTLTM VMS là một bộ phận của NTTB tại các TLTM “Motor Show” trên thế

giới thông qua quá trình tiếp biến văn hóa.

Trong lĩnh vực mỹ thuật học, đáng chú ý là khái niệm cái Đẹp mô

phỏng hiện thực kéo dài đến đầu thế kỷ 20 và biến chuyển với thành tựu nghệthuật Hiện đại thông qua hình thức biểu hiện nghệ thuật: đường nét, màu sắcthuần túy Tự thân các yếu tố này liên gộp với nhau tạo nên cảm xúc thẩm mỹ.Bên cạnh đó vấn đề sử học mỹ thuật Việt Nam không thể đứng ngoài hệ thống

mỹ thuật thế giới

1.1.2.2 Mỹ thuật ứng dụng và phương pháp luận design

Trong cuốn Con mắt nhìn cái đẹp [57] (xuất bản năm 2005) của tác giả

Nguyễn Quân, NCS đồng ý với quan điểm: “mỹ thuật - còn được gọi là nghệthuật tạo hình - là một khái niệm tổng hợp, là kết quả của sự nhìn và nó đàoluyện sự nhìn của mỗi người; là tổng hợp các yếu tố biểu đạt màu, đen - trắng,khối, nét - điểm tạo nên hình” [57, tr.28] NCS đặc biệt quan tâm đến các vấn

đề tác giả đặt ra, đó là yếu tố: hình - hình học - hình thị giác, khối - khối ảo, màu - sắc và tư duy liên tưởng Trí tưởng tượng là kết quả tổng hợp của hoạt động tinh thần con người tạo nên cái Đẹp trong một chỉnh thể thống nhất.

Trong chỉnh thể đó mọi thành tố tham gia đều góp phần tạo nên những giá trị

Trang 22

Chân - Thiện - Mỹ trong tác phẩm mỹ thuật nói chung Tác giả xuất phát từ

những đặc điểm sinh học và tâm lý thị giác, phân tích các yếu tố tạo hình:

hình khối, đường nét, màu sắc như là những cơ cấu của sáng tạo nghệ thuật.

Tác giả giới thiệu về design với vô số các ngành hẹp phát triển nhanh trong xãhội công nghiệp hiện đại

Từ những vấn đề đặt ra của đề tài luận án, NCS tâm đắc với những khái

niệm và cách phân loại nghệ thuật của tác giả Nguyễn Xuân Tiên với Giáo trình mỹ thuật học đại cương [65] (xuất bản năm 2014) Bên cạnh việc khái

lược lịch sử mỹ thuật, cuốn sách cung cấp nhận thức phân biệt các loại hình

mỹ thuật đặc biệt là Mỹ thuật ứng dụng Theo tác giả, đặc trưng của ngôn ngữ

Mỹ thuật ứng dụng: “là nghệ thuật làm đẹp được ứng dụng trong đời sốnghàng ngày của xã hội” [65, tr.207] Sản phẩm của mỹ thuật ứng dụng (hay sảnphẩm design) trước hết phải thỏa mãn nhu cầu thực tế xã hội, sự hữu dụng,hữu ích của nó đối với con người Tác giả đề ra 5 yêu cầu cụ thể đối với sản

phẩm mỹ thuật ứng dụng thông qua biện chứng của các nguyên tắc: sự hợp lý

xã hội, ecgônômi, hiệu quả thẩm mỹ, hiệu quả kinh tế và thân thiện với môi trường Ấn phẩm là cơ sở cho NCS tham khảo về vấn đề giá trị thẩm mỹ của

loại hình Mỹ thuật ứng dụng

Tác giả Nguyễn Luận với ấn phẩm Đi dai thị giác [45] (xuất bản năm

1990), nghiên cứu các yếu tố tạo hình design theo hướng nhận thức lý thuyết

và thực hành Ấn phẩm đề cập tới những lý thuyết cơ bản của nhận thức tạohình thông qua yếu tố thị giác - đó là nền tảng của design ứng dụng Tác giảnhấn mạnh: “bất kỳ một tác phẩm Đidai công nghiệp hay kiến trúc đều đượcxem xét dưới hai góc độ: nội dung hàm chứa và hình thức biểu hiện” [45,

tr.21] Về vấn đề bố cục, ông cho rằng bố cục thực chất là công việc sắp đặt các yếu tố với đa hình dạng khác nhau trong một tổng thể hài hòa Lý thuyết

bố cục thông qua nhận thức thị giác và các yếu tố cơ bản của design khi các

Trang 23

yếu tố này tồn tại độc lập với giá trị tự thân của nó như: điểm, nét, hình phẳng, khối, không gian, màu sắc, ánh sáng, chất liệu khi chúng tồn tại một cách độc lập [45, tr.22] Đối với lĩnh vực tạo hình, tác giả cho rằng sẽ không thấy được vai trò từng loại yếu tố đó mà chỉ nhìn nhận ra chúng khi chúng bị ràng buộc tiên đề “hài hòa” và “thống nhất” [45, tr.22] Điều đó có ý nghĩa với luận án rằng sự hài hòa và thống nhất của tạo hình nghệ thuật sẽ dễ dàng nhận ra khi xem xét cùng lúc các phương tiện biểu hiện của nó.

Qua các tài liệu trên, có thể thấy cấu trúc tác phẩm mỹ thuật ứng dụng bao gồm nội dung hàm chứa và hình thức biểu hiện Hình thức biểu hiện ở đây có nhiều quan điểm, song tựu chung kết cấu bởi các yếu tố: điểm, nét, hình phẳng, khối, màu sắc, ánh sáng, chất liệu thông qua đa dạng các thể loại

bố cục và tư duy liên tưởng Vai trò tự thân của các yếu tố cấu thành trên chỉ

nhận ra giá trị khi chúng tương hỗ nhau trong sự hài hòa, thống nhất

tr.30] Quan niệm coi giá trị nằm trong mối quan hệ giữa các khách thể có thể

thấy ở Karl Marx (1818-1883) và nhà ngôn ngữ và ký hiệu học Thụy SĩFerdinand de Saussure (1857-1913) Saussure coi giá trị của một từ (ký hiệu)xuất hiện trong quan hệ với các từ (ký hiệu) khác Nhìn từ góc độ kinh tế học,Karl Marx cho rằng tính có ích của một vật làm cho vật đó có giá trị sử dụng.Khi những giá trị sử dụng này được hoán đổi với vật khác sẽ tạo nên giá trị

trao đổi “Giá trị sử dụng thì mang tính cụ thể, còn giá trị trao đổi mang tính

Trang 24

khái quát Cái chung biểu hiện trong quan hệ trao đổi của các hàng hóa chính

là giá trị của chúng” [63, tr.25].

Tiếp nối quan niệm về giá trị theo quan điểm triết học duy vật biện

chứng của Karl Marx, công trình: Về sự biến đổi của chuẩn mực đánh giá thẩm mỹ trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam [18] (xuất bản năm 2003) của Vũ

Thị Kim Dung đề cập tới đặc điểm, nội dung và xu hướng biến đổi nhữngchuẩn mực trong thời kỳ đổi mới của Việt Nam, đồng thời đưa ra những biệnpháp nhằm hoàn thiện các chuẩn mực đánh giá thẩm mỹ hiện nay phù hợp yêucầu lý luận và thực tiễn Tác giả khẳng định hình thức biểu hiện của giá trị là

đa dạng, song nó thống nhất ở tính hữu ích, là cái thật, cái đẹp, cái tốt, cái tiên tiến và tính nhân đạo hóa Tuy rằng mỗi thời đại, hoàn cảnh lịch sử cụ thể

có những quan niệm giá trị khác nhau, nhưng “thực chất và ý nghĩa báo quát của giá trị là tính nhân văn” [18, tr.27] Tác giả đưa ra những tiêu chí cơ bản

của chuẩn mực đánh giá thẩm mỹ hướng tới cái Đẹp theo tiêu chuẩn của mộtnền văn hóa “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Lý thuyết giá trị của Karl

Marx và tiêu chí Về sự biến đổi của chuẩn mực đánh giá thẩm mỹ trong thời

kỳ đổi mới ở Việt Nam [18] là cơ sở để NCS đánh giá giá trị của đối tượng nghiên cứu luận án thông qua các chuẩn mực cái Đẹp.

1.1.3 Nghệ thuật trưng bày triển lãm thương mại

Đây là lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đề tài, có ý nghĩa to lớn trongviệc định hình nghiên cứu NCS phân chia các ấn phẩm thành 2 nhóm: tài liệutrong nước và tài liệu nước ngoài để thuận tiện cho việc nghiên cứu

1.1.3.1 Tài liệu trong nước

Ấn phẩm Nghệ thuật trang trí triển lãm và bảo tàng [43] của Ngô Lao

được Trần Công Tả dịch năm 1963 với vị thế là một giáo trình của Học viện

mỹ thuật Trung Quốc Nội dung ấn phẩm đề cập đến các vấn đề thực tiễn côngtác trưng bày nghệ thuật của triển lãm và bảo tàng thông qua trình tự các

Trang 25

vấn đề thiết kế, cách sử dụng ánh sáng, màu sắc và minh họa Cuốn sách là cẩm nang về vấn đề lý luận thực tiễn trang trí triển lãm đương thời Đáng chú

ý là cấu trúc loại hình triển lãm thời điểm đó nhận thức gồm các hình thức

biểu hiện nghệ thuật thông qua nội dung gồm: bố cục, ánh sáng, màu sắc,minh họa và các vấn đề kỹ thuật trang trí hiện vật Ấn phẩm được Ngô Laonghiên cứu trên nền tảng lý luận mỹ thuật học chủ nghĩa duy vật biện chứng

Cuốn Triển lãm kiến trúc và trưng bày [82] (Đinh Trọng Nghĩa dịch

năm 1982) của V.I.Rêviakin là cẩm nang những kinh nghiệm lý luận thực tiễntrong giải pháp quy hoạch tổng thể kiến trúc triển lãm “Triển lãm với tư cách

là một loại hình tổng hợp nhiều bộ môn nghệ thuật” [82, tr.3] trong đó tạo hìnhkiến trúc giữ vai trò quan trọng V.I.Rêviakin nhận định đặc thù của loại hìnhtriển lãm là: “sử dụng mọi phương tiện thông tin và có tác dụng đến đông đảongười xem Các phương tiện trưng bày, ngoại cảnh, thông tin, báo chí, kiếntrúc, hội họa, điêu khắc, đồ họa, phim ảnh, âm nhạc ở đây đều được kết hợplàm một” [82, tr.6] Tác giả sử dụng cơ sở lý luận thẩm mỹ học và cơ

sở ecgônômi trong vấn đề lý luận và thực tiễn Cho dù là ấn bản ra đời cáchđây gần 40 năm, nhưng những nghiên cứu của V.I.Rêviakin vẫn còn nguyêngiá trị qua số liệu khoa học về cơ sở ecgônômi, cơ sở cảm thụ học của conngười trong không gian triển lãm nói chung

Các ấn phẩm khác: Triển lãm Việt Nam những chặng đường lịch sử [8], Những mẩu chuyện kinh nghiệm về công tác triển lãm nói chuyện khoa học kỹ thuật [86], Tổ chức triển lãm nhỏ [87] cung cấp toàn cảnh lịch sử thành tựu,

những thuận lợi, khó khăn và điều kiện tổ chức triển lãm Việt Nam từ nhữngnăm 1960 đến năm 1998 Triển lãm là “loại hình nghệ thuật tổng hợp sử dụngcác thủ pháp đặc trưng của nhiều loại hình nghệ thuật khác như: kiến trúc, hộihọa, điêu khắc, đồ họa, điện ảnh, nhiếp ảnh, âm thanh, ánh sáng nhằm làmsáng tỏ một vấn đề, một sự kiện trước công chúng” [8, tr.9] Các ấn phẩm trên

Trang 26

có giá trị trong việc đối chiếu với xu hướng nghệ thuật chung của giai đoạnnày, là minh chứng cho thời kỳ NTTB Việt Nam mang nặng tính phong trào

1.1.3.2 Tài liệu nước ngoài

Có hơn 30 ấn phẩm về các vấn đề thực tiễn và hướng dẫn về thiết kếNTTB tại các TLTM thông qua nhiều hình ảnh trực quan hết sức đa dạng và

sinh động Ấn phẩm tiếng Nga: Пратика современой эспозиций [119] (tạm

dịch: Thực tiễn trưng bày hiện đại) xuất bản năm 1989 đề cập đến cấc vấn đềthực tiễn trong thiết kế trưng bày triển lãm hiện đại Ấn phẩm cho đến nay vẫncòn giá trị thiết thực trong việc tạo hình không gian thông qua các thiết bị đanăng Bên cạnh đó đề ra các giải pháp tạo hình đa dạng thông qua chất liệuvải, chiếu sáng, tuyến minh họa, chữ, ảnh quảng cáo trong triển lãm hiện

đại Cuốn Дизайн выставок [120] (tạm dịch: Thiết kế triển lãm) xuất bản

năm 2008 được biên soạn bởi 3 nhà thiết kế Mỹ - hiện là những nhà thiết kếTLTM hàng đầu thế giới Nội dung cuốn sách đã khái quát lịch sử thiết kế

triển lãm đương đại hiện nay Các tác giả đồng thuận cho rằng: Thiết kế triển lãm là môn học thú vị nhất và phát triển nhanh nhất của lĩnh vực thiết kế hiện đại, trong đó có sự liên quan mật thiết của các yếu tố cấu thành như yếu tố kiến trúc và thiết kế đồ họa tương tác Cuốn Exhibition Design [105] (tạm dịch: Thiết kế triển lãm) xuất bản năm 2010 và Exhibition Design: An Introduction (2nd Edition) [106] (tạm dịch: Thiết kế triển lãm: một lời giới

thiệu - ấn bản lần 2) xuất bản năm 2015 của tác giả Philip Hughes cung cấp

Trang 27

nền tảng trong các nguyên tắc thiết kế triển lãm Theo Philip Hughes vấn đề

chiến lược triển lãm (Exhibition strategy) là rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến bố cục không gian triển lãm, bên cạnh đó đề cao các giải pháp chiếu sáng, các loại hình nghệ thuật có tính tương tác, phim ảnh và âm thanh nhằm

tác động tâm lý và thị giác người xem

Đáng chú ý là ấn phẩm Basics Interior Design - Exhibition Design

[104] (tạm dịch: Cơ sở thiết kế nội thất: Thiết kế triển lãm) xuất bản năm 2011của Pam Locker Ông là tác giả của nhiều sách chuyên khảo lĩnh vực thiết kếtriển lãm Đáng chú ý ở đây là vấn đề đương đại hiện nay đối với NTTB tạicác TLTM thế giới được nhấn mạnh: “Một trong những thách thức gây kíchthích nhất đối với các nhà thiết kế triển lãm là những khám phá và thử nghiệmtrong quá trình tìm kiếm những phương tiện truyền thông phù hợp nhất trong

môi trường tương tác” [104, tr.7] Theo Pam Locker, không chỉ riêng về ý tưởng và chủ đề - cái mà các nhà thiết kế vốn thường được xem như là chủ

đạo cho một tác phẩm nghệ thuật, các nhà thiết kế triển lãm cần phải tìm hiểu

về tất cả mọi phương tiện truyền tải, các thiết kế đa phương tiện, âm thanh, ánh sáng và hàng loạt các công nghệ thiết kế khác để tạo ra những khoảnh khắc thú vị mang tính kể chuyện thông qua không gian trưng bày Pam Locker nêu lên vai trò quan trọng của vấn đề thương hiệu (brand) trong các TLTM, đưa ra quy trình thiết kế bao gồm: tổ chức tuyến tham quan, bố cục, tạo hình không gian, chiếu sáng, sử dụng sáng tạo các vấn đề truyền thông đa phương tiện trên cơ sở nhân trắc học Ấn phẩm của Pam Locker có giá trị thực tiễn và

xu hướng tương lai của NTTB tại các TLTM hiện đại, làm cơ sở để NCS pháttriển hệ thống lý thuyết NTTB tại các TLTM VMS

Các ấn phẩm nước ngoài lĩnh vực NTTB tại các TLTM chủ yếu thôngqua cách tiếp cận theo hướng nghiên cứu thực hành, mang tính lý luận cáckinh nghiệm đã được kiểm chứng thông qua thực tiễn Chưa thấy một nghiên

Trang 28

cứu và đúc kết nào dưới góc nhìn của lý luận, lịch sử để tìm kiếm, phát hiệnnhững giá trị thẩm mỹ trong NTTB tại các TLTM Hình thức biểu hiện NTTBrất đa dạng, song nó gắn chặt với sự phát triển khoa học và công nghệ thời đại.

Vấn đề chiến lược triển lãm ảnh hưởng trực tiếp đến ngôn ngữ biểu đạt của NTTB bao gồm: bố cục không gian, chiếu sáng, các loại hình nghệ thuật có tính tương tác, phim ảnh, âm thanh Tạo hình không gian cho NTTB chú trọng tới vấn đề tổng thể, coi đây là một tác phẩm nghệ thuật thông qua bối cảnh cụ thể nhằm tạo nên những khoảnh khắc thú vị mang tính kể chuyện.

1.1.4 Văn hóa học và nghệ thuật tạo hình truyền thống trong mỹ thuật

Trong lĩnh vực này, đáng chú ý là công trình Nghiên cứu văn hóa, lý thuyết và thực hành [4] (Đặng Tuyết Anh dịch năm 2011) của Chris Barker.

Tác giả đã đưa ra một loạt các lý thuyết, quan điểm về phương pháp luận vànhững mối liên hệ thực chứng hữu ích để hiểu biết đối với nhiều vấn đềnghiên cứu lý luận Chris Barker đề cập bối cảnh thế giới thay đổi hiện nay,

ông gọi là “thế giới mới hỗn loạn” khi các vấn đề về con người, khoa học, văn

hóa, sinh học, thay đổi một cách nhanh chóng” [4, tr.13] Trong phạm vinghiên cứu luận án, NCS đặc biệt quan tâm đến vấn đề chủ nghĩa Hiện đại và

Hậu hiện đại Chris Barker cho rằng nền văn hóa Hậu hiện đại là nền văn hóa không có chiều sâu [4, tr.287] Đây là nền văn hóa “được cấu thành thông qua

một dòng chảy liên tục các hình ảnh mà không thiết lập một tôn ti trật tự nào”

[4, tr.287] Đây là nền văn hóa “hời hợt” theo đúng nghĩa đen và nghĩa bóng,

phá vỡ những vấn đề mang tính hiện thực và không hiện thực, cái chung và cáiriêng tư, nghệ thuật và hiện thực Ông cho rằng “Nền văn hóa hậu hiện đạiđược đánh dấu bởi dòng chảy bao trùm tất cả của những sự mô phỏng và hình

ảnh hấp dẫn” [4, tr.288] Giá trị của nó biểu hiện không thông qua việc ấn định chủ quan mà nó hình thành từ một chuỗi các hình ảnh và sự vật thông qua quá trình cảm nhận Đối với vấn đề về bản sắc, Chris Barker

Trang 29

cho rằng: “Bản sắc là một bản chất (essense) mà có thể được biểu đạt thôngqua những ký hiệu về thị hiếu, niềm tin, thái độ và phong cách sống” [4,tr.298] Bản sắc không phải là cái gì đó mà chúng ta sở hữu hay là vật cố định.

Nó như một công cuộc chuyển động về phía trước chứ không phải việc đến

đích Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay với sự phát triển vượt bậc củacông nghệ thông tin, Chris Barker cho rằng vấn đề văn hóa nói chung mang

Bên cạnh các ấn phẩm trên, các công trình về lĩnh vực tạo hình truyền

thống trong mỹ thuật Việt Nam như: Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt [5], Trên đường tìm về cái đẹp của cha ông [13], Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam (tập 1, 2, 3) [26] [28], Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật (tập 1, 2) [69], cho thấy những đặc điểm

tự nhiên và những nét độc đáo của tính cách Việt ảnh hưởng lớn đến quá trìnhtạo hình thẩm mỹ Văn hóa Việt Nam không ngừng giao lưu với văn hóa cácdân tộc khác, song bao giờ cũng giữ được những bản sắc riêng Sự tồn tại củanhững nét độc đáo này là bằng chứng khẳng định sức sống của nó trong nền

mỹ thuật đất nước Đây là những cơ sở để nghiên cứu luận án xem xét các vấn

đề kế thừa và phát triển những tinh hoa vốn quý của dân tộc Các tài liệu trên

là kho tàng quý báu giúp NCS phát hiện và kế thừa những giá trị bản sắc đáp

ứng mục tiêu nghiên cứu luận án

Trang 30

Sau quá trình hệ thống tài liệu liên quan, NCS nhận thấy lý thuyết lýluận về NTTB tại các TLTM VMS là một khoảng trống lớn chưa được nghiêncứu cho đến thời điểm hiện tại Tuy vậy, các ấn phẩm mang tính lý luận tổngquan về mỹ học, văn hóa học, mỹ thuật học, lịch sử mỹ thuật, lịch sử design,phương pháp luận design, các hình ảnh trực quan và tài liệu chuyên biệt vềNTTB tại các TLTM trong nước và thế giới trong quá trình hình thành và pháttriển là những điểm tựa vững chắc cho nghiên cứu luận án.

1.2 Cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài luận án

Để thực hiện nghiên cứu khoa học, công việc đầu tiên của NCS là xácđịnh rõ một số thuật ngữ, khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu được

sử dụng trong quá trình đối chiếu biện luận Việc xếp thứ tự các thuật ngữ vàkhái niệm trên cơ sở mức độ ảnh hưởng của nó đối với mục tiêu luận án

1.2.1 Một số thuật ngữ và khái niệm liên quan đến đề tài luận án

1.2.1.1 Thuật ngữ

- Nghệ thuật (art): “phương thức phản ánh hiện thực và truyền đạt tư

tưởng tình cảm bằng hình tượng” [85, tr.1110] Theo Từ điển mỹ thuật phổ thông thì: “Trong mĩ thuật, nghệ thuật là sự sáng tạo của con người thông qua

cảm xúc, sự quan sát tinh tế và đôi bàn tay thành thục nghề Nghệ thuật phảnánh các tiêu chuẩn đẹp, khéo và sáng tạo Đặc biệt nghệ thuật thường khaithác sự đối lập giữa các yếu tố để sáng tạo” [47, tr 101]

- Mĩ thuật (fine arts): “ngành nghệ thuật phản ánh cái đẹp bằng sắc

màu, đường nét, hình khối” Trong trường hợp là tính từ thì có nghĩa là: “có tính nghệ thuật, hợp với thẩm mĩ” [85, tr.1033] Theo Từ điển mỹ thuật phổ thông, mĩ thuật là: “đẹp + nghệ thuật, chỉ cái đẹp do con người hoặc thiên

nhiên tạo ra mà mắt ta nhìn thấy được, vì lý do này người ta còn dùng từ nghệthuật thị giác để nói về mĩ thuật” [47, tr 97]

Trang 31

- Trưng bày (display) (show) (exhibit): “bày ở nơi trang trọng cho mọingười xem để tuyên truyền, giới thiệu” [85, tr.1682] Tiếng Anh hay sử dụng

nhiều là với động từ display, một vài trường hợp dùng show và exhibit tùy

theo ngữ cảnh Đặc biệt, đối với các TLTM chuyên ngành Ô tô, thường dùng

là Motor Show vì có yếu tố trình diễn.

- Triển lãm: nếu là động từ, triển lãm (exhibit) có nghĩa là trưng bày cho mọi người xem Trường hợp danh từ triển lãm (exhibition) là cuộc triển lãm [85, tr.1651] Trong tiếng Pháp, động từ exposition có nghĩa là sự bày, sự

trưng bày Trường hợp tiếng Pháp danh từ là: cuộc triển lãm Khá nhiều

trường hợp sử dụng expo (danh từ) để chỉ cuộc triển lãm Như vậy, cá nhân NCS thấy rằng dù ở bối cảnh nào, bản chất đặc thù của triển lãm là hoạt động trưng bày.

- Thương mại (commercial): “thương nghiệp, trao đổi buôn bán hàng hóa” [85, tr.1558]

- Thương hiệu (brand): “dấu hiệu bằng chữ, hình, chữ số, kí hiệu được nhà sản xuất dùng để đánh dấu nguồn gốc, quyền sở hữu sản phẩm củamình và phân biệt với sản phẩm cùng loại của nhà sản xuất khác; còn gọi lànhãn hiệu thương mại được nhà nước bảo hộ” [85, tr.1558]

Tuy nhiên, vấn đề này theo Richard Moore thì thuật ngữ “thương hiệu”(brand) bắt đầu sử dụng trước tiên tại Mỹ “Từ nửa đầu thế kỷ 20, thuật ngữnày dược sử dụng trong hoạt động kinh doanh vào thời điểm bắt đầu quá trình

sơ khai của việc quản lý các hoạt động sáng tạo ra sản phẩm và dịch vụ, baogồm cả cách cảm nhận riêng cho các sản phẩm và dịch vụ” [59, tr.16] TạiViệt Nam thuật ngữ này xuất hiện từ thời kỳ đổi mới Thương hiệu là “tập hợpnhững gì con người tạo ra nhằm thực hiện một hành vi mang tính xã hội màchúng ta gọi là kinh doanh” [59, tr.17] Đối với nghiên cứu luận án là nghiêncứu các biểu hiện nghệ thuật thị giác của NTTB, do vậy trong vấn đề

Trang 32

thương hiệu biểu hiện của nó sẽ là các vấn đề quảng cáo [59, tr.32] (bao gồm:ảnh, phim, poster, ), tên thương hiệu, logo, màu sắc [59, tr.64], khẩu hiệuthương mại (slogan, một số ấn phẩm dịch là: câu định vị) [59, tr.161] được sửdụng với kích cỡ và tỷ lệ quy định tương ứng.

Một thương hiệu mạnh là khi các vấn đề sau được phát triển nhuần

nhuyễn và hỗ trợ nhau như: công việc kinh doanh phát triển rộng lớn, kỹ năngtạo ra sản phẩm và dịch vụ chất lượng tốt, công tác bán hàng và hệ thống phânphối tốt, việc tiếp cận các đối tượng khách hàng mục tiêu với chiến lược tiếp

thị và truyền thông hiệu quả mang lại sự độc đáo khác biệt với các đối thủ

cạnh tranh [59, tr.17] Theo Richard Moore, đó cũng chính là bản sắc thươnghiệu (brand indentily)

- Tạo hình (plastic art): “tạo ra các hình thể bằng hình khối, đường nét,màu sắc” [85, tr.1428] “Nghệ thuật tạo hình” là phương thức phản ánh hiệnthực và truyền đạt tư tưởng tình cảm bằng hình tượng, nhằm tạo ra các hình

thể thông qua ngôn ngữ hình khối, đường nét, màu sắc Trong Từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông từ “tạo hình” được giải thích là: “các bộ môn mĩ thuật

ứng dụng có nhiệm vụ tạo ra những hình thể phù hợp với điều kiện về nguyênliệu và thích ứng với chức năng sử dụng” Trong các vấn đề về tạo hình hiệnnay, thực tế là “một số lý thuyết mới như nguyên lý thị giác, nguyên lý cấutrúc đã góp phần quan trọng vào việc bồi dưỡng kiến thức về cơ sở tạo hình”[47, tr.109] Ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình được giải thích như sau:

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt gồm những dấu hiệu và

ký hiệu được sử dụng với mục đích trao đổi và truyền đạt thông tin.Trong nghệ thuật mỗi chuyên ngành đều có ngôn ngữ riêng để biểuđạt loại hình nghệ thuật của mình Đối với nghệ thuật tạo hình, tất

cả những gì làm nên tác phẩm và biểu đạt nên vẻ đẹp hay xấu trongtác phẩm hội họa, điêu khắc, trang trí… được gọi là ngôn ngữ nghệ

Trang 33

thuật tạo hình; ví dụ như chủ đề tác phẩm, luật bố cục, những điểmchính về tổ chức không gian, đường nét, hình khối, màu sắc… [47,tr.109].

- Thiết kế (design): “làm đồ án, xây dựng một bản vẽ với tất cả nhữngtính toán cần thiết để theo đó mà xây dựng công trình, sản xuất sản phẩm”;

Theo một nghĩa khác “thiết kế” còn là bản thiết kế [85, tr.1506] Tra cứu Từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông, thì động từ thiết kế là “sáng tạo ra mẫu đồ

vật theo ý tưởng của các nhà mĩ học bằng bản vẽ, phác thảo, phác họa, môhình nhằm đạt tới mức hoàn thiện để có thể áp dụng vào sản xuất công nghiệp

Thiết kế tiếng Anh là design” [47, tr.130] Một động từ khác gần nghĩa với thiết kế trong lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng là động từ trang trí Trang trí, tiếng Anh là decoration, là sự “sắp xếp, bố trí, tạo nên sự cân đối, hài hoà, đẹp mắt” [85, tr.1627] Theo Từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông,

trang trí là “nghệ thuật làm đẹp”, “nhờ những yếu tố trang trí các vật dụng

vừa có giá trị thẩm mỹ vừa có nâng cao được giá trị sử dụng, vì vậy trang trínằm trong nghệ thuật ứng dụng” [47, tr.132]

1.2.1.2 Khái niệm

- Nghệ thuật trưng bày: NTTB là khái niệm ghép từ hai khái niệm nghệ thuật (danh từ) và trưng bày (động từ) Đối tượng của nghiên cứu luận án là

những biểu hiện nghệ thuật thị giác của TLTM Đây là loại hình có nguồn gốc

từ phương Tây, do vậy nghiên cứu luận án rất cần sự suy xét kỹ lưỡng trongviệc lựa chọn khái niệm nghiên cứu mới Đây là loại hình có nguồn gốcphương Tây, do vậy NCS luận giải xuất phát từ các từ ngữ nghĩa tiếng Anh,bởi hiện nay số lượng ấn phẩm tiếng Anh rất phong phú, nhằm đảm bảo tínhkhách quan và toàn diện vấn đề

Đối với hai thuật ngữ thiết kế và trang trí gắn với danh từ triển lãm, nhiều tài liệu nước ngoài dùng khái niệm: Exhibition Design (tạm dịch: Thiết

Trang 34

kế triển lãm), Exhibit Design (tạm dịch: Thiết kế trưng bày), Display Design (tạm dịch: Thiết kế trưng bày) và thuật ngữ nghệ thuật trang trí triển lãm [43] NCS thấy rằng, thiết kế là một hoạt động nghệ thuật, bao hàm hệ thống

bản vẽ thiết kế: hình thành ý tưởng - phác thảo, mô hình, bản vẽ các diện

không gian để từ đó mà tạo dựng sản phẩm Trang trí cũng là một hoạt động

nghệ thuật nhưng mang tính chất bổ sung các yếu tố mới vào cái hiện có đểnâng cao thẩm mỹ và giá trị sử dụng Hai động từ này khi kết hợp với danh từ

triển lãm (Exhibition) NCS xét thấy chưa biểu hiện rõ nét và sâu sắc toàn bộ giá trị thẩm mỹ của tạo hình không gian trưng bày trong phạm vi khái niệm

lãm), cũng là cơ sở để NCS hình thành khái niệm thuật ngữ riêng cho việcnghiên cứu biện luận

Đối với trường hợp nghiên cứu luận án, NCS quyết đinh lựa chọn khái

niệm nghệ thuật trưng bày, dịch ra tiếng Anh sẽ là Art Display (đối với một số ngữ cảnh sẽ là The Art of Display), để chỉ rõ vấn đề mỹ thuật thị giác đối với hoạt động trưng bày tại các TLTM Mà bản thân hoạt động trưng bày vốn là đặc thù của triển lãm như NCS đã luận giải.

Đến đây, NCS nêu ra định nghĩa nghệ thuật trưng bày: NTTB là sự sáng tạo trên cơ sở chiến lược triển lãm của hoạt động bày ở nơi trang trọng thông qua các hình thức biểu hiện nghệ thuật thị giác có tính chiếm lĩnh không gian theo quy luật cái Đẹp nhằm làm sáng tỏ một vấn đề, một sự kiện

trước công chúng

Trang 35

Có thể thấy trong một số ấn phẩm thuộc tài liệu khảo luận án thì loạihình Triển lãm và Bảo tàng gắn liền với cùng một nghiên cứu về NTTB của

nó Song NCS nhận thấy với khái niệm thuật ngữ nêu trên, đã tạo được sự

khác biệt về NTTB được sử dụng riêng cho luận án bởi mấu chốt chính là: chiến lược triển lãm Đó chính là nội dung, là đề tài chi phối một cách biện

chứng các phương tiện biểu hiện nghệ thuật của TLTM

- Triển lãm thương mại: TLTM là khái niệm ghép từ hai khái niệm triển lãm (danh từ) và thương mại (tính từ) TLTM tiếng Anh thường được sử dụng là Commercial Exhibition, để chỉ một loại hình con của loại hình Triển

lãm (nói chung) thuộc lĩnh vực Mỹ thuật ứng dụng [46, tr.529] Khái niệm nàyđược sử dụng bởi các nhà thiết kế triển lãm đương đại như: Pam Locker, ArianMostaedi, Philip Hughes, Martin M.Pegler, Triển lãm phân bổ theo nội dung

có Triển lãm thương mại (Commercial Exhibition) và Triển lãm phi thươngmại (Cultural Exhibition), thường gọi là Triển lãm văn hóa Pam Locker chorằng:

Thuật ngữ Triển lãm có nhiều cách định nghĩa Để đơn giản hoáthường sử dụng thuật ngữ chung là “thương mại” hay “văn hóa” khi

mô tả các dự án triển lãm Mặc dù trên thực tế hầu hết các loại hìnhtriển lãm đều rơi vào một trong hai phạm trù nêu trên, tuy nhiên sẽkhông tránh khỏi phần nào đó không thể tách bạch ranh giới rõ rànggiữa hai phạm trù này [104, tr.37]

NCS nhận thấy rằng, dù phân bổ theo nội dung nào thì ranh giới giữachúng có sự đan xen nhất định

Theo Luật Thương mại số 36/2005/QH11, mục 4 về “Hội chợ, Triểnlãm thương mại” tại điều 129 quy định rõ: “Hội chợ, Triển lãm thương mại làhoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện tập trung trong một thời gian vàtại một địa điểm nhất định để thương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hoá,

Trang 36

dịch vụ nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán

hàng hoá, hợp đồng dịch vụ” Hội chợ thương mại cho phép mua bán hàng, còn TLTM chỉ diễn ra hoạt động ký kết hợp đồng thương mại.

1.2.2 Cơ sở lý luận

Việc lý luận đối với tác phẩm nghệ thuật tạo hình không gian của luận

án dựa trên cơ sở lý luận mỹ thuật học Phạm trù cái Đẹp của chủ nghĩa duy

vật biện chứng luôn là phạm trù trung tâm và làm hệ thước đo cho các phạm

trù khác soi rọi Cái Đẹp trong một chỉnh thể thống nhất luôn hướng tới giá trị Chân - Thiện - Mỹ trong tác phẩm nghệ thuật tạo hình.

Qua các tài liệu chuyên biệt nhóm mỹ thuật ứng dụng và phương pháp

luận design, có thể thấy cấu trúc tác phẩm mỹ thuật ứng dụng bao gồm: nội dung hàm chứa và hình thức biểu hiện “Nội dung của nghệ thuật là nói tới

đối tượng thẩm mỹ được phản ánh, nói tới thế giới quan, tư tưởng, tình cảmcủa người sáng tạo” [37, tr.268] Theo quan điểm của mỹ học Mác -Lênin

“hình thức là hình thức của nội dung” và “nó là kết cấu bên trong, sự tổ chứchợp lý của nội dung” [37, tr.269]

Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức nghệ thuật, thì “nội dungluôn giữ vai trò chủ đạo Việc cải tiến nội dung và hoàn thiện hình thức là quyluật khách quan” [37, tr.272] Hai vấn đề trên biện chứng với nhau, biểu hiện

khả năng sáng tạo và tạo thành giá trị tác phẩm nghệ thuật [37, tr.265].

1.2.3 Lý thuyết áp dụng

1.2.3.1 Lý thuyết Hình thái học của nghệ thuật của M.Cagan M.Cagan

cho rằng nghệ thuật của loại hình triển lãm đã dẫn dắt chúng

ta sang lĩnh vực một ngành nghệ thuật mới của thời đại là nghệ thuật xây dựng hình thức [46, tr.355] Loại hình này có tính kiến trúc, tính tạm thời và gắn liền với những tiến bộ khoa học và kỹ thuật thời đại “Không phải ngẫu

Trang 37

nhiên mà, theo thường lệ, những cuộc triển lãm là giành cho việc trình bày cácthành tựu kỹ thuật” [46, tr.354] M.Cagan đã chứng minh rằng “Nghệ thuậtxây dựng hình thức là có tính tổng hợp Nó sử dụng những biện pháp của kiếntrúc, điêu khắc, chụp ảnh nghệ thuật, văn học điện ảnh, âm nhạc, đôi khi cả vũnữa” [46, tr.355] Tác giả nhấn mạnh: “Song tất cả những phương tiện này ởđây đều đóng một vai trò rõ rệt là có tính chất bổ trợ, và được sử dụng trongchừng mực này hay chừng mực khác tùy theo ý nghĩ, tư tưởng - mỹ học cụ thểcủa người xây dựng triển lãm” [46, tr.355] Ông cho rằng “những biện phápgiúp đỡ của các nghệ thuật khác từ kiến trúc đến vũ có nhiệm vụ làm cho ýnghĩa, tư tưởng thành cụ thể hơn và tác dụng cảm xúc của chúng thành có hiệulực hơn đều chỉ để tăng cường hiệu lực nghệ thuật này mà thôi” [46, tr.356].

M.Cagan cho rằng TLTM cần phải chứa đựng yếu tố quảng cáo [46,

tr.357] Mục đích của quảng cáo không những có nhiệm vụ thông báo chokhách hàng, khách tham quan về những thông tin hàng hóa mà còn “nhằmnhiệm vụ giải trí họ, làm cho họ chú ý, quan tâm, và nếu như có thể, làm cho

họ “say mê” choáng mắt” [46, tr.357] Đối với một số TLTM phương Tâyđương thời, ông cho rằng thậm chí “sự cạnh tranh, biểu hiện một cách ngượcđời làm thành động lực của sự phát triển” của loại hình này [ 46, tr.357] NCSthấy nhận xét quan điểm này gần với quan điểm của chủ nghĩa Hậu hiện đại

trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác bởi nó đề cao sự đa dạng, sự sáng tạo cá nhân, tính giải trí và tính quần chúng.

M.Cagan cho rằng NTTB hiện vật triển lãm “là một loại sân khấu theokiểu của nó, trên đó trình diễn một hành động nào đấy, kể ra tuy không phải

do những diễn viên trình diễn mà do những đồ vật” [48, tr.516] Trên phương

diện hình thái học có sự tổng hợp mang tính sân khấu Mỗi đồ vật trưng bày

Trang 38

đều có vai trò nhất định của nó và liên quan đến các vật khác theo những quy định về ý nghĩa và sức biểu đạt cảm xúc [48, tr.518].

Khi đã chỉ rõ về đặc tính của loại hình này, M.Cagan tiếp tục biện luận

về những sức mạnh hội nhập của quá trình lịch sử nghệ thuật Ông cho rằng:“Từ chỗ giữa các nghệ thuật có sự tồn tại độc lập bắt đầu hình thành

những liên hệ và những ảnh hưởng qua lại dẫn tới những cấu trúc nghệ thuậtmới và phức tạp, những cấu trúc tổng hợp” [46, tr.325] M.Cagan thật xácđáng khi biện luận: “Sự đan chéo vào nhau của hai hay vài nghệ thuật làm nảysinh một cấu trúc nghệ thuật một cách độc đáo và toàn vẹn, trong đó các thành

tố tạo thành của nó bị hòa tan đến nỗi chỉ có sự phân tích khoa học mới có thểtách chúng ra từ cái thể thống nhất về cấu trúc này” [46, tr.327] Bên cạnhhướng biện giải mở rộng ranh giới của thế giới nghệ thuật thời điểm giữa thế

kỷ 20, tác giả cũng cho rằng có những phát hiện trong thời điểm đó không thể tiên đoán được trước những gì xảy ra ở tương lai, bởi công trình của ông chỉ muốn nêu khả năng về mặt nguyên tắc những cấu trúc nghệ thuật.

Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu, NCS nhận thấy lý thuyết về Hình thái học của nghệ thuật sẽ hỗ trợ cho luận án những cơ sở lý luận cơ bản về NTTB thông qua bản chất, cấu trúc nội tại và sự vận động của loại hình này Bên

cạnh đó, một số ý kiến của M.Cagan về NTTB thời điểm đó rất gần gũi vớiquan điểm nghệ thuật của chủ nghĩa Hậu hiện đại Chính vì vậy nghiên cứu

luận án thấy cần phát triển hệ thống lý luận trên, đồng thời kết hợp lý thuyết Hậu hiện đại đối với lĩnh vực nghệ thuật thị giác trong bối cảnh loại hình này

đã có nhiều hình thức tạo hình mới và hiệu quả thông qua những thành tựukhoa học công nghệ hiện đại mà M.Cagan chưa đề cập đến

1.2.3.2 Lý thuyết Hậu hiện đại

Trong quan điểm mỹ học Hậu hiện đại của hai triết gia tiêu biểu là Jean

F Lyotard và Jacques Derrida có thẻ nhận thấy thông qua các yếu tố sau: Yếu

Trang 39

tố hiện sinh: đặc trưng đề cao tính phi lý, sự vui thỏa của con người, bằng

cách gây ngạc nhiên, kỳ quái, hài hước, mới lạ,… nằm trong môi trường sống,

gây sự xúc động nhất thời; Yếu tố thực chứng: đề cao vai trò của tri thức và

phương pháp giải cấu trúc phản ánh hiện thực xã hội Phương pháp khoa học

là cách thức để phân tích cấu trúc các sự kiện của tự nhiên, xã hội và con

người và cả trong sáng tác nghệ thuật; Yếu tố duy lý: đề cao ý niệm; Yếu tố chiết trung: chủ trương giải thoát, phá cách, bất quy tắc, xóa bỏ mọi vật cản

của chủ thể bằng cách sự khao khát, gây ấn tượng mạnh, thể hiện tinh thần đạichúng

Các quan điểm mỹ học Hậu hiện đại thông qua nhiều hình thức biểuhiện của các loại hình nghệ thuật mới Nó có đặc trưng là ứng dụng rộng rãithành tựu khoa học và công nghệ, ví dụ như: nghệ thuật sắp đặt (InstallationArt), mỹ thuật truyền thông đa phương tiện (Multimedia Art), nghệ thuật số(Digital Art), nghệ thuật trình diễn (Performance Art), Những hình thức trêngiúp NCS xác định những yếu tố mới và xu hướng phát triển thẩm mỹ củaNTTB tại các TLTM VMS

1.2.3.3 Lý thuyết tiếp biến văn hóa

NCS tiếp thu và vận dụng trong nghiên cứu luận án lý thuyết lan tỏa các nền văn hóa với đại diện là Franz Boas và Ruth Benedict Lý thuyết trên giúp NCS lý giải sự biến chuyển NTTB thông qua tiến trình: di chuyển, hội nhập, tiếp biến Bên cạnh các yếu tố đặc trưng sẵn có, cần nhận diện các yếu

tố được bản địa hóa trong cấu trúc luôn vận động và biến đổi của đối tượngnghiên cứu Hệ thống các tài liệu về lĩnh vực văn hóa, giá trị văn hóa và tạohình truyền thống là kho tàng quý báu giúp NCS phát hiện và kế thừa những

giá trị bản sắc trong một chỉnh thể hài hòa nhất quán của NTTB tại các TLTM

VMS Theo Boas, “các hình thái văn hóa có thể di chuyển từ nới này

Trang 40

đến nới khác, sau đó hội nhập, tiếp biến với các nền văn hóa khác” [52,tr.533] Trong các công trình của mình, ông đề cập đến ba chủ đề quan trọng:

Thứ nhất, văn hóa của các dân tộc khác biệt nhau về loại hình vàbởi sự đa dạng của loài người Thứ hai, các nền văn hóa phải đượcxem như là sản phẩm của sự tích hợp ngẫu nhiên, sự hợp nhất cácyếu tố bắt nguồn từ nhiều thời gian và nhiều địa điểm khác nhau.Thứ ba, những yếu tố ngẫu nhiên này tập hợp lại với nhau theo mộtcách riêng phụ thuộc vào “tài năng của dân tộc” [52, tr.534]

Đối với quan điểm của Benedict, thì: “văn hóa dân gian là tấm gươngphản ánh văn hóa, đồng thời cũng là sự tụt hậu của văn hóa, tức là những dư

âm của quá khứ” [52, tr.535] Bà nhấn mạnh tính đa dạng và sự hội nhập nộilực của các nền văn hóa Quan điểm trên giúp NCS lý giải các biến chuyển

thẩm mỹ của đối tượng nghiên cứu khi tiếp cận với văn hóa truyền thống Việt.

1.2.3.4 Lý thuyết giá trị

Karl Marx đã khởi nguồn và đóng góp cho lý luận chung nhân loại về

giá trị học Trên quan điểm duy vật biện chứng, giá trị nằm trong mối quan hệ

giữa các khách thể bao gồm quan hệ giữa chủ thể với khách thể và quan hệgiữa các khách thể với nhau Quan niệm hợp lý về giá trị phải là cách tiếp cận

từ khách thể, chủ thể và các mối quan hệ mà chúng tham gia “Giá trị là tính chất của khách thể, được chủ thể đánh giá là tích cực xét trong so sánh với các khách thể khác cùng loại trong một bối cảnh không gian - thời gian cụ thể” [63, tr.33] Thông qua nghiên cứu Về sự biến đổi của chuẩn mực đánh giá thẩm mỹ trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam [18], NCS nhận thấy đây là cơ

sở tham khảo để nghiên cứu luận án đánh giá cụ thể giá trị thẩm mỹ của

NTTB tại các TLTM VMS hướng tới những chân giá trị bền vững Tác giả VũThị Kim Dung đã đề ra các tiêu chí đánh giá như:

Ngày đăng: 25/12/2019, 08:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Lương Tiểu Bạch (chủ biên), Bùi Như Hương, Phạm Trung, Nguyễn Văn Chiến (2005), Mỹ thuật Việt Nam hiện đại, Đại học Mỹ thuật Hà Nội – Viện Mỹ thuật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật Việt Nam hiện đại
Tác giả: Nguyễn Lương Tiểu Bạch (chủ biên), Bùi Như Hương, Phạm Trung, Nguyễn Văn Chiến
Năm: 2005
2. Nguyễn Chí Bền (2006), Văn hóa Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Văn hóa - Thông tin, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2006
3. Nguyễn Chí Bền (chủ biên) (2010), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Chí Bền (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
4. Chris Barker (2011), Nghiên cứu văn hóa, lý thuyết và thực hành, Người dịch: Đặng Tuyết Anh, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hóa, lý thuyết và thực hành
Tác giả: Chris Barker
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2011
5. Trần Lâm Biền (chủ biên) (2001), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb Văn hóa dân tộc - Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc - Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật
Năm: 2001
6. Trần Lâm Biền (chủ biên), Phạm Thanh Quang, Nguyễn Thị Tuấn Tú, (2008), Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng châu thổ sông Hồng, Nxb Văn hóa - Thông tin, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng châu thổ sông Hồng
Tác giả: Trần Lâm Biền (chủ biên), Phạm Thanh Quang, Nguyễn Thị Tuấn Tú
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2008
7. Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh (2011), Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội, Nxb Hà Nội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2011
8. Bộ văn hoá thông tin (1998), Triển lãm Việt Nam những chặng đường lịch sử, Trung tâm Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam - Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển lãm Việt Nam những chặng đường lịch sử", Trung tâm Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam "-
Tác giả: Bộ văn hoá thông tin
Năm: 1998
9. Trần Ngọc Canh (1984), “Đào tạo hoạ sĩ Design công nghiệp ở Việt Nam”, Nội san Mỹ thuật Công nghiệp, số 15, tr 87-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo hoạ sĩ Design công nghiệp ở Việt Nam”, "Nội san Mỹ thuật Công nghiệp
Tác giả: Trần Ngọc Canh
Năm: 1984
10. Francis D.K.Chinh (1996), Thiết kế nội thất, Nxb Xây dựng, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế nội thất
Tác giả: Francis D.K.Chinh
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 1996
11. Hà Chuyên (1992), Thẩm mỹ học của văn hóa Việt Nam hiện đại, Nxb Tư tưởng - Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm mỹ học của văn hóa Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Chuyên
Nhà XB: Nxb Tư tưởng - Văn hóa
Năm: 1992
12. Cynthia Freeland (2010), Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật, Nguyễn Như Huy dịch, Nxb Tri thức, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật
Tác giả: Cynthia Freeland
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2010
13. Nguyễn Du Chi (2001), Trên đường tìm về cái đẹp của cha ông, Nxb Mỹ thuật, Viện Mỹ thuật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường tìm về cái đẹp của cha ông
Tác giả: Nguyễn Du Chi
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 2001
14. Nguyễn Du Chi (2003), Hoa văn Việt Nam (từ thời tiền sử đến nửa đầu TK phong kiến), Nxb. Văn học Nghệ thuật, Hà Nội. (chịu trách nhiệm xuất bản Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội - Viện Mỹ thuật) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa văn Việt Nam (từ thời tiền sử đến nửa đầu TK phong kiến)
Tác giả: Nguyễn Du Chi
Nhà XB: Nxb. Văn học Nghệ thuật
Năm: 2003
15. Phạm Hùng Cường (2010), Cảm thụ thị giác - những nguyên lý cơ bản, Trường Đại học Xây Dựng, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm thụ thị giác - những nguyên lý cơ bản
Tác giả: Phạm Hùng Cường
Năm: 2010
16. Denis Huisman (2002), Mỹ học, Huyền Giang dịch, Nxb Thế giới, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học
Tác giả: Denis Huisman
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2002
17. Phan Đại Doãn (2000), Vấn đề kế thừa văn hóa truyền thống trước thế kỷ XXI, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 5(191), tr.93-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề kế thừa văn hóa truyền thống trước thế kỷ XXI
Tác giả: Phan Đại Doãn
Năm: 2000
18. Vũ Thị Kim Dung (2003), Về sự biến đổi của chuẩn mực đánh giá thẩm mỹ trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự biến đổi của chuẩn mực đánh giá thẩm mỹ trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Thị Kim Dung
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
19. Nguyễn Ngọc Dũng (2003), “Xin bàn về Design”, Design vì cuộc sống (Kỷ yếu hội thảo khoa học - Khoa tạo dáng Công nghiệp), Viện Đại học Mở Hà Nội, tr 48-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xin bàn về Design”, "Design vì cuộc sống
Tác giả: Nguyễn Ngọc Dũng
Năm: 2003
20. Nguyễn Ngọc Dũng (2012), “Bàn về thuật ngữ Design”, Tạp chí Nghiên cứu Mỹ thuật, số 3, tr 12-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thuật ngữ Design”, "Tạp chí Nghiên cứu Mỹ thuật
Tác giả: Nguyễn Ngọc Dũng
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w