1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ỨNG DỤNG SIấU âm TRONG CHẨN đoán và điều TRỊ BỆNH VIấM tử CUNG ở CHể tại địa bàn hà nội

65 112 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 4,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung ở chó - Phương pháp chẩn đoán bằng siêu âm bệnh viêm tử cung

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

H C VI N NÔNG NGHI P VI T NAM ỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM



-HỒ ĐỨC HOÀNG

NG D NG SIÊU ÂM TRONG CH N ĐOÁN VÀ ĐI U

ỨNG DỤNG SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU ỤNG SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU ẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU ỀU

TR B NH VIÊM T CUNG CHÓ T I Đ A BÀN HÀ Ị BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở CHÓ TẠI ĐỊA BÀN HÀ ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM Ử CUNG Ở CHÓ TẠI ĐỊA BÀN HÀ Ở CHÓ TẠI ĐỊA BÀN HÀ ẠI ĐỊA BÀN HÀ Ị BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở CHÓ TẠI ĐỊA BÀN HÀ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiêncứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2018

Tác giả luận văn

Hồ Đức Hoàng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè,đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc thầy PGS.TS Sử Thanh Long đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức,thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộmôn Ngoại Sản, Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôitrong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ nhân viên Phòng khám Thú yGaia đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điềukiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2018

Học viên

Hồ Đức Hoàng

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Sơ lược về máy siêu âm 3

2.1.1 Định nghĩa 3

2.1.2 Quá trình lan truyền sóng âm trong cơ thể 3

2.1.3 Nguyên lý cấu tạo máy siêu âm 7

2.1.4 Các kiểu siêu âm 10

2.1.5 Ưu – nhược điểm của phương pháp siêu âm 12

2.1.6 Ứng dụng kỹ thuật siêu âm 12

2.2 Đặc điểm sinh lý, sinh sản 13

2.2.1 Tuổi thành thục về tính 13

2.2.2 Tuổi thành thục về thể vóc 14

2.2.3 Chu kì động dục ở chó cái 14

2.2.4 Giai đoạn trước động dục 14

Trang 6

2.2.5 Giai đoạn động dục 15

2.2.6 Giai đoạn sau động dục 15

2.2.7 Giai đoạn nghỉ ngơi 16

2.3 Cơ quan sinh dục bên trong 16

2.3.1 Âm đạo 16

2.3.2 Tử cung 17

2.3.3 Ống dẫn trứng 18

2.3.4 Buồng trứng 19

2.4 Bệnh viêm tử cung trên chó 19

2.4.1 Khái niệm viêm tử cung 19

2.4.2 Nguyên nhân 20

2.4.3 Triệu chứng 21

2.5 Tình hình nghiên cứu về bệnh viêm tử cung trên chó trong và ngoài nước 21

2.5.1 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung trên chó ở Việt Nam 21

2.5.2 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung chó trên thế giới 22

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 24

3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian 24

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 24

3.1.3 Địa điểm nghiên cứu 24

3.1.4 Thời gian nghiên cứu 25

3.2 Nội dung nghiên cứu 25

3.3 Phương pháp nghiên cứu 25

3.3.1 Phương pháp chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung ở chó 25

3.3.2 Phương pháp chẩn đoán bằng siêu âm bệnh viêm tử cung ở chó 25

3.3.3 Phương pháp chẩn đoán phân biệt viêm tử cung và có thai bằng siêu âm 26

3.3.4 Phương pháp điều trị 26

3.3.5 Phương pháp điều trị bảo tồn 26

3.3.6 Phương pháp phẫu thuật ngoại khoa 27

Trang 7

3.3.7 Phương pháp phân loại giống chó 28

3.3.8 Phương pháp xử lý số liệu 28

Phần 4 Kết quả và thảo luận 29

4.1 Xác định tỷ lệ bệnh sinh sản ở chó bằng phương pháp lâm sàng và siêu âm .29 4.2 So sánh chẩn đoán bệnh viêm tử cung ở chó bằng phương pháp khám lâm sàng và siêu âm 32

4.3 Tỷ lệ xuất hiện các dạng viêm tử cung qua siêu âm 35

4.4 Tỷ lệ mắc viêm tử cung theo giống 37

4.5 Tỷ lệ mắc viêm tử cung theo nhóm tuổi 38

4.6 Tỷ lệ mắc viêm tử cung theo lứa đẻ 40

4.7 Các triệu chứng thường gặp 41

4.8 So sánh hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung ở chó qua hai phương pháp 43 Phần 5 Kết luận và kiến nghị 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Đề nghị 45

Tài liệu tham khảo 46

Phụ lục 50

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CEH Cystic Endometrial HyperplasiaCIDR Controlled Internal Drug ReleaseFSH Follicle Stimulating Hormone

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Tỷ lệ mắc các bệnh sinh sản thường gặp ở chó cái 29

Bảng 4.2 Chẩn đoán bệnh viêm tử cung 32

Bảng 4.3 Tỷ lệ xuất hiện các dạng viêm tử cung qua siêu âm 36

Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc viêm tử cung theo giống 37

Bảng 4.5 Tỷ lệ viêm tử cung theo nhóm tuổi 38

Bảng 4.6 Tỷ lệ viêm tử cung theo lứa đẻ 40

Bảng 4.7 Triệu chứng thường gặp trên chó mắc bệnh viêm tử cung 41

Bảng 4.8 Hiệu quả điều trị viêm tử cung bằng hai phương pháp 43

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục của chó 16

Hình 4.1 Tỷ lệ mắc các bệnh sinh sản thường gặp ở chó cái 30

Hình 4.2 Chó bị U nang buồng trứng được cắt bỏ tử cung và buồng trứng 31

Hình 4.3 Chó bị viêm tử cung và u vú 31

Hình 4.4 So sánh chẩn đoán bệnh viêm tử cung ở chó bằng hai phương pháp 32

Hình 4.5 Siêu âm chẩn đoán bệnh viêm tử cung ở chó 33

Hình 4.6 Các bọc thai trên màn hình siêu âm 35

Hình 4.7 Các bọc viêm trên màn hình siêu âm 35

Hình 4.8 Tỷ lệ xuất hiện các dạng viêm tử cung qua siêu âm 36

Hình 4.9 Viêm tử cung dạng kín và tử cung bị cắt bỏ 37

Hình 4.10 Tỷ lệ viêm tử cung theo nhóm tuổi 39

Hình 4.11 Tỷ lệ viêm tử cung theo lứa đẻ 40

Hình 4.12 Triệu chứng thường gặp trên chó mắc bệnh viêm tử cung 42

Hình 4.13 Phẩu thuật cắt bỏ tử cung ở chó bị viêm tử cung 44

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Hồ Đức Hoàng

Tên luận văn: Ứng dụng siêu âm trong chẩn đoán và điều trị bệnh viêm tử cung ở chó

tại địa bàn Hà Nội

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

- Ứng dụng siêu âm để chẩn đoán phát hiện bệnh viêm tử cung sớm

- Ứng dụng siêu âm trong chẩn đoán phân biệt viêm tử cung và có thai

- Xây dựng bức tranh tổng thể về bệnh viêm tử cung ở chó thông qua chẩnđoán bệnh viêm tử cung bằng siêu âm

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung ở chó

- Phương pháp chẩn đoán bằng siêu âm bệnh viêm tử cung ở chó

- Phương pháp chẩn đoán phân biệt viêm tử cung và có thai bằng siêu âm

- Phương pháp điều trị viêm tử cung

Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung tăng dần theo lứa tuổi của chó, cao nhất gặp

ở chó trên 6 năm tuổi với 56,75%, tiếp theo là ở chó từ 3-5 tuổi (35,14%) và thấpnhất ở chó từ 1-2 năm tuổi (8,1%)

Đối với bệnh viêm tử cung, phương pháp phẫu thuật ngoại khoa có tỷ lệkhỏi bệnh cao hơn phương pháp điều trị bảo tồn

Trang 12

THESIS ABSTRACT Master candidate: Ho Duc Hoang

Thesis title: Application of ultrasound in the diagnosis and treatment of uterine

inflammation in dogs in Hanoi

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives

- Application of ultrasound to diagnose early uterine inflammation

- Ultrasound for diagnosis of uterine inflammation and pregnancy

- Develop a comprehensive picture of uterine inflammation in dogsthrough the diagnosis of uterine inflammation of the uterus

Materials and Methods

Topics used the following research methods:

- The method of clinical diagnosis of uterine inflammation in dogs

- Ultrasound diagnosis of uterine inflammation in dogs

- Diagnostic method for distinguishing uterine inflammation andpregnancy by ultrasound

- Treatments for uterine inflammation

- Data processing methods

Main findings and conclusions

Ultrasonography in the diagnosis of uterine inflammation results in earlyand highly accurate results compared with clinical examination

Using ultrasound techniques to diagnose early and accurately differenttypes of uterine inflammation in dogs (septic and open-type inflammation)

Foreign dogs exhibited higher rates of uterine inflammation (67.57%),while domestic dogs were 32.43% More litter-less dogs (5.4%) did not breed ordid not give birth at all (48.65%)

Incidence of uterine inflammation increases with age of dogs, highest indogs over 6 years of age with 56.75%, followed by dogs 3-5 years (35.14%) andlowest in dogs dogs 1-2 years old (8.1%)

For uterine inflammation, surgical methods have a higher cure rate thanconservative treatments

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đây, phong trào nuôi chó cưng đang rất phát triển ởnhiều thành phố lớn trên cả nước trong đó có Hà Nội, kéo theo sự phức tạp củatình hình dịch bệnh gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe đàn chó (Sử ThanhLong và Trần Lê Thu Hằng, 2014) Do vậy, việc phát hiện và nghiên cứu bệnhhọc trên chó ngày càng được quan tâm từ các nhà khoa học và các bác sỹ Thú y(Nguyễn Văn Thanh và cs., 2012) Bằng kỹ thuật chẩn đoán lâm sàng như sờ,nắn, gõ, nghe đã chẩn đoán và điều trị một số bệnh mang lại hiệu quả, tuy nhiênnhiều bệnh cần được chẩn đoán bằng các kỹ thuật cao Do vậy, các phòng khámThú y trên địa bàn Hà Nội đã mạnh dạn đầu tư các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại

hỗ trợ cho việc chẩn đoán và điều trị các bệnh ở chó

Theo Seifert (2012), việc chẩn đoán các bệnh trên chó ngoài các yếu tốnhư trình độ chuyên môn, kinh nghiệm lâm sàng của bác sỹ Thú y cần phải có sự

hỗ trợ của các trang thiết bị và khoa học kỹ thuật, trong đó có những kỹ thuậtchẩn đoán hình ảnh phát hiện bệnh đạt hiệu quả cao như siêu âm, chụp X quang,cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ Ứng dụng kỹ thuật siêu âm trong chẩn đoán bệnhgiúp nâng cao hiệu quả và độ chính xác trong việc xác định bệnh lý ở cơ quantiêu hóa, cơ quan tiết niệu hay cơ quan sinh dục Theo Nyland and Mattoon(1995), đối với chó và mèo, đã có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng kỹ thuậtsiêu âm nhằm phát hiện những rối loạn trên đường sinh dục như viêm nội mạc tửcung, viêm tử cung có mủ, số lượng và kích thước của thai, phát hiện thai cònsống hay đã chết trước khi sinh qua hình ảnh tim thai, ước định tuổi thai, pháthiện các truờng hợp thai giả

Đặc biệt, đối với bệnh viêm tử cung ở chó, có tỷ lệ mắc cao và gây ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe, sức sinh sản của con bệnh, thậm chí gây chết nếukhông được điều trị kịp thời Trong khi đó, kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh bằngsiêu âm trong Thú y đã rất phổ biến đem lại ý nghĩa thực tiễn lớn tại nhiều quốc

gia trên thế giới (Schmidt et al., 1986); ở Việt Nam nói chung và thành phố Hà

Nội nói riêng, việc ứng dụng kỹ thuật siêu âm trong chẩn đoán ngày càng phổbiến Do vậy, chúng tôi có cơ hội sử dụng siêu âm trong chẩn đoán bệnh viêm tử

cung ở chó với đề tài:“Ứng dụng siêu âm trong chẩn đoán và điều trị bệnh

Trang 14

viêm tử cung ở chó tại địa bàn Hà Nội”.

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

chẩn đoán bệnh viêm tử cung bằng siêu âm

Trang 15

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 SƠ LƯỢC VỀ MÁY SIÊU ÂM

2.1.1 Định nghĩa

Siêu âm là một loại dao động cơ học được truyền đi trong một môi trườngvật chất nhất định Năng lượng cơ học này tác động vào các phân tử vật chất củamôi trường làm cho chúng dao động khỏi vị trí cân bằng, mặt khác do tương tác

mà các phân tử bên cạnh nó cũng chụi ảnh hưởng và dao động theo, tạo thànhsóng lan truyền cho tới khi hết năng lượng Chính vì vậy, siêu âm không thểtruyền ở môi trường chân không như các sóng điện từ

Âm thanh được chia thành 3 loại dựa theo tần số Những âm thanh có tần

số dưới 16Hz mà tai người không thể nghe được là hạ âm, như sóng địa chấn.Các sóng âm có dải tần từ 16Hz đến 20.000Hz được gọi là âm nghe được, cònsiêu âm có tần số trên 20.000Hz Như vậy,về bản chất siêu âm cũng không có gìkhác với các dao động cơ học khác và nó cũng được đặc trưng bởi một số đạilượng vật lý như: tần số, biên độ, chu kỳ

2.1.2 Quá trình lan truyền sóng âm trong cơ thể

Trong môi trường đồng nhất

Là môi trường có cấu trúc giống nhau, đặc trưng cho mỗi một môi trường

là một hệ số mật độ môi trường (ρ) Khi chiếu một chùm tia siêu âm vào một môi) Khi chiếu một chùm tia siêu âm vào một môitrường đồng nhất, nó sẽ xuyên qua với một năng lượng giảm dần cho tới khi hếtnăng lượng Sở dĩ có sự suy giảm năng lượng trên đường truyền là do có sựtương tác giữa siêu âm và các phần tử nhỏ của cơ thể gây ra hiệu ứng toả nhiệt vàtạo vi bọt, tuy nhiên do siêu âm chẩn đoán sử dụng công suất thấp nên chúng takhông cảm thấy sự tăng nhiệt độ này trong quá trình thăm khám Mỗi một môitrường có hệ số hấp phụ siêu âm (α) khác nhau, nên mức độ suy giảm siêu âmcũng khác nhau Ngoài ra độ suy giảm siêu âm còn phụ thuộc vào nhiệt độ củamôi trường và tần số của chùm tia siêu âm, khi tần số càng cao mức độ suy giảmcàng nhanh nên độ xuyên sâu càng kém Trong siêu âm hệ số (α) thường đượctính bằng đơn vị dB/cm ở tần số 1MHz Một số tổ chức, cơ quan trong cơ thể có

hệ số hấp phụ như sau: Phổi 41; xương sọ 20; cơ 3,3; thận 1; gan 0,94; não 0,85;

mỡ 0,65; máu 0,18; nước 0,0022 Ví dụ khi chiếu chùm tia siêu âm với tần số 1MHz qua 1cm thận cường độ siêu âm sẽ bị giảm đi 1dB Tương tự như vậy chùm

Trang 16

tia siêu âm sẽ bị giảm năng lượng nhiều khi chiếu qua phổi, xương và hầu nhưkhông thay đổi khi xuyên qua máu và nước Trong thực hành lâm sàng mức độsuy giảm siêu âm còn cao hơn nữa vì thông thường chúng ta sử dụng đầu dò có tần

số lớn hơn 1MHz, tuy nhiên nếu nói chính xác mối quan hệ giữa tần số và hệ sốhấp phụ không hoàn toàn tuyến tính, nhưng trong giải tần số của siêu âm chẩnđoán thông thường, chúng ta có thể coi gần như tuyến tính nghĩa là khi tần số tănglên 2MHz thì hệ số hấp phụ tăng lên gần gấp đôi Do đó, muốn nâng cao độ xuyênsâu để thăm khám các bộ phận ở xa đầu dò người thì bác sĩ buộc phải giảm tần sốnguồn phát hoặc tăng năng lượng của chùm tia siêu âm, nhưng để đảm bảo tính antoàn cho bệnh nhân điều kiện thứ 2 thường không thể thực hiện được

Trong môi trường không đồng nhất

Cơ thể người là một môi trường không đồng nhất, bao gồm nhiều cơ quan,

tổ chức có cấu trúc khác nhau Khi chùm tia siêu âm truyền tới biên giới của haimôi trường có độ trở kháng âm khác nhau, một phần sẽ đi theo hướng ban đầu vàtiếp tục đi vào môi trường tiếp theo, một phần sẽ bị phản xạ trở lại, mức độ phản

xạ nhiều hay ít phụ thuộc vào độ chênh lệch trở kháng giữa hai môi trường Trởkháng âm (z) là một đại lượng vật lý biểu thị cho khả năng cản trở của môitrường, chống lại không cho siêu âm xuyên qua, nó phụ thuộc vào mật độ và tốc

độ truyền âm của môi trường:

Z = ρ) Khi chiếu một chùm tia siêu âm vào một môi c

ρ) Khi chiếu một chùm tia siêu âm vào một môi: mật độ môi trường

c: tốc độ siêu âm trong cơ thể

Z: Độ trở kháng rayl (kg/m2/sX 10-6)

Ví dụ độ trở kháng âm của một số tổ chức, cơ quan trong cơ thể như sau:không khí 0,0004; mỡ 1,38; gan 1,65; cơ 1,7; xương 7,8 Khi sóng siêu âmtruyền tới mặt phân cách giữa hai môi trường có độ trở kháng âm khác nhau,phần năng lượng của chùm tia siêu âm phản xạ trở về tỷ lệ thuận với độ chênhlệch trở kháng giữa 2 môi trường Và chúng được đặc trưng bằng một đại lượnggọi là hệ số phản xạ R Để đơn giản chúng ta xét trường hợp đặc biệt khi chùmtia vuông góc với mặt phẳng phân cách của các bộ phận cần thăm dò

Trang 17

Z1: Độ trở kháng âm môi trường 1

Ngược lại với độ trở kháng là độ truyền âm qua hai môi trường có cấu trúckhác nhau Người ta tính hệ số truyền âm qua hai môi trường theo công thức sau:

mà chúng ta mô tả trên là xét trong điều kiện chùm tia siêu âm vuông góc với bềmặt phân cách các môi trường truyền âm có độ trở kháng khác nhau của cơ thể.Nhưng trên thực tế phức tạp hơn và ta có hiện tượng phản xạ toàn phần hoặc hiệntượng sóng âm chỉ trượt trên bề mặt phân, cách hai môi trường, hiện tượng nàyhay gặp khi trên đường đi của chùm tia siêu âm có các cấu trúc hình cầu Ngoài

ra khi mặt phẳng phân cách giữa 2 môi trường không phẳng thì ngoài hiện tượngphản xạ và xuyên qua còn có hiện tượng tán xạ siêu âm, lúc này có một phần rấtnhỏ sóng siêu âm đi theo các hướng khác nhau và chỉ có rất ít các sóng này trở vềđược đầu dò Hiện tượng tán xạ siêu âm thường gặp khi siêu âm gặp các cáu trúcnhỏ có đường kính nhỏ hơn bước sóng (ϕ<<λ).)

Sự hấp phụ năng lượng siêu âm của tổ chức và an toàn siêu âm

Trong quá trình sóng siêu âm đi qua các tổ chức của cơ thể, năng lượngcủa nó giảm dần, sở dĩ như vậy là do một phần đã bị phản xạ trở lại, một phần dotương tác với môi trường chuyển thành nhiệt năng và gây biến đổi cấu trúc củamôi trường

Trang 18

Sự suy giảm của năng lượng siêu âm tỷ lệ thuận với khoảng cách thăm dò,

hệ số hấp phụ siêu âm của tổ chức và tần số đầu dò, đây là một khó khăn choviệc phát triển kỹ thuật siêu âm vì với tần số cao hình ảnh sẽ có độ nét cao,nhưng độ xuyên sâu kém nên không thể thăm dò được các vị trí ở xa đầu dò Từđây chúng ta có khái niệm khoảng cách giảm năng lượng 1/2, là khoảng cách màchùm tia siêu âm đi được nhưng năng lượng đã bị giảm đi một nửa so với banđầu, ví dụ khoảng cách này đối với không khí là 0,08cm; xương 0,2-0,7cm; mômền 5-7cm; máu 15cm Chính vì vậy, những bộ phận trong cơ thể có chứa hơinhư phổi, ruột gây cản trở nhiều cho các thăm khám siêu âm Mặt khác, do hiệntượng suy giảm năng lượng siêu âm theo độ xuyên sâu của chùm tia siêu âm, nên

về mặt kỹ thuật các máy siêu âm đều có chế độ “bù gain theo chiều sâu” (TimeGain Compensation - TGC), chế độ này nhằm tăng cường độ sáng của nhữngphần xa đầu dò để tạo hình ảnh đồng nhất về độ phản hồi âm trên toàn bộ trườngnhìn của màn hình, giúp người kiểm tra siêu âm tránh được những nhận định sailầm do kỹ thuật, đảm bảo kết quả chính xác hơn Năng lượng của chùm tia siêu

âm khi tương tác với cơ quan, tổ chức của cơ thể tạo ra hai hiện tượng:

Một phần năng lượng này sẽ tạo thành nhiệt, có tác dụng làm nóng tổ chức

mà nó đi qua, tuy nhiên do công suất phát của các máy siêu âm chẩn đoán rấtthấp nên hiện tượng tăng nhiệt độ tại chỗ rất nhỏ, không đáng kể và không thể đođược (điều này thấy rõ hơn nhiều với các máy siêu âm điều trị sử dụng trongkhoa vật lý trị liệu phục hồi chức năng do sử dụng công suất lớn hơn)

Tác dụng tạo bọt, hay còn gọi là tạo hốc Tác dụng này phụ thuộc vào tần

số sóng âm, năng lượng của chùm tia siêu âm và cả tính chất hội tụ của chùm tia,cũng như tính chất của môi trường truyền âm Siêu âm có thể tạo ra các vi bọt cókích thước nhỏ cỡ µm trong các tổ chức, ở mức độ nặng hơn các vi bọt có thểphá vỡ các tế bào, tuy nhiên tác động này trong thăm khám siêu âm không rõràng và cũng chưa được nghiên cứu đầy đủ Hay có thể nói, các tác động sinhhọc của siêu âm là có thực, tuy nhiên cho đến hiện nay qua các nghiên cứu trênthực nghiệm, cũng như các nghiên cứu qua hồi cứu lâm sàng, người ta chưa thấynhững bằng chứng rõ rệt tác hại của siêu âm chẩn đoán Vì vậy, siêu âm vẫnđược coi là một phương pháp an toàn và có thể thăm khám nhiều lần Tuy vậy,theo viện nghiên cứu siêu âm trong y học của Hoa kỳ (AIUM - AmericanInstitude of Ultrasound in Medicine), nếu sử dụng siêu âm tần số thấp với cường

độ < 50Joules/cm2 (J/cm2 = W/cm2 x sec) thì không có hậu quả sinh học AIUM

Trang 19

cũng đưa ra khuyến cáo sử dụng năng lượng siêu âm thấp tới mức có thể mộtcách hợp lý (ALARA: As Low As Reasonably Achievable) để nhận được thôngtin chẩn đoán một cách tối ưu Thông thường trong y học người ta áp dụngnguyên tắc an toàn kép có nghĩa là chỉ sử dụng đến mức 1/2 liều cho phép Cầnlưu ý trong các kiểu siêu âm, siêu âm Doppler có mức năng lượng cao hơn siêu

âm 2D và TM Những máy siêu âm hiện đại đều có hệ thống cảnh báo các tác hạicủa siêu âm như: chỉ số TI (Thermal Index) và chỉ số MI (Mechanical Index) lànhững chỉ số cảnh báo về tác dụng nhiệt và cơ học để đảm bảo tính an toàn trongchẩn đoán

2.1.3 Nguyên lý cấu tạo máy siêu âm

Máy siêu âm được cấu thành từ 2 bộ phận chính đó là đầu dò và bộ phân

và Paul Curie phát minh năm 1880 người ta có thể chế tạo được các đầu dò siêu

âm đáp ứng được các yêu cầu trên Hiệu ứng áp điện có tính thuận nghịch: Khinén và dãn tinh thể thạch anh theo một phương nhất định thì trên bề mặt của tinhthể theo phương vuông góc với lực kéo, dãn sẽ xuất hiện những điện tích trái dấu

và một dòng điện được tạo thành, chiều của dòng điện thay đổi theo lực kéo hoặcdãn Ngược lại khi cho một dòng điện xoay chiều chạy qua tinh thể thạch anh,tinh thể sẽ bị nén và dãn liên tục theo tần số dòng điện và tạo thành dao động cơhọc Như vậy, hiệu ứng áp điện rất thích hợp để chế tạo đầu dò siêu âm

Cấu tạo

Thành phần cơ bản của đầu dò siêu âm là các chấn tử Mỗi chấn tử baogồm 1 tinh thể được nối với dòng điện xoay chiều Khi cho dòng điện chạy quatinh thể áp điện Chiều dày của các tinh thể càng mỏng tần số càng cao Vì cáctinh thể thạch anh có những hạn chế về mặt kỹ thuật nên ngày nay nhiều vật liệumới như các muối titanat được sử dụng trong công nghệ chế tạo đầu dò, cho phéptạo ra những đầu dò có tần số theo yêu của lâm sàng Đồng thời, trước kia mỗiđầu dò chỉ phát 1 tần số cố định, ngày nay bằng công nghệ mới người ta có thểsản xuất những đầu dò đa tần, bằng cách cắt các tinh thể thành những mảnh rất

Trang 20

nhỏ tứ 100-200µm, sau đó ngăn 12 cách chúng bằng một loại vật liệu tổng hợp

có độ trở kháng thấp, những đầu dò kiểu mới có thể phát với các tần số khácnhau trên 1 dải rộng như 2-4 MHz, thậm chí 3-17MHz Với 5 mức mức điềukhiển để thay đổi tần số Những đầu dò đa tần này rất thuận lợi cho thăm khámtrên lâm sàng Chùm tia siêu âm khi phát ra khỏi đầu dò ở đoạn đầu tiên đi tươngđối tập trung, song song với trục chính của đầu đò, gọi là trường gần (FresnelZone) Chiều dài của trường gần = r2/λ)., trong đó r là bán kính của tinh thể trongđầu dò Sau đó chùm tia bị loe ra gọi là trường xa (Fraunhoffer Zone), những bộphận cần thăm khám nằm trong trường gần cho hình ảnh trung thực và rõ néthơn Về mặt kỹ thuật muốn tăng độ dài của trường gần ta có thể tăng bán kínhcủa tinh thể trong đầu dò, hoặc tăng tần số phát để giảm bước sóng, tuy nhiênđiều này bị giới hạn bởi các yếu tố khác, vì tăng r là tăng kích thước đầu dò, còntăng tần số sẽ làm giảm độ sâu cần thăm dò, nên người ta hay sử dụng 1 thấukính để hội tụ chùm tia siêu âm để giảm độ loe của trường xa

Các loại đầu dò

Dựa theo phương thức quét chùm tia siêu âm người ta phân đầu dò làm 2loại: quét điện tử và quét cơ học Nếu căn cứ vào cách bố trí các chấn tử trên giá

đỡ chúng ta có các kiểu đầu dò: thẳng (Linear); đầu dò cong (convex); và đầu dò

rẻ quạt (sector) Mỗi loại đầu dò sử dụng cho các mục đích thăm khám khácnhau, đầu dò thẳng dùng để khám các mạch máu ngoại vi, các bộ phận nhỏ, ởnông như tuyến vú, tuyến giáp Đầu dò cong chủ yếu dùng cho các thăm khám ổbụng và sản phụ khoa Đầu dò rẻ quạt để khám tim và các mạch máu nội tạng.Ngoài ra căn cứ theo mục đích sử dụng chúng ta có rất nhiều loại đầu dò khácnhau như: đầu dò siêu âm qua thực quản để khám tim mạch, đầu dò nội soi khikết hợp với bộ phận quang học để khám tiêu hoá, đầu dò sử dụng trong phẫuthuật, đầu dò trong lòng mạch

Độ phân giải

Độ phân giải của đầu dò: là khoảng cách gần nhất giữa 2 cấu trúc cạnhnhau mà trên màn hình chúng ta vẫn còn phân biệt được Như vậy, có thể nói độphân giải càng cao khả năng quan sát chi tiết các cấu trúc càng rõ nét, chính vìthế độ phân giải là một trong những chỉ tiêu để đánh giá chất lượng máy siêu âm.người ta phân biệt độ phân giải ra làm 3 loại: Độ phân giải theo chiều dọc là khảnăng phân biệt 2 vật theo chiều của chùm tia (theo chiều trên - dưới của mànhình) Độ phân giải ngang là khả năng phân biệt theo chiều ngang (chiều phải -

Trang 21

trái của màn hình) Độ phân theo chiều dày (chiều vuông góc với mặt phẳng cắt,

vì thực tế mặt cắt siêu âm không phải là một mặt phẳng, mà có độ dày nhất định)

Độ phân giải phụ thuộc rất nhiều vào tần số của đầu dò, vị trí của cấu trúc đangnghiên cứu thuộc trường gần hay xa của đầu dò Mặt khác điều này không hoàntoàn do đầu dò quyết định mà còn phụ thuộc vào xử lý của máy

Lựa chọn đầu dò

Trong thực hành nhiều khi người làm siêu âm phải thực hiện thăm khámnhiều cơ quan, bộ phận khác nhau của cơ thể, đặc biệt là ở các bệnh viện đakhoa Do đó, nên lựa chọn đầu dò cho phù hợp với nhiệm vụ của mình, tốt nhấtđương nhiên là các đầu dò đa tần và đầy đủ chủng loại sector, convex, linear Tuynhiên, trên thực tế điều này khó xảy ra, nên cần loại bỏ những đầu dò ít sử dụng

và cần có biện pháp khắc phục khó khăn khi không có đầu dò chuyên dụng.Trước hết về chủng loại đầu dò, điện tử và cơ khí, cả hai loại này đều cho hìnhảnh chất lượng tốt như nhau, tuy nhiên đầu dò cơ khí thường có độ bền kém hơn

và để làm siêu âm tim thì thường có kích thước to hơn đầu dò điện tử cùng loại,nhưng đầu dò loại này thường rẻ hơn Theo mục đích thăm khám, để làm siêu âmtim tốt nhất đương nhiên là đầu dò sector, đối với người Việt Nam trưởng thànhtần số thích hợp là 3,5MHz, tuy nhiên nếu có loại đa tần từ 2-4MHz là tối ưu, cònđối trẻ em là 14 5MHz, hoặc thích hợp hơn là loại 4-8MHz Để làm siêu âm bụngtổng quát thông thường dùng đầu dò convex với người lớn là 3,5MHz (tốt nhất 2-4MHz), trẻ em có thể dùng loại tần số cao hơn Tuy nhiên, trong trường hợp không

có đầu dò convex, đầu dò sector vẫn có thể dùng thăm khám ổ bụng được Đểthăm khám các bộ phân nông như tuyền giáp, tuyến vú, tinh hoàn, mạch máungoại vi đầu dò linear với tần số 7-10MHz là tốt nhất Để phục vụ mục đích sinhthiết người ta thường gắn thêm một bộ phân giá đỡ cho các đầu dò chuyên dụng,nhưng trong điều kiện không có chúng ta vẫn có thể sử dụng đầu dò thông thườngcho mục đích này và ở đây đầu dò sector là tốt nhất Như vậy, trong điều kiện nếuchỉ được chọn 1 đầu dò chúng ta nên mua đầu dò sector đa tần hoặc 3,5MHz

Bộ phận xử lý tín hiệu và thông tin

Tín hiệu siêu âm phản hồi từ cơ thể được đầu dò thu nhận, sau đó biếnthành dòng điện Dòng điện này mang theo thông tin về độ chênh lệnh trở khánggiữa các cấu trúc mà chùm tia siêu âm đã xuyên qua (khi độ chênh lệch trở khánggiữa hai cấu trúc càng lớn, năng lượng của chùm tia siêu âm phản xạ càng cao, sẽtạo ra dòng điện xoay chiều càng lớn) và thông tin về khoảng cách từ cấu trúcphản xạ siêu âm đến đầu dò Khoảng cách này được tính bằng công thức:

Trang 22

D = D: Khoảng cách

c: Tốc độ siêu âm trong cơ thể

t: Thời gian từ khi phát xung đến khi nhận xung

Những tín hiệu này sau khi xử lý tuỳ theo kiểu siêu âm mà cho ta cácthông tin khác nhau về cấu trúc và chức năng của các cơ quan mà ta cần nghiêncứu Ngoài ra máy siêu âm còn chứa nhiều chương trình phần mền khác nhau chophép chúng ta có thể đo đạc tính toán các thông số như khoảng cách, diện tích,thể tích, thời gian theo không gian 2 chiều, 3 chiều Từ những thông tin này kếthợp với những chương trình đã được tính toán sẵn sẽ cung cấp cho chúng tanhững thông tin cao hơn Ví dụ từ đường kính lưỡng đỉnh thai nhi, có thể dự kiếnngày sinh, trọng lượng thai Hoặc từ thể tích thất trái cuối kỳ tâm trương, tâmthu, chúng ta sẽ biết được thể tích nhát bóp, cung lượng tim Những thông tin vềcấu trúc và chức năng của các cơ quan sẽ được hiển thị trên màn hình, đồng thờicũng có thể được lưu trữ lại trong các bộ phận ghi hình qua các phương tiện nhưvideo, đĩa quang từ, đĩa CD, máy in, và có thể nối mạng với các phương tiệnkhác Mỗi phương tiện ghi hình có những ưu điểm, nhược điểm riêng, do đótrong thực tế tuỳ theo yêu cầu cụ thể và điều kiện kinh tế, chúng ta có thể lựachọn cho phù hợp

2.1.4 Các kiểu siêu âm

Siêu âm kiểu A

Đây là kiểu siêu âm cổ điển nhất, ngày nay chỉ còn sử dụng trong phạm vihẹp, như chuyên khoa mắt với mục đích đo khoảng cách, vì nó rất chính xáctrong chức năng này Các tín hiệu thu nhận từ đầu dò được biến thành nhữngxung có đỉnh nhọn, theo nguyên tắc biên độ của sóng siêu âm phản xạ càng lớn,biên độ của xung càng cao và ngược lại Như vậy, trên màn hình chúng ta khôngnhìn thấy hình ảnh mà chỉ thấy các xung Thời gian xuất hiện 16 các xung sẽphản ánh chính xác khoảng cách từ các vị trí xuất hiện sóng siêu âm phản xạ

Siêu âm kiểu 2D

Siêu âm kiểu 2D hay còn gọi là siêu âm 2 bình diện, kiểu siêu âm này hiệnnay đang được sử dụng phổ biến nhất trong tất cả các chuyên khoa Có thể nóichính siêu âm 2D là một cuộc cách mạng trong ngành siêu âm chẩn đoán Vì đây

Trang 23

là lần đầu tiên chúng ta có thể nhìn được các cấu trúc bên trong của cơ thể và sựvận động của chúng, chính vì vậy nó đã mở ra thời kỳ ứng dụng rộng rãi của siêu

âm trên lâm sàng Nguyên lý của siêu âm 2D như sau: những tín hiệu siêu âm phản

xạ được đầu dò tiếp nhận sẽ biến thành dòng điện xoay chiều, dòng điện này sẽmang theo 2 thông tin về mức độ chênh lệch trở kháng tại biên giới giữa các cấutrúc khác nhau và khoảng cách của các cấu trúc này so với đầu dò Dòng điện sau

đó được xử lý biến thành các chấm sáng có mức độ sáng khác nhau tuỳ theo dòngđiện lớn hay nhỏ và vị trí của chúng theo đúng khoảng cách từ đầu dò đến mặtphân cách có phản hồi âm như vậy các thông tin này sẽ được thể hiện trên mànhình thành vô vàn những chấm sáng với cường độ khác nhau, được sắp xếp theomột thứ tự nhất định tái tạo nên hình ảnh của các cơ quan, cấu trúc mà chùm tia đã

đi qua Để nghiên cứu các cấu trúc có vận động trong cơ thể như tim và các mạchmáu người ta chế tạo các đầu dò có thể ghi lại rất nhiều hình ảnh vận động củachúng ở các thời điểm khác nhau trong một đơn vị thời gian (> 24 hình/giây) vànhư vậy những vận động của các cơ quan này sẽ được thể hiện liên tục giống nhưvận động thực của nó trong cơ thể và người ta gọi là siêu âm hình ảnh thời gianthực (real time) Tất cả các máy siêu âm hiện nay đều là hình ảnh thời gian thực

Siêu âm kiểu TM

Để đo đạc các thông số siêu âm về khoảng cách, thời gian đối với nhữngcấu trúc có chuyển động, nhiều khi trên siêu âm 2D gặp nhiều khó khăn Do đó

để giúp cho việc đo đạc dễ dàng hơn người ta đưa ra kiểu siêu âm M-Mode haycòn gọi là TM (Time motion), đó là kiểu siêu âm vận động theo thời gian, ở đóchùm tia siêu âm được cắt ở một vị trí nhất định, trục tung của đồ thị biểu hiệnbiên độ vận động của các cấu trúc, trục hoành thể hiện thời gian Như vậy, nhữngcấu trúc không vận động sẽ thành những đường thẳng, còn những cấu trúc vậnđộng sẽ biến thành những đường cong với biên độ tuỳ theo mức độ vận động củacác cấu trúc này Sau đó khi dừng hình chúng ta có thể dễ dàng đo được cácthông số về khoảng cách, biên độ vận động, thời gian vận động Kiểu TM được

sử dụng nhiều trong siêu âm tim mạch

Siêu âm Doppler

Đây cũng là một tiến bộ lớn của siêu âm chẩn đoán vì nó cung cấp thêmnhững thông tin về huyết động, làm phong phú thêm giá trị của siêu âm trongthực hành lâm sàng, đặc biệt đối với siêu âm tim mạch Kiểu siêu âm này đượcgiới thiệu trong một phần riêng

Siêu âm kiểu 3D

Trang 24

Trong những năm gần đây siêu âm 3D đã được đưa vào sử dụng ở một sốlĩnh vực, chủ yếu là sản khoa Hiện nay có 2 loại siêu âm 3D, đó là loại tái tạo lạihình ảnh nhờ các phương pháp dựng hình máy tính và một loại được gọi là 3Dthực sự hay còn gọi là Live 3D Siêu âm 3D do một đầu dò có cấu trúc khá lớn,

mà trong đó người ta bố trí các chấn tử nhiều hơn theo hình ma trận, phối hợpvới phương pháp quét hình theo chiều không gian nhiều mặt cắt, các mặt cắt theokiểu 2D này được máy tính lưu giữ lại và dựng thành 18 hình theo không gian 3chiều Ngày nay có một số máy siêu âm thế hệ mới đã có siêu âm 3 chiều cho cảtim mạch, tuy nhiên ứng dụng của chúng còn hạn chế do kỹ thuật tương đối phứctạp và đặc biệt là giá thành cao

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuậtcác phương tiện siêu âm chẩn đoán cũng phát triển không ngừng, các máy mócthế hệ sau ngày càng cho hình ảnh với độ phân giải cao, với nhiều tính năng ưuviệt đã cung cấp cho chúng ta những thông tin chi tiết và chính xác hơn Vì vậy,việc ứng dụng siêu âm chẩn đoán cũng ngày càng rộng rãi hơn

2.1.5 Ưu – nhược điểm của phương pháp siêu âm

Ưu điểm

Siêu âm là phương pháp được sử dụng phổ biến dùng để khám và chẩnđoán hiện nay với những ưu điểm như: Là phương pháp chẩn đoán không xâmlấn, không gây chảy máu, làm hư hại các cơ quan nội tạng cần khảo sát Phươngpháp siêu âm giúp bác sỹ quan sát được các cơ quan trong trạng thái động ở mộtthời gian thực

Nhược điểm

Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp siêu âm trong chẩn đoán cũng cómột số nhược điểm như: Sóng siêu âm có thể bị cản trở bởi xương, hơi ở ổ bụng,lớp mỡ quá dày hoặc không quan sát được một số góc chết của vị trí tổn thươnggây khó khăn cho việc chẩn đoán

2.1.6 Ứng dụng kỹ thuật siêu âm

Siêu âm đã trở thành một phương thức hình ảnh thiết yếu trong lĩnh vựcthú y và ngày càng phổ biến Việc sử dụng siêu âm trong động vật nhỏ gần nhưcùng thời điểm với trong lĩnh vực y tế Bắt đầu từ những năm 1960, chữsonogram đã được chỉ định kiểm tra lâm sàng ở động vật vì nhiều lý do giốngnhư con người

Trong phòng khám thú y, kỹ thuật siêu âm thường được chỉ định cho bất

Trang 25

kỳ quá trình bệnh mãn tính nào khi chưa xác định được nguyên nhân Các bệnhthường sử dụng phổ biến như bệnh đường tiết niệu, bệnh đường tiêu hóa, nội tiết,ung thư, chấn thương, sốt không rõ nguồn gốc và bệnh miễn dịch trung gian Kỹthuật siêu âm thực hiện nhanh chóng, không xâm lấn và có độ nhạy cao Đối vớichó mèo, bệnh viêm ruột và viêm tụy thường không đặc hiệu, bệnh viêm ruộtthường có biểu hiện thành ruột dày, viêm tuyến tụy thường mở rộng tuyếnhypoechoic Đại học Melbourne và Bệnh viện Thú y đã xuất bản một nghiên cứuvào năm 2006 so sánh khảo sát hiệu quả của chụp X quang và siêu âm tại cơquan tiêu hóa Kết quả chỉ ra rằng đối với 16 loài động vật nhỏ, siêu âm có thểxác định được các vật lạ trong đường tiêu hóa của cả 16 động vật, trong khi chỉ

có 9 loài động vật được ghi nhận là có ngoại vật xác định bởi chụp X-quang Một

nghiên cứu tương tự của Ober et al (2008) cho thấy rằng siêu âm có độ đặc hiệu

100% trong việc phát hiện các vật ngoại lai đặc biệt các mảnh gỗ

Một ứng dụng khác của siêu âm là phát hiện các khối u Trước đây đã cónhiều phương pháp để phát hiện khối u trên động vật như quan sát bên ngoài, X-ray hoặc sờ nắn, phạm vi của khối u và sự hiện diện của mức độ di căn cũng như

hỗ trợ trong sinh thiết Các loại ung thư phổ biến nhất mắc phải bệnh ung thư làung thư hạch, khối u tế bào mast (hoặc mastocytomas), ung thư biểu mô tế bàochuyển tiếp và hemangiosarcomas Trong các phòng khám chuyên khoa thú y,phép đo siêu âm được sử dụng để theo dõi sự tiến bộ và thành công của động vậttrải qua điều trị bức xạ và theo dõi các quá trình bệnh cụ thể Cũng giống như ởngười, siêu âm cũng là một công cụ đặc biệt để thực hiện sinh thiết có hướng dẫn

và do đó thường được sử dụng Hướng dẫn siêu âm đã cải thiện tỷ lệ phần trămtổng thể của các mẫu chẩn đoán dương tính, cũng như tăng tốc độ và sự an toàncủa các thủ tục này (Mattoon JS.,2014) Nếu một khối lượng được xác định trongmột động vật, nó thường được sinh thiết để xác định loại ung thư cụ thể (Hager

DA, 1985)

Siêu âm cho phép bác sỹ thú y nhìn được kích thước và kết cấu tổng thểcủa cơ quan theo ba chiều, qua đó thấy được những bất thường trên bề mặt cơquan cũng như những thay đổi bên trong cơ quan đó để có những hướng điều trịphù hợp Siêu âm là cách hữu ích để kiểm tra nhiều cơ quan bên trong cơ thể, đặcbiệt là tử cung và buồng trứng của con cái (Nguyễn Văn Vui, 2013)

2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ, SINH SẢN

2.2.1 Tuổi thành thục về tính

Khi cơ quan sinh dục của gia súc cái phát triển đến mức độ hoàn thiện,buồng trứng có noãn bao chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ thai, tửcung cũng biến đổi theo và có đủ điều kiện cho thai phát triển trong tử cung

Trang 26

Những dấu hiệu xuất hiện đối với gia súc ở tuổi như vậy gọi là thành thục về tính.

Tuổi thành thục về tính phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố như giới tính,thời tiết khí hậu, chế độ dinh dưỡng Thời gian thành thục về tính của chó đựcvào khoảng 8-10 tháng tuổi, của chó cái vào khoảng 9-15 tháng tuổi

2.2.2 Tuổi thành thục về thể vóc

Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thểvóc đạt mức độ hoàn chỉnh, xương đã cốt hoá hoàn toàn, tầm vóc ổn định Thờigian thành thục về thể vóc thường từ 18-24 tháng và chậm hơn thời gian thànhthục về tính

2.2.3 Chu kì động dục ở chó cái

Từ khi bắt đầu trưởng thành tính dục, chó cái có những biểu hiện lêngiống và quá trình biểu hiện này được lập đi lập lại có tính chu kỳ, khoảng cáchgiữa lần lên giống này với lần lên giống kế tiếp được gọi là chu kỳ động dục

Chu kỳ động dục của chó cái phân chia 4 giai đoạn: Trước động dục, độngdục, sau động dục và nghỉ ngơi Giai đoạn nghỉ ngơi và trước động dục thuộc phanang noãn hay pha estrogen, giai đoạn động dục và sau động dục thuộc phahoàng thể hay pha progesterone Thời gian của chu kỳ và của mỗi giai đoạn trongchu kỳ động dục của chó rất biến động, thay đổi theo giống, điều kiện chăm sóc,

Olufisayo et al., 2013),

2.2.4 Giai đoạn trước động dục

Giai đoạn trước động dục được xác định bắt đầu từ thời điểm có dấu hiệusưng phồng và dịch tiết ở âm hộ đến khi chó cái cho phép chó đực nhảy chồm vàphối giống Những tiêu chuẩn có thể được sử dụng để xác định giai đoạn trướcđộng dục của chó cái như âm hộ sưng lớn, dẫn dụ và thay đổi hành vi trước chóđực; ngoài ra, âm hộ tiết nhiều dịch nhầy có lẫn máu Xét nghiệm tế bào âm đạoghi nhận sự thay đổi hình dạng tế bào biểu mô và sự hiện hữu của các loại tế bàokhác như hồng cầu, bạch cầu Có thể xác định chắc chắn thời điểm bắt đầu củagiai đoạn trước động dục là khi nhìn thấy âm hộ chó cái sưng phồng và tiết dịch

có lẫn máu Giai đoạn trước động dục kéo dài 6 đến 11 ngày, trung bình 9 ngày;tuy nhiên, khoảng thời gian này rất biến động, có thể 2 ngày hoặc 25 ngày

Vào đầu giai đoạn trước động dục, chó cái có những hành vi như đùa

Trang 27

nghịch, trêu chọc các chó khác, nhưng không cho phép chó đực tiếp xúc haychồm nhảy với biểu hiện gầm gừ, tránh né liên tục, đuôi cụp lại giữa hai chân sauhoặc nằm bẹp xuống Sang cuối giai đoạn trước động dục, hành vi của chó cái trởnên thụ động hơn, có thể đứng hoặc ngồi khi chó đực tiếp cận Trong giai đoạnnày, hiện tượng xuất dịch nhầy lẫn máu rất thay đổi theo cá thể, có cá thể xuấthuyết nhiều và có cá thể xuất huyết ít Máu hiện diện trong dịch thải là do sựthoát mạch của hồng cầu từ hệ thống mao quản của lớp nội mạc tử cung hay lớpdưới biểu mô, chảy qua cổ tử cung vào trong âm đạo Kích thước của âm hộ lớndần trong giai đoạn trước động dục là do hiện tượng sưng phồng ở hai môi âm

hộ Sự sưng phồng âm hộ của chó cái đã gây trở ngại cho việc chó đực đưadương vật vào Khi bước sang giai đoạn động dục thì âm hộ giảm sưng, mềmhơn, dịch thải trong và keo lại (Feldman and Nelson, 1996; Correa, 2002)

2.2.5 Giai đoạn động dục

Theo Davol (2000); Hopkins (2003), thời gian động dục của chó cái thayđổi theo từng cá thể, từ 3-21 ngày và trung bình 9 ngày, sự xuất noãn sẽ xảy rasau 48 giờ khi bước qua giai đoạn động dục Theo Feldman and Nelson (1996) ,thời gian động dục trung bình ở chó cái từ 5-9 ngày, tuy nhiên có cá thể động dụckéo dài khoảng 1-2 ngày, nhưng có những cá thể lại động dục kéo dài đến 18-20ngày Vì thế, rất khó dự đoán chính xác thời gian động dục của chó Hành vi củachó cái thay đổi ở giai đoạn động dục bao gồm tiếp xúc và cho phép chó đựcnhảy chồm để chuẩn bị phối giống Các chó cái này biểu hiện cúi mình và đưa

âm hộ ra phía trước chó đực Thông thường chó cái ở vào giai đoạn này phân tiếtnhiều pheromone nên có thể hấp dẫn chó đực dù ở khoảng cách xa, vì thế hìnhảnh thường gặp khi chó cái động dục là nhiều chó đực ve vãn một chó cái(Schulman, 2004) Âm hộ bớt sưng phồng, mềm và dịch thải thường có màu dâuhoặc màu hồng, rất ít khi thấy lẫn máu Trong dịch thải có chứa glucose và có thểxác nhận bằng cách xét nghiệm que thử nước tiểu Glucose hiện diện trong dịchthải là do tác động của progesterone kháng insulin nên làm tăng hàm lượngđường huyết, đồng thời nâng cao lượng glucose trong các dịch ngoại bào(Feldman and Nelson, 1996)

2.2.6 Giai đoạn sau động dục

Giai đoạn sau động dục thuộc pha progesterone do hàm lượng progesteronehuyết thanh gia tăng trong khoảng thời gian này và kéo dài khoảng 56-58 ngày tronglúc mang thai Dấu hiệu rõ nhất được ghi nhận ở giai đoạn sau động dục là sự từchối phối giống, không lôi cuốn chó đực Âm hộ trở về trạng thái và kích thước bình

Trang 28

thường, không mềm nhũn như ở giai đoạn động dục Thực tế cho thấy không thểdựa vào biểu hiện lâm sàng để phân định chó ở giai đoạn sau động dục hay nghỉngơi hoặc những ngày đầu thai kỳ (Feldman and Nelson, 1996).

2.2.7 Giai đoạn nghỉ ngơi

Tương tự như các giai đoạn khác trong chu kỳ động dục của chó cái, thờigian của giai đoạn này rất biến động; tùy thuộc vào giống, tình trạng sức khoẻ,thời gian trong năm, môi trường và các yếu tố phức tạp khác Một chu kỳ độngdục tiêu biểu của chó cái khoảng 7 tháng, bắt đầu giai đoạn trước động dục kéodài 9 ngày, động dục 7-9 ngày, sau động dục 58 ngày và nghỉ ngơi 4,5 tháng(Davol, 2000) Nhiều tác giả đã cho rằng dựa vào hàm lượng progesterone huyếtthanh có thể là căn cứ chính để xác định giao điểm giữa hai chu kỳ động dục kếtiếp trên các chó cái không mang thai

2.3 CƠ QUAN SINH DỤC BÊN TRONG

2.3.1 Âm đạo

Hình thái

Âm đạo nằm giữa cổ tử cung và tiền định, hoàn toàn trong xoang chậu Làmột ống cơ, tiết diện có thể dãn nở rất lớn Nếu nhìn từ ngoài vào thì rất khóphân biệt tử cung và âm đạo Phía trên âm đạo tiếp giáp với trực tràng, phía dướitiếp giáp với bàng quang và ống thoát tiểu

(Sherry, 2017)

Hình 2.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục của chó

Chú thích:

Cấu tạo

Trang 29

Áo trơn: ở bên ngoài, gồm phần lớn là mô liên kết đàn hồi, phía trướcđược phần sau của phúc mạc bao phủ.

Áo cơ: gồm 2 lớp là cơ dọc ở ngoài và cơ vòng ở trong

Lớp niêm mạc: có nhiều nếp gấp dọc, nhờ đó âm đạo có thể tăng đườngkính lên rất lớn

Chức năng

Là đường đi của bào thai

Là nơi tiếp nhận cơ quan sinh dục của chó đực

2.3.2 Tử cung

Vị trí

Tử cung nằm ngay cửa vào xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang

và niệu đạo Hai sừng nằm ở phần trước xoang chậu Được cố định do được gắnvới âm đạo và được giữ bởi các dây chằng

Hình thái

Tử cung bao gồm sừng tử cung, thân tử cung và cổ tử cung

Sừng tử cung gồm 2 sừng cho 2 ống dẫn trứng phía trước Các sừngnằm hoàn toàn trong xoang bụng, vị trí và hình dáng thay đổi tùy loài Cácsừng bị ép sát vào thành bụng bởi ruột Các sừng nhỏ dần về phía trước vàrộng dần về phía sau

Thân tử cung nằm một phần trong xoang bụng, một phần nằm trong xoangchậu, đường kính lớn hơn sừng nhưng ngắn hơn Thân là nơi tiếp nhận hai sừng.Mặt trên tiếp giáp với trực tràng Mặt dưới tiếp giáp với bàng quang

Cổ tử cung là phần hẹp phía sau nhưng thành rất dày Phía sau, cổ tử cungnối với âm đạo

Cấu tạo

Vách tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong:

Ngoài là lớp màng sợi, dai, chắc phủ mặt ngoài tử cung và nối tiếp vào hệthống các dây chằng

Dây chằng rộng trùm lên cả mặt trên và dưới sừng, thân tử cung kéo đếnthành bên chậu hông Dây chằng rộng ở giữa hai lá phúc mạc nên rất quan trọng

và có nhiều mạch quản, thần kinh

Dây chằng tròn nhỏ, như một gấp nếp kéo từ sừng tử cung đến vùng bẹn,

có nhiều mạch quản và cơ trơn

Trang 30

Lớp giữa là lớp cơ trơn gồm cơ vòng rất dày ở trong, cơ dọc mỏng hơn ởngoài Giữa 2 tầng cơ chứa tổ chức liên kết sợi đàn hồi và mạch quản, đặc biệt lànhiều tĩnh mạch lớn Cơ trơn tử cung dày và khỏe nhất trong cơ thể.

Lớp trong là lớp niêm mạc màu hồng được phủ bởi một lớp tế bào biểu

mô hình trụ Xen kẽ có ống đổ vào của các tuyến nhày tử cung (Các tuyến nàynằm sâu trong lớp đệm)

Động mạch: có ba động mạch phân vào tử cung

Động mạch buồng trứng: Tương ứng động mạch dịch hoàn trong ở conđực) nuôi buồng trứng và sừng tử cung là nhánh của động mạch chủ sau

Động mạch tử cung: từ động mạch chậu ngoài đến nuôi thân tử cung.Động mạch tử cung sau là động mạch thẹn trong phân vào cổ tử cung và âm đạo

Tĩnh mạch có hai đường: nông, sâu nhận máu tử cung, bóng đái, âm đạo.Mạch lâm ba: tử cung có một hệ thống mạch lâm ba dày đặc thành mạnglưới trong vách cơ tập trung đổ vào hạch tử cung, hạch chậu trong, hạch dướiđộng mạch hông

Thần kinh phân đến từ đám rối hạ vị

Chức năng

Là nơi chứa và nuôi dưỡng bào thai

2.3.3 Ống dẫn trứng

Hình thái và cấu tạo

Ống dẫn trứng còn gọi là vòi trứng, vòi tử cung, vòi Fallop

Một đầu của ống dẫn trứng thông với xoang bụng, gần sát buồng trứng cóhình loa kèn, trên loa kèn hình thành một cái tán rộng và lô nhô không đều Đầu kiathông với mút sừng tử cung là một cái ống nhỏ ngoằn ngoèo Cấu tạo ống dẫn trứngđược chia làm ba lớp:

Lớp ngoài là lớp sợi liên kết

Lớp giữa là lớp cơ

Lớp trong là niêm mạc gồm các tế bào thượng bì có nhung mao, khi tế bàotrứng rơi vào loa kèn theo ống dẫn trứng đi xuống là nhờ sự rung động của cácnhung mao và sự co bóp của lớp cơ

Chức năng

Đưa trứng đến tử cung

Trang 31

2.3.4 Buồng trứng

Hình thái

Có 2 noãn sào, hình hạt đậu, nằm hai bên xoang bụng, mặt ngoài tròn lồi,mặt trong là đường đi vào của các mạch máu và dây thần kinh gọi là thể noãn Đầutrước liên kết với đầu tua của ống dẫn trứng Đầu sau hay đầu ống dẫn trứng liên kếtvới ống dẫn trứng nhờ vào dây noãn sào Noãn sào dính với thắt lưng nhờ vào phầntrước của dây chằng rộng tử cung Phần này gọi là màng treo noãn sào

tế bào tiêu biến đi và chứa một lượng dịch nhất định Các nang chín gọi lànang Graff và trồi lên mặt noãn sào Khi nang Graff vỡ sẽ phóng thích noãngọi là sự rụng trứng

Khi nang noãn vỡ, xoang của nang sẽ đọng máu gọi là hồng thể Sau đó,lớp tế bào của nang phát triển và tích nhiều mô mỡ gọi là thể vàng hay hoàng thể.Nếu có sự thụ thai, hoàng thể sẽ phát triển rất lớn và tồn tại lâu Nếu không có sựthụ thai, hoàng thể sẽ teo dần và cuối cùng tạo thành một sẹo gọi là bạch thể

Chức năng

Dưỡng trứng cho trứng chín và tiết ra những hocmon sinh dục có ảnhhưởng đến những đặc điểm giới tính và tới chức năng của tử cung

2.4 BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN CHÓ

2.4.1 Khái niệm viêm tử cung

Đây là quá trình bệnh lý thường xảy ra trên gia súc cái sinh sản Bệnhthường xảy ra trong thời gian sau khi đẻ Đặc điểm của bệnh là quá trình viêmphá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp (các tầng) của tử cung gây ra hiện tượngrối loạn sinh sản ở cơ thể cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinhsản của gia súc cái

Theo dẫn liệu của Phạn Thị Kim Chi (2013), viêm tử cung có mủ là mộtrối loạn trong giai đoạn không động dục do yếu tố hormone, đặc điểm là nội mạc

Trang 32

tử cung bất thường, cùng sự xâm nhiễm của vi khuẩn kế phát.

Các dạng viêm tử cung

Sự nhiễm trùng tử cung sẽ đe dọa cuộc sống của chó.Theo Chigozie and

Chioma (2014) và Supranee et al (2016), có 2 dạng viêm tử cung là dạng kín và

dạng hở

Dạng kín: viêm tử cung dạng kín là trường hợp có mủ trong tử cung nhưng

mủ không chảy ra ngoài được do cổ tử cung đóng kín

Dạng hở: viêm tử cung dạng hở là trường hợp viêm tử cung với cổ tử cung

mở và dịch chảy ra ngoài âm hộ nên có thể quan sát được

Theo bài giảng môn học sinh sản gia súc của Nguyễn Văn Thanh (2009),tùy vào vị trí tác động của quá trình viêm đối với tử cung người ta chia ra 3 thểviêm tử cung khác nhau:

Viêm nội mạc tử cung (Endometritis): là quá trình viêm xảy ra ở trong lớp

niêm mạc của tử cung, đây là thể viêm nhẹ nhất của các thể viêm tử cung

Viêm cơ tử cung (Myometritis Puerperalis): là quá trình viêm xảy ra ở lớp

cơ tử cung, có nghĩa là quá trình viêm đã xuyên qua lớp niêm mạc của tử cung đivào phá hủy tầng giữa (lớp cơ vòng và cơ dọc của tử cung), đây là thể viêmtương đối nặng trong các thể viêm tử cung

Viêm tương mạc tử cung (Perymetritis Puerperalis): là quá trình viêm xảy

ra ở lớp ngoài cùng (lớp tương mạc của tử cung), đây là thể viêm nặng nhất

và khó điều trị nhất trong các thể viêm tử cung

Do công tác vệ sinh trước và sau khi đẻ không đảm bảo như nơi sinh, nềnchuồng, dụng cụ đỡ đẻ không vô trùng

Tất cả những nguyên nhân trên tạo điều kiện cho các tập đoàn vi khuẩnxâm nhập từ bên ngoài vào tử cung rồi xâm nhập qua các vết trầy xước của niêm

Ngày đăng: 23/12/2019, 23:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hiếu Liêm (2015). Bước đầu áp dụng kỹ thuật siêu âm xác định tình trạng mang thai, viêm tử cung và u nang buồng trứng trên chó cái. Truy cập ngày 12/4/2018 tại http://123doc.org/document/68334-buoc-dau-ap-dung-ky-thuat-sieu-am-xac-dinh-tinh-trang-mang-thai-viem-tu-cung-va-u-nang-buong-trung-tren-cho-cai.htm?page=5 Link
2. Huỳnh Văn Kháng (1998). Giáo trình Phẫu thuật Ngoại khoa thú y. Nhà xuất bản Nông nghiệp.Tr 56-70 Khác
3. Lê Văn Thọ, Lê Quang Thông, Huỳnh Thị Thanh Ngọc, Nguyễn Thị Quỳnh Hoa và Phan Thị Kim Chi (2015). Khảo sát bệnh viêm tử cung ở chó cái và kết quảđiều trị, Truy cập ngày 12/5/2018 tạivet.hcmuaf.edu.vn/data/file/... /khaosatviemtucungochocai.pdf Khác
4. Nguyễn Thị Hoa và Sử Thanh Long (2017). Vai trò Prostaglandin F2α trong điều trị chậm động dục trên chó. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi. 220: tr s83-87 Khác
5. Nguyễn Thị Hoa, Sử Thanh Long, Trịnh Đình Thâu (2017). Yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung ở chó. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi. 218: tr 87 Khác
6. Nguyễn Văn Dương (2011). Khảo sát, điều trị bệnh viêm tử cung trên chó tại thành phố Hồ Chí Minh.Truy cập ngày 1/4/2018 tại sac.edu.vn/images/filedownload/130130130083552.pdf Khác
7. Nguyễn Văn Vui (2013). Tài liệu giảng dạy môn X quang-Siêu âm. Trường Đại học Trà Vinh Khác
8. Phan Thị Kim Chi (2003). Ứng dụng kỹ thuật siêu âm trong chẩn đốn bệnh viêm tử cung trên chó và theo dõi kết quả điều trị. Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Thú Y.Khoa Chăn Nuôi - Thú Y. Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh Khác
9. Sử Thanh Long và Nguyễn Thị Hoa (2017). Hiệu quả điều trị viêm tử cung trên chó bằng hormone PGF2 Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi. 219: tr 87-92 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w