Một nghiên cứu tương tự của Vũ Văn Túy ở Hải Phòng [8] thì tỷ lệ vẹo cột sống ở học sinh là 7%, trongnhững năm gần đây số lượng trẻ bị vẹo cột sống đến các cơ sở y tế để điều trị và phục
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Vẹo cột sống là tình trạng cong của cột sống sang phía bên của trục cơthể và vẹo xoay của các thân đốt sống theo trục của mặt phẳng ngang [1, 2].Vẹo cột sống xuất hiện ngay từ khi mới sinh hoặc lúc còn thơ ấu do còixương, tập ngồi quá sớm hoặc sai lầm trong tư thế Nhiều trường hợp VCSkhông xác định được nguyên nhân, thường chỉ đến khi trẻ bước sang giaiđoạn tăng trưởng nhanh và trưởng thành thì bệnh mới biểu hiện rõ rệt Tìnhtrạng vẹo cột sống dù ít hay nhiều cũng dẫn tới các dị tật ở mức độ khác nhaugây biến dạng về giải phẫu, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em là nguyênnhân dẫn đến các tình trạng bệnh lý tuần hoàn, hô hấp, vận động và đặc biệtlàm lệch khung chậu ở trẻ gái gây nên khó khăn cho sinh đẻ sau này [3] Vẹocột sống là một dị tật không chỉ do bẩm sinh mà nhiều trường hợp mắc phảitrong quá trình phát triển của trẻ như: Bại liệt, lao cột sống, tràn dịch màngphổi, còi xương, suy dinh dưỡng, trẻ phải lao động nặng quá sớm (thườngxuyên gánh, vác đồ vật nặng hoặc bế nách em nhỏ) [4] Ở học sinh có thể cócác nguyên nhân khác như: thiết bị học tập sai quy cách, chẳng hạn bàn ghếquá cao hoặc quá thấp, bàn đóng liền với ghế, thói quen xách cặp nặng ở mộtbên tay hoặc cắp vào nách, đội lên đầu, ôm trước ngực Nếu phát hiện muộn
và không can thiệp kịp thời thì tình trạng vẹo cột sống của trẻ sẽ tăng lên gâykhó khăn cho phục hồi chức năng sau này, thậm chí ngay cả sau phẫu thuậtchỉnh hình cột sống [5] Do vậy việc phát hiện sớm và can thiệp sớm vẹo cộtsống ở trẻ học đường có ý nghĩa to lớn, góp phần hoàn thiện chương trình giáodục toàn diện trong chiến lược phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước ta
Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về tỷ lệ VCS, số liệu công bố củacác nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ VCS ở một số địa phương trong lứa tuổi họcsinh là khá cao Tại Hà Nội theo điều tra của Trần Văn Dần, Đào Thị Mùi [6]
Trang 2thì tỷ lệ VCS ở học sinh Hà Nội tại 4 quận, huyện: Hai Bà Trưng, Cầu Giấy,Sóc Sơn, Gia Lâm là (18,9%) Đáng lưu ý, học sinh lên lớp càng cao thì tỷ lệ
bị VCS càng cao Cụ thể, khối 1 là (17%), khối 5 là (17,6%), khối 9 là(22,2%) Tác giả cũng cho biết tỷ lệ mắc bệnh vẹo cột sống ở trẻ em nôngthôn cao hơn nhiều so với thành phố và tình trạng này ngày càng có xu hướnggia tăng Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Thao, Đặng Văn Nghiễm [7]thì tỷ lệ vẹo cột sống ở Thái Bình là (6,91%) Một nghiên cứu tương tự của
Vũ Văn Túy ở Hải Phòng [8] thì tỷ lệ vẹo cột sống ở học sinh là (7%), trongnhững năm gần đây số lượng trẻ bị vẹo cột sống đến các cơ sở y tế để điều trị
và phục hồi chức năng ngày càng tăng Các biện pháp can thiệp phòng chốngVCS bao gồm: các biện pháp truyền thông, các bài tập Phục hồi chức năng,
áo nẹp nắn chỉnh cột sống và phẫu thuật chỉnh hình, tùy theo mức độ vẹo cộtsống của trẻ Mặt khác kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống VCS ởphụ huynh học sinh của thầy cô giáo và của chính bản thân học sinh còn rất
hạn chế Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Thực trạng vẹo cột sống ở học sinh phổ thông tại Hà Nội năm 2014, hiệu quả can thiệp bằng phục hồi chức năng và truyền thông giáo dục” với mục
tiêu:
1 Mô tả thực trạng vẹo cột sống ở học sinh phổ thông Hà Nội lứa tuổi 6 – 17 tuổi và khảo sát bước đầu các yếu tố liên quan đến vẹo cột sống ở học sinh.
2 Đánh giá hiệu quả can thiệp vẹo cột sống bằng giáo dục truyền thông
và tập luyện phục hồi chức năng cho trẻ vẹo cột sống mức độ II lứa tuổi từ 6 – 17 tuổi.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Một số thông tin chung về vẹo cột sống
1.1.1 Các thuật ngữ vẹo cột sống [9]
Đã có nhiều thuật ngữ được sử dụng trong y học tùy theo sự hiểu biếtcủa con người về cong vẹo cột sống Các danh từ, thuật ngữ được Hội nghiêncứu VCS Quốc tế tập hợp qua nhiều năm nghiên cứu và được nhiều nướcchấp nhận
Vị trí của đường cong VCS được xác định theo vị trí giải phẫu trên cộtsống Cột sống bình thường được chia ra các phần: cột sống cổ, cột sống lưng(ngực), cột sống thắt lưng, xương cùng và xương cụt Nhìn từ phía bên cộtsống có đường cong sinh lý: ưỡn ra trước ở đoạn cột sống cổ và đoạn cột sốngthắt lưng, gù ra phía sau ở đoạn cột sống lưng (ngực) và xương cùng Thuậtngữ cong vẹo cột sống là tình trạng cột sống bị nghiêng lệch về một phía hoặc
bị cong ra trước hay ra sau và không còn giữ được các đoạn cong sinh lý nhưbình thường của nó vốn có Vị trí của đường cong phối hợp với tiền sử, tuổi,giới cũng góp phần vào chẩn đoán cũng như tiên lượng điều trị Có hai loạiphối hợp cong vẹo sau đây:
- Gù là tình trạng tăng cung phía sau của cột sống theo mặt phẳng dọc.
Gù trong khoảng 20º - 40º thì gọi là bình thường Nếu đường cong gùphía sau phối hợp với đường cong vẹo sang bên của cột sống thì gọi là
gù vẹo cột sống
- Ưỡn cột sống là đường cong có đỉnh ra phía trước gọi là cột sống
ưỡn sinh lý Nếu ưỡn quá mức thì trở thành bất thường Nếu đường
cong ưỡn cột sống phối hợp với đường vẹo sang bên thì gọi là ưỡn vẹo cột sống.
Trang 41.2 Nguyên nhân
1.2.1 Nguyên nhân chung [10]
- Không rõ nguyên nhân(Idiopathic): Thường mang tính gia đình có thểxuất hiện ở trẻ nhỏ,thiếu nhi và tuổi dậy thì
- Bẩm sinh (Congentital): Xuất hiện ở giai đoạn bào thai, thường do sựkhiếm khuyết, biến dạng của thân đốt sống, khe khớp và đĩa đệm
- Thần kinh cơ (Neuromuscular): Là các trình trạng vẹo cột sống gâynên bởi các bất thường của tổ chức thần kinh và cơ Thường gặp ởbệnh nhân bại não, bại liệt, nhược cơ, và các trình trạng bệnh lý của
cơ và thần kinh ngoại biên
- Các nguyên nhân khác (Miselanous): Những bất thường của hệxương như Hội chứng Marfan, Neurofibromatosis, rối loạn chuyểnhóa xương
1.2.2 Nguyên nhân vẹo cột sống mắc phải [11, 12]
- Ngồi sai tư thế
- Ghế ngồi không phù hợp chiều cao của học sinh
- Phòng học thiếu ánh sáng
- Một vài thói quen xấu của học sinh
- Ngồi học quá lâu, ít thay đổi tư thế
1.3 Phân loại
1.3.1 Vẹo cột sống không cấu trúc
Là cột sống bị vẹo nhưng các đốt sống không bị biến đổi cấu trúc và không bị xoay
Trang 5Hình 1.1: VCS quan sát ở tư
thế đứng [15]
Hình 1.2: VCS được nắn chỉnh khi cúi [15]
Hình 1.3: Xquang khi đứng [15] Hình 1.4: Xquang khi nằm [15]
Trang 6Hình 1.5: Đỉnh của đường cong CS
Trang 8- Một bên chỏm vai nhô cao
- Hai vai bên thấp bên cao
- Cột sống cong vẹo sang phía bên, có thể thấy đường con chữ S hoặcđường cong chữ C
- Ụ gồ ở vùng lưng mà đỉnh các ụ gồ trùng với ngang đường cong kiểmtra bằng cách cho bệnh nhân từ từ cúi xuống
Ảnh 1.2: Hình ảnh vẹo cột sống khi cúi xuống có ụ gồ [15]
- Đối diện ụ gồ là vùng lõm
- Khung chậu bị nghiêng lệch và chênh
Có thể thấy các dị dạng khác như chân ngắn chân dài
Nghiệm pháp đánh giá bằng quả dọi
Dùng quả dọi mà mốc là điểm gai đốt sống C7 ta thấy độ cong cột sống
Trang 9Ảnh 1.3: Các dạng cong vẹo khác nhau [15]
Ảnh 1.4: Đo góc Cobb trên phim X-Quang [15]
Đo góc COBB xác định đầu tiên và cuối cùng của đoạn cong Kẻđường thẳng qua bờ trên của đốt sống trên và bờ dưới của đốt sống dưới Kẻhai đường vuông góc với đường thẳng trên Đo góc tạo bởi hai đường thẳngvuông góc [16]
Trang 10Đo độ xoay đốt sống trên phim Xquang [17]
Bình thường các cuống đốt sống nằm ở 2 bên thân đốt sống Khi cộtsống bị vẹo kéo theo sự xoay của các đốt sống Trên phim Xquang ta thấycác cuống đốt sống không còn cân đối ở 2 bên của trục đốt sống nữa [17]
Cách đánh giá sự xoay các đốt sống theo Calliet [17]:
Xác định đốt sống đỉnh
- Đánh dấu đường kính lớn nhất của cuống sống
- Đánh dấu đường nối giữa 2 điểm chính giữa của 2 bờ bên của đốt sống
- Đặt thước đo độ xoay chồng lên trên đốt sống đó sao cho các góc củathước trùng với các cạnh của cột sống
- Đọc độ xoay của cuống sống trên thước
Chụp X-Quang khung chậu và xương bả vai để đánh giá
Ảnh 1.5: Hình ảnh chụp X-Quang so sánh khớp vai [16]
- Một số phương pháp mới như MRI, CT Scaner giúp thêm một số chẩnđoán xác định do nguyên nhân gì: Như vẹo do tổn thương tuỷ sống, dodính một bên đốt sống, hay các dị dạng khác như u thần kinh…
Trang 11Xác định sự trưởng thành của xương
Độ 0: chưa cốt hóa mào chậu
Độ 1: cốt hóa 1/4 ngoài mào chậu
Độ 2: Cốt hóa 1/2 ngoài mào chậu
Độ 3: Cốt hóa 3/4 ngoài mào chậu
Độ 4: Cốt hóa hoàn toàn mào chậu
Độ 5: Mào chậu cốt hóa liền hoàn toàn với cánh chậu
Hình 1.12: Sự cốt hóa của xương
1.5.2 Điều trị
Nguyên tắc là can thiệp sớm [14]
- Can thiệp ngay khi phát hiện ra cong vẹo cột sống
+ Nhẹ: Góc COBB <200 theo dõi 6 tháng
+ Trung bình: Góc COBB 200-400 làm nẹp cột sống và theo dõi 6 tháng /lần
+ Nặng: Góc COBB tiến triển xấu đi nhanh > 400 thì tiến hành phẫu thuật
- Kỹ thuật can thiệp phụ thuộc vào độ cong vẹo cột sống
Mục tiêu can thiệp [18]
- Nắn sửa các biến dạng vùng cột sống, khung chậu, lồng ngực
- Duy trì và tăng cường tầm vận động của cột sống
- Phòng ngừa sự phát triển của các biến dạng thứ phát
- Phòng ngừa các biến dạng thứ phát của hệ vận động, hệ hô hấp và hệtim mạch
Trang 12- Kỹ thuật phục hồi chức năng.
Trang 13Ảnh 1.7: Hình ảnh X-Quang trước (a) và sau phẩu thuật (b) [15]
1.6 Tình hình nghiên cứu vẹo cột sống trên thế giới và Việt Nam
1.6.1 Tình hình nghiên cứu vẹo cột sống trên thế giới
1.6.1.1 Tỷ lệ và hình thái vẹo cột sống trên thế giới
Vẹo cột sống đã được phát hiện và điều trị từ rất sớm trong lịch sử pháttriển y học Hypocrates, một trong những tác giả đầu tiên nghiên cứu về cộtsống và đặt tên cho VCS là Scoliosis [10] Hypocrates cũng mô tả việc sửdụng các thiết bị làm giảm tiến triển vẹo cột sống Sau những nỗ lực củaHypocrates các tác giả khác cũng tiếp tục nghiên cứu về vẹo cột sống và tìm
ra các giải pháp làm giảm các biến dạng của cột sống bằng các dụng cụ ngoài
cơ thể
Kết quả khám sàng lọc của Jonn.E Lonstein (1977) [3] thông báo kếtquả khám sàng lọc bằng sử dụng Forward bending Test hoặc Adams PositionTest cho các trường ở Minnessota trong 4 năm từ 1973 đến 1978 với số lượng571.722 học sinh, tác giả thấy tỷ lệ vẹo cột sống:
* Năm 1973-1974: 3,4% trong tổng số học sinh của trường
* Năm 1974-1975: 4,0% trong tổng số học sinh của trường
* Năm 1975-1976: 4,4% trong tổng số học sinh của trường
Trang 14Asher và cộng sự (CS) [20] khi khám sàng lọc cho 26.947 học sinh đãphát hiện 4,5% VCS tự phát góc vẹo > 60; 2% góc vẹo > 110’; (0,06%) gócvẹo > 200
Năm 1982 tại Singapore, Daruwalla và cộng sự [21] khám sàng lọc cho110.744 học sinh ở các nhóm tuổi Kết qủa tỷ lệ vẹo cột sống ở nhóm tuổi6-7 tuổi: 0,12%; 11-12 tuổi: 1,7%, 16-17 tuổi: 3,1%)
1.4.1.2 Kết quả điều trị vẹo cột sống trên thế giới
Chữa VCS bằng bài tập, kéo giãn, áo nẹp chỉnh hình đã được ápdụng và đạt kết quả rất tốt, đặc biệt là dùng áo nẹp chỉnh hình để nắnchỉnh cột sống
Năm 1977, Park J, Houtkin.S [22] và cộng sự cũng đã áp dụng áo nẹpPrenyl cho 66 bệnh nhân VCS tự phát trong đó có 4 nam và 62 nữ với thờigian theo dõi là 36 tháng và thời gian mang áo nẹp là 23 giờ/ngày Tác giảnhận thấy có 53 bệnh nhân (80%) có sự cải thiện đáng kể khi mang áo nẹp
Áo nẹp có hiệu quả nhất đối với những bệnh nhân có đường cong vùng thắtlưng - ngực nhỏ hơn 400
Theo Olafsson và cộng sự (2009) [23] đã công bố kết qủa ban đầu đốivới 169 bệnh nhân (BN) được điều trị bằng nẹp Milwaukee Tác giả nhậnthấy sự cải thiện trung bình là 23% đối với đường cong ngực, 18% đối vớiđường cong thắt lưng và 10% đối với đường cong ngực cao bên trái
Năm 1980, Bunnell W.P, Mac Even G.D và CS [24] đã thông báo kếtqủa điều trị cho 48 bệnh nhân VCS tự phát có đường cong < 400 bằng áo nẹpnhựa Tuổi trung bình khi bắt đầu mang áo nẹp là 11 tuổi 11 tháng, kết qủacho thấy trong số 63 đường cong (trên 48 bệnh nhân) thì có 35 đường congkhông thay đổi, 22 đường cong cải thiện và chỉ có 6 đường cong tiến triểntăng 50 so với đường cong ban đầu
Trang 15Năm 1984, Rajala E.T, Josefsson E [25] đã sử dụng áo nẹp ngựcBoston để điều trị cho 44 bệnh nhân VCS tự phát Tác giả cho rằng sự cảithiện ban đầu khi mang áo nẹp là có ý nghĩa với những đường cong có đỉnh làT8, T9 là 15,90 Edmonson và cộng sự [26] dùng áo nẹp chỉnh hìnhMilwaukee cho 52 trẻ VCS ở các vị trí cổ, ngực, ngực lưng và lưng Sau 22tháng mang nẹp kết quả vẹo ngực giảm 6,90, vẹo lưng giảm 5,10.
John E.Lonstein và cộng sự [27] đã kết hợp với bài tập trong quá trìnhmang áo nẹp chỉnh hình ở nhóm VCS từ 30-390 Kết quả có 81% ngăn ngừađược tiến triển của VCS hoặc làm giảm vẹo, 19% còn lại phải áp dụng phẫuthuật ở nhóm VCS từ 40-490 có 90% đạt kết qủa tốt
1.6.2 Tình hình nghiên cứu vẹo cột sống ở Việt Nam
Ở Việt Nam mạng lưới y tế học đường, chăm sóc sức khỏe học sinh,phòng chống các tật VCS, cận thị đã được nhà nước quan tâm và coi đó làmột nhiệm vụ của y tế học đường Tuy nhiên cho đến nay chúng ta chưa cómột chiến lược kiểm soát VCS trong cộng đồng một cách có hiệu quả, đặcbiệt cho lứa tuổi học đường Việc điều trị cho trẻ bị VCS mới chỉ tập trung ởmột số nơi phát triển về phục hồi chức năng và có xưởng chỉnh hình
1.6.2.1 Tỷ lệ vẹo cột sống
Theo Trần Đình Long và cộng sự (1995) [28], tỷ lệ VCS ở học sinh(HS) Hà Nội năm 1962 là 91,2%, đến năm 1968 tỷ lệ mắc lứa tuổi 7-17 tănglên từ 2-3 lần so với năm 1962 Cụ thể cấp I: 27,4%, cấp II: 31,3%, cấp III:34,0% Tỷ lệ VCS ở trường trung học cơ sở (THCS) Trần Quốc Toản, HoànKiếm, Hà Nội từ 1982 -1987 là (10,1%)
Theo Trần Văn Dần [6] tỷ lệ vẹo cột sống ở HS thập niên 90 từ 27% Vũ Đức Thu [29] khám phát hiện VCS cho 600 học sinh lớp 5, lớp 9 vàlớp 12 ở thành phố Hà Nội và phát hiện được 17% vẹo cột sống, gù: 7%, ưỡn1% Phạm Thị Thiệu [30] đã khám cho 456 HS ở 3 trường trung học cơ sở Lê
Trang 1616-Văn Tám, Thủ Lệ, Hoàng văn Thụ - Hà Nội kết quả là 46,2% được phát hiện
có VCS
Bùi Thị Thao và Đặng Văn Nghiễm (1998) [7] đã khám cho 3.937 họcsinh từ 6-15 tuổi, ở một số trường học thuộc huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình,nhận thấy tỷ lệ VCS là 6,91%
Vũ Văn Túy (2001) [8], đã phát hiện có 229 HS bị VCS qua khám kiểmtra cho 3.350 HS tiểu học và trung học cơ sở huyện An Hải – Hải Phòng,trong đó có 150 trường hợp 4,5% có VCS cấu trúc và 79 trường hợp 2,5% cóVCS không cấu trúc
Theo Nông Thanh Sơn và cộng sự [31], trong 3.265 HS từ lớp 1 đếnlớp
9 ở Thành phố Thái Nguyên được khám có 389 em bị cong VCS Tỷ lệ congVCS ở khu vực Thành phố Thái Nguyên là 9,3%, huyện Đồng Hỷ là 14,1%,
tỷ lệ chung là 11,9%
Tại Thành phố Hải Phòng, Phạm Văn Hán và CS [32] điều tra tại huyệnThuỷ Nguyên - Hải Phòng thấy tỷ lệ VCS ở HS chiếm 27% (1998), cấp I là18,6%, cấp II là 29,7%
C thuận, 7,6% VCS kiểu C nghịch, 13% S thuận; 1,2% S nghịch
Phạm Thị Thiệu và CS [30] nghiên cứu tại Hà Nội kết quả cho thấy gặptất cả các hình thái nhưng chủ yếu là C thuận, C nghịch, các hình thái (Sthuận, S nghịch) khác gặp rất ít Tại Thái Bình của Bùi Thị Thao, Đặng Văn
Trang 17Nghiễm (1998) [7] cho thấy gặp chủ yếu VCS kiểu C thuận 94,1%, tiếp đến là
C nghịch 7,2%; S thuận là 6,5%, S nghịch là 22,2%
1.6.2.3 Kết quả điều trị vẹo cột sống
Theo Bùi Thị Thao và CS (Thái Bình 1998) [7] các bài tập PHCN đãlàm giảm độ xoay (đo bằng thước đo Scoliometer) từ 6,270+ 1,590 xuống còn4,34 + 1,68 độ
Trịnh Quang Dũng (1995) [33] nghiên cứu đánh giá bước đầu điều trịcong vẹo cột sống bằng áo nẹp (TLSO) cho 20 BN từ 200 đến dưới 600 thì thấykết quả tốt (độ vẹo giảm đi > 10 độ ) là 65%, ổn định là 5%, kém là 10%
Trịnh Quang Dũng [33] trong nghiên cứu đánh giá bước đầu về hiệuquả của áo nẹp chỉnh hình Ngực -Thắt lưng - Cùng (TLSO) trong điều trị 18bệnh nhân (BN) vẹo cột sống, thấy rằng đường cong đơn ở vùng ngực có tỷ lệnắn chỉnh được nhiều nhất (>27,5%), số BN có đường cong được cải thiện(giảm ít nhất là 50) là 50%, số BN có đường cong xấu đi (tăng lên ít nhất là 50)chiếm 16,5%
Phạm Văn Minh [34] trong nghiên cứu 63 bệnh nhân cong VCS điều trịbằng tập PHCN và mang áo nẹp cột sống trong 2 năm thì có (25,4%) bệnhnhân được cải thiện (góc vẹo giảm đi >100), 60,3% bệnh nhân ổn định (gócvẹo tăng giảm dưới 100), 14,3% nặng lên (góc vẹo tăng > 100) Tác giả cũngthấy rằng việc điều trị muộn VCS khi đường cong đã lớn thì ảnh hưởng nhiềuđến kết quả điều trị: Nhóm BN có góc vẹo trung bình < 300 thì sau điều trịgóc vẹo trung bình còn 20,40, nhóm BN có góc vẹo trung bình >300 thì sauđiều trị góc vẹo trung bình còn 29,80
Nhìn chung các tác giả nghiên cứu về đánh giá kết quả điều trị VCS ởViệt Nam còn ít, đa số là các nghiên cứu về tỷ lệ VCS qua khám sàng lọc.Đặc biệt là các nghiên cứu về hiệu quả của điều trị VCS bằng các bài tập
Trang 18PHCN kết hợp với áo nẹp chỉnh hình cột sống còn rất ít vì liên quan đến lĩnhvực làm nẹp chỉnh hình ở Việt Nam mới phát triển.
1.6.2.4 Tình hình vẹo cột sống trong học sinh tại các quận, huyện của Hà Nội
Theo Trần Đình Long và cộng sự (1995) [28], tỷ lệ vẹo cột sống ở họcsinh (HS) Hà Nội năm 1962 là 12%, đến năm 1968 tỷ lệ mắc lứa tuổi 7-17tăng lên từ 2-3 lần so với năm 1962 Cụ thể cấp I: 27,4%, cấp II: 31,3%, cấpIII: 34,0% Tỷ lệ VCS ở trường trung học cơ sở (THCS) Trần Quốc Toản,Hoàn Kiếm, Hà Nội từ 1982 -1987 là 10,1% Theo Trần Văn Dần [6], tỷ lệvẹo cột sống ở HS thập niên 90 từ 16 đến 27%
Theo điều tra mới đây của cục Y tế dự phòng - Bộ Y tế ở 8 tỉnh (2012)[35, 36] trong cả nước đã cho kết quả tỷ lệ vẹo cột sống tăng lên theo cấp họctrong đó có Hà Nội Học sinh nam giới ở tiểu học có tỷ lệ chung của 8 tỉnh là8,65%, trung học cơ sở là 9,63%, trung học phổ thông là 12,57% Tỷ lệ chungcủa học sinh nam là 10,08% Nữ giới tiểu học là 6,31%, trung học cơ sở là9,09%, trung học phổ thông là 10,40% Tỷ lệ chung của học sinh nữ là 8,62%
Như vậy đa số các nghiên cứu ở Việt Nam từ trước đến nay chỉ mang ýnghĩa thống kê tỷ lệ vẹo cột sống ở trẻ nói chung và học sinh trong các trườnghọc nói riêng Chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu nguyên nhân gây vẹocột sống ở trẻ cũng như đề xuất các giải pháp ngắn hạn và lâu dài để giảiquyết các vấn đề của trẻ bị vẹo cột sống và đề ra biện pháp phòng ngừa cóhiệu quả
Trong những năm gần đây có nhiều trẻ bị VCS ở nhiều tỉnh, thànhtrong cả nước đến các Trung tâm PHCN hoặc khoa PHCN điều trị, trong đó
có một số trẻ bị VCS nặng có chỉ định phẫu thuật
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, trường đại học Y Hà Nội tiến hànhkhám sàng lọc trẻ em bị VCS trên lâm sàng của các trường THCS trên địa bàn
Trang 19một số tỉnh thành trong cả nước đã phát hiện được nhiều trẻ bị VCS chiếm tỷ
lệ khá lớn
Có nhiều nguyên nhân gây VCS: Do cấu trúc cột sống bất thường dobiến dạng xương sống (Lao cột sống, chấn thương cột sống ) các bệnh cơ,bệnh hệ thần kinh, các nguyên nhân khác: Tư thế ngồi học sai, do ngắn chân,lệch xương chậu…
Nhưng điều đáng quan tâm là 80% người bị VCS không rõ nguyênnhân [37, 38] Từ thực tế trên chúng tôi thấy cần phải lựa chọn một phươngpháp điều trị PHCN tại cộng đồng áp dụng được cho nhiều trẻ VCS lứa tuổiđang đi học mà không thường xuyên đến được các Trung tâm PHCN hoặckhoa PHCN, điều đó sẽ giảm quá tải cho các cơ sơ y tế Đồng thời với việc lựachọn một phương pháp điều trị PHCN tại cộng đồng áp dụng tại địa phương,cần triển khai các biện pháp phát hiện sớm, can thiệp sớm VCS không để trẻVCS tiến triển nặng phải phẫu thuật, giảm chi phí điều trị và biến chứng cho trẻsau này
Như vậy thực trạng vẹo cột sống tại cộng đồng Hà Nội ra sao; kiếnthức, thái độ, thực hành của bố mẹ trẻ bị vẹo cột sống cũng như của thầy côgiáo các lớp có trẻ VCS như thế nào cũng như giải pháp nào để giải quyết cácvấn đề nêu ra ở trên
1.6.3 Một số nghiên cứu về kết quả phục hồi chức năng trên thế giới và Việt Nam
Năm 1970, Moe J.H và Kettleson D.N [39] đã công bố kết quả ban đầuđối với 169 bệnh nhân được điều trị bằng áo nẹp Milwaukee Tác giả nhậnthấy sự cải thiện trung bình là 23% đối với đường cong ngực, 18% đối vớiđường cong thắt lưng và 10% đối với đường cong ngực cao bên trái Tác giảcũng cho rằng sự cải thiện cũng như giảm đi là rất ít sau khi bệnh nhân ngừng
Trang 20mang áo nẹp, giảm đi 1% đối với đường cong ngực phải và 5% đối với đườngcong thắt lưng.
Năm 1973, Edmonson và CS dùng áo nẹp chỉnh hình Milwaukee cho
52 trẻ VCS ở vị trí cổ và ngực, sau 22 tháng mang nẹp kết quả vẹo cổ giảm6,9º, vẹo ngực giảm 5,1º [26]
Năm 1977, ParkJ, Houtkin S và CS cũng áp dụng áo nẹp Prenyl cho 66bệnh nhân bị VCS tự phát trong đó có 4 nam và 62 nữ, với thời gian theo dõi
là 36 tháng và thời gian mang áo nẹp ban đầu là 23 giờ /ngày
Tác giả nhận thấy có 53 bệnh nhân 80% có sự cải thiện đáng kể khimang áo nẹp Áo nẹp có hiệu quả nhất đối với bệnh nhân có đường cong vùngthắt lưng và ngực - thắt lưng < 40º [22]
Năm 1980, Bunnell W.P, Mac Even G.D và CS [24] đã thông báo kếtquả điều trị cho 48 bệnh nhân VCS tự phát bằng áo nẹp nhựa cho những bệnhnhân có đường cong < 40º Tuổi trung bình khi bắt đầu mang áo nẹp là 11tuổi
10 tháng, khi bắt đầu ngừng mang áo nẹp là 14 tuổi 8 tháng và kết thúc thờigian theo dõi là 16 tuổi 9 tháng Kết quả cho thấy trong số 63 đường cong đãđược điều trị có 35 đường cong không thay đổi, 22 đường cong cải thiện vàchỉ có 6 đường cong tiến triển trên > 5º so với đường cong ban đầu [40]
Năm 1984, Rajala E.T, Josefsson.E đã sử dụng áo nẹp Boston để điềutrị cho 44 bện nhân VCS tự phát Tác giả cho rằng sự cải thiện ban đầu khimang áo nẹp là có ý nghĩa với những đường cong có đỉnh T8, T9 là 15,9º±6,1º (54%) [25]
Năm 1989, LonsteinJ.E và CS [27] đã kết hợp với bài tập trong quátrình mang áo nẹp chỉnh hình ở nhóm VCS từ 30 - 39º Kết quả có 81% ngănngừa được tiến triển của VCS hoặc làm giảm đường cong, (19%) còn lại phải
áp dụng phẫu thuật, ở nhóm VCS từ 20 - 29º có 90% đạt kết quả tốt [27]
Trang 21Năm 1995, Trịnh Quang Dũng nghiên cứu bằng phương pháp hồi cứuđánh giá bước đầu điều trị VCS bằng áo nẹp chỉnh hình cho 20 bệnh nhân từ
20 đến dưới 60 thì thấy kết quả tốt (độ vẹo giảm đi > 10º) là 65%, ổn định là5%, kém là 10% Tuy nhiên nghiên cứu này không cùng một thời điểm, bệnhnhân VCS do nhiều nguyên nhân bao gồm cả VCS cấu trúc và không cấutrúc, bệnh nhân ở nhiều địa phương khác nhau, lứa tuổi [33]
Năm 2002, Phạm Văn Minh [34] nghiên cứu đánh giá bước đầu về hiệuquả của áo nẹp chỉnh hình TLSO trong điều trị 18 bệnh nhân VCS tự phátthấy rằng đường cong đơn ở vùng ngực có tỷ lệ nắn chỉnh nhiều nhất, số bệnhnhân có đường cong được cải thiện là 50%, só bệnh nhân xấu đi chiếm16,5% Cùng tác giả này Pham V.M, năm 2007 khi nghiên cứu 63 bệnh nhânVCS điều trị bằng tập PHCN và mang áo nẹp chỉnh hình Chêneau trong 2năm thấy có 25,4% bệnh nhân được cải thiện, 60,3% bệnh nhân được ổn định,14,3% bệnh nhân nặng lên Tác giả cho rằng việc điều trị muộn khi góc vẹo
đã lớn thì ảnh hưởng nhiều đến kết quả điều trị như nhóm bệnh nhân có gócvẹo < 30º thì sau điều trị góc vẹo còn 20,4º, nhóm bệnh nhân có góc vẹo >30ºthì sau điều trị góc vẹo trung bình 29,8º [34]
Năm 1989, MacLean W.E và CS [37] khi so sánh 31 bệnh nhân VCS tựphát với 71 thiếu niên khỏe mạnh thấy rằng: mặc dù áo nẹp bước đầu ảnhhưởng đến tâm lý của trẻ nhưng không có sự khác biệt rõ ràng giữa những trẻVCS mang áo nẹp và trẻ khỏe mạnh Mặt khác, tác giả cũng chỉ ra rằng áonẹp không ảnh hưởng đến hình dáng của cơ thể, ảnh hưởng của áo nẹp lênchất lượng của cột sống có thể do sự khác nhau giữa các loại áo nẹp cũng như
sự khác nhau về văn hóa và thái độ của từng bệnh nhân
Năm 1999, Cruick Shank J.L, Dickson R.A [41] đã đánh giá mức độthích nghi với áo nẹp Chêneau trên 25 bệnh nhân bằng các câu hỏi liên quanđến những ưu điểm và nhược điểm khi sử dụng áo nẹp trong các sinh hoạt
Trang 22hằng ngày Kết quả cho thấy rằng nẹp Chêneau có ưu điểm là nhẹ, được chephủ kín khi mặc áo, ít ảnh hưởng đến các hoạt động hằng ngày Nhược điểmcủa áo nẹp là khó khăn khi lên, xuống xe ô tô, khi tham gia giao thông và khiphải ngồi lâu [41].
Năm 1999, Climent J.M và CS nghiên cứu ảnh hưởng của các loại áonẹp chỉnh hình lên chất lượng cuộc sống của trẻ vị thành niên bị biến dạng cộtsống bằng việc sử dụng bộ công cụ đánh giá "Chất lượng cuộc sống của cácbiến dạng cột sống" (The quality of life Profile for Spinal Deformaties) chothấy việc điều trị bằng nẹp Milwaukee có ảnh hưởng nhiều hơn đến chấtlượng cuộc sống so với áo nẹp Boston và Charleston, đặc biệt là lĩnh vực tâm
lý xã hội và độ mềm dẻo của lưng [42]
Năm 2010, Bùi Thị Bích Ngọc đã nghiên cứu ảnh hưởng của áo nẹpchỉnh hình 3D đến các hoạt động hằng ngày của bệnh nhân Kết quả chỉ rarằng áo nẹp 3D gây tác động về tâm lý nhiều hơn là về thể chất Áo nẹp ảnhhưởng chủ yếu trong giai đoạn đầu khi bệnh nhân mới mặc áo nẹp, ảnh hưởng
rõ ràng nhất liên quan đến đau và rối loạn giấc ngủ Cuối cùng tác giả kết luậnrằng mặc dù có những nhược điểm nhất định tuy nhiên áo nẹp chỉnh hình 3D
dễ dàng được chấp nhận sử dụng hơn so với áo nẹp Milwaukee [43]
Năm 2003, Obinwanne F.U và CS [44] đã đánh giá ảnh hưởng của việcmặc áo nẹp lên chất lượng cuộc sống của trẻ VCS tự phát tuổi vị thành niênbằng cách so sánh bệnh nhân mặc áo nẹp với nhóm không điều trị bằng áonẹp Kết quả cho thấy có một vài khác biệt về chất lượng cuộc sống giữanhóm mặc áo nẹp và nhóm chứng tuy nhiên áo nẹp không làm giảm chấtlượng cuộc sống của trẻ VCS so với nhóm không mặc áo nẹp [44]
Năm 2007, Phạm Văn Minh và CS [34] đánh giá ảnh hưởng của áo nẹpChêneau lên chất lượng cuộc sống của trẻ VCS tự phát được điều trị bằng áonẹp cho thấy chất lượng cuộc sống của những trẻ mang áo nẹp toàn bộ thời
Trang 23gian giảm rõ rệt so với những trẻ điều trị bằng áo nẹp bán thời gian và nhữngtrẻ không điều trị bằng áo nẹp Tuy nhiên áo nẹp Chêneau không ảnh hưởngđến tình trạng đau lưng của những trẻ này.
1.7 Đặc điểm của huyện Mỹ Đức và quận Ba Đình Hà Nội
1.7.1 Đặc điểm của huyện Mỹ Đức, Hà Nội [45]
- Vị trí huyện Mỹ Đức nằm phía tây nam Hà Nội, phía đông giáp huyện
tây giáp các huyện của tỉnh Hòa Bình: Lương Sơn (ở phía tây Bắc), Kim Bôi(ở phía chính Tây), Lạc Thủy (ở phía tây nam) Phía đông nam giáp huyệnKim Bảng tỉnh Hà Nam
- Địa hình - diện tích: Mỹ Đức là vùng huyện bán sơn địa, nằm ở phíanam của đồng bằng Bắc Bộ phía nam là vùng núi đá vôi hang động Karst, có
vẻ đẹp nổi tiếng là khu thắng cảnh chùa Hương Huyện còn có hồ nước lớn là
Hồ Quan Sơn, nằm trên địa phận xã Hợp Tiến Ở rìa phía đông có sông Đáychảy theo hướng từ Bắc xuống Nam sang tỉnh Hà Nam Diện tích tự nhiên củahuyện Mỹ Đức là 230,0 km² Dân số huyện Mỹ Đức là 169.999 người (năm2009) Về hành chính huyện Mỹ Đức có 1 thị trấn và 21 xã Thị trấn ĐạiNghĩa (thành lập năm 2003 trên cơ sở sát nhập thị trấn Tế Tiêu và xã ĐạiNghĩa Còn 21 xã bao gồm: An Mỹ, An Phú, An Tiến, Bột Xuyên, Đại Hưng,
1.7.2 Đặc điểm của quận Ba Đình, Hà Nội [46]
Về vị trí địa lý hành chính quận Ba Đình: bắc giáp quận Tây Hồ, nam giápquận Đống Đa, đông giáp sông Hồng, đông nam giáp quận Hoàn Kiếm, tâygiáp quận Cầu Giấy
Trang 24Về lịch sử
Quận nằm trên nền đất xưa vốn thuộc tổng Hữu Nghiêm (sau đổi làYên Hòa), huyện Thọ Xương và các tổng Yên Thành, Nội, Thượng,Trung, huyện Vĩnh Thuận
Từ những năm 1954-1961 gọi là khu Ba Đình và khu Trúc Bạch
Từ những năm 1961-1981, thành lập khu phố Ba Đình trên cơ sở sápnhập khu Ba Đình và khu Trúc Bạch cũ, đồng thời sáp nhập xã ĐôngThái, một phần xã Thái Đô thuộc quận V cũ; 2 xã: Ngọc Hà, Phúc Lệ,một phần xã Thống Nhất thuộc quận VI
phường: Bưởi, Cầu Giấy, Cống Vị, Điện Biên, Đội Cấn, Giảng Võ,Kim Mã, Ngọc Hà, Nguyễn Trung Trực, Phúc Xá, Quán Thánh, ThànhCông, Thụy Khuê, Trúc Bạch, Yên Phụ Toàn bộ khu vực Hoàng thànhThăng Long nằm trong quận này
quận Ba Đình chuyển sang trực thuộc quận Tây Hồ, từ đó quận còn 12phường: Cầu Giấy, Cống Vị, Điện Biên, Đội Cấn, Giảng Võ, Kim Mã,Ngọc Hà, Nguyễn Trung Trực, Phúc Xá, Quán Thánh, Thành Công,Trúc Bạch
Ngày 22 tháng 11 năm 1996, phường Cầu Giấy được đổi tên thànhphường Ngọc Khánh
Ngày 1 tháng 4 năm 2005, thành lập 2 phường Liễu Giai (tách ra từphường Ngọc Hà) và Vĩnh Phúc (tách ra từ phường Cống Vị)
Từ đó, quận Ba Đình có 14 phường: Cống Vị, Điện Biên, Đội Cấn,Giảng Võ, Kim Mã, Liễu Giai, Ngọc Hà, Ngọc Khánh, Nguyễn TrungTrực, Phúc Xá, Quán Thánh, Thành Công, Trúc Bạch, Vĩnh Phúc
Trang 25 Diện tích 9248 km², dân số tổng cộng 228.352 người, mật độ 24.703người/km² (năm 2014).
Quận Ba Đình hiện là trung tâm văn hóa chính trị của thủ đô Hà Nội,quân dân quận Ba Đình luôn phấn đấu để xứng đáng với niềm tin yêucủa nhân dân Hà Nội nói riêng và nhân dân cả nước nói chung
Trang 26Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh phổ thông huyện Mỹ Đức và quận Ba Đình: học sinh tiểuhọc, trung học cơ sở, trung học phổ thông được chọn ngẫu nhiên theo cỡmẫu để điều tra sang lọc xác định tỷ lệ vẹo cột sống trong học sinh ởhuyện Mỹ Đức và quận Ba Đình
- Phụ huynh của học sinh được xác định có vẹo cột sống được đánh giá
về kiến thức - thái độ - thực hành (KAP) trong phòng chống VCS Số lượngphụ huynh trẻ có VCS được xác định theo cỡ mẫu
Giáo viên của những lớp có trẻ VCS học tập được đánh giá về kiến thứcthái độ thực hành (KAP) trong phòng chống VCS Số lượng giáo viên cótrẻ VCS được xác định theo cỡ mẫu
Học sinh có VCS và học sinh không VCS được đánh giá KAP trongphòng VCS Số lượng học sinh VCS và không VCS được xác định theo
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ
2.1.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Học sinh, phụ huynh học sinh và giáo viên đồng ý tham gia khám, điềutra sàng lọc
Trang 27Tiêu chuẩn chọn đối tượng đánh giá KAP
- Học sinh được xác định có VCS, chọn ngẫu nhiên ở trường tiểu học, ởtrường trung học cơ sở và ở trường trung học phổ thông Các trẻ tự nguyệntham gia nghiên cứu và được phụ huynh chấp nhận Học sinh không có VCScùng lớp với học sinh VCS theo tỷ lệ 1:1
- Phụ huynh có trẻ VCS đã được xác định, chọn ngẫu nhiên phụ huynhcủa trẻ VCS đang học ở trường, và tự nguyện tham gia nghiên cứu PHHScủa trẻ không bị VCS cũng chọn ở các cấp tương tự như với trẻ bị VCS và làcác phụ huynh có trẻ tham gia đánh giá KAP
- Giáo viên cũng được chọn ngẫu nhiên là giáo viên chủ nhiệm lớp, giáoviên kiêm nhiệm y tế học đường và cán bộ y tế chuyên trách
Tiêu chuẩn chọn trẻ VCS để can thiệp PHCN
- Trẻ được bắt đầu can thiệp PHCN tuổi từ 6 đến 17 tuổi bao gồm cảnam và nữ, tự nguyện điều trị
- Trẻ được chẩn đoán là vẹo cột sống tự phát qua khám lâm sàng và đotrên phim X- quang cột sống với góc Cobb từ 100 đến 200
- Trẻ được chẩn đoán là vẹo cột sống tự phát qua khám lâm sàng và đotrên phim X - quang cột sống với góc Cobb từ 200 đến 450 đượcmang áo nẹp
CH và tập luyện PHCN
- Dấu hiệu Risser (sự trưởng thành của xương) ban đầu là 0- 3
Cách xác định chỉ số Risser: Đánh giá sự trưởng thành của xương [47]
Độ 0: Chưa cốt hoá mào chậu
Độ 1: Cốt hoá 1/4 ngoài mào chậu
Độ 2: Cốt hoá 1/2 ngoài mào chậu
Độ 3: Cốt hoá 3/4 ngoài mào chậu
Độ 4: Cốt hoá hoàn toàn mào chậu
Độ 5: Mào chậu cốt hoá liền hoàn toàn với cánh chậu
Trang 282.1.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Học sinh, phụ huynh, giáo viên không đồng ý tham gia, hoặc bỏ giữachừng
- Đối với phụ huynh học sinh loại những phụ huynh không đồng ý thamgia phỏng vấn, những người không có khả năng hiểu phỏng vấn, những ngườirối loạn tâm thần
- Những trẻ VCS không đưa vào diện can thiệp PHCN:
+ VCS không cấu trúc
+ VCS tự phát có góc Cobb dưới 10° và trên 200
+ VCS tự phát kèm theo gù hoặc ưỡn cột sống
+ VCS do các biến dạng cột sống bẩm sinh
+ VCS do nguyên nhân thần kinh-cơ
+ VCS do các nguyên nhân chấn thương
+ VCS do các bệnh: Lao cột sống, U cột sống
- Dấu hiệu Risser ban đầu là 4- 5
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành bằng phương pháp mô tả cắt ngang, kết hợpnghiên cứu định lượng và định tính
- Nghiên cứu can thiệp sử dụng giải pháp can thiệp bằng truyền thông,tập luyện phục hồi chức năng Đánh giá hiệu quả can thiệp bằng so sánh trước
và sau can thiêp
2.3 Cỡ mẫu nghiên cứu:
2.3.1 Xác định cỡ mẫu tỷ lệ vẹo cột sống ở học sinh phổ thông Hà Nội.
Điều tra sàng lọc để xác định tỷ lệ VCS: điều tra sàng lọc các trườnghọc ở 1 quận và 1 huyện của Hà Nội (cỡ mẫu thuận tiện), theo cỡ mẫu đượctính dưới đây:
Dựa vào kết quả điều tra cong vẹo cột sống của học sinh Hà Nội 2001
Trang 29là 17%, học sinh THPT tại Hà Nội 2012 là 18,9%, kết quả điều tra của cục Y
tế dự phòng ở 8 tỉnh đã đưa ra tỷ lệ chung của học sinh nam là 10,08%, họcsinh nữ là 8,62%, chúng tôi lấy tỷ lệ chung là 10% [35, 48] để tính cỡ mẫutheo công thức xác định tỷ lệ %:
Tổng số cả ba cấp là 3.500
Trên cơ sở cỡ mẫu tính trên, nghiên cứu dự kiến điều tra tại 1 quận và 1huyện của Hà Nội (theo cách chọn mẫu thuận tiện về địa điểm và tổ chứctriển khai)
Mỗi quận/huyện chọn 2 phường/xã, mỗi phường/xã chọn: 1 trường THPT,
Trang 301 trường THCS và 2 trường Tiểu học.
Như vậy mỗi quận/huyện sẽ có: 2 trường THPT, 2 trường THCS và 4
trường Tiểu học.Tổng số trường được chọn trong nghiên cứu sẽ là: 4 trường THPT, 4 trường THCS và 8 trường Tiểu học.
Dự kiên cỡ mẫu điều tra cho một trường ở các cấp sẽ được tính như sau:Tiểu học: 1.680 học sinh: 8 trường = 210 học sinh/ trường
Trung học cơ sở: 1.190 học sinh: 4 trường = 297,5 = 298 học sinh/ trườngTrung học phổ thông: 630 học sinh: 4 trường = 157,5 = 158 học sinh/trường
Cỡ mẫu sau khi làm tròn số:
Tiểu học: 210 học sinh/trường x 8 trường = 1.680 học sinh
Trung học cơ sở: 298 học sinh/trường x 4 trường = 1.192 học sinh
Trung học phổ thông: 158 học sinh/trườngTổng số: 3.504 học sinh
Nếu lấy tỷ lệ vẹo cột sống là 10% dự kiến số học sinh nghi ngờ VCS là:3.504 HS x 10% = 350,4 Học sinh = 350 Học sinh
Số học sinh nghi ngờ vẹo cột sống sẽ được khám chẩn đoán xác định lại, lựachọn và phân loại mức độ vẹo cột sống bằng chụp X quang thông thường(chụp cột sống), xác định góc Cobb để phân lại mức độ I và II
2.3.2 Cỡ mẫu điều tra KAP
Điều tra KAP ở học sinh
a Điều tra KAP ở nhóm có vẹo cột sống:
Toàn bộ số học sinh bị VCS sẽ được lấy vào mẫu điều tra KAP theo
cỡ mẫu dự kiến tỷ lệ VCS là 10%
Tiểu học: 1.680 học sinh x 10% = 168 học sinh
Trung học cơ sở: 1.190 học sinh x 10% = 119 học sinh
Trung học phổ thông: 630 học sinh x 10% = 63 học sinh
Trang 31Tổng số: 3.500 học sinh x 10% = 350 học sinh
Trang 32b Điều tra KAP ở nhóm học sinh không bị vẹo cột sống
Học sinh không bị vẹo cột sống được chọn vào mẫu điều tra KAP theo tỷ lệ1:1 (1 học sinh VCS chọn 1 học sinh không bị vẹo cột sống)
Cỡ mẫu tương tự như đối với vẹo cột sống
Cụ thể:
Tiểu học: 1.680 học sinh x 10% = 168 học sinh
Trung học cơ sở: 1.190 học sinh x 10% = 119 học sinh
Trung học phổ thông: 630 học sinh x 10% = 63 học sinh
Tổng số: 3.500 học sinh x 10% = 350 học sinh
Học sinh không vẹo cột sống được chọn theo nguyên tắc ngồi liền kềvới học sinh bị VCS
Điều tra KAP ở phụ huynh học sinh.
KAP ở phụ huynh học sinh (PHHS) được chọn tương tự như ở Học sinh.Học sinh nào phỏng vấn KAP thì sẽ phỏng vấn PHHS tương ứng
Cỡ mẫu phỏng vấn PHHS gồm:
350 PHHS có trẻ bị VCS được phỏng vấn.
350 PHHS có trẻ không bị VCS được phỏng vấn
Điều tra KAP ở giáo viên
Điều tra KAP ở giáo viên cũng có cỡ mẫu dự kiến là 350 giáo viên
- Điều tra KAP giáo viên là các giáo viên chủ nhiệm lớp thuộc diện điềutra, các giáo viên kiêm nhiệm công tác y tế học đường, các cán bộ y tếhọc đường chuyên trách, giáo viên là lãnh đạo của các trường
- Cỡ mẫu trung bình của một trường dự kiến là:
350/ 16 trường = 21, 9 = 22 giáo viên/trường
2.3.3 Cỡ mẫu can thiệp
Mẫu can thiệp được chia làm 2 nhóm dựa trên giải pháp can thiệp [44]
2.3.3.1 Can thiệp bằng truyền thông được thực hiện cho tất cả các trường
Trang 33trong diện điều tra.
3 nhóm đối tượng được truyền thông là:
đến 200 tự nguyện tham gia nghiên cứu
- Tổ chức hướng dẫn các bài tập luyện mẫu (phụ lục 7) cho nhóm nòngcốt (giáo viên thể chất, cán bộ y tế học đường) Nhóm nòng cốt và nhómnghiên cứu tổ chức hướng dẫn cho học sinh tại trường Yêu cầu học sinh tựtập luyện tại nhà, mỗi ngày 30 phút Nhóm nòng cốt phối hợp với nhómnghiên cứu giám sát tập luyện tại nhà 2 lần/tuần và qua liên lạc điện thoại vớiphụ huynh
- Sau 6 tháng chụp Xquang đo lại góc Cobb
* Nhóm đeo áo nẹp CH kết hợp tập luyện PHCN bao gồm tất cả các trẻ cógóc Cobb từ 20 º đến 45º Trẻ đeo áo nẹp cả ngày và tập các bài tập PHCN(phụ lục 7)
2.4 Biến số và chỉ số nghiên cứu
Mục
tiêu STT Biến cụ thể Loại biến
Chỉ số/định nghĩa/phân loại
Phương pháp thu thập
dương lịch
Phỏngvấn
giới
Quan sát
Trang 34Tỉ lệ % mỗi độVCS
ChụpXquang
* Nhóm biến số thứ 3 là kết luận nhóm có biểu hiện VCS qua thămkhám lâm sàng phát hiện các dấu hiệu lâm sàng như:
Quan sát từ phía sau ở tư thế đứng
2.5 Đánh giá kết quả can thiệp
2.5.1 Đánh giá kết quả KAP trước can thiệp và sau can thiệp bằng truyền
thông phòng chống VCS sau 6 tháng theo các biểu mẫu 2,3 Đánh giá sự cảithiện kiến thức, thái độ, thực hành của phụ huynh, giáo viên và học sinh thôngqua phỏng vấn
Về kiến thức: giáo viên, phụ huynh học sinh và HS
+ Hiểu một số nguyên nhân học đường có thể gây VCS
+ Các tác hại của VCS
Về thái độ giáo viên, phụ huynh và học sinh thể hiện
+ Có quan tâm đến bệnh học đường và VCS không
Trang 35+ Có quan tâm đến các biện pháp có thể phòng tránh VCS không
+ Có tích cực phổ biến kiến thức phòng ngừa VCS và bệnh học đườnghay không
Về thực hành thể hiện qua phiếu
+ Phụ huynh học sinh, HS đã làm gì để phòng chống VCS
+ GV đã hướng dẫn HS phòng ngừa VCS trong trường học chưa (ngồiđúng tư thế, bàn ghế phù hợp với tầm vóc HS, ánh sáng đầy đủ…)
2.5.2 Tiêu chuẩn đánh giá kết quả can thiệp phục hồi chức năng
- Trẻ được đánh giá bằng theo dõi sự tiến triển của góc cong vẹo cộtsống (góc Cobb) trên phim chụp X- Quang trước can thiệp và sau can thiệptập luyện PHCN sau 6 tháng
- Cách đo góc Cobb theo phương pháp của tác giả Cobb
Sau can thiệp:
Góc Cobb = 00 : KhỏiGóc Cobb thay đổi < 50: Không thay đổiGóc Cobb giảm từ 50 : Đỡ
Góc Cobb tăng từ 50: Nặng lên
- Tiêu chuẩn đánh giá kết quả phục hồi chức năng cho bệnh nhân
vẹo cột sống: ( theo tác giả Basset G.S và Bunnell W P )
- Cải thiện: góc Cobb giảm đi > 50 so với ban đầu
- Ổn định: góc Cobb tăng hoặc giảm < 50
- Xấu đi: góc Cobb tăng lên
Trang 362.6 Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi đã lựa chọn hai quận/huyện là quận Ba Đình và huyện Mỹ Đức
để tiến hành đề tài nghiên cứu Hai quận/huyện trên được lựa chọn đại diệncho một quận nội thành và một huyện ngoại thành của Hà Nội
Về lý thuyết, mỗi quận/huyện sẽ lựa chọn 04 trường tiểu học; 02 trường THCS và 02 trường PTTH tham gia trong đề tài Tuy nhiên vì một số lý do khách quan nên tại quận Ba Đình chúng tôi đã không thể tiến hành các hoạt động nghiên cứu tại 02 trường PTTH Đề tài cũng chỉ tiến hành được khám sàng lọc tại một trường PTTH của quận Ba Đình Tổng
số có 15 trường tham gia đề tài, danh sách các trường tham gia trong đề tài được liệt kê ở bảng sau:
Tiểu học Nguyễn Tri Phương Tiểu học Hợp Thanh A
Tiểu học Ngọc Khánh Tiểu học Hợp Thanh B
Tiểu học Nguyễn Trung Trực Tiểu học Đại Nghĩa
PTTH Mỹ Đức AThông tin về kết quả nghiên cứu tại các trường sẽ được trình bày chi tiếttrong phần 3 của báo cáo
2.7 Đánh giá kết quả can thiệp
Đánh giá kết quả KAP trước và sau can thiệp bằng truyền thông giáo dụcphòng chống cong VCS theo các biểu mẫu 2,3 Đánh giá sự cải thiện kiếnthức, thái độ, thực hành của học sinh, phụ huynh và giáo viên thông quaphỏng vấn và quan sát những thay đổi điều kiện vệ sinh học đường cũngnhư điều kiện học hành tại gia đình [51]
Tiêu chuẩn đánh giá kết quả can thiệp phục hồi chức năng
- Trẻ được đánh giá bằng theo dõi sự tiến triển của góc cong vẹo cộtsống (góc Cobb) trên phim chụp X- Quang 6 tháng 1lần
Trang 37- Cách đo góc Cobb theo phương pháp của tác giả Cobb (trình bày trong phần tổng quan)
- Những trẻ đeo áo nẹp cột sống tiến hành nghiên cứu trường hợp (case
study) và đánh giá chất lượng cuộc sống theo bộ câu hỏi, theo dõi tiến triểncủa độ vẹo bằng góc Cobb
Chiến lược nghiên cứu
Khám sàng lọc Xác định VCS
Trang 382.8 Xử lý số liệu: theo chương trình SPSS 16.0
2.9 Vấn đề liên quan đến đạo đức trong nghiên cứu
- Các điều tra phỏng vấn phải được học sinh, giáo viên và phụ huynhhọc sinh chấp thuận (có phiếu đồng ý và ký tên)
- Các vấn đề riêng tư tuyệt đối bảo đảm bí mật
- Nghiên cứu đã được hội đồng thông qua đề cương cho phép, đề tàinghiên cứu cấp thành phố được hội đồng Y đức thông qua cho phép nghiêncứu (có bản đồng ý của Hội đồng Y đức trong phụ lục)
- Kết quả nghiên cứu sẽ Sở KHCN thành phố sử dụng làm khuyến cáo
về VSHĐ và đề ra chiến lược phòng ngừa VCS ở các trường học ở Hà Nội
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU3.1 Thực trạng vẹo cột sống (VCS) và các yếu tố liên quan đến VCS học đường
3.1.1 Kết quả khám sàng lọc
Tiến hành khám sàng lọc trên 3.789 học sinh từ cấp tiểu học (TH),trung học cơ sở (THCS), trung học phổ thông (THPT) nhằm xác định tỷ lệvẹo cột sống (VCS) ở lứa tuổi học sinh (HS) từ 6 – 17 tuổi ở huyện Mỹ Đức(MĐ) và quận Ba Đình (BĐ) Kết quả cho thấy:
Bảng 3 1: Phân bố đối tượng theo giới, cấp học và địa dư
P Cấp
Nhận xét: Bảng 3.1 mô tả số lượng học sinh các trường tham gia khám
sàng lọc theo giới ở quận Ba Đình và huyện Mỹ Đức, trong tổng số 3.789 họcsinh tham gia khám sàng lọc, có 1.835 đối tượng là nam giới (chiếm 48,43%)
và 1.954 đối tượng là nữ giới (chiếm 51,57%) Sự khác nhau về giới giữa haiquận/huyện ở các cấp học là không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Trang 40Cỡ mẫu tham gia khám sàng lọc ở cấp tiểu học là 1.845 học sinh, cấpTHCS là 1.222 học sinh và cấp THPT là 722 học sinh Số lượng học sinhtương đương nhau ở cùng cấp học của 02 quận/huyện Ba Đình và Mỹ Đức, sựkhác nhau không có ý nghĩa thống kê với P > 0,05.
Bảng 3.2: Tuổi của các đối tượng theo cấp học
Tuổi nhỏ nhất
Tuổi lớn nhất
so với độ tuổi chung
Bảng 3.3: Tuổi của các đối tượng theo cấp và theo địa dư