Lượng CTRYT trung bình trên thế giới theo loại bệnh viện Bệnh viện Tổng lượng CTRYT Khối lượng phát sinh chất thải rắn y tế tại Việt Nam Năm 2010 tổng lượng CTR y tế trong toàn quốc kh
Trang 1Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể cán bộ, nhân viên bệnh viện Sản NhiHưng Yên đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi nhiệt tình, chu đáo trong suốt quátrình thực tập tại đây.
Xin chân thành cảm ơn Th.S Nguyễn Thu Thùy- Giảng viên hướng dẫntrực tiếp đã trang bị cho tôi kiến thức, góp ý cho tôi trong suốt quá trìnhnghiên cứu và hoàn thành đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài, do điều kiện về thời gian, trình độnghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên khi thực hiện đề tài khó tránh khỏinhững thiếu xót.Vì vậy, tôi mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiếncủa các thày cô giáo và các bạn để Khóa luận này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Liễu
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH ẢNH vi
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích- Yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1.Khái niệm chất thải y tế 3
2.2 Nguồn gốc phát sinh và phân loại chất thải rắn y tế 3
2.2.1 Nguồn gốc phát sinh 3
2.2.2 Phân loạichất thải rắn y tế 4
2.3 Khối lượng và thành phần chất thải rắn y tế 5
2.3.1 Khối lượng phát sinh chất thải rắn y tế 5
2.3.2 Thành phần chất thảirắn y tế 8
2.4.Ảnh hưởng của CTYT đến môi trường và sức khỏe con người 10
2.4.1 Môi trường 10
2.4.2 Ảnh hưởng của CTYT đến sức khỏe con người 10
2.5.Tình hình quản lýchất thải rắnbệnh viện 13
2.5.1 Quản lý chất thải rắny tế trên thế giới 13
2.5.2 Quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam 15
2.6 Cơ sở pháp lý trong quản lý chất thải y tế ở Việt Nam 22
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
Trang 33.2 Phạm vi nghiên cứu 23
3.3 Nội dung nghiên cứu 23
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Phương pháp thu thập số liêu thứ cấp 23
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 24
3.4.3 Phương pháp so sánh 24
3.4.4 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 24
3.4.5 Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý số liệu 24
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
4 1 Giới thiệu chung về bệnh viên Sản Nhi Hưng Yên 25
4.1.1 Thông tin về bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên 25
4.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện 26
4.2 Hiện trạng chất thải rắn y tế tại bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên 27
4.2.1 Các nguồn phát sinh chất thải rắn y tế 27
4.2.2 Thành phần chất thải rắn tại bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên 29
4.2.3 Khối lượng chất thải rắn y tế 30
4.2.4 Ảnh hưởng chất thải rắn y tế 35
4.3 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên 37
4.3.1 Quản lý về mặt hành chính 37
4.3.2 Quản lý về mặt kỹ thuật 39
4.4 Đề xuất các giải pháp 57
4.4.1 Cơ sở của các đề xuất 57
4.4.2 Các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế 58
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
5.1 Kết luận 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế 4
Bảng 2.2 Lượng phát sinh CTR y tế trên thế giới 6
Bảng 2.3 Lượng CTRYT trung bình trên thế giới theo loại bệnh viện 6
Bảng 2.4 Lượng chất rắn y tế phát sinh tại bệnh viện 7
Bảng 2.5 Thành phần CTR y tế dựa trên đặc tính lý hóa 8
Bảng 2.6 Nguy cơ mắc bệnh sau khi bị bơm kim tiêm bẩn xuyên qua da 11
Bảng 2.7 Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2010 17
Bảng 2.8 Các phương tiện vận chuyển CTRYT tại các bệnh viện 17
Bảng 4.1 Thành phần CTR của bệnh viện Sản Nhi năm 2013 29
Bảng 4.2 Khối lượng chất thải rắn y tế qua các năm 30
Bảng 4.3 Khối lượng CTRYT tại các khoa trung bình trong ngày 31
Bảng 4.4 Khối lượng phát sinh CTRYT các tháng 1,2,3 năm 2014 33
Bảng 4.5 Nhận thức của người phỏng vấn về tác hại của CTR y tế 36
Bảng 4.6 Trình độ nhân lực bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên 41
Bảng 4.7 Hiểu biết của cán bộ y tế, nhân viên vệ sinh về phân loại nhóm chất thải y tế theo nhóm chất thải 48
Bảng 4.8 Hiểu biết nhân viên y tế, nhân viên vệ sinh về phân nhóm chất thải của một số loại chất thải 48
Bảng 4.9 Hiểu biết về màu sắc bao bì, dụng cụ đựng chất thải rắn y tế 49
Bảng 4.10 Tình hình thực hiện quy chế tại bệnh viện 50
Bảng 4.11 Bảng liên quan giữa kiến thức, thái độ của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân với thực hành bỏ rác đúng nơi quy đinh 51
Bảng 4.12 Một số lò đốt chất thải rắn y tế 64
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Sự gia tăng CTRYT tại một số địa phương giai đoạn 2005- 2009 8
Hình 2.2 Tình hình xử lý CTYT của hệ thống cơ sở y tế các cấp 20
Hình 4.1 Sơ đồ khu vực xung quanh bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên 25
Hình 4.2 Nguồn phát sinh CTR tại bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên 28
Hình 4.3 Khối lượng CTRYT nguy hại qua các tháng năm 2013 32
Hình 4.4 Khối lượng CTRYT nguy hại theo các ngày trong tuần 34
Hình 4.5 Mô hình quản lý chất thải bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên 37
Hình 4.6 Sơ đồ quy trình quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên 40
Hình 4.7 Sơ đồ phân loại chất thải rắn tại nguồn của bệnh viện 44
Hình 4.8 Thùng đựng rác tại bệnh viện Sản Nhi Hưng yên 46
Hình 4.9 Thùng đựng rác trên xe tiêm 46
Hình 4.9 Chất thải đựng trong túi, thùng sai mã màu quy định 47
Hình 4.10 Nơi lưu trữ rác thải của bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên 56
Hình 4.11 Sơ đồ xử lý CTRYT của bênh viện Sản Nhi Hưng Yên 57
Trang 7Chất thải y tế là một trong những loại chất thải phức tạp, nguy hiểm vàobậc nhất và việc xử lý các loại chất thải này rất phức tạp và gặp nhiều khókhăn Theo tổ chức y tế thế giới trong thành chất thải bệnh viện có chứa 10%các chất thải nhiễm khuẩn chứa mầm bệnh có khả năng lây nhiễm cao (vikhuẩn, vi trùng ) và khoảng 5% là chất thải gây độc hại như chất phóng xạ,hóa chất thí nghiệm hay chất tẩy rửa…Những chất thải này khi thải ra môitrường nếu không được xử lý đúng cách sẽ gây hậu quả vô cùng nặng nề,không chỉ môi trường đất, nước và không khí bị ô nhiễm mà còn ảnh hưởngtới chất lượng cuộc sống của con người.
Ô nhiễm môi trường trong ngành y tế hiện nay đã trở thành một vấn nạncủa xã hôi, sự quá tải của các bệnh viện cùng với sự thiếu đồng bộ cơ sở hạtầng dẫn tới vệ sinh môi trường của các bệnh viện chưa được đảm bảo Hầuhết các bệnh viện, trạm xá lại không có hệ thống xử lý rác thải hoặc có nhưngchỉ mang tính tương đối chưa đạt tiêu chuẩn và hệ thống xử lý không triệt để.Công tác thu gom,phân loại và lưu trữ rác thải y tế chưa đạt tiêu chuẩn, khôngđúng quy định Vì vậy đòi hỏi các cơ quan thẩm quyền chức năng cần phảiđưa kế hoạch, công tác quản lý và đề xuất các giải xử lý chất thải rắn y tếnhằm đảm bảo sự phát triển nền kinh tế bền vững về mặt môi trường
Trang 8Hưng Yên là một trong những tỉnh thành đang trong giai đoạn pháttriển, tuy nhiên lượng rác thải phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp,nông nghiệp, từ làng nghề và bệnh viện đang là một vấn đề rất đáng quan tâm,
lo ngại Bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên là một trong những điểm phát sinhlượng lớn chất thải thải y tế, nhưng hiện tại công tác thu gom, quản lý và xử
lý của bệnh viện còn nhiều hạn chế gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môitrường và sức khỏe của con người
Để đánh giá thực trạng phát sinh và công tác quản lý CTR y tế tại bệnhviện Sản Nhi Hưng Yên trong thời gian qua, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :
“ Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên- Tỉnh Hưng Yên”
1.2 Mục đích- Yêu cầu
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá hiện trạng quản lý CTRYT phát sinh tại bệnh viện
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tácquản lý CTRYT tạibệnh viện Sản Nhi Hưng Yên
Trang 9Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Khái niệm chất thải y tế
Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở
y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sứckhỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễcháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thảinày không được tiêu hủy an toàn
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các chất và hợp chất cómột trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gâynguy hại tới môi trường và sức khỏe con người
2.2 Nguồn gốc phát sinh và phân loại chất thải rắn y tế
2.2.1 Nguồn gốc phát sinh
Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện; các cơ sở y tếkhác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám, trung tâm lọc máu…;các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học; ngân hàng máu…Hầu hếtcác CTR y tế đều có tính chất độc hại và có tính đặc thù khác với các loạiCTR khác.Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là các khu xét nghiệm,khu phẫu thuật, bào chế dược (Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2011) Bảng2.1, cho biết nguồn phát sinh CTR đặc thù từ các hoạt động y tế
Trang 10Bảng 2.1.Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế
Nguồn: Bộ Tài Nguyên và Môi trường, 2011
2.2.2 Phân loạichất thải rắn y tế
Chất thải rắn y tế được phân làm 5 loại theo Quyết định số BYT dựa trên những đặc tính lý hóa, sinh học và tính chất nguy hại
43/2007/QĐ-a Chất thải lây nhiễm:
Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặcchọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn củadây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ vàcác vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế
Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu,thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinhtrong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnhphẩm
Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thểngười; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm
Trang 11b Chất thải hóa học nguy hại:
Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.Chấthóa học nguy hại sử dụng trong y tế Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chaithuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từngười bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu Chất thải chứa kim loại nặng: thủyngân, cadimi (Cd), chì (Pb)
c Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát
sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất
d Bình chứa áp suất:Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khídung Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt
e Chất thải thông thường:Chất thải thông thường là chất thải không chứa
các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ
2.3 Khối lượng và thành phần chất thải rắn y tế
2.3.1 Khối lượng phát sinh chất thải rắn y tế
Khối lượng CTR y tế phát sinh không chỉ thay đổi theo khu vực địa lý
mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
- Cơ cấu bệnh tật bình thường, dịch bệnh, thảm họa đột xuất
- Loại và quy mô bệnh viện, phạm vi khám chữa bệnh
- Số lượng bênh nhân khám dến khám và điều trị
- Điều kiện kinh tế- xã hội của khu vực
- Phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị
và chăm sóc
Khối lượng phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới
Theo điều tra của Bộ Y tế sự phát triển nền kinh tế có ảnh hưởng đến
tỷ lệ phát sinh CTR y tế tại các quốc gia Nước có thu nhập cao thường tạo ranhiều chất thải hơn nước có thu nhập trung bình và nước có thu nhập thấp, từbệnh viện cấp trên cao hơn bệnh viện cấp dưới
Trang 12Bảng 2.2 Lượng phát sinh CTR y tế trên thế giới
Quốc gia Tổng lượng CTRYT
Bảng 2.3 Lượng CTRYT trung bình trên thế giới theo loại bệnh viện
Bệnh viện Tổng lượng CTRYT
Khối lượng phát sinh chất thải rắn y tế tại Việt Nam
Năm 2010 tổng lượng CTR y tế trong toàn quốc khoảng 100-140tấn/ngày, trong đó có 16-30 tấn/ngày là CTR y tế nguy hại Lượng CTR trungbình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó CTR y tế nguy hại tính trung bình là0,14kg/giường/người Tính riêng cho 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế quản lý, tổng
Trang 13sinh cao nhất là bệnh viện Chợ rẫy 3,72kg/giường/ngày, thấp nhất là bệnh việnĐiều dưỡng- Phục hồi chức năng Trung ương và bệnh viện Tâm thần Trung ương
2 với 0,01 kg/giường/ngày(Bộ Tài Nguyên và Môi trường, 2011)
Trong CTRYT, thành phần đáng quan tâm nhất là dạng chất thải nguyhại (chiếm 20% tổng lượng CTRYT), do nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh và hóachất độc cho con người Lượng CTYT phát sinh trong ngày khác nhau theoloại bệnh viện, tùy thuộc số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đakhoa…Các nghiên cứu cho thấy các bệnh viện tuyến trung ương và tại thànhphố lớn thường có tỷ lệ phát sinh CTRYT nguy hại cao nhất, thấp nhất là cácbệnh viện tuyến huyện.Tuy nhiên, lượng CTRYT nguy hại phát sinh nhìnchungthấp hơn so vớicác nước trong khu vực Đông Nam Ánhư: Thái Lan
0,23kg/giường/ngày, Lào 0,31 kg/giường/ngày (Fauzial Shahul Hamid, 2012).
Bảng 2.4, cho biết lượng CTRYT phát sinh tại các bệnh viện trên cả nước
Bảng 2.4 Lượng chất rắn y tế phát sinh tại bệnh viện
Bệnh viện Tổng lượng CTRYT
Nguồn: Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2011
Hiện nay, CTRYT phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địaphương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế vàtăng giường bệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế;dân số gia tăng, đời sống của người dân ngày được một cải nhiện do đó nhucầu về chăm sóc sức khỏe ngày càng được quan tâm Hình 2.1, cho thấy mức
độ gia tăng của CTRYT của một số địa phương giai đoạn 2005- 2009
Trang 14Hình 2.1 Sự gia tăng CTRYT tại một số địa phương giai đoạn 2005- 2009
Nguồn: Bộ tài nguyên môi trường năm 2011
Chất thải y tế không ngừng phát sinh và có chiều hường tăng khá nhanhtrong vài năm gần đây (hình 2.1), theo dự báo của Bộ Xây Dựng đến năm
2015 thì tổng khối lương CTR y tế là 50.071kg/ngày, con số này còn tăngmạnh trong những năm tiếp theo, cụ thể năm 2025 là 91.991 kg/ngày Vớilượng CTRYT lớn như vậy nếu các biện pháp quản lý chất thải không hiệuquả thì các chất thải này sẽ là nguồn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấuđến sức khỏe cộng đồng
2.3.2 Thành phần chất thảirắn y tế
Hầu hết các CTR y tế là các chất thải độc hại và mang tính đặc thù sovới các loại CTR khác Xét các thành phần chất thải dựa trên đặc tính lý hóathì tỷ lệ các thành phần có thể tái chế là khá cao chiếm 25% tổng lượngCTRYT, chưa kể 52% CTR y tế là các chất hữu cơ (Bộ Tài Nguyên và MôiTrường, 2011)
Bảng 2.5 Thành phần CTR y tế dựa trên đặc tính lý hóa
Trang 15Đất đá và các vật rắn khác 21%
Thủy tinh, ống tiêm, chai lọ, thuốc,kim tiêm, nhựa 3%
và quá hạn sử dụng…
Kết quả điều tra tại các bệnh viện của 5 thành phố lớn (Hà Nội, Hồ ChíMinh, Hải Phòng, Huế và Đà Nẵng) cho thấy lượng chất thải phóng xạ chỉchiếm một phần nhỏ 0,38%, chỉ ở các cơ sở y tế có các khoa chuyên biệt,khối lượng bình áp suất thải ra là 0,01%, chất thải lây nhiễm là 18,39%, chấtthải nguy hại chiếm 2,67%, rác thải sinh hoạt chiếm 78,6% Trong đó Tp HồChí Minh có tỷ lệ chất thải lây nhiễm cao nhất đến 22,12%, chất thải phóng
xạ 0,59%, chất thải nguy hại chiếm 4,67%, còn lại là rác thải sinh hoạt (NgôKim Chi, 2012)
Trang 162.4 Ảnh hưởng của CTYT đến môi trường và sức khỏe con người
2.4.1 Môi trường
Chất thải y tế đặc biệt là chất thải nguy hại phần lớn chưa được xử lýhay xử lý chưađúng cách và không đạt tiêu chuẩn quy định đang là vấn đềđáng lo ngại dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí
Ảnh hưởng tới môi trường đất:khi CTYT không được chôn lấp đúngcách thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại có thể ngấm vào đất gâynhiễm độc đất làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn…
Ảnh hưởng tới môi trường nước: Nước thải bệnh viện chứa nhiều chấtđộc hại, phóng xạ, tác nhân gây bệnh…Nếu không được xử lý trước khi thải
bỏ vào hệ thống thoát nước chung của thành phố có thể gây ra tình trạng ônhiễm nguồn nước, đặc biệt là nguồn nước ngầm làm ảnh hưởng nghiêmtrọng tới việc
Ảnh hưởng tới môi trường không khí:Việc đốt, xử lý các CTRYT phátsinh ra các khí độc hại như HX, NOx, Đioxin, NH3…làm gia tăng sự ô nhiễmkhông khí Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởngxấu tới sức khỏe cộng đồng của dân cư xung quanh
2.4.2 Ảnh hưởng của CTYT đến sức khỏe con người
Trong rác thải của bệnh viện có nhiều chất nguy hiểm có nguy cơ lâynhiễm, truyền bệnh và độc hại… Ở nước ta do có khí hậu nóng ẩm nên khảnăng phát sinh ra ổ dịch bệnh lại càng cực kì nguy hiểm Ví dụ như bệnh tả,kiết lị, sốt xuất huyết…
Ảnh hưởng của chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn
Các vật thể trong thành phần của chất thải rắn y tế có chứa đựng mộtlượng lớn bất kỳ các tác nhân vi sinh vật gây ra bệnh truyền nhiễm Các tácnhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua: da, đường hô hấp,tiêu hóa…Các vật sắc nhọn có thể không chỉ là những nguyên nhân gây ra các
Trang 17nhiễm các tác nhân gây bệnh Những vật sắc nhọn được coi là một loại rácthải rất nguy hểm bởi nó gây ra những tổn thương lại vừa lây truyền bệnhtruyền nhiễm.Có một mối liên quan đặc biệt giữa sự nhiễm khuẩn do HIV vàvirut viêm gan B, C, đó là những bằng chứng của việc lan truyền các bệnhtruyền nhiễm qua đường rác thải y tế, những virut này thường lan truyền quavết tiêm hoặc do các tổn thương do kim tiêm có máu người bệnh.
Bảng 2.6 Nguy cơ mắc bệnh sau khi bị bơm kim tiêm bẩn xuyên qua da
Nguồn: Antonis Mavropoulos, 2012
Ảnh hưởng bởi các loại hóa chất và dược phẩm
Nhiều loại hóa chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế lànhững mối đe dọa sức khỏe con người (các độc dược, các chất gây độc gen,chất dễ cháy…) Các loại chất này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải
y tế với số lượng lớn hơn có thể tìm thấy chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tácdụng cần vứt bỏ Chúng có thể gây nhiễm độc do tiếp xúc cấp tính và mãntính, gây ra các tổn thương như bỏng Sự nhiễm độc này có thể là kết quả củaquá trình hấp thụ hóa chất hoặc đường tiêu hóa Việc tiếp xúc với chất dễcháy, chất ăn mòn, các hóa chất gây phản ứng có thể gây nên những tổnthương tới da, mắt hoặc niêm mạc đường hô hấp Các tổn thương phổ biếnnhất là các vết bỏng
Các sản phẩm hóa chất được thải thẳng vào hệ thống cống thải có thểgây nên các ảnh hưởng bất lợi tới các hoạt động của hệ thống xử lý nước thảisinh hoạt hoặc gây ảnh hưởng độc hại tới hệ sinh thái tự nhiên nhận được sự
Trang 18tưới tiêu bằng nguồn nước này Những vấn đề tương tự như vậy cũng có thể
bị gây ra do các sản phẩm của quá trình bào chế dược phẩm bao gồm khángsinh và các loại thuốc khác, do các kim loại nặng như thủy ngân, phenol vàcác chất khử trùng, tẩy uế
Ảnh hưởng của chất thải gây độc gen
Việc nghiên cứu ảnh hưởng của chất thải gây độc gen còn gặp nhiềuvấn đề khó khăn, do mất nhiều thời gian và rất khó đánh giá ảnh hưởng lâudài của chất thải gây độc gen trong y tế đối với sức khỏe con người Có rấtnhiều nghiên cứu được xuất bản và điều tra khả năng kết hợp giữa nguy cơđối với sức khỏe và việc tiếp xúc với thuốc chống ung thư, biểu hiện bằng sựtăng đột biến các thành phần trong nước tiểu ở những người đã tiếp xúc và tăngnguy cơ sảy thai Một nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng những nhân viênquét dọn trong bệnh viện phải tiếp xúc với nguy cơ hóa chất độc tế bào có hàmlượng chất này trong nước tiểu tăng vượt trội so với những y tá và dược sĩkhôngchịu phơi nhiễm trong bệnh viện đó Hiện vẫn chưa có công bố khoa họcnào ghi nhận những hậu quả bất lợi đối với sức khỏe do công tác quản lý yếu kémđối với các chất thải gây độc gen từ các cơ sở y tế như bệnh viện
Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ
Đa số các tác hại của chất thải phóng xạ trong các cơ sở y tế được báocáo qua các vụ tai nạn có liên quan đến việc tiếp xúc với các nguồn phóng xạion hóa trong các cơ sở điều trị, như hậu quả từ các thiết bị phát tia X quanghoạt động không an toàn, do việc chuyên chở, vận chuyển các dung dịch xạtrị không đảm bảo hoặc thiếu các biện pháp giám sát trong xạ trị liệu
Nhiều tai nạn đã được ghi nhận do việc thanh lý, xử lý các nguyên liệutrong trị liệu hạt nhân cùng với số lượng lớn những người bị tổn thương do vôtình hay hoàn cảnh tiếp xúc với nguy cơ chất thải phóng xạ trong y tế
Trang 192.5 Tình hình quản lýchất thải rắn bệnh viện
Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý banđầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêuhủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện
2.5.1 Quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới
Trên thế giới, quản lý rác thải được nhiều quốc gia quan tâm và tiếnhành một cách triệt để từ rất lâu Quản lý CTRYT từ khâu phân loại, thu gomđến xử lý, từ việc ban hành các chính sách, quy địnhchung nhằm kiểm soátchặt chẽ loại chất thải này
Công ước Basel: Được ký kết bởi 100 quốc gia, quy định về sự vận
chuyển chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng với cả CTRYT Côngước này quy định chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các quốc giakhông có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc gia có điều kiện vậtchất kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt
Nguyên tắc Pollutor pay: Nêu rõ, mọi người, mọi cơ quan làm phát
sinh chất thải phải chịu trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảmbảo an toàn, giữ gìn cho môi trường trong sạch
Nguyên tắc Proximitry: Quy dịnh rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần
được tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt, tránh tình trạng chấtthải bị lưu trữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường
Phân loại chất thải: theo khuyến cáo của WHO (1992), các nước đang
phát triển có thể phân loại CTRYT thành các loại sau: Chất thải không độchại (chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bị lây nhiễm các yếu tố nguyhại), chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm), chất thảinhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn), chất thải hóa học vàdược phẩm (không kể các loại thuốc độc với tế bào), chất thải nguy hiểm khác(chất thải phóng xạ, thuốc độc tế bào, bình chứa áp suất cao)
Trang 20Còn đối với các nước phát triển chất thải được phân loại một cách chitiết hơn Như Mỹ thì phân loại CTRYT thành 8 loại: Chất thải cách ly (chấtthải có khả năng truyền nhiễm mqưạnh); những nuôi cấy và dự trữ các tácnhân truyền nhiễm và các chế phẩm sinh học liên quan; những vật sắc nhọndùng trong nghiên cứu, điều trị…; máu và các sản phẩm của máu; chất thảiđộng vật; các vật sắc nhọn không sử dụng; các chất thải gây độc tế bào; chấtthải phóng xạ Các nước châu Âu cũng phân thành 8 loại CTRYT, bao gồm:chất thải thông thường, chất thải giải phẫu (mô, bộ phận cơ thể, bào thai…);chất thải phóng xạ; chất thải hóa học; chất thải lây nhiễm; chất thải sắc nhọn;dược phẩm quá hạn và bình chứa áp suất.
Thu gom và vận chuyển: các nước đang phát triển có 2 mô hình thu
gom và vận chuyển CTRYT:
Hệ thống hút chân không tự động: Hệ thống này được lắp đặt đầu tiên ởBệnh viện Solleftea- Thụy Điển, 1996 Nguyên tắc: Rác sau khi được phânloại nhờ áp lực hút chân không (được lắp đặt ở trạm hay trên xe chuyên dụng)
sẽ chuyển động theo đường ống ngầm đặt dưới mặt đất theo xe chuyên dụngchở rác Luồng không khí được lọc cẩn thận đảm bảo trước khi thải ra môitrường Phương pháp này hạn chế được lượng lớn xe đẩy rác trong thành phố,giảm tác đường và hạn chế việc con người tiếp xúc trực tiếp với CTRYT Tuynhiên hệ thống này đòi hỏi kinh phí đầu tư lớn, yêu cầu kỹ thuật cao nên hiệntại chỉ có 500 hệ thống này được lắp đặt trên toàn thế giới
Hệ thống thu gom và vận chuyển bằng xe chuyên dụng: Sử dụng cácdụng cụ, phương tiện thu gom theo đúng tiêu chuẩn quy định Phương phápnày được áp dụng rộng trái do kinh phí đầu tư không lớn, không yêu cầu côngnhân có trình độ kỹ thuật cao (Trần Thị Lan, 2009)
Xử lý CTRYT: Theo tổ chức Y tế thế giới, các nước đang phát triển có
tới 18- 64% bệnh viện chưa có biện pháp xử lý chất thải đúng cách Tùy thuộc
Trang 21vào trình độ phát triển, điều kiện kinh tế- khoa học- kỹ thuật, nhiều nước trênthế giới đã có những biện pháp xử lý chất thải y tế khác nhau.
Mỹ: Các phương pháp xử lý CTRYT gồm đốt và khử trùng Năm 2008,
225 bệnh viện được nghiên cứu với tỷ lệ hợp tác là 72,5% Hầu hết chất thải y
tế được công ty tư nhân thu gom và xử lý (99,5%), một phần được đổ lẫn vàorac thải đô thị (0,5%) Các bệnh viện tại đây áp dụng các phương pháp xử lýCTRYT khác nhau như: thu hồi CTRYT, đốt, chôn lấp, khử trùng Ngaoif racòn có phương pháp ETD (Electro- Thermal- Deactivation), nghiền nhão vớinước, sử dụng các vi sóng trước khi đổ vào hệ thống cống rãnh (Ktangain P.Harding Ak, 2009)
Nhật: Điển hình cho nền kinh tế phát triển, có nền công nghệ cao bậcnhất thế giới nên việc xử lý CTRYT của Nhật Bản khá phong phú, theo nhiềuphương pháp khác nhau Các công ty Môi trường ở Nhật xử lý CTRYT bằngphương pháp chôn đốt chiếm 94,24%, phương pháp bê tong hóa 1.83%,phương pháp xử lý không được áp dụng nhiều ở Nhật là phương pháp khửtrùng bằng hơi nước ở áp suất cao 0,78%, các phương pháp khử trùng khôbằng nhiệt và phương pháp khác chiếm 1,57% (Hem Chandra, 2012)
2.5.2 Quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
Chất thải y tế phát sinh chủ yếu từ các cơ sở khám chữa bệnh trựcthuộc sự quản lý của Bộ Y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến cáckhu vực lưu giữ sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sởhoặc ký hợp đồng đối với cơ sở xử lý, đối với các cơ sở xử lý chất thải đãđươc cấp phép tại địa bàn cơ sở khám chữa bệnh.Tuy nhiên ở một số cơ sở Y
tế công tác thu gom, phân loại và lưu trữ chất thải y tế vẫn chưa được chútrọng, phương tiện thu gom còn thiếu, chưa đồng bộ và không đạt tiêu chuẩn
Trang 222.5.2.1 Phân loại, thu gom,lưu trữ và vận chuyển CTR y tế
Công tác thu gom, lưu trữ CTR y tế nói chung đã được quan tâm bởicác cấp từ trung ương đến địa phương, thể hiện ở mức độ thực hiện quy định
ở các bệnh viện khá cao
Phân loại: Hầu hết ở các bệnh viện CTR thu gom hằng ngày, có 95.6%
bệnh viện đã thục hiện phân loại chất thải trong đó 91.1% đã sử dụng dụng cụtách riêng các vật sắc nhọn (Sở Y tế, 2009) Ngoài ra còn có hiện tượng phânloại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường được đưa vào chất thải
y tế nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý do nhận thức của cán bộ, nhânviên vệ sinh tại bệnh viện còn hạn chế
Dụng cụ đựng chất thải: Chất thải y tế đã được chứa trong các thùng
đựng chất thải với các mã màu sắc khác nhau theo quy định của Bộ Y tế: Màuvàng đối với chất thải lây nhiễm, màu đen đối với chất thải hóa học và phóng
xạ, màu trắng đối với các chất thải tái chế, màu xanh đối với chất thải thôngthường Tuy nhiên, các bệnh viện còn các mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau,chỉ có một số ít bệnh viện có thùng đựng chất thải theo đúng quy chế bệnhviện (bệnh viện trung ương và bệnh viện tỉnh)
Theo kết quả điều tra của Cục Quản Lý Môi Trường có 63,6% sử dụngtúi nhựa làm bằng nhựa PE, PP.Chỉ có 29,3% sử dụng túi có thành dày theo
đúng quy chế Trong một số bệnh viện, hệ thống ký hiệu màu sắc của túi và
thùng đựng chất thải chưa đúng với Quy chế quản lý chất thải y tế Bảng 2.7,trình bày kết quả khảo sát 74 bệnh viện tại Hà Nội của Sở y tế giai đoạn 2009-
2010 về tình hình thực hiện công tác thu gom, phân loại CTRYT theo QĐ số43/2007- BYT Theo đó tỷ lệ tuân thủ về hộp đựng vật sắc nhọn đứng quycách là cao nhất (93,9%), tỷ lệ tuân thủ túi đựng chất thải theo đúng quy cách
về màu sắc là thấp nhất (30,67%)
Trang 23Bảng 2.7 Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế tại các bệnh
viện trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2010 Các yêu cầu theo quy chế quản lý CTYT
Tỷ lệ tuân thủ (%)
Túi đựng chất thải đúng theo quy cách về bề dày và dung tích 66,67Túi đựng chất thải đúng theo quy cách về màu sắc 30,67Túi đựng chất thải đúng theo quy cách về buộc đóng gói 81,33Hộp đựng các vật sắc nhọn đúng quy cách 93,9
Nguồn: Sở Y tế, 2010
Vận chuyển:Hầu hết các cơ sở y tế (90,9%) CTR được thu gom hằng
ngày, một số bệnh viện có diện tích chật hẹp lên gặp khó khăn trong việc thiết
kế lối đi riêng để vận chuyển chất thải.Hiện tại, chỉ có 53% bệnh viện sử dụng
xe có nắp đậy, đúng màu sắc để vận chuyển CTR y tế (Sở Y tế, 2009) Theođiều tra của cục Quản lý môi trường đô thị Việt Nam năm 2005 tại 5 thànhphố lớn: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Huế về phương tiện vậnchuyển CTRYT nhận thấy,hầu hết các bệnh viện đều sử dụng thùng nhựa cóbánh xe, xe tay và các dụng cụ vận chuyển bằng tay khác Tuy nhiên, tại mỗithành phố không chỉkhác nhau về số lượng và thành phầnmà tỷ lệ tuân thủtheo Quy chế của mỗi phương tiện vận chuyển CTRYT cũng khác nhau
Bảng 2.8 Các phương tiện vận chuyển CTRYT tại các bệnh viện
Thành phố Xe đẩy Thùng vận chuyển CTRYT có bánh xe
Trang 24bằng thép
do BYT quy định
Thùng màu vàng
Thùng màu xanh
Thùng vận chuyển có thành, nắp, đáy kín
Nguồn: Quản lý môi trường đô thị Việt nam, 2005
Nhìn chung các phương tiện vận chuyển, thu gom CTRYT còn thiếu vàchưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn Nguyên nhân do có ít nhà sản xuấtquan tâm đến mặt hàng này Do vậy việc mua sắm phương tiện thu gom CTRbệnh viện gặp khó khăn Phần lớn các bệnh viện đều sử dụng thùng nhựa cóbánh xe, có ký hiệu màu sắc riêng đối với từng loại chất thải Trong đó tỷ lệtuân thủ cao nhất là tp Hồ Chí Minh, thấp nhất tại Đà nẵng Lượng xe đẩybằng thép chuyên dụng trong việc vận chuyển CTYT ở Tp Hồ Chí Minh làcao nhất (32,5%), tại Hà Nội (15,0%) và thấp nhất là tại Huế (1,5%)
Lưu trữ:Có 53,4% bệnh viện có nơi lưu trữ chất thải có mái che, trong
đó 45,3% đạt yêu cầu theo quy chuẩn quản lý chất thải y tế (Sở Y tế, 2009).Một số khu vực lưu trữ CTR trước khi được xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực
xử lý bên ngoài được trang bị điều hòa và hệ thống thông gió theo quy định.Chủ yếu cơ sở đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế là các bệnh viện trung ương, cókinh phí đầu tư cho công tác quản lý CTYT Có 46,6% bệnh viện còn lại nhàlưu trữ rác không có mái che, nếu không có biện pháp xử lý kịp thời sẽ gây ônhiễm môi trường
2.5.2.2 Xử lý CTR y tế
Trang 25Theo báo cáo “ Tình hình thực hiện công tác BVMT ngành y tế năm2010”đã xác định tỷ lệ xử lý CTR bệnh viện Trong đó 100% bệnh việntuyến trung ương xử lý CTR theo hình thức thuê Công ty Môi trường đô thịthu gom đốt tập trung hoặc đốt tại các cơ sở y tế bằng lò đốt đạt tiêu chuẩn;73,5 % bệnh viện tuyến tỉnh và huyện xử lý CTR y tế bằng lò đốt tại bênhviện hoặc thuê Công ty Môi trường đô thị xử lý Khối lượng CTR y tế nguyhại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng lượng phát sinh CTR y tế nguyhại trên toàn quốc CTR y tế xử lý không đạt tiêu chuẩn chiếm 32% là nguyênnhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng.Cácthành phố lớn như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh đã có xí nghiệp xử lý CTRYTnguy hại vận hành tốt, tổ chức thu gom, xử lý và tiêu hủy CTRYT nguy hạicho toàn bộ cơ sở y tế trên tận dụng tốt lò đốt trang bị cho cụm bệnh viện, chủđộng chuyển giao lò đôt cho công ty môi trường đô thị tổ chức vận hành vàthu gom xử ly CTR y tế nguy hại cho toàn vùng, thành phố.
Đến năm 2006, hơn 500 lò đốt đã được lắp đặt tại các cơ sở y tế tại ViệtNam, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn Tại Hà Nội, sử dụng lò đốt chấtthải y tế DEL- MONEGO công suất 200kg/h, Đà Nẵng sử dụng lò đốtHOWAL công suất 200kg/h, Tp Hồ Chí Minh sử dụng hai lò đốt HOWAL
150 kg/h và 300kg/h.Tuy nhiên, trong số đó có tới hơn 33% số lò không hoạtđộng do nhiều lý do (Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2011) Mặc dù côngsuất hiện tại của tất cả các lò đốt CTRYT ở Việt Nam chỉ có khả năng đápứng cho hơn 50% tổng lượng CTRYT nguy hại nhưng nhiều lò đốt vẫn chưahoạt động hết công suất do khó khăn về tài chính Hầu hết các khoản đầu tư từnguồn trong nước và quốc tế cho các dự án lò đốt đều tập trung vào việc muatrang thiết bị trong khi đó thì các bệnh viện đều phải tự đầu tư tài chính đểtrang trải cho các khoản chi phí vận hành lò đốt Chính vì vậy, các bệnh việnkhông đủ nguồn lực để vận hành các lò đốt, các CTRYT nguy hại thườngkhông được xử lý một cách thích hợp (Bộ Y tế, 2004)
Trang 26Tính trên địa bàn cả nước, tỷ lệ bệnh viện xử lý CTRYT bằng lò đốt là35,9%, số bệnh viện thuê công ty môi trường xử lý 39,2% và 26,9% bệnhviện xử lý bằng thiêu đốt thủ công hoặc tự chôn lấp trong khuôn viên bệnhviện (Nguyễn hằng, 2011) Tính riêng cho các cơ sở y tế nằm trong danh sáchQuyết định 64/2003/QĐ-TTg thì việc xử lý CTRYT đã được đầu tư kinh phívận hành với các lò đốt chất thải hiện đại, được kiểm soát chất lượng, sốlượng…Tuy nhiên, với tuyến y tế cấp tỉnh, chất thải y tế phần lớn được thuê
xử lý, công tác tự xử lý bằng lò đốt chỉ chiếm số lượng nhỏ Còn đối vớituyến y tế cấp huyện, công tác xử lý CTYT hết sức đa dạng, phong phú vớinhiều loại hình khác nhau và khó có thể kiểm soát (hình 2.2)
Hình 2.2 Tình hình xử lý CTYT của hệ thống cơ sở y tế các cấp
Nguồn: Cục Quản Lý Môi Trường Y tế, 2009
Phương pháp chôn lấp: Phương pháp dễ làm, ít tốn kém nhưng lại
chiếm diện tích xây dựng Một bãi chôn lấp CTR bình thường chiếm 10- 15
ha, trong khi đó diện tích sử dụng cho các mục đích khác lại rất hạn chế
Phương pháp này không giải quyết được triệt để rác thải Chất thải saukhi chôn lấp vẫn có thể phân tán đi những nơi khác và thấm xuống đât theonước mưa gây ô nhiễm nguồn nước ngầm Vì vậy, do đặc tính nguy hại củachất thải bệnh viện, phương pháp này chỉ áp dụng với CTR sinh hoat
Trang 27Phương pháp đốt: Được áp dụng phổ biến nhất (54% bệnh viện sử
dụng), sử dụng khi chất thải là chất độc sinh học cao, không bị phân hủy sinhhọc và bền trong môi trường Và một số chất thải không thể tái chế, tái sửdụng hay dự trữ an toàn trong bãi chôn lấp.Chất thải được đốt ở nhiệt độ rấtcao lơn hơn 10000C, chất hữu cơ và vô cơ bị phân hủy thành khí và tro xỉ.Khísinh ra sẽ tiếp tục để giảm độc hại trước khi thải ra môi trường.Phần tro saukhi đốt được đem tới bãi chôn lấp
Ưu điểm của phương pháp đốt:An toàn về mặt sinh học, làm giảm tới90% thể tích rác, không đòi hỏi năng lượng và ít gây ô nhiễm môi trường
Tuy nhiên trong điều kiện Việt Nam hiện nay thì chi phí cho xử lý rácbằng phương phát đốt còn quá cao và nếu phân loại rác không đúng sẽ gâytốn kém khi đốt cả rác thường, không kiểm soát được khí thải lò đốt sẽ gây ônhiễm không khí ảnh hưởng tới đời sống của người dân khu vực xung quanhbệnh viện
Tái chế: Là các chất thải thông thường không dính máu hay thành phần
nguy hại được phép thu gom và tái chế lại Gồm: Chai nhựa (đựng NaCl,glocozo…), giấy, bìa carton, chai lọ và kim loai không dính máu, chất nguyhại (Quy chế quản lý chất thải, 2007) Việc tái chế CTR y tế làm giảm khốilượng phát thải, giảm chi phí xử lý nhưng lại lại tạo ra hiện tượng đưa CTR y
tế ra ngoài bán Việc tái sử dụng các gang tay cau su, các vật liệu nhựa đã vàđang tạo ra nhiều rủi ro cho những nhân viên thu gom, những người thu mua
và những người tái chế phế liệu
Hiện nay, có 2 loại công nghệ thân thiện với môi trường chủ yếu đượclựa chọn thay thế các lò đốt chất thải y tế là công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt
ẩm (autoclave) và công nghệ sử dụng vi sóng Trong đó, công nghệ sử dụng
vi sóng kết hợp với hơi nước bão hòa là loại công nghệ tiên tiến nhất hiện naybởi có hiệu quả khử khuẩn cao và thời gian xử lý nhanh, hiện nay được ápdụng tại trung tâm y tế Viesovpetro Vũng Tàu Định hướng trong tương lai sẽhạn chế việc sử dụn các lò đốt để xử lý CTYT NH, từng bước thay thế chúng
Trang 28bằng các thiết bị sử dụng công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ướt,vi sóng hoặccác phương tiện tiên tiến khác (Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2011).
2.6 Cơ sở pháp lý trong quản lý chất thải y tế ở Việt Nam
Ở nước ta CTYT đã được quản lý bằng hệ thống văn bản pháp luật doquốc hội, Chính phủ ban hành và hàng loạt các văn bản quản lý, hướng dẫnthực hiện của Ngành Y tế Gồm:
- Luật Bảo vệ môi trường và Các nghị định hướng dẫn thực hiện luật.Điều 39, Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã đưa ra các quy ddinnhj về bảo vệmôi trường trong bệnh viện và các cơ sở y tế
- Thông tư số 12/2006/QĐ- TTg ngày 26/12/2006, hướng dẫn điều kiệnhành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép, hành nghề, mã số quản lýCTNH
- Quyết định số 23/2006/QĐ- BTNMT ngày 26/12/2006 về việc banhành danh mục CTNH, quy đinh CTYT nằm trong danh mục có mã 1301,phải đăng ký và quản lý theo quy định đối với chất thải nguy hại
- Quyết định số 43/2007/QĐ- BYT về quy chế quản lý CTYT
- QCVN 02:2008/BTNMT: Quy chuẩn quốc gia- yêu cầu khí thải lòđốt CTR y tế
- Thông tư số 12/2011/TT- BTNMT, quy định về quản lý chất thảinguy hại
- Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Bộtrưởng Bộ Y tế
- Thông tư 18/2009/TT- BYT, Hướng dẫn tổ chức thực hiện công táckiểm soát nhiễm trong các cơ sở khám chữa bệnh
Phần 3ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Trang 293.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất thải rắn y tế và công tác quản lý CTR y tế tại bệnh viện Sản NhiHưng Yên
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội trên địa bàn nghiên cứu
- Hiện trạng phát sinh CTR tại bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên (nguồnphát sinh, tổng lượng CTR y tế phát sinh, thành phần CTR y tế)
- Tình hình quản lý CTR y tế tại bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên (bộphận quản lý CTR y tế, công tác phân loại, thu gom và lưu trữ CTYT bệnhviện, xử lý chất thải y tế)
- Đề xuất các giải pháp quản lý CTR y tế nhằm để nâng cao hiệu quảquản lý CTRYT trong bệnh viện
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liêu thứ cấp
Tham khảo tài liệu về CTYT: Các bài báo, nghiên cứu, khóa luận, Tạpchí môi trường, Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia (2010 và 2011) vàcác văn bản pháp luật có liên quan
Thu thập thông tin tại địa điểm thực tập:
- Tình hình khám chữa bệnh tại bệnh viện
- Hệ thống văn bản, quy định, quản lý môi trường bệnh viện
- Báo cáo, sổ theo dõi về CTYT tại bệnh viện
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Trang 30- Khảo sát thực địa, tiến hành quan sát, chụp ảnh về công tác bảo vệmôi trường tại bệnh viện:
+ Tìm hiểu môi trường bệnh viện
+ Công tác vệ sinh
+ Dụng cụ thu gom, vận chuyển và lưu trữ chất thải tại bệnh viện
- Phương pháp phỏng vấn, điều tra trực tiếp:
+ Cán bộ y tế (50 phiếu), điều tra về nhận thức của cán bộ, nhân viên y
tế trong việc quản lý CTRYT
+ Nhân viên vệ sinh (15 phiếu), điều tra về nhận thức trong công tácquản lý CTRYT
+ Bệnh nhân/người nhà bệnh nhân (50 phiếu), hiểu biết của bệnh nhân
và người nhà bệnh nhân về CTRYT, ý thức trong việc thực hiện nội quy, quychế của bệnh viện
3.4.3 Phương pháp so sánh
So sánh các quy định của Bộ Y tế và việc tuân thủ của bệnh viện, từ đóđánh giá mặt tích cực và hạn chế của bệnh viện
Tiêu chuẩn so sánh: QĐ số 43/2007- BYT, Thông tư 18/2009/TT- BYT
3.4.4 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
Hình thức thực hiện phương pháp này thông qua các buổi gặp gỡ, traođổi, thảo luận với cán bộ, nhân viên tại bệnh viện và giáo viên hướng dẫn
3.4.5 Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý số liệu
- Số liệu được tổng hợp lại và xử lý bằng phần mềm exel
- Trình bày kết quả dưới dang: bảng số liệu, biểu đồ
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 314 1 Giới thiệu chung về bệnh viên Sản Nhi Hưng Yên
4.1.1 Thông tin về bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên
Bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên nằm trên quốc lộ 39, giáp với trung tâmthành phố được xây dựng trên địa bàn xã Hiệp Cường- huyện Kim Động- tỉnhHưng Yên
Hình 4.1 Sơ đồ khu vực xung quanh bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên
Bệnh viện được thành lập theo QĐ số 2323/QĐ- UBND ngày 23/10/2010của UBND tỉnh Hưng Yên Tháng 3/2012 bệnh viện chính thức đi vào hoạt động,được xếp vào bệnh viện hạng III năm 2012 và đến năm 2014 lên bệnh viện hạngII.Là bệnh viện chuyên khoa phục vụ cho nhân dân trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Trang 32và các cùng lân cận Bệnh viện có nhiều cán bộ, y bác sỹ có năng lực chuyênmôn cao được trang bị các thiết bị y tế hiện đại cho việc chuẩn đoán và điềutrị bệnh.Hiện tại diện tích mặt bằng của bệnh viện là 48.000m2, quy mô đượcnâng lên 300 giường bệnh, với đội ngũ gần 200 cán bộ công chức, viên chức,người lao động, bệnh viện luôn mong muốn cung cấp dịch vụ khám, điều trịchăm sóc sức khỏe của phụ nữ và trẻ em một cách toàn diện nhất.
Định hướng phát triển của bệnh viện phấn đấu đến năm 2020 sẽ nângbệnh viện hạng I và là bệnh viện chuyên khoa Sản Nhi hàng đầu tuyếntỉnh.Phát triển mô hình bệnh viện đa khoa thu hẹp:
+ Chuyên ngành Nhi: Hệ nội nhi, hệ ngoại nhi
+ Chuyên ngành Sản: CSSK Sinh sản, Quản lý, phòng bệnh cho phụ nữtrong đội tuổi sinh sản, phụ nữ nói chung
4.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện
Chức năng:Cấp cứu- khám bệnh- chữa bệnh về chuyên ngành sản
khoa và nhi khoa cho người bệnh, nghiên cứu khoa học, đào tạo đội ngũ cán
bộ y tế, năng cao hiệu quả trong công tác khám và điều trị bệnh
- Nghiên cứu khoa học: Thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp
sở và cấp cơ sở, chú trọng nghiên cứu các phương pháp chữa bệnh tiên tiến.Liên kết với các bệnh viện hàng đầu Việt Nam: Bệnh viện phụ sản trungương, bệnh viện nhi trung ương…
Trang 33- Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật: Giúp đỡ tuyến dưới nângcao chất lượng trong cấp cứu, chuẩn đoán và điều trị các bệnh chuyên khoathường gặp ở địa phương.
- Phòng bệnh: Kết hợp với các cơ sở y tế dự phòng thường xuyên thựchiện nhiệm vụ phòng bệnh, dịch, thảm họa trong địa bàn tỉnh: Dịch tiêu chảy,sởi…
- Hợp tác quốc tế: Khai thác các nguồn viện trợ đầu tư của các tổ chứcquốc tế, cử cán bộ đi học tập, nghiên cứu nước ngoài, nhận chuyên gia, giảngviên nước ngoài đến nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm, học tập tại bệnh viện
- Quản lý bệnh viện: Quản lý và sử dụng có hiệu quả, đúng quy địnhpháp luật các nguồn lực, tài chính, cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế
4.2 Hiện trạng chất thải rắn y tế tại bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên
4.2.1 Các nguồn phát sinh chất thải rắn y tế
Chất rắn thải y tế phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau Qua điều tra vàkhảo sát cho thấy, các nguồn phát sinh rác thải bao gồm từhoạt động chămsóc sức khỏe người bệnh đến các hoạt động sinh hoạt cán bộ công nhân viên
và người nhà bệnh nhân (hình 4.2)
Trang 34Hình 4.2 Nguồn phát sinh CTR tại bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên
Nguồn: Số liệu điều tra, 2014
Nguồn gốc phát sinh CTR có thể chia thành hai nhóm theo tính ônhiễm và biện pháp xử lý
- Rác thải phát sinh từ hoạt động chuyên môn bao gồm:
+ Phòng mổ, cấp cứu thải ra: Bông băng, gang tay, gạc nhiễm khuẩn,kim tiêm, chai lọ, dây truyền nước, dao mổ, nhau thai…
+ Phòng xét nghiệm, chuẩn đoán hình ảnh thải ra: Bơm tiêm,kim tiêm,chai lọ đựng bệnh phẩm sau xét nghiệm, môi trường nuôi cấy…
+ Kho dược thải ra: Dược phẩm quá hạn, dược phẩm bị nhiễm khuẩn,dược phẩm không còn sử dụng
- Rác thải sinh hoạt phát sinh từ hoạt động sinh hoạt của bác sỹ, nhânviên y tế, bệnh nhân /người nhà bệnh nhân như: Giấy, rau cỏ, vỏ trái cây, thức
ăn thừa…
Rác thải bệnhviện
Xét nghiệm, chuẩnđoán hình ảnh
Trang 354.2.2 Thành phần chất thải rắn tại bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên
Qua điều tra, khảo sát thực tế chất thải bệnh viện chỉ được phân ra làm
3 nhóm,gồm:
- Chất thải rắn sinh hoạt
- Chất thải rắn y tế tái chế
- Chất thải rắn y tế nguy hại
Tỷ lệ thành phần CTR của bệnh viện được thể hiện cụ thể qua Bảng 4.1
Bảng 4.1 Thành phần CTR của bệnh viện Sản Nhi năm 2013
Nguồn: Bệnh viện Sản Nhi, 2014
Qua bảng 4.1 ta thấy, khối lượng CTRSH chiếm tỷ lệ khá cao 85,04%lượng CTR của bệnh viện, cao hơn so với mặt bằng chung các bệnh viện ởViệt Nam (78%, Bộ Tài Nguyên Môi Trường, 2011) là do ngoài chất thải từhoạt động sinh hoạt hàng ngày của cán bộ y tế, bệnh nhân và người nhà bệnhnhân còn phát sinh ra lượng lớn bỉm, tã trẻ em Riêng với CTRYT tái chế,bệnh viện chỉ tiến hành phân loại đối với loại chất thải là chai nhựa dịchtruyền nhưng tỷ trọng rất nhỏ, chỉ chiếm 0,52%trong tổng lượng rác thải phátsinh chỉ bằng 3,6% so với lượng CTRYT nguy hại, trong khi đó tại các bệnhviện ở Việt Nam tỷ lệ rác tái chế chiếm 25% so với CTRYT Vì vậy bệnhviện cần đẩy mạnh công tác quản lý chất thải tại bệnh viện, tránh hiện tượnglàm thất thoát nguồn lợi do CTRYT tái chế mang lại
Nhận xét: Nhìn chung bệnh viện có sự phân loại rõ ràng đối với từng
loại chất thải, tuy nhiên sự phân chia nhóm chất thải không hoàn toàn thốngnhất với Quy chế do Bộ Y tế ban hành Kỹ năng phân loại CTRYT tái chế củađội ngũ cán bộ y tế, nhân viện vệ sinh còn hạn chế, việc phân loại chỉ dừng lại
Trang 36ở chai nhựa dịch truyền, nhiều CTRYT khác có khả năng tái chế được thugom cùng với CTRYT nguy hại làm tăng chi phí xử lý.
4.2.3 Khối lượng chất thải rắn y tế
Theo số liệu thống kê của bệnh viện, thì khối lượng rác thải của bệnhviện qua các năm có sự biến động khá lớn về khối lượng, đặc biệt là CTRYTnguy hại Tuy chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng khả năng gây ô nhiễm môi trường vàlan truyền dịch bệnh rất cao, nếu như công tác quản lý chất thải tại bệnh việnkhông hiệu quả sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường cũng như sứckhỏe con người
Bảng 4.2. Khối lượng chất thải rắn y tế qua các năm
Năm Khối lượng
Lượng bệnh nhân đến khám và điều trị (người) 30236 44738
Nguồn: Bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên, 2014
Ta có thể thấy,khối lượng CTRYT nguy hại đang ngày một gia tăng, cụthể năm 2012 là 12048 kg đến năm 2013 tăng gấp 1,35 lần (16320kg), lượngbệnh nhân đến khám và điều trị cũng tăng gấp 1,47 lần so với ban đầu, trungbình một ngày bệnh viện tiếp nhận 122 lượt khám Với lượng CTRYT nguy
có xu hướng tăng nhanh (tăng 1,1 lần), cụ thể năm 2012 là0,2kg/giường/ngày, năm 2013 tỷ lệ phát sinh là 0,22kg/giường/ngày, gấp 1,4lần so với mặt bằng chung các bệnh viện ở Việt Nam, con số này theo dự tínhcòn tăng trong vài năm tiếp theo do đó bệnh viện cần phải đẩy mạnh công tácquản lý chất thải, thực hiện việc thu gom và phân loại chất thải nghiêm túc vàhiệu quả hơn
Trang 37Khối lượng CTR của bệnh viện không chỉ thay đổi theo năm mà còn có
sự thay đổi theo các khoa tại bệnh viện,các tháng trong năm và các ngày trongtuần
Khối lượng phát sinhCTRYTtheo các khoa
Lượng phát sinh CTRYT của bệnh viện chủ yếu đến từ 2 khoa là Sảnkhoa và Nhi Khoa Trong đó lượng CTRYT phát sinh chủ yếu ở khoa sảnkhoảng, do ngoài chất thải như bông băng, gang tay, kim tiêm, chai lọ…thìphát sinh thêm một loạichất thải khác là nhau thai, thông thường khối lượngcủa nhau thai khoảng từ 450- 900g Theo số liệu thống kê của bệnh viện trungbình một ngày có khoảng 17 ca sinh, như vậy khối lượng nhau thai trong mộtngày dao động trong khoảng 7,6- 15,3kg, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượngphát sinh
Bảng 4.3.Khối lượng CTRYT tại các khoa trung bình trong ngày
(CTLN: chất thải lây nhiễm, đơn vị:kg)
sắc nhọn
CTLN không sắc nhọn
Nhau thai
Chai dịch truyền
Nguồn: Số liệu điều tra, 2014
Qua bảng 4.3 ta thấy, khối lượng CTRYT nguy hại phát sinh cao nhất ởkhoa sản chiếm 56% tổng lượng CTRYT phát sinh toàn bệnh viện trong mộtngày, riêng khối lượng nhau thai đã chiếm tới36,2% lượng CTRYT tạikhoa.Tỷ lệ phát sinh CTRYT tại khoa nhi chiếm 25,1%, cấp cứu 12,3%, khoa
Trang 38khám bệnh chiếm 6,6%.Lượng CTRYT nguy hại tại khoa sản là0,24kg/giường/ngày, cao hơn so với các bệnh viện cùng tuyến chuyên ngànhphụ sản 0,21kg/giường/ngày (Bộ Y tế, 2009).
Khối lượng phát sinh CTRYT nguy hại theo tháng
Theo số liệu thống kê của bệnh viện, khối lượng CTRYT phát sinh theocác tháng trong năm 2013 như sau:
Khối lượng CTRYT nguy hại (Kg)
Hình 4.3 Khối lượng CTRYT nguy hại qua các tháng năm 2013
Nguồn: Bệnh viện Sản Nhi Hưng Yên, 2014
Qua Hình 4.3 ta thấy rằng:Khối lượng CTRYT biến động theocác tháng trong năm, sự biến động này tuân theo quy luật biến động củalượng bệnh nhân đến khám và điều trị, đặc biệt là số ca đẻ trong tháng Trungbình trong một tháng bệnh viện phát sinh khoảng 1,4 tấn CTRYT nguy hại,khối lượng chênh lệnh giữa tháng tỷ lệ phát sinh cao nhất và tháng thấp nhất
là 639kg Cụ thể tháng 2 có lượng CTRYT thấp nhất 989kg, tháng 11 cólượng CTRYT cao nhất 1628kg Trong đó các tháng 9, 10, 11 lượng CTRYTphát sinh cao hơn các tháng trong năm là do trong khoảng thời gian này lượngbệnh nhân là trẻ em nhập viện do mắc các bệnh về đường hô hấp và số ca đẻ
Trang 39nhận 522 ca đẻ, trong đó tháng 9 có tới 579 ca, tháng 10 có 598 ca và tháng
11 cao nhất là 605 ca, đây được coi là nguồn phát sinh CTRYT chủ yếu tạibệnh viện Sản Nhi Hưng Yên
Chỉ tính riêng cho 3 tháng đầu năm 2014 khối lượng CTRYT phát sinhcũng có sự chênh lệch đáng kể không chỉ về khối lượng mà còn về mức độ vàtích chất nguy hại của loại chất thải này
Bảng 4.4. Khối lượng phát sinh CTRYT các tháng 1,2,3 năm 2014
Tháng CTR sinh hoạt (kg) CTRYT nguy hại (kg )
Nguồn: Bệnh viện Sản Nhi, 2014
Nhìn chung khối lượng CTRYT nguy hại phát sinh tháng 2 là thấp nhất
do tháng này rơi vào tết âm lịch nên lượng bệnh nhân tới khám và điều trịgiảm, tuy nhiên vẫn tăng nhanh so với năm trước, cụ thể tăng gấp 1,2 lần sovới 3 tháng đầu năm 2013 Đặc biệt trong khoảng thời gian này số trẻ emnhập viện do mắc dịch sởi, mắc bệnh về đường hô hấp tăng, trung bình mộtngày bệnh viện có 125 lượt khám thì có tới 58 ca nhập viện để điều trị, trong
đó có 12 ca có dấu hiệu mắc sởi.Vì vậy, không chỉ đẩy mạnh công tác chuyênmôn mà bệnh viện cần phải đặc biệt chú trọng tới việc quản lý CTRYT mộtcách triệt đểnhằm tránh sự phát sinh dịch bệnh, lây nhiễm cho các bệnh nhânkhác
Khối lượng phát sinh CTRYT nguy hại theo các ngày trong tuần
Theo kết quả điều tra, khối lượng CTRYT nguy hại theo các ngày trongtuần cũng có sự biến động đáng kể
Trang 40Hình 4.4.Khối lượng CTRYT nguy hại theo các ngày trong tuần
Nguồn: Số liệu điều tra, 2014
Qua kết quả điều tra, lượng CTRYT nguy hại phát sinh trong ngày tạibệnh viện là khác nhau Trong đó, lượng CTRYT tập trung chủ yếu vào cácngày giữa tuần (thứ 3,4,5,6), nhiều nhất vào thứ 3 (63,2kg), nhiều gấp 1,5 lầnlượng CTRYT trong ngày chủ nhật (41,2 kg), sự chênh chệnh đó là do vàothứ 7 và chủ nhật thì lượng bệnh nhân nội trú về nhà nghỉ ngơi vào ngày cuốituần
Với khối lượng CTRYT nguy hại ngày một tăng, nếu các biện phápquản lý chất thải tại bệnh viện không hiệu quả thì các chất thải này sẽ lànguồn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của cán bộ, nhânviên, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân Đặc biệt là đối với bệnh viện khibệnhnhân chủ yếu là trẻ em và phụ nữ có thai thì môi trường phải luôn sạch sẽ
để đảm bảo tốt nhất sức nâng cao hiệu quả công tác khám chữa bệnh
4.2.4 Ảnh hưởng chất thải rắn y tế
Ảnh hưởng tới môi trường